nlbdang
CÁC CÂU HỎI CẦN ĐƯỢC LƯU Ý
Chương 2: Hàng hoá, thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường
1. Hàng hoá gì? Trình bày mặt chất mặt lượng của giá trị hàng hoá. Năng suất lao động mức độ
phức tạp của lao động ảnh hưởng như thế nào đến giá trị hàng hoá?
- Hàng hoá là sản phẩm của lao động, thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi,
mua bán. Sản phẩm của lao động hàng hoá khi được đưa ra nhằm mục đích trao đổi, mua bán trên thị
trường. Hàng hoá có thể ở dạng vật thể và phi vật thể.
- Mặt chất của giá trị hàng hóa thể hiện chỗ: giá trị chính lao động hội của người sản xuất hàng
hóa kết tinh trong hàng hóa. Giá trị hàng hóa không chỉ đặc tính vật chất còn phạm trù kinh tế
mang tính lịch sử, thể hiện mối quan hệ sản xuất trao đổi giữa những người lao động độc lập. Khi
sản xuất và trao đổi hàng hóa thì giá trị xuất hiện, nhưng giá trị không hiện ra trực tiếp qua hình thức
giá trị trao đổi – hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị. Giá trị là nội dung thực sự, là cơ sở để ngầm so
sánh lượng lao động hội đã hao phí ẩn giấu trong hàng hóa. Để thu hồi được lao động hội đã kết
tinh, người sản xuất phải đưa hàng hóa ra thị trường, được người tiêu dùng chấp nhận hàng hóa phải
được bán đi. Do đó, giá trị hàng hóa không phải do ý muốn chủ quan của người sản xuất chỉ tồn tại
khi hàng hóa có giá trị sử dụng và đáp ứng nhu cầu xã hội. Điều này thể hiện rõ tính xã hội của giá trị, chỉ
hiện hữu trong các quan hệ sản xuất và trao đổi giữa các chủ thể độc lập trong xã hội.
- Lượng giá trị của hàng hóa lượng lao động hội đã hao phí để sản xuất ra hàng hóa, được đo bằng
thời gian lao động xã hội cần thiết. Đây không phải là thời gian lao động cá biệt của từng người sản xuất,
thời gian cần thiết để tạo ra một giá trị sử dụng trong điều kiện sản xuất trung bình củahội, với
trình độ thành thạo và cường độ lao động trung bình, được xã hội thừa nhận.
Trong thực tiễn sản xuất, người sản xuất cần chủ động đổi mới và sáng tạo để rút ngắn thời gian lao động
cá biệt xuống thấp hơn mức thời gian lao động xã hội cần thiết, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh. Xét về cấu
thành, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa bao gồm hai phần: hao phí lao động quá khứ (ẩn chứa trong
nguyên vật liệu, nhiên liệu, máy móc đã sử dụng) hao phí lao động mới được kết tinh thêm trong quá
trình sản xuất.
- Sự ảnh hưởng của năng suất lao động và mức độ phức tạp của lao động đến giá trị hàng hoá:
+ Năng suất lao động tính phức tạp của lao động hai nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến lượng giá trị
của hàng hóa. Năng suất lao động được hiểu khả năng sản xuất của người lao động trong một đơn vị
thời gian, thể hiện qua số lượng sản phẩm tạo ra hoặc thời gian hao phí để sản xuất một đơn vị sản phẩm.
Khi năng suất lao động tăng lên, thời gian lao động hội cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa
giảm xuống, làm giảm lượng giá trị của hàng hóa. Năng suất lao động chịu ảnh hưởng từ trình độ tay
nghề, sự phát triển khoa học kỹ thuật, quy hiệu quả của liệu sản xuất, tổ chức sản xuất các
điều kiện tự nhiên. Do đó, việc cải thiện năng suất lao động là cách hiệu quả để giảm hao phí lao động xã
hội và nâng cao hiệu quả sản xuất.
+ Bên cạnh đó, tính phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị hàng hóa. Lao động giản
đơn những công việc không yêu cầu đào tạo chuyên sâu, trong khi lao động phức tạp đòi hỏi trình độ
chuyên môn cao và kỹ năng nghề nghiệp chuyên biệt. Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động phức tạp
tạo ra nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn, bởiđược coi là lao động giản đơn được nhân lên về
mặt giá trị. vậy, mức độ phức tạp của lao động không chỉ quyết định chất lượng giá trị của sản
phẩm mà còn ảnh hưởng đến mức thù lao của người lao động.
+ Tóm lại, năng suất lao động quyết định thời gian lao động hội cần thiết để sản xuất hàng hóa, còn
tính phức tạp của lao động quyết định giá trị gia tăng trong cùng một đơn vị thời gian lao động. Hai yếu tố
này cùng tác động để xác định lượng giá trị cuối cùng của hàng hóa trên thị trường.
+ Liên hệ đóng góp của bản thân:
1
nlbdang
2. Phân tích những yếu tố cấu thành quy luật giá trị hàng hoá lao động? Tác động của quy luật giá trị hàng
hoá lao động tới lực lượng sản xuất?
- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa. Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá
thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị.
- Những yếu tố cấu thành quy luật giá trị hàng hoá lao động: Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi
hàng hóa phải dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết. Người sản xuất muốn bán được hàng hóa trên thị
trường, được xã hội thừa nhận, thì giá trị của hàng hóa cá biệt phải phù hợp với thời gian lao động xã hội
cần thiết. Vì vậy, họ phải luôn tìm cách hạ thấp hao phí lao động cá biệt xuống nhỏ hơn hoặc bằng hao phí
lao động hội cần thiết. Trong trao đổi, phải theo nguyên tắc ngang giá, lấy giá trị hội làm sở,
không dựa trên giá trị cá biệt. Quy luật giá trị hoạt động thông qua sự vận động của giá cả xung quanh giá
trị, dưới tác động của cung - cầu. Giá cả thị trường lên xuống quanh giá trị hàng hóa trở thànhchế tác
động của quy luật này.
- Tác động của quy luật giá trị hàng hoá lao động tới lực lượng sản xuất:
+ Quy luật giá trị điều tiết sản xuấtlưu thông hàng hóa thông qua sự biến động của giá cả. Khi giá cả
hàng hóa bằng hoặc cao hơn giá trị hội, sản xuất được mở rộng; ngược lại, nếu giá thấp hơn, sản xuất
giảm hoặc ngừng. Điều này khiến tư liệu sản xuất và sức lao động dịch chuyển tự phát sang ngành có giá
cả cao hơn, góp phần phân bố hợp lý nguồn lực trong nền kinh tế.
+ Quy luật giá trị kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp hóa sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động.
Người sản xuất phải giảm hao phí lao động cá biệt xuống bằng hoặc thấp hơn hao phí lao động xã hội cần
thiết, bằng cách áp dụng công nghệ mới, đổi mới quản lý, tiết kiệm chi phí. Kết quả là lực lượng sản xuất
được phát triển mạnh mẽ, năng suất lao động xã hội tăng lên, chi phí sản xuất giảm.
+ Ngoài ra, quy luật giá trị làm phân hóa người sản xuất thành những người giàu nghèo dựa trên khả
năng hạ thấp hao phí lao động biệt. Những người sản xuất hiệu quả sẽ giàu có, còn những người kém
hiệu quả dễ bị thua lỗ, phá sản, dẫn đến sự phân hóa tự nhiên trong lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, trong
nền kinh tế thị trường thuần túy, các yếu tố như đầu cơ, gian lận, khủng hoảng kinh tế thể làm tăng sự
phân hóa và các tác động tiêu cực khác.
3. Sức lao động gì? Để sức lao động trở thành hàng hoá cần những điều kiện nào? Người lao động
cần phải làm gì để cải thiện tiền công khi bán sức lao động cho nhà tư bản?
- Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể,
trong một con người đang sống, được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử
dụng nào đó
- Những việc người lao động cần làm để cải thiện tiền công khi bán sức lao động cho nhà tư bản:
+ Ngày nay, các quốc gia đều quy định mức lương tối thiểu để bảo vệ người lao động. Đây giới hạn
dưới, đảm bảo người lao động không bị trả lương quá thấp. Quy định này giúp bảo vệ quyền lợi bản
của họ. Người lao động cần nắm rõ luật lao động tại quốc gia mình. Điều này giúp họ yêu cầu mức lương
không thấp hơn quy định. Tham gia công đoàn cũng hỗ trợ bảo vệ lợi ích. Công đoàn có thể thương lượng
tập thể với nhà tư bản. Qua đó, người lao động có thể cải thiện thu nhập. Hiểu biết pháp luật giúp họ tự tin
trong đàm phán. Quy định lương tối thiểu là nền tảng cho lợi ích kinh tế.
+ Người lao động muốn cải thiện lợi ích của mình trong quan hệ lợi ích kinh tế với người lao động cần
phải nâng cao năng suất lao động của chính mình. NSLĐ tăng nghĩa cùng 1 đơn vị thời gian tạo ra
nhiều sản phẩm hơn cho người sử dụng lao động. Người lao động NSLĐ càng cao sẽ khả năng cải
thiện lợi ích của mình tốt hơn những người có NSLĐ thấp hơn.
+ Muốn nâng cao NSLĐ của mình thì người lao động không ngừng nâng cao năng lực bản thân (kiến
thức, kỹ năng, thái độ).
+ Khi người lao động chứng minh mình có năng lực thì làm việc cho nhà tư bản nào họ cũng đạt được lợi
ích tốt.
2
nlbdang
4. Trình bày tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Phân tích mối quan hệ giữa tính hai mặt của lao
động sản xuất hàng hóa với hai thuộc tính của hàng hóa. Tại sao lao động sản xuất hàng hóa vừa mang
tính tư nhân, vừa mang tính xã hội?
- Lao động sản xuất hàng hóa có hai mặt rõ rệt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
+ Lao động cụ thể hoạt động lao động mang tính đặc thù, mục đích, đối tượng, công cụ phương
pháp riêng biệt, gắn liền với từng nghề nghiệp chuyên môn cụ thể. dụ, công nhân may mặc, thợ mộc
hay thợ điện đều thực hiện những công việc khác nhau, tạo ra các sản phẩmgiá trị sử dụng riêng biệt.
Chính lao động cụ thể tạo nên giá trị sử dụng của hàng hóa — tức là công dụng hoặc lợi ích mà sản phẩm
mang lại cho người dùng.
+ Trong khi đó, lao động trừu tượng khía cạnh chung, không phụ thuộc vào hình thức hay loại công
việc cụ thể, đo bằng lượng hao phí sức lao động xã hội nói chungtức thời gian và công sức lao
động hội chấp nhận để sản xuất ra hàng hóa. Lao động trừu tượng biểu thị phần hao phí lao động
chung, thể hiện dưới dạng giá trị của hàng hóa, giúp các hàng hóa với giá trị sử dụng khác nhau thể
được so sánh và trao đổi trên thị trường.
+ Nói cách khác, lao động cụ thể quyết định tính đa dạng công dụng thực tế của sản phẩm, trong khi
lao động trừu tượng quyết định giá trị trao đổi của sản phẩm đó trong nền kinh tế hàng hóa. Đây điểm
khác biệt cơ bản giữa hai mặt lao động sản xuất hàng hóa.
- Mối quan hệ giữa tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá với hai thuộc tính của hàng hoá:
+ Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa giá trị sử dụng giá trị một mối quan hệ biện
chứng, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn. Giá trị sử dụng thể hiện công dụng, tính có ích của hàng hóa nhằm
thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng, thuộc phạm trù tự nhiên, do vật chất quyết định tồn tại bền vững
theo thời gian. Ngược lại, giá trị là hao phí lao động xã hội trừu tượng kết tinh trong hàng hóa, mang tính
xã hội và lịch sử, là cơ sở để so sánh, trao đổi hàng hóa trong sản xuất hàng hóa.
+ Hai thuộc tính này luôn cùng tồn tại trong mỗi hàng hóa nhưng lại khác nhau về mục đích, đối tượng
thời gian thực hiện: giá trị sử dụng gắn với người tiêu dùng và quá trình tiêu dùng hàng hóa, trong khi giá
trị liên quan đến người sản xuất quá trình trao đổi mua bán trên thị trường. Sự thống nhất giữa chúng
tạo nên bản chất đầy đủ của hàng hóa, nhưng đồng thời cũng tồn tại mâu thuẫn khi mục đích sản xuất
mục đích tiêu dùng không hoàn toàn trùng khớp. Đây chính điểm bản để hiểu bản chất hàng hóa
trong kinh tế thị trường.
+ Lao động sản xuất hàng hóa tính hai mặt, tương ứng với hai thuộc tính của hàng hóa. Lao động cụ
thể là lao động có ích, tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa qua những hình thức lao động chuyên môn khác
nhau. Lao động trừu tượnghao phí sức lao động xã hội nói chung, không xét đến hình thức cụ thể, tạo
ra giá trị của hàng hóa và làm cơ sở để so sánh, trao đổi hàng hóa khác nhau. Việc quy đổi lao động cụ thể
sang lao động trừu tượng giúp làm rõ bản chất giá trị trong sản xuất hàng hóa.
- Lao động sản xuất hàng hoá vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã hội vì:
+ Lao động sản xuất hàng hóa vừa mang tính nhân mỗi chủ thể sản xuất tự quyết định sản xuất cái
gì, như thế nào theo đặc điểm riêng của mình, phản ánh tính chất cá nhân và độc lập trong sản xuất. Ví dụ,
một thợ mộc làm bàn ghế theo kỹ thuật và công cụ riêng, phục vụ khách hàng cụ thể.
+ Tuy nhiên, lao động sản xuất hàng hóa cũng mang tính xã hội sản phẩm của từng nhân một bộ
phận trong tổng thể lao động hội, gắn liền với hệ thống phân công lao động rộng lớn. Sản phẩm đó
phải đáp ứng nhu cầu chung của xã hội và được trao đổi trên thị trường, thể hiện sự phối hợp giữa các chủ
thể sản xuất. dụ, chiếc bàn của thợ mộc cần phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, đồng thời nguyên
liệu làm bàn được cung cấp bởi người khác, tạo thành chuỗi lao động xã hội.
+ Mối quan hệ này thể hiện sự thống nhất giữa lợi ích của người sản xuất người tiêu dùng, khi người
sản xuất vừa phải chịu trách nhiệm hội, vừa được hưởng lợi từ sản phẩm của mình. Ngược lại, người
tiêu dùng thúc đẩy sự phát triển sản xuất thông qua nhu cầu phản hồi. Nếu sản phẩm không phù hợp
với nhu cầu hội hoặc hao phí lao động biệt quá cao, hàng hóa sẽ không bán được, dẫn đến khủng
hoảng tiềm ẩn trong nền kinh tế hàng hóa.
3
nlbdang
5. Vì sao tiền tệ là một loại hàng hoá đặc biệt?
- Tiền tệ là một hàng hoá đặc biệt tiền tệ cũng là hàng hoá giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của tiền
(vàng) cũng như giá trị của hàng hoá khác, do lao động trừu tượng của người sản xuất ra vàng tạo nên.
Nhưng tiền tệ không phải hàng hoá thông thường hàng hoá đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá
chung cho tất cả hàng hoá. Giá trị sử dụng của tiền (vàng) khác với các hàng hoá thông thường chỗ
không chỉ thoả mãn nhu cầu sử dụng của con người mà còn làm vật ngang giá chung, làm thước đo giá trị
của tất cả các hàng hoá khác.
Chương 3: Giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường.
1. Trình bày các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư. Tại sao nhàbản bán hàng hoá đúng giá trị vẫn
thu được giá trị thặng dư? Hãy nêu các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa.
- Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
+ Sản xuất giá trị thặng tuyệt đối
phương pháp kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu không thay đổi năng suất
lao động hay giá trị sức lao động. dụ, nếu ngày lao động 8 giờ, trong đó 4 giờ lao động tất yếu,
kéo dài thêm 2 giờ làm tăng thời gian lao động thặng dư từ 4 giờ lên 6 giờ, làm tăng tỷ suất giá trị thặng
dư. Tuy nhiên, phương pháp này bị giới hạn bởi khả năng chịu đựng của người lao động và các quy định
về thời gian làm việc.
+ Sản xuất giá trị thặng tương đối
phương pháp rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách tăng năng suất lao động, nhờ đó tăng thời
gian lao động thặng không cần kéo dài ngày lao động. dụ, nếu thời gian lao động tất yếu giảm
từ 4 giờ xuống còn 2 giờ nhờ tăng năng suất, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, làm tăng tỷ suất giá
trị thặng dư lên gấp nhiều lần. Phương pháp này đòi hỏi cải tiến kỹ thuậttổ chức sản xuất để giảm giá
trị sức lao động.
+ Ngoài ra, còn có giá trị thặng siêu ngạch, giá trị thặng vượt trội tạm thời thu được khi một
nghiệp cải tiến kỹ thuật vượt trội hơn các đối thủ. Đây động lực thúc đẩy các nhà bản đầu vào
công nghệ tăng năng suất lao động, góp phần phát triển lực lượng sản xuất hình thành giá trị thặng
dư tương đối.
- Nhà tư bản bán hàng hoá đúng giá trị vẫn thu được giá trị thặng dư vì:
Giá trị thặng dư hình thành trong quá trình sản xuất, không phải từ việc mua bán hàng hóa. Sức lao động
của công nhân khả năng tạo ra giá trị vượt xa chi phí nhà bản trả, tức tiền công được tính dựa
trên mức chi phí cần thiết để duy trì cuộc sống của công nhân, như thực phẩm, nhà ở. Phần giá trị vượt
quá tiền công chính là giá trị thặng dư, thuộc về nhà tư bản mà không đòi hỏi chi phí bổ sung.
Trong một ca làm việc, thời gian lao động của công nhân được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn đầu,
công nhân tạo ra giá trị tương đương với tiền công của mình, thường chiếm một phần thời gian làm việc,
ví dụ 4 giờ trong 8 giờ. Giai đoạn sau, công nhân tiếp tục lao động, tạo ra giá trị bổ sung – giá trị thặng dư
– mà nhà tư bản chiếm đoạt. Cơ chế này cho phép nhà tư bản thu lợi từ lao động của công nhân mà không
cần tăng giá bán hàng hóa.
Khi nhà tư bản bán hàng hóa đúng giá trị, giá bán phản ánh lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra
sản phẩm, bao gồm cả giá trị thặng tích lũy trong quá trình sản xuất. Do đó, ngay cả khi không nâng
giá bán, nhà tư bản vẫn thu được lợi nhuận vì giá trị thặng dư đã được “nhúng” sẵn trong hàng hóa từ lao
động của công nhân.
Tóm lại, giá trị thặng dư xuất phát từ khả năng đặc biệt của sức lao động trong việc tạo ra giá trị lớn hơn
chi phí trả công. Dù bán hàng hóa đúng giá trị, nhà tư bản vẫn hưởng lợi nhuận nhờ khai thác phần giá trị
thừa công nhân tạo ra trong quá trình sản xuất, thể hiện bản chất của quan hệ sản xuất bản chủ
nghĩa.
4
nlbdang
2. Giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa là gì? Phân tích các phương pháp SX GTTD.
- Giá trị thặng bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra, kết quả
của lao động không công của công nhân cho nhà tư bản. Ký hiệu giá trị thặng dư là m.
Chương 4: Cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế thị trường
1. Tại sao nói chủ nghĩa bản độc quyền nhà nước sự chuẩn bị tiền đề vật chất đầy đủ nhất cho
CNXH?
2. Phân tích nguyên nhân ra đời và bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.
3. Quá trình tính quy luật chuyển từ chủ nghĩa bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa bản độc
quyền? Tổ chức độc quyền là gì? Độc quyền ra đời có thủ tiêu được cạnh tranh không?
Chương 5: Kinh tế thị trường định hướng XHCN và các quan hệ lợi ích kinh tế ở Việt Nam
1. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? Tại sao phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa? Chất lượng thể chế kinh tế có tầm quan trọng như thế nào đối với sự
phát triển kinh tế của quốc gia?
- Thể chế KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ,
đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. (theo văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII)
- Phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì:
+ Thứ nhất, thể chế kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa còn chưa thực sđồng bộ. Do mới
được hình thànhphát triển, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế là một yêu cầu khách quan nhằm nâng cao
hiệu quả quản điều tiết nền kinh tế. Nhà nước cần sử dụng pháp luật, chiến lược, quy hoạch các
công cụ phù hợp để giảm thiểu các thất bại thị trường và đảm bảo công bằng xã hội.
+ Thứ hai, hệ thống thể chế hiện nay vẫn còn thiếu chưa đầy đủ. Với vai trò chủ thể xây dựng thể
chế chính thức, nhà nước cần đảm bảo thể chế kinh tế phục vụ lợi ích chung, hướng tới sự phát triển bền
vững. Năng lực tổ chức quản nền kinh tế được thể hiện nhất qua khả năng xây dựng thực thi
hiệu quả các thiết chế kinh tế.
+ Thứ ba, hiệu lực và hiệu quả của thể chế còn hạn chế, trong khi các yếu tố thị trường và các loại hình thị
trường vẫn đang ở giai đoạn sơ khai. Chính vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩađiều cần thiết để phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết tật của thị trường và đạt
được các mục tiêu phát triển toàn diện.
- Tầm quan trọng của thể chế kinh tế đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia:
2. Lợi ích kinh tế gì? Hãy nêu những biểu hiện bản của lợi ích kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
Người lao động cần phải làm để cải thiện lợi ích của mình trong quan hệ lợi ích kinh tế với người sử
dụng lao động?
- Lợi ích kinh tế: Lợi ích kinh tế lợi ích vật chất, lợi ích thu được khi thực hiện các hoạt động kinh tế
của con người.
3. Tại sao thành phần kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN? Giải pháp để kinh tế nhà nước làm tốt vai trò chủ đạo.
5
nlbdang
- Kinh tế nhà nước: dựa trên hình thức sở hữu nhà nước về liệu sản xuất, bao gồm các doanh nghiệp
nhà nước, ngân sách nhà nước, ngân hàng nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm nhà nước
các tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể đưa vào vòng chu chuyển kinh tế, trong đó doanh nghiệp nhà
nước là bộ phận nòng cốt
- Kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, vì:
+ Kinh tế nhà nước nắm giữ các bộ phận then chốt của nền kinh tế do đó là lực lượng vật chất quan trọng
và là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
+ Doanh nghiệp nhà nước là bộ phận nòng cốt của kinh tế nhà nước đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học
công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật.
+ Kinh tế nhà hỗ trợ, giúp đó định hướng các thành phần kinh tế khác theo định hướng hội chủ
nghĩa.
+ Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
+ Kinh tế nhà nước hướng đến đảm bảo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
- Giải pháp để kinh tế nhà nước làm tốt vai trò chủ đạo:
+ Để kinh tế nhà nước làm tốt vai trò chủ đạo thì trong những năm tới phải bản hoàn thành việc cùng
có, sắp xếp, điều chỉnh cấu, đối mới nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hiện có,
đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có phần chi phối ở một số ngành
lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo
những hướng sau:
Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế tổng công ty mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh
vực, trong đó có ngành mạnh, có nhiều chủ sở hữu, sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối. Khẩn trương cải
thiện tình hình tài chính và lao động của các doanh nghiệp nhà nước, củng cố hiện đại hoá một bước
các tổng công ty nhà nước.
Thực hiện tốt chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đa dạng hoá sở hữu đối với những
doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn.
• Giao, bán, khoán, cho thuê… các doanh nghiệp loại nhỏ mà nhà nước không cần nắm giữ.
• Sáp nhập, giải thể, cho phá sản những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả và không thực hiện được
các biện pháp trên.
• Về mặt quản kinh tế, Nhà nước phải tách biệt quyền của chủ sở hữu quyền kinh doanh của doanh
nghiệp. Thực hiện chế độ quản công ty đối với các các doanh nghiệp kinh doanh dưới dạng công ty
trách nhiệm hữu hạn một chủ sở hữu là nhà nước và công ty cổ phần có vốn nhà nước; giao cho hội đồng
quản trị doanh nghiệp quyền đại diện trực tiếp chủ sở hữu gắn với quyền tự chủ kinh doanh; quy định
quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.
4. Tại sao phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam?
+ Xét về tính tất yếu của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
Một là, phát triển kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa xu thế khách quan, phù hợp với điều
kiện lịch sử, trình độ phát triển lực lượng sản xuất và bối cảnh hội nhập của Việt Nam trong thời đại toàn
cầu hóa. Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển đến trình độ nhất định, việc chuyển sang kinh tế thị trường là
tất yếu.
6
nlbdang
Hai là, kinh tế thị trường có ưu thế trong việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực, thúc đẩy
cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động. Đây là tiền đề quan trọng để phát triển kinh
tế bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, hình này phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân về một hội "dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Trong điều kiện hiện nay, không chỉ phục vụ mục tiêu tăng
trưởng mà còn bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.
+ Xét về việc không lựa chọn các hình kinh tế thị trường khác phải định hướng hội chủ
nghĩa:
Việt Nam không lựa chọn hình kinh tế thị trường bản chủ nghĩa hay các hình thức khác chúng
thường dẫn đến bất bình đẳng hội, phân hóa giàu nghèo, khủng hoảng chu kỳ dễ lệ thuộc vào các
thế lực tài chính lớn. Những hình ấy đặt lợi nhuận lên trên con người, thiếu sự kiểm soát điều tiết
xã hội.
Ngược lại, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cho phép phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ
hội, bảo đảm vai trò chủ đạo của nhà nước trong định hướng, điều tiết bảo vệ lợi ích của nhân dân
lao động. Đây là sự lựa chọn mang tính bản sắc, kế thừa các giá trị của dân tộc và phù hợp với con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
5. Hãy chứng minh kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa Việt Nam nền kinh tế hỗn hợp,
trong đó Nhà nước có vai trò lãnh đạo, dẫn dắt thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế chịu sự tác động giữa hai lực lượng: Nhà nước (thể chế) và Thị trường.
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế hỗn hợp, biểu hiện:
+ Yếu tố thị trường: là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường: như
quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ…
+ Yếu tố nhà nước: nền kinh tế có sự quản lý của Nhà nước Pháp quyền XHCN do Đảng CSVN lãnh đạo.
- Mục tiêu: định hướng phát triển theo con đường XHCN hướng tới dân giàu, nước mạnh, hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
6. Chứng minh nền kinh tế thị trường là sản phẩm văn minh của nhân loại.
7. Khái niệm Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam theo văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIII.
- nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của
kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo;
bảo đảm định hướng XHCN mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp
với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
8. Vì sao trong nền KTTT cần phải có sự điều tiết của nhà nước?
- Nhà nước đại diện cho toàn nhân dân, toàn xã hội quản đất nước về hành chính. Nhà nước người
đại diện sở hữu toàn dân về liệu sản xuất, nhà nước quản các nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà
nước, kinh tế tập thể.
- Cơ chế thị trường bên cạnh những tác động tích cực, nó cũng có những tác động tiêu cực: phân hoá giàu
nghèo, tính tự phát chính phủ thể dẫn đến những mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế quốc
dân, hoặc gây ra khủng hoảng kinh tế chu kỳ. chế thị trường tự do môi trường làm nảy sinh gia
tăng các tệ nạn hội, lối sống chạy theo đồng tiền, huỷ hoại môi trường, thậm chí cả tội ác. Bởi vậy,
theo đà phát triển của trình độ xã hội hoá sản xuất tất yếu nảy sinh yêu cầu có sự điều tiết của nhà nước.
7
nlbdang
- Ngày nay, hầu hết các quốc gia đều chuyển sang thực hiện chế thị trường sự điều tiết của nhà
nước. Đây là chế vận hành của nền kinh tế hỗn hợp bao gồmchế thị trường tự do và sự điều tiết vĩ
mô của nhà nước. Như vậy, nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của nhà nước.
- Sự điều tiết vĩ mô của nhà nước thể hiện trên các mặt sau đây:
+ Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi.
+ Nhà nước tạo môi trường kinh tế - xã hội ổn định.
+ Nhà nước soạn thảo kế hoạch, quy hoạch, các chương trình phát triển kinh tế - hội ban hành các
chính sách.
+ Nhà nước sử dụng những biện pháp hành chính khi cần thiết.
Chương 6: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1. Tại sao các quốc gia cần phải tiến hành công nghiệp hoá? Hiện nay Việt Nam đã trở thành quốc gia
công nghiệp chưa? Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam cần phải làm gì để thích ứng với cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ 4?
- Công nghiệp hóa quá trình chuyển đổi nền sản xuất hàng hóa từ dựa trên lao động thủ công chính
sang nền sản xuất hàng hóa dựa chủ yếu trên lao động bằng máy móc nhằm tạo ra năng suất lao động cao.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh
doanh, dịch vụ quản khoa học kỹ thuật, từ sử dụng sức lao động thủ công chính sang sử dụng
một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại; dựa trên sự
phát triển của công nghiệp tiến bộ khoa học công nghệ, nhằm tạo ra năng suất lao động hội cao.
Chính vì vậy, nếu không có quá trình công nghiệp hóa thì không thể hiện đại hóa quy trình sản xuất nhằm
tối ưu hóa tăng cao năng suất lao động dẫn đến kinh tế kém phát triển, cho nên các quốc gia cần phải
tiến hành công nghiệp hóa.
2. Trình bày những phương hướng nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế trong phát triển của
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
3. Trình bày những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam.
4. Hội nhập kinh tế quốc tế là gì? Theo anh (chị), chúng ta có nên tiếp nhận nguồn vốn từ nước ngoài đầu
vào Việt Nam hay không? Nhà nước cần phải làm để đạt hiệu quả trong phát triển kinh tế khi hội
nhập kinh tế quốc tế?
5. Hiện nay có ý kiến cho rằng: “Khoa học, công nghệ ngày càng phát triển thì sẽ thay thế lao động sống.
Như vậy, thì sẽ không còn giá trị bóc lột thặng nữa”. Anh/Chị đồng ý hay không đồng ý với ý kiến
trên? Vì sao?
CÁC VÍ DỤ MINH HOẠ, LIÊN HỆ THỰC TIỄN HAY
- Về kinh tế thị trường ở VN: Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp,
kết hợp giữa cơ chế thị trường sự điều tiết của Nhà nước nhằm đảm bảo phát triển bền vững công
bằng xã hội. Nhà nước đóng vai trò định hướng thông qua các chính sách như thúc đẩy kinh tế tuần hoàn
để tối ưu hóa tài nguyên bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế số nhằm nâng cao năng suất nhưng vẫn
8
nlbdang
kiểm soát để tránh bất bình đẳng, hay khuyến khích kinh tế chia sẻ (Grab, ứng dụng công nghệ) nhưng
bảo vệ quyền lợi người lao động. Các thành phần kinh tế nhân, hợp tác doanh nghiệp nhà nước
cùng phát triển, trong đó khu vực nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong các ngành then chốt. Để vượt qua
"bẫy thu nhập trung bình", Nhà nước sử dụng chính sách thuế, đầu tư công và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực. Mô hình này không chỉ tận dụng lợi thế thị trường để tăng trưởng kinh tế mà còn duy trì tự chủ,
hạn chế bất bình đẳng và kiểm soát tư bản nước ngoài, từ đó giúp Việt Nam phát triển toàn diện trong bối
cảnh hội nhập toàn cầu.thể khẳng định, kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự lựa chọn phù hợp
để Việt Nam cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội, hướng tới phát triển bền vững.
- Về độc quyền độc quyền tại VN: Độc quyền kinh tế thể dẫn đến lũng đoạn thị trường, hạn chế
cạnh tranh ảnh hưởng xấu đến quyền lợi người tiêu dùng. Việt Nam đã hoàn thiện pháp luật về cạnh
tranh, tăng cường kiểm soát các tập đoàn lớn như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) Tập đoàn Viễn
thông Quân đội (Viettel) nhằm ngăn chặn hành vi độc quyền. Đồng thời, Nhà nước khuyến khích phát
triển đa dạng các doanh nghiệp nhỏ và vừa để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Trong bối cảnh chiến
tranh thương mại Mỹ - Trung, việc Máp thuế cao đối với hàng hóa Trung Quốc đã tạo cơ hội cho Việt
Nam thu hút dòng vốn FDI chuyển dịch, thúc đẩy sản xuất xuất khẩu. Đây yếu tố quan trọng giúp
Việt Nam tránh “bẫy thu nhập trung bình thấp” và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế theo tầm nhìn
đến năm 2030.
- Về hội nhập kinh tếVN: Hội nhập kinh tế quốc tế là chiến lược trọng yếu để Việt Nam mở rộng thị
trường xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình này không tránh khỏi những tác động
tiêu cực từ các cuộc chiến tranh thương mại và chính trị giữa các cường quốc, đặc biệt là việc Mỹ áp thuế
cao lên nhiều mặt hàng sản xuất tại châu Á, gây áp lực lên các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Việt Nam đã chủ động điều chỉnh chính sách, đẩy mạnh tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới như CPTPP, EVFTA nhằm tận dụng hội tiếp cận thị trường đồng thời đa dạng hóa thị trường
xuất khẩu để giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào một số đối tác lớn. Bên cạnh đó, Việt Nam tăng cường phát
triển kinh tế số, công nghiệp hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh nội địa, đồng thời củng cố an ninh
kinh tế để đối phó với các thách thức từ bên ngoài. Đây là bước đi thiết yếu giúp Việt Nam vượt qua bẫy
thu nhập trung bình thấp, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững vào năm 2030.
- Về CNH, HĐH VN: Nam đã thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ
cao, điển hình như VinFast sản xuất ô tô điện và tập trung phát triển hạ tầng số. Chương trình chuyển đổi
số quốc gia thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong sản xuất dịch vụ, giúp nâng cao năng lực cạnh
tranh. Đồng thời, Việt Nam tăng cường xây dựng chuỗi cung ứng nội địa nhằm giảm phụ thuộc vào biến
động thương mại và địa chính trị toàn cầu. Những bước đi này góp phần quan trọng giúp nền kinh tế phát
triển bền vững, tránh “bẫy thu nhập trung bình thấp” hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đến năm 2030.
- Liên hệ bản thân:
1. Chỉ ra những giải pháp giúp sinh viên nâng cao giá trị hàng hoá sức lao động của mình.
- Dưới góc nhìn của Kinh tế Chính trị Mác - Lênin, sức lao động một loại hàng hóa đặc biệt, bởi
không chỉ tạo ra giá trị còn nguồn gốc của mọi giá trị thặng trong nền kinh tế. Để nâng cao giá
trị hàng hóa sức lao động của sinh viên Việt Nam hiện nay, cần chú trọng cả về tưởng lẫn hành động,
dựa trên lý luận Mác - Lênin và thực tiễn trong nước.
9
nlbdang
- Trước hết, sinh viên cần nhận thức vai trò của mình trong quá trình sản xuất phát triển kinh tế.
Theo giáo trình Kinh tế Chính trị Mác - Lênin, việc nâng cao năng suất lao động yếu tố then chốt để
tăng giá trị hàng hóa sức lao động. Điều này đòi hỏi sinh viên phải không ngừng học tập, rèn luyện kỹ
năng và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn.
- Thứ hai, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa, sinh viên cần chủ động
thích nghi với sự biến động của thị trường lao động. Việc tham gia các hoạt động ngoại khóa, thực tập,
làm thêm không chỉ giúp tích lũy kinh nghiệm còn nâng cao khả năng thích ứng sáng tạo trong
công việc.
- Thứ ba, sinh viên cần chú trọng đến việc phát triển kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm, duy
phản biện quản thời gian. Những kỹ năng này yếu tố quan trọng giúp sinh viên nâng cao giá trị
bản thân trong mắt nhà tuyển dụng.
- Thứ tư, việc hiểu biết tuân thủ pháp luật lao động cũng một yếu tố quan trọng. Sinh viên cần nắm
vững quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động để bảo vệ bản thân đóng góp tích cực vào môi trường
làm việc lành mạnh.
- Thứ năm, sinh viên cần tích cực tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo.
Điều này không chỉ giúp nâng cao trình độ chuyên môn còn góp phần vào sự phát triển chung của
hội.
- Thứ sáu, việc học tập và áp dụng công nghệ thông tin trong học tập và công việc điều cần thiết trong
thời đại số.Sinh viên cần trang bị cho mình những kỹ năng công nghệ để nâng cao hiệu quả công việc
tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động.
- Thứ bảy, sinh viên cần xây dựng thái độ làm việc chuyên nghiệp, trách nhiệm cầu tiến. Thái độ tích
cực sẽ giúp sinh viên dễ dàng thích nghi với môi trường làm việc và đạt được thành công trong sự nghiệp.
- Thứ tám, việc tham gia vào các hoạt động xã hội, tình nguyện sẽ giúp sinh viên phát triển kỹ năng lãnh
đạo, quản lý và tăng cường mối quan hệ xã hội, từ đó nâng cao giá trị bản thân.
- Thứ chín, sinh viên cầnkế hoạch học tập và phát triển bản thânràng, đặt ra mục tiêu cụ thể và nỗ
lực thực hiện để đạt được những thành tựu trong học tập và công việc.
- Cuối cùng, sinh viên cần nhận thức rằng việc nâng cao giá trị hàng hóa sức lao động không chỉ
trách nhiệm của cá nhân mà còn là sự đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội và đất nước.
- Tóm lại, việc nâng cao giá trị hàng hóa sức lao động của sinh viên Việt Nam hiện nay cần sự kết hợp
giữa nhận thức tưởng hành động thực tiễn. Sinh viên cần không ngừng học tập, rèn luyện kỹ năng,
tích lũy kinh nghiệm và phát triển bản thân để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và đóng góp vào
sự phát triển bền vững của đất nước.
2. Sinh viên cần làm gì để hội nhập quốc tế?
- Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa là xu thế khách quan, mở ra nhiều cơ hội cho sinh viên Việt Nam học
tập, tiếp cận tri thức hiện đại nâng cao giá trị sức lao động. Theo Kinh tế chính trị Mác Lênin, việc
tiếp thu thành tựu văn minh nhân loại là điều kiện cần thiết để phát triển lực lượng sản xuất và thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Trong bối cảnh đó, sinh viên cần chủ động nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ kỹ năng mềm
để thích ứng với thị trường lao động trong nước quốc tế. Đồng thời, phải không ngừng rèn luyện bản
lĩnh chính trị, giữ vững lập trườngtưởng, niềm tin vào lý tưởng hội chủ nghĩa Đảng và Bác Hồ
đã lựa chọn.
- Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Hội nhập quốc tế là đặt đất nước vào dòng chảy chính của thời đại,
hòa nhịp cùng thế giới.” (Bài viết “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”, 2025). Vì vậy, sinh viên cần tỉnh
10
nlbdang
táo tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tránh chạy theo các trào
lưu lai căng hoặc phản văn hóa.
- Trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, sinh viên cần trang bị tri thức chính trị
vững vàng, bảo vệ nền tảng tưởng của Đảng, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch, nhất là trên không gian mạng và trong môi trường học thuật.
- Sinh viên cũng cần tích cực tham gia các hoạt động giao lưu quốc tế, hội thảo văn hóa học thuật, vừa
học hỏi kiến thức mới, vừa quảng bá bản sắc Việt Nam. Đó là cách thiết thực để khẳng định vị thế trí tuệ
Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
- Đồng thời, sinh viên cần tham gia xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đề cao đạo đức, lối sống
nhân văn, trách nhiệm xã hội khát vọng cống hiến những giá trị cốt lõi của công dân trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tóm lại, trách nhiệm của sinh viên không chỉ nằm việc học tập để phát triển bản thân, còn chỗ
góp phần xây dựng hội chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh, độc lập, nhân văn, hiện đại hội nhập
nhưng không bao giờ đánh mất mình.
3. Trách nhiệm của sinh viên đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
hội chủ nghĩa ở Việt Nam?
- Trong sự nghiệp xây dựng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa, sinh viên
giữ vai trò đặc biệt quan trọng với cách lực lượng trí thức trẻ, chủ nhân tương lai của đất nước.
Theo tinh thần kinh tế chính trị Mác – Lênin, phát triển kinh tế không chỉ là tăng trưởng sản lượng mà còn
phải gắn với công bằng, tiến bộ xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa rõ rệt.
- Sinh viên cần thấm nhuần sâu sắc chủ trương, đường lối, lý tưởng cao đẹp và bản chất tốt đẹp của Đảng
Cộng sản Việt Nam – lực lượng duy nhất lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Từ đó, củng cố niềm tin vào vai
trò lãnh đạo của Đảng, chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền
tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
- Theo định hướng của Hội nghị Trung ương các bài viết chính thống trên , sinh viênBáo Nhân Dân
cần tiếp tục đẩy mạnh học tập làm theo tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chủ động noi
gương những nhân, tập thể thanh niên tiên tiến để lan tỏa tinh thần phấn đấu, sáng tạo, góp phần hiện
thực hóa mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
- Cùng với đó, sinh viên phải tích cực đổi mới phương pháp học tập lý luận chính trị để nâng cao hiệu quả
giáo dục tưởng; đồng thời phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường
trách nhiệm xã hội. Việc quan tâm đến các sự kiện chính trị – xã hội cũng là biểu hiện cụ thể của tính tích
cực chính trị trong thời kỳ hội nhập.
- Không chỉ dừng lại ở lý tưởng, sinh viên còn phải hành động cụ thể bằng cách rèn luyện kỹ năng xã hội,
tham gia giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh. Những việc
làm như tham gia hoạt động tình nguyện, phản biện hội, bảo vệ môi trường ứng phó biến đổi khí
hậu đều góp phần xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ.
- Trong điều kiện kinh tế thị trường, sinh viên cần chủ động học tập, không ngừng nâng cao trình độ học
vấn, kỹ năng nghề nghiệp để thích ứng với nhu cầu của thị trường lao động trong nước quốc tế. Quá
trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, theo định hướng của Đảng, đòi hỏi thanh niên phải trở thành những
công dân toàn cầu nhưng vẫn giữ vững tinh thần dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Việc tổ chức các chương trình huấn luyện kỹ năng hội, hình học tập tự chủ, học tập trải nghiệm
khuyến khích đổi mới sáng tạo là những yếu tố cần thiết để sinh viên nâng cao năng lực thực tiễn, góp
phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong giai đoạn mới.
- Như vậy, sinh viên không chỉ người học còn chủ thể hành động trong công cuộc xây dựng đất
nước. Hội nhập quốc tế đi đôi với giữ gìn bản sắc tưởng, con đường để sinh viên vừa phát triển
bản thân, vừa góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
11
nlbdang
ĐỀ THI CÁC NĂM
[UIT] HK1 21 - 22
1. Giá trị thặng bản chủ nghĩa gì? Chỉ ra mối quan hệ giữa giá trị hàng hóa giá trị thặng dư.
Hãy nêu các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
- Giá trị thặng dư bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra, kết quả
của lao động không công của công nhân cho nhà tư bản. Ký hiệu giá trị thặng dư là m.
- Mối quan hệ giữa giá trị hàng hoá và giá trị thặng dư:
2. Tại sao các quốc gia cần phải tiến hành công nghiệp hóa? Phân tích đặc trưng chiến lược công nghiệp
hóa của Hàn Quốc (Nhật Bản, Trung Quốc) rút ra bài học cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt
Nam hiện nay.
[UIT] HK1 23 - 24
1. Trình bày hai thuộc tính của hàng hoá. Hãy chỉ ra mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hoá với
tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá. Giữa giá trị hàng hoá và giá cả có mối quan hệ như thế
nào?
2. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? Tại sao phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng hội chủ nghĩa? Tên gọi kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa từ khi
nào?
- Thể chế kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa là: hệ thống đường lối, chủ trương chiến lược,
hệ thống luật pháp, chính sách quy định xác lập chế vận hành, điều chỉnh chức năng, hoạt động, mục
tiêu, phương thức hoạt động, các quan hệ lợi ích của các tổ chức, các chủ thể kinh tế nhằm hướng tới xác
lập đồng bộ các yếu tố thị trường, các loại thị trường hiện đại theo hướng góp phần thúc đẩy dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
- Lý do phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN:
+ Thứ nhất, do thể chế kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa còn chưa đồng bộ. Do mới được
hình thành phát triển, cho nên, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế yêu cầu mang tính khách quan. Nhà
nước quản lý, điều tiết nền kinh tế thị trường bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công
cụ khác nhằm giảm thiểu các thất bại của thị trường, thực hiện công bằng hội. Do đó, cần phải xây
dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường để phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt tiêu cực và khuyết
tật của nó.
+ Thứ hai, hệ thống thể chế chưa đầy đủ. Thể chế kinh tế thị trường là sản phẩm của nhà nước, nhà nước
với cách là tác giả của thể chế chính thức nên đương nhiên nhân tố quyết định số lượng, chất lượng
của thể chế cũng như toàn bộ tiến trình xây dựng hoàn thiện thể chế. Với bản chất Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và nhân dân, do vậy thể chế
kinh tế thị trường Việt Nam phải thể chế phục vụ lợi ích, lợi ích của nhân dân. Trình độ năng
lực tổ chức và quản lý nền kinh tế thị trường của Nhà nước thể hiện chủ yếu ở năng lực xây dựng và thực
thi thể chế. Do vậy, Nhà nước phải xây dựng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường để thực hiện mục
tiêu của nền kinh tế.
+ Thứ ba, hệ thống thể chế còn kém hiệu lực, hiệu quả, thiếu các yếu tố thị trườngcác loại thị trường.
Trên thực tế, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn nhiều khiếm khuyết,
hệ thống thể chế vừa chưa đủ mạnh, vừa hiệu quả thực thi chưa cao. Các yếu tố thị trường, các loại hình
12
nlbdang
thị trường mới ở trình độ sơ khai. Do đó, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa là yêu cầu khách quan.
[HCMUS] HK1 24 - 25
1. Giá trị hàng hoá gì? Trình bày mối quan hệ giữa giá trị hàng hóa giá trị thặng dư. Theo kinh tế
chính trị Mac - Lenin, giá trị sử dụng của hàng hoá có ảnh hưởng đến giá trị hàng hoá hay không?
2. Hội nhập kinh tế quốc tế là gì? Tại sao Việt Nam phải hội nhập kinh tế quốc tế? Hội nhập kinh tế quốc
tế tạo ra thời cơ và thách thức gì cho Việt Nam?
[HCMUS] HK.HÈ 22 - 23
1. Sản xuất hàng hoá gì? Trình bày hai điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá. Tại sao sản xuất hàng
hóa thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh? Ưu thế của sản xuất hàng hoá so với kinh tế tự nhiên.
- Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức hoạt động kinh tếđó, những người sản xuất ra sản phẩm nhằm
mục đích trao đổi, mua bán.
- Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá (có 2 điều kiện):
• Phân công lao động xã hội: sự phân chia lao động xã hội thành các ngành, nghề khác nhau trong nền
sản xuất hội. tạo ra sự chuyên môn hóa lao động, chuyên môn hoá sản xuất thành những ngành
nghề khác nhau, do đó mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định. Song
cuộc sống của mỗi người lại cần nhiều loại sản phẩm khác nhau. Do đó, bản thân nhu cầu đòi hỏi họ phải
trao đổi sản phẩm cho nhau.
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất do quan hệ sở hữu về liệu sản xuất
quy định.
Người sở hữu tư liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm lao động. Chính quan hệ sở hữu khác nhau về tư
liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại có những mối liên
hệ thông qua phân công lao động hội nên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất tiêu dùng. Do vậy,
người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua sự mua - bán hàng hoá, tức phải
trao đổi dưới những hình thái hàng hoá.
=> Sản xuất hàng hoá ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nói trên, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy
thì không có sản xuất hàng hoá và sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hoá.
- Sản xuất hàng hóa thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanhvì nó đặt người sản xuất vào một môi
trường cạnh tranh gay gắt, buộc họ phải không ngừng đổi mới nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Do mỗi người sản xuất đều hoạt động độc lập phải tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, họ phải
năng động trong việc nắm bắt nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng để tồn tại phát triển. Điều này đòi hỏi
phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, hợp hóa quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng đa
dạng hóa mẫu mã sản phẩm. Cạnh tranh cũng buộc các chủ thể kinh tế tối ưu hóa chi phí, tổ chức tốt việc
phân phối tiêu thụ hàng hóa. Chính áp lực thị trường này động lực mạnh mẽ thúc đẩy năng suất lao
động hội tăng lên, làm cho trình độ kỹ thuật, tay nghề sở vật chất không ngừng được nâng cao.
Nhờ đó, lực lượng sản xuất gồm người lao động, công cụ lao động trình độ tổ chức sản xuất – được
phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
- Ưu thế của sản xuất hàng hoá so với kinh tế tự nhiên
+ Mục đích của sản xuất hàng hoá để thoả mãn nhu cầu của người khác, của thị trường. Sự gia tăng
không hạn chế nhu cầu của thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển.
13
nlbdang
+ Sản xuất hàng hoá ra đời phát triển trên sở phân công lao động hội, tạo ra trình chuyên môn
hoá cao và dưới tác động của cạnh tranh là cơ sở nâng cao năng suất lao động, số lượng và chất lượng sản
phẩm làm ra đáp ứng nhu cầu xã hội tốt hơn.
+ Sản xuất hàng hoá tạo điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng, miền, địa phương
trong nước quốc tế; nâng cao trình độ phát triển, tạo điều kiện ngày càng đời sống ngày càng vật
chất và tinh thần của người dân, làm nền kinh tế phát triển năng động và có hiệu quả hơn.
2. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? (trùng UIT/HK1 23 - 24)
Tại sao phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa? Chất lượng thể chế kinh
tế có tầm quan trọng như thế nào đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia?
[HCMUS] HK1 23 - 24
1. Tuần hoàn bản gì? Tăng tốc độ chu chuyển bản mang lại lợi ích cho các nhà sản xuất kinh
doanh? Cho ví dụ.
- Tuần hoàn củabản sự vận động của bản lần lượt trải qua ba giai đoạn dưới ba hình thái kế tiếp
nhau (tư bản tiền tệ, bản sản xuất, bản hàng hóa) gắn với thực hiện những chức năng tương ứng
(chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư, thực hiện giá trị thặng dư) và quay trở về
hình thái ban đầu cùng với giá trị thặng dư.
- Các lợi ích mà việc tăng tốc độ chu chuyển tư bản mang lại cho các nhà sản xuất kinh doanh là:
2. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? (trùng UIT/HK1 23 - 24)
Tại sao phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa? Chất lượng thể chế kinh
tế có tầm quan trọng như thế nào đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia? (trùng HCMUS/HK.HÈ 22 -
23)
14

Preview text:

nlbdang
CÁC CÂU HỎI CẦN ĐƯỢC LƯU Ý
Chương 2: Hàng hoá, thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường
1. Hàng hoá là gì? Trình bày mặt chất và mặt lượng của giá trị hàng hoá. Năng suất lao động và mức độ
phức tạp của lao động ảnh hưởng như thế nào đến giá trị hàng hoá?
- Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi,
mua bán. Sản phẩm của lao động là hàng hoá khi được đưa ra nhằm mục đích trao đổi, mua bán trên thị
trường. Hàng hoá có thể ở dạng vật thể và phi vật thể. - Mặt
chất của giá trị hàng hóa thể hiện ở chỗ: giá trị chính là lao động xã hội của người sản xuất hàng
hóa kết tinh trong hàng hóa. Giá trị hàng hóa không chỉ là đặc tính vật chất mà còn là phạm trù kinh tế
mang tính lịch sử, thể hiện mối quan hệ sản xuất và trao đổi giữa những người lao động độc lập. Khi có
sản xuất và trao đổi hàng hóa thì giá trị xuất hiện, nhưng giá trị không hiện ra trực tiếp mà qua hình thức
giá trị trao đổi – hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị. Giá trị là nội dung thực sự, là cơ sở để ngầm so
sánh lượng lao động xã hội đã hao phí ẩn giấu trong hàng hóa. Để thu hồi được lao động xã hội đã kết
tinh, người sản xuất phải đưa hàng hóa ra thị trường, được người tiêu dùng chấp nhận và hàng hóa phải
được bán đi. Do đó, giá trị hàng hóa không phải do ý muốn chủ quan của người sản xuất mà chỉ tồn tại
khi hàng hóa có giá trị sử dụng và đáp ứng nhu cầu xã hội. Điều này thể hiện rõ tính xã hội của giá trị, chỉ
hiện hữu trong các quan hệ sản xuất và trao đổi giữa các chủ thể độc lập trong xã hội.
- Lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động xã hội đã hao phí để sản xuất ra hàng hóa, được đo bằng
thời gian lao động xã hội cần thiết. Đây không phải là thời gian lao động cá biệt của từng người sản xuất,
mà là thời gian cần thiết để tạo ra một giá trị sử dụng trong điều kiện sản xuất trung bình của xã hội, với
trình độ thành thạo và cường độ lao động trung bình, được xã hội thừa nhận.
Trong thực tiễn sản xuất, người sản xuất cần chủ động đổi mới và sáng tạo để rút ngắn thời gian lao động
cá biệt xuống thấp hơn mức thời gian lao động xã hội cần thiết, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh. Xét về cấu
thành, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa bao gồm hai phần: hao phí lao động quá khứ (ẩn chứa trong
nguyên vật liệu, nhiên liệu, máy móc đã sử dụng) và hao phí lao động mới được kết tinh thêm trong quá trình sản xuất.
- Sự ảnh hưởng của năng suất lao động và mức độ phức tạp của lao động đến giá trị hàng hoá:
+ Năng suất lao động và tính phức tạp của lao động là hai nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến lượng giá trị
của hàng hóa. Năng suất lao động được hiểu là khả năng sản xuất của người lao động trong một đơn vị
thời gian, thể hiện qua số lượng sản phẩm tạo ra hoặc thời gian hao phí để sản xuất một đơn vị sản phẩm.
Khi năng suất lao động tăng lên, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa
giảm xuống, làm giảm lượng giá trị của hàng hóa. Năng suất lao động chịu ảnh hưởng từ trình độ tay
nghề, sự phát triển khoa học kỹ thuật, quy mô và hiệu quả của tư liệu sản xuất, tổ chức sản xuất và các
điều kiện tự nhiên. Do đó, việc cải thiện năng suất lao động là cách hiệu quả để giảm hao phí lao động xã
hội và nâng cao hiệu quả sản xuất.
+ Bên cạnh đó, tính phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị hàng hóa. Lao động giản
đơn là những công việc không yêu cầu đào tạo chuyên sâu, trong khi lao động phức tạp đòi hỏi trình độ
chuyên môn cao và kỹ năng nghề nghiệp chuyên biệt. Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động phức tạp
tạo ra nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn, bởi nó được coi là lao động giản đơn được nhân lên về
mặt giá trị. Vì vậy, mức độ phức tạp của lao động không chỉ quyết định chất lượng và giá trị của sản
phẩm mà còn ảnh hưởng đến mức thù lao của người lao động.
+ Tóm lại, năng suất lao động quyết định thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hóa, còn
tính phức tạp của lao động quyết định giá trị gia tăng trong cùng một đơn vị thời gian lao động. Hai yếu tố
này cùng tác động để xác định lượng giá trị cuối cùng của hàng hóa trên thị trường.
+ Liên hệ đóng góp của bản thân: 1 nlbdang
2. Phân tích những yếu tố cấu thành quy luật giá trị hàng hoá lao động? Tác động của quy luật giá trị hàng
hoá lao động tới lực lượng sản xuất? - Quy
luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa. Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá
thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị.
- Những yếu tố cấu thành quy luật giá trị hàng hoá lao động: Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi
hàng hóa phải dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết. Người sản xuất muốn bán được hàng hóa trên thị
trường, được xã hội thừa nhận, thì giá trị của hàng hóa cá biệt phải phù hợp với thời gian lao động xã hội
cần thiết. Vì vậy, họ phải luôn tìm cách hạ thấp hao phí lao động cá biệt xuống nhỏ hơn hoặc bằng hao phí
lao động xã hội cần thiết. Trong trao đổi, phải theo nguyên tắc ngang giá, lấy giá trị xã hội làm cơ sở,
không dựa trên giá trị cá biệt. Quy luật giá trị hoạt động thông qua sự vận động của giá cả xung quanh giá
trị, dưới tác động của cung - cầu. Giá cả thị trường lên xuống quanh giá trị hàng hóa trở thành cơ chế tác động của quy luật này.
- Tác động của quy luật giá trị hàng hoá lao động tới lực lượng sản xuất:
+ Quy luật giá trị điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa thông qua sự biến động của giá cả. Khi giá cả
hàng hóa bằng hoặc cao hơn giá trị xã hội, sản xuất được mở rộng; ngược lại, nếu giá thấp hơn, sản xuất
giảm hoặc ngừng. Điều này khiến tư liệu sản xuất và sức lao động dịch chuyển tự phát sang ngành có giá
cả cao hơn, góp phần phân bố hợp lý nguồn lực trong nền kinh tế.
+ Quy luật giá trị kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động.
Người sản xuất phải giảm hao phí lao động cá biệt xuống bằng hoặc thấp hơn hao phí lao động xã hội cần
thiết, bằng cách áp dụng công nghệ mới, đổi mới quản lý, tiết kiệm chi phí. Kết quả là lực lượng sản xuất
được phát triển mạnh mẽ, năng suất lao động xã hội tăng lên, chi phí sản xuất giảm.
+ Ngoài ra, quy luật giá trị làm phân hóa người sản xuất thành những người giàu và nghèo dựa trên khả
năng hạ thấp hao phí lao động cá biệt. Những người sản xuất hiệu quả sẽ giàu có, còn những người kém
hiệu quả dễ bị thua lỗ, phá sản, dẫn đến sự phân hóa tự nhiên trong lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, trong
nền kinh tế thị trường thuần túy, các yếu tố như đầu cơ, gian lận, khủng hoảng kinh tế có thể làm tăng sự
phân hóa và các tác động tiêu cực khác.
3. Sức lao động là gì? Để sức lao động trở thành hàng hoá cần có những điều kiện nào? Người lao động
cần phải làm gì để cải thiện tiền công khi bán sức lao động cho nhà tư bản?
- Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể,
trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó
- Những việc người lao động cần làm để cải thiện tiền công khi bán sức lao động cho nhà tư bản:
+ Ngày nay, các quốc gia đều quy định mức lương tối thiểu để bảo vệ người lao động. Đây là giới hạn
dưới, đảm bảo người lao động không bị trả lương quá thấp. Quy định này giúp bảo vệ quyền lợi cơ bản
của họ. Người lao động cần nắm rõ luật lao động tại quốc gia mình. Điều này giúp họ yêu cầu mức lương
không thấp hơn quy định. Tham gia công đoàn cũng hỗ trợ bảo vệ lợi ích. Công đoàn có thể thương lượng
tập thể với nhà tư bản. Qua đó, người lao động có thể cải thiện thu nhập. Hiểu biết pháp luật giúp họ tự tin
trong đàm phán. Quy định lương tối thiểu là nền tảng cho lợi ích kinh tế.
+ Người lao động muốn cải thiện lợi ích của mình trong quan hệ lợi ích kinh tế với người lao động cần
phải nâng cao năng suất lao động của chính mình. NSLĐ tăng có nghĩa là cùng 1 đơn vị thời gian tạo ra
nhiều sản phẩm hơn cho người sử dụng lao động. Người lao động có NSLĐ càng cao sẽ có khả năng cải
thiện lợi ích của mình tốt hơn những người có NSLĐ thấp hơn.
+ Muốn nâng cao NSLĐ của mình thì người lao động không ngừng nâng cao năng lực bản thân (kiến
thức, kỹ năng, thái độ).
+ Khi người lao động chứng minh mình có năng lực thì làm việc cho nhà tư bản nào họ cũng đạt được lợi ích tốt. 2 nlbdang
4. Trình bày tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Phân tích mối quan hệ giữa tính hai mặt của lao
động sản xuất hàng hóa với hai thuộc tính của hàng hóa. Tại sao lao động sản xuất hàng hóa vừa mang
tính tư nhân, vừa mang tính xã hội?
- Lao động sản xuất hàng hóa có hai mặt rõ rệt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
+ Lao động cụ thể là hoạt động lao động mang tính đặc thù, có mục đích, đối tượng, công cụ và phương
pháp riêng biệt, gắn liền với từng nghề nghiệp chuyên môn cụ thể. Ví dụ, công nhân may mặc, thợ mộc
hay thợ điện đều thực hiện những công việc khác nhau, tạo ra các sản phẩm có giá trị sử dụng riêng biệt.
Chính lao động cụ thể tạo nên giá trị sử dụng của hàng hóa — tức là công dụng hoặc lợi ích mà sản phẩm mang lại cho người dùng.
+ Trong khi đó, lao động trừu tượng là khía cạnh chung, không phụ thuộc vào hình thức hay loại công
việc cụ thể, mà đo bằng lượng hao phí sức lao động xã hội nói chung — tức là thời gian và công sức lao
động mà xã hội chấp nhận để sản xuất ra hàng hóa. Lao động trừu tượng biểu thị phần hao phí lao động
chung, thể hiện dưới dạng giá trị của hàng hóa, giúp các hàng hóa với giá trị sử dụng khác nhau có thể
được so sánh và trao đổi trên thị trường.
+ Nói cách khác, lao động cụ thể quyết định tính đa dạng và công dụng thực tế của sản phẩm, trong khi
lao động trừu tượng quyết định giá trị trao đổi của sản phẩm đó trong nền kinh tế hàng hóa. Đây là điểm
khác biệt cơ bản giữa hai mặt lao động sản xuất hàng hóa.
- Mối quan hệ giữa tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá với hai thuộc tính của hàng hoá:
+ Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa — giá trị sử dụng và giá trị — là một mối quan hệ biện
chứng, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn. Giá trị sử dụng thể hiện công dụng, tính có ích của hàng hóa nhằm
thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng, thuộc phạm trù tự nhiên, do vật chất quyết định và tồn tại bền vững
theo thời gian. Ngược lại, giá trị là hao phí lao động xã hội trừu tượng kết tinh trong hàng hóa, mang tính
xã hội và lịch sử, là cơ sở để so sánh, trao đổi hàng hóa trong sản xuất hàng hóa.
+ Hai thuộc tính này luôn cùng tồn tại trong mỗi hàng hóa nhưng lại khác nhau về mục đích, đối tượng và
thời gian thực hiện: giá trị sử dụng gắn với người tiêu dùng và quá trình tiêu dùng hàng hóa, trong khi giá
trị liên quan đến người sản xuất và quá trình trao đổi mua bán trên thị trường. Sự thống nhất giữa chúng
tạo nên bản chất đầy đủ của hàng hóa, nhưng đồng thời cũng tồn tại mâu thuẫn khi mục đích sản xuất và
mục đích tiêu dùng không hoàn toàn trùng khớp. Đây chính là điểm cơ bản để hiểu bản chất hàng hóa
trong kinh tế thị trường.
+ Lao động sản xuất hàng hóa có tính hai mặt, tương ứng với hai thuộc tính của hàng hóa. Lao động cụ
thể là lao động có ích, tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa qua những hình thức lao động chuyên môn khác
nhau. Lao động trừu tượng là hao phí sức lao động xã hội nói chung, không xét đến hình thức cụ thể, tạo
ra giá trị của hàng hóa và làm cơ sở để so sánh, trao đổi hàng hóa khác nhau. Việc quy đổi lao động cụ thể
sang lao động trừu tượng giúp làm rõ bản chất giá trị trong sản xuất hàng hóa.
- Lao động sản xuất hàng hoá vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã hội vì:
+ Lao động sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân vì mỗi chủ thể sản xuất tự quyết định sản xuất cái
gì, như thế nào theo đặc điểm riêng của mình, phản ánh tính chất cá nhân và độc lập trong sản xuất. Ví dụ,
một thợ mộc làm bàn ghế theo kỹ thuật và công cụ riêng, phục vụ khách hàng cụ thể.
+ Tuy nhiên, lao động sản xuất hàng hóa cũng mang tính xã hội vì sản phẩm của từng cá nhân là một bộ
phận trong tổng thể lao động xã hội, gắn liền với hệ thống phân công lao động rộng lớn. Sản phẩm đó
phải đáp ứng nhu cầu chung của xã hội và được trao đổi trên thị trường, thể hiện sự phối hợp giữa các chủ
thể sản xuất. Ví dụ, chiếc bàn của thợ mộc cần phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, đồng thời nguyên
liệu làm bàn được cung cấp bởi người khác, tạo thành chuỗi lao động xã hội.
+ Mối quan hệ này thể hiện sự thống nhất giữa lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng, khi người
sản xuất vừa phải chịu trách nhiệm xã hội, vừa được hưởng lợi từ sản phẩm của mình. Ngược lại, người
tiêu dùng thúc đẩy sự phát triển sản xuất thông qua nhu cầu và phản hồi. Nếu sản phẩm không phù hợp
với nhu cầu xã hội hoặc hao phí lao động cá biệt quá cao, hàng hóa sẽ không bán được, dẫn đến khủng
hoảng tiềm ẩn trong nền kinh tế hàng hóa. 3 nlbdang
5. Vì sao tiền tệ là một loại hàng hoá đặc biệt?
- Tiền tệ là một hàng hoá đặc biệt vì tiền tệ cũng là hàng hoá có giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của tiền
(vàng) cũng như giá trị của hàng hoá khác, do lao động trừu tượng của người sản xuất ra vàng tạo nên.
Nhưng tiền tệ không phải là hàng hoá thông thường mà là hàng hoá đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá
chung cho tất cả hàng hoá. Giá trị sử dụng của tiền (vàng) khác với các hàng hoá thông thường ở chỗ nó
không chỉ thoả mãn nhu cầu sử dụng của con người mà còn làm vật ngang giá chung, làm thước đo giá trị
của tất cả các hàng hoá khác.
Chương 3: Giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường.
1. Trình bày các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư. Tại sao nhà tư bản bán hàng hoá đúng giá trị vẫn
thu được giá trị thặng dư? Hãy nêu các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa.
- Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư: + Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Là phương pháp kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu mà không thay đổi năng suất
lao động hay giá trị sức lao động. Ví dụ, nếu ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là lao động tất yếu,
kéo dài thêm 2 giờ làm tăng thời gian lao động thặng dư từ 4 giờ lên 6 giờ, làm tăng tỷ suất giá trị thặng
dư. Tuy nhiên, phương pháp này bị giới hạn bởi khả năng chịu đựng của người lao động và các quy định về thời gian làm việc. + Sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Là phương pháp rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách tăng năng suất lao động, nhờ đó tăng thời
gian lao động thặng dư mà không cần kéo dài ngày lao động. Ví dụ, nếu thời gian lao động tất yếu giảm
từ 4 giờ xuống còn 2 giờ nhờ tăng năng suất, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, làm tăng tỷ suất giá
trị thặng dư lên gấp nhiều lần. Phương pháp này đòi hỏi cải tiến kỹ thuật và tổ chức sản xuất để giảm giá trị sức lao động.
+ Ngoài ra, còn có giá trị thặng dư siêu ngạch, là giá trị thặng dư vượt trội tạm thời thu được khi một xí
nghiệp cải tiến kỹ thuật vượt trội hơn các đối thủ. Đây là động lực thúc đẩy các nhà tư bản đầu tư vào
công nghệ và tăng năng suất lao động, góp phần phát triển lực lượng sản xuất và hình thành giá trị thặng dư tương đối.
- Nhà tư bản bán hàng hoá đúng giá trị vẫn thu được giá trị thặng dư vì:
Giá trị thặng dư hình thành trong quá trình sản xuất, không phải từ việc mua bán hàng hóa. Sức lao động
của công nhân có khả năng tạo ra giá trị vượt xa chi phí mà nhà tư bản trả, tức tiền công được tính dựa
trên mức chi phí cần thiết để duy trì cuộc sống của công nhân, như thực phẩm, nhà ở. Phần giá trị vượt
quá tiền công chính là giá trị thặng dư, thuộc về nhà tư bản mà không đòi hỏi chi phí bổ sung.
Trong một ca làm việc, thời gian lao động của công nhân được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn đầu,
công nhân tạo ra giá trị tương đương với tiền công của mình, thường chiếm một phần thời gian làm việc,
ví dụ 4 giờ trong 8 giờ. Giai đoạn sau, công nhân tiếp tục lao động, tạo ra giá trị bổ sung – giá trị thặng dư
– mà nhà tư bản chiếm đoạt. Cơ chế này cho phép nhà tư bản thu lợi từ lao động của công nhân mà không
cần tăng giá bán hàng hóa.
Khi nhà tư bản bán hàng hóa đúng giá trị, giá bán phản ánh lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra
sản phẩm, bao gồm cả giá trị thặng dư tích lũy trong quá trình sản xuất. Do đó, ngay cả khi không nâng
giá bán, nhà tư bản vẫn thu được lợi nhuận vì giá trị thặng dư đã được “nhúng” sẵn trong hàng hóa từ lao động của công nhân.
Tóm lại, giá trị thặng dư xuất phát từ khả năng đặc biệt của sức lao động trong việc tạo ra giá trị lớn hơn
chi phí trả công. Dù bán hàng hóa đúng giá trị, nhà tư bản vẫn hưởng lợi nhuận nhờ khai thác phần giá trị
dư thừa mà công nhân tạo ra trong quá trình sản xuất, thể hiện bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. 4 nlbdang
2. Giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa là gì? Phân tích các phương pháp SX GTTD.
- Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra, là kết quả
của lao động không công của công nhân cho nhà tư bản. Ký hiệu giá trị thặng dư là m.
Chương 4: Cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế thị trường
1. Tại sao nói chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự chuẩn bị tiền đề vật chất đầy đủ nhất cho CNXH?
2. Phân tích nguyên nhân ra đời và bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.
3. Quá trình có tính quy luật chuyển từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc
quyền? Tổ chức độc quyền là gì? Độc quyền ra đời có thủ tiêu được cạnh tranh không?
Chương 5: Kinh tế thị trường định hướng XHCN và các quan hệ lợi ích kinh tế ở Việt Nam
1. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? Tại sao phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa? Chất lượng thể chế kinh tế có tầm quan trọng như thế nào đối với sự
phát triển kinh tế của quốc gia?
- Thể chế KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ,
đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. (theo văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII)
- Phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì:
+ Thứ nhất, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chưa thực sự đồng bộ. Do mới
được hình thành và phát triển, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế là một yêu cầu khách quan nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý và điều tiết nền kinh tế. Nhà nước cần sử dụng pháp luật, chiến lược, quy hoạch và các
công cụ phù hợp để giảm thiểu các thất bại thị trường và đảm bảo công bằng xã hội.
+ Thứ hai, hệ thống thể chế hiện nay vẫn còn thiếu và chưa đầy đủ. Với vai trò là chủ thể xây dựng thể
chế chính thức, nhà nước cần đảm bảo thể chế kinh tế phục vụ lợi ích chung, hướng tới sự phát triển bền
vững. Năng lực tổ chức và quản lý nền kinh tế được thể hiện rõ nhất qua khả năng xây dựng và thực thi
hiệu quả các thiết chế kinh tế.
+ Thứ ba, hiệu lực và hiệu quả của thể chế còn hạn chế, trong khi các yếu tố thị trường và các loại hình thị
trường vẫn đang ở giai đoạn sơ khai. Chính vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là điều cần thiết để phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết tật của thị trường và đạt
được các mục tiêu phát triển toàn diện.
- Tầm quan trọng của thể chế kinh tế đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia:
2. Lợi ích kinh tế là gì? Hãy nêu những biểu hiện cơ bản của lợi ích kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
Người lao động cần phải làm gì để cải thiện lợi ích của mình trong quan hệ lợi ích kinh tế với người sử dụng lao động?
- Lợi ích kinh tế: Lợi ích kinh tế là lợi ích vật chất, lợi ích thu được khi thực hiện các hoạt động kinh tế của con người.
3. Tại sao thành phần kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN? Giải pháp để kinh tế nhà nước làm tốt vai trò chủ đạo. 5 nlbdang
- Kinh tế nhà nước: dựa trên hình thức sở hữu nhà nước về tư liệu sản xuất, bao gồm các doanh nghiệp
nhà nước, ngân sách nhà nước, ngân hàng nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm nhà nước
và các tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể đưa vào vòng chu chuyển kinh tế, trong đó doanh nghiệp nhà
nước là bộ phận nòng cốt
- Kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, vì:
+ Kinh tế nhà nước nắm giữ các bộ phận then chốt của nền kinh tế do đó là lực lượng vật chất quan trọng
và là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
+ Doanh nghiệp nhà nước là bộ phận nòng cốt của kinh tế nhà nước đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và
công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật.
+ Kinh tế nhà hỗ trợ, giúp đó và định hướng các thành phần kinh tế khác theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
+ Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
+ Kinh tế nhà nước hướng đến đảm bảo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
- Giải pháp để kinh tế nhà nước làm tốt vai trò chủ đạo:
+ Để kinh tế nhà nước làm tốt vai trò chủ đạo thì trong những năm tới phải cơ bản hoàn thành việc cùng
có, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đối mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hiện có,
đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có phần chi phối ở một số ngành
lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo những hướng sau:
• Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh
vực, trong đó có ngành mạnh, có nhiều chủ sở hữu, sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối. Khẩn trương cải
thiện tình hình tài chính và lao động của các doanh nghiệp nhà nước, củng cố và hiện đại hoá một bước
các tổng công ty nhà nước.
• Thực hiện tốt chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và đa dạng hoá sở hữu đối với những
doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn.
• Giao, bán, khoán, cho thuê… các doanh nghiệp loại nhỏ mà nhà nước không cần nắm giữ.
• Sáp nhập, giải thể, cho phá sản những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả và không thực hiện được các biện pháp trên.
• Về mặt quản lý kinh tế, Nhà nước phải tách biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh của doanh
nghiệp. Thực hiện chế độ quản lý công ty đối với các các doanh nghiệp kinh doanh dưới dạng công ty
trách nhiệm hữu hạn một chủ sở hữu là nhà nước và công ty cổ phần có vốn nhà nước; giao cho hội đồng
quản trị doanh nghiệp quyền đại diện trực tiếp chủ sở hữu gắn với quyền tự chủ kinh doanh; quy định rõ
quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.
4. Tại sao phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam?
+ Xét về tính tất yếu của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
Một là, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là xu thế khách quan, phù hợp với điều
kiện lịch sử, trình độ phát triển lực lượng sản xuất và bối cảnh hội nhập của Việt Nam trong thời đại toàn
cầu hóa. Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển đến trình độ nhất định, việc chuyển sang kinh tế thị trường là tất yếu. 6 nlbdang
Hai là, kinh tế thị trường có ưu thế trong việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực, thúc đẩy
cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động. Đây là tiền đề quan trọng để phát triển kinh
tế bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, mô hình này phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân về một xã hội "dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Trong điều kiện hiện nay, nó không chỉ phục vụ mục tiêu tăng
trưởng mà còn bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.
+ Xét về việc không lựa chọn các mô hình kinh tế thị trường khác mà phải là định hướng xã hội chủ nghĩa:
Việt Nam không lựa chọn mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hay các hình thức khác vì chúng
thường dẫn đến bất bình đẳng xã hội, phân hóa giàu nghèo, khủng hoảng chu kỳ và dễ lệ thuộc vào các
thế lực tài chính lớn. Những mô hình ấy đặt lợi nhuận lên trên con người, thiếu sự kiểm soát và điều tiết xã hội.
Ngược lại, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cho phép phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ
xã hội, bảo đảm vai trò chủ đạo của nhà nước trong định hướng, điều tiết và bảo vệ lợi ích của nhân dân
lao động. Đây là sự lựa chọn mang tính bản sắc, kế thừa các giá trị của dân tộc và phù hợp với con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
5. Hãy chứng minh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp,
trong đó Nhà nước có vai trò lãnh đạo, dẫn dắt thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế chịu sự tác động giữa hai lực lượng: Nhà nước (thể chế) và Thị trường.
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế hỗn hợp, biểu hiện:
+ Yếu tố thị trường: là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường: như
quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ…
+ Yếu tố nhà nước: nền kinh tế có sự quản lý của Nhà nước Pháp quyền XHCN do Đảng CSVN lãnh đạo.
- Mục tiêu: định hướng phát triển theo con đường XHCN hướng tới dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
6. Chứng minh nền kinh tế thị trường là sản phẩm văn minh của nhân loại.
7. Khái niệm Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam theo văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.
- Là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của
kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo;
bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp
với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
8. Vì sao trong nền KTTT cần phải có sự điều tiết của nhà nước?
- Nhà nước đại diện cho toàn nhân dân, toàn xã hội quản lý đất nước về hành chính. Nhà nước là người
đại diện sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, nhà nước quản lý các xí nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà
nước, kinh tế tập thể.
- Cơ chế thị trường bên cạnh những tác động tích cực, nó cũng có những tác động tiêu cực: phân hoá giàu
nghèo, tính tự phát vô chính phủ có thể dẫn đến những mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế quốc
dân, hoặc gây ra khủng hoảng kinh tế chu kỳ. Cơ chế thị trường tự do là môi trường làm nảy sinh và gia
tăng các tệ nạn xã hội, lối sống chạy theo đồng tiền, huỷ hoại môi trường, thậm chí cả tội ác. Bởi vậy,
theo đà phát triển của trình độ xã hội hoá sản xuất tất yếu nảy sinh yêu cầu có sự điều tiết của nhà nước. 7 nlbdang
- Ngày nay, hầu hết các quốc gia đều chuyển sang thực hiện cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà
nước. Đây là cơ chế vận hành của nền kinh tế hỗn hợp bao gồm cơ chế thị trường tự do và sự điều tiết vĩ
mô của nhà nước. Như vậy, nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
- Sự điều tiết vĩ mô của nhà nước thể hiện trên các mặt sau đây:
+ Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi.
+ Nhà nước tạo môi trường kinh tế - xã hội ổn định.
+ Nhà nước soạn thảo kế hoạch, quy hoạch, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và ban hành các chính sách.
+ Nhà nước sử dụng những biện pháp hành chính khi cần thiết.
Chương 6: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1. Tại sao các quốc gia cần phải tiến hành công nghiệp hoá? Hiện nay Việt Nam đã trở thành quốc gia
công nghiệp chưa? Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam cần phải làm gì để thích ứng với cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ 4?
- Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi nền sản xuất hàng hóa từ dựa trên lao động thủ công là chính
sang nền sản xuất hàng hóa dựa chủ yếu trên lao động bằng máy móc nhằm tạo ra năng suất lao động cao.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh
doanh, dịch vụ và quản lý khoa học – kỹ thuật, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng
một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại; dựa trên sự
phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Chính vì vậy, nếu không có quá trình công nghiệp hóa thì không thể hiện đại hóa quy trình sản xuất nhằm
tối ưu hóa và tăng cao năng suất lao động dẫn đến kinh tế kém phát triển, cho nên các quốc gia cần phải
tiến hành công nghiệp hóa.
2. Trình bày những phương hướng nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế trong phát triển của
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
3. Trình bày những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam.
4. Hội nhập kinh tế quốc tế là gì? Theo anh (chị), chúng ta có nên tiếp nhận nguồn vốn từ nước ngoài đầu
tư vào Việt Nam hay không? Nhà nước cần phải làm gì để đạt hiệu quả trong phát triển kinh tế khi hội nhập kinh tế quốc tế?
5. Hiện nay có ý kiến cho rằng: “Khoa học, công nghệ ngày càng phát triển thì sẽ thay thế lao động sống.
Như vậy, thì sẽ không còn giá trị bóc lột thặng dư nữa”. Anh/Chị đồng ý hay không đồng ý với ý kiến trên? Vì sao?
CÁC VÍ DỤ MINH HOẠ, LIÊN HỆ THỰC TIỄN HAY
- Về kinh tế thị trường ở VN:
Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp,
kết hợp giữa cơ chế thị trường và sự điều tiết của Nhà nước nhằm đảm bảo phát triển bền vững và công
bằng xã hội. Nhà nước đóng vai trò định hướng thông qua các chính sách như thúc đẩy kinh tế tuần hoàn
để tối ưu hóa tài nguyên và bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế số nhằm nâng cao năng suất nhưng vẫn 8 nlbdang
kiểm soát để tránh bất bình đẳng, hay khuyến khích kinh tế chia sẻ (Grab, ứng dụng công nghệ) nhưng
bảo vệ quyền lợi người lao động. Các thành phần kinh tế tư nhân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhà nước
cùng phát triển, trong đó khu vực nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong các ngành then chốt. Để vượt qua
"bẫy thu nhập trung bình", Nhà nước sử dụng chính sách thuế, đầu tư công và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực. Mô hình này không chỉ tận dụng lợi thế thị trường để tăng trưởng kinh tế mà còn duy trì tự chủ,
hạn chế bất bình đẳng và kiểm soát tư bản nước ngoài, từ đó giúp Việt Nam phát triển toàn diện trong bối
cảnh hội nhập toàn cầu. Có thể khẳng định, kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự lựa chọn phù hợp
để Việt Nam cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội, hướng tới phát triển bền vững.
- Về độc quyền và độc quyền tại VN: Độc quyền kinh tế có thể dẫn đến lũng đoạn thị trường, hạn chế
cạnh tranh và ảnh hưởng xấu đến quyền lợi người tiêu dùng. Việt Nam đã hoàn thiện pháp luật về cạnh
tranh, tăng cường kiểm soát các tập đoàn lớn như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tập đoàn Viễn
thông Quân đội (Viettel) nhằm ngăn chặn hành vi độc quyền. Đồng thời, Nhà nước khuyến khích phát
triển đa dạng các doanh nghiệp nhỏ và vừa để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Trong bối cảnh chiến
tranh thương mại Mỹ - Trung, việc Mỹ áp thuế cao đối với hàng hóa Trung Quốc đã tạo cơ hội cho Việt
Nam thu hút dòng vốn FDI chuyển dịch, thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu. Đây là yếu tố quan trọng giúp
Việt Nam tránh “bẫy thu nhập trung bình thấp” và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế theo tầm nhìn đến năm 2030.
- Về hội nhập kinh tế ở VN: Hội nhập kinh tế quốc tế là chiến lược trọng yếu để Việt Nam mở rộng thị
trường xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình này không tránh khỏi những tác động
tiêu cực từ các cuộc chiến tranh thương mại và chính trị giữa các cường quốc, đặc biệt là việc Mỹ áp thuế
cao lên nhiều mặt hàng sản xuất tại châu Á, gây áp lực lên các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Việt Nam đã chủ động điều chỉnh chính sách, đẩy mạnh tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới như CPTPP, EVFTA nhằm tận dụng cơ hội tiếp cận thị trường và đồng thời đa dạng hóa thị trường
xuất khẩu để giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào một số đối tác lớn. Bên cạnh đó, Việt Nam tăng cường phát
triển kinh tế số, công nghiệp hỗ trợ và nâng cao năng lực cạnh tranh nội địa, đồng thời củng cố an ninh
kinh tế để đối phó với các thách thức từ bên ngoài. Đây là bước đi thiết yếu giúp Việt Nam vượt qua bẫy
thu nhập trung bình thấp, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững vào năm 2030.
- Về CNH, HĐH ở VN: Nam đã thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có công nghệ
cao, điển hình như VinFast sản xuất ô tô điện và tập trung phát triển hạ tầng số. Chương trình chuyển đổi
số quốc gia thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong sản xuất và dịch vụ, giúp nâng cao năng lực cạnh
tranh. Đồng thời, Việt Nam tăng cường xây dựng chuỗi cung ứng nội địa nhằm giảm phụ thuộc vào biến
động thương mại và địa chính trị toàn cầu. Những bước đi này góp phần quan trọng giúp nền kinh tế phát
triển bền vững, tránh “bẫy thu nhập trung bình thấp” và hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030. - Liên hệ bản thân:
1. Chỉ ra những giải pháp giúp sinh viên nâng cao giá trị hàng hoá sức lao động của mình.
- Dưới góc nhìn của Kinh tế Chính trị Mác - Lênin, sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, bởi nó
không chỉ tạo ra giá trị mà còn là nguồn gốc của mọi giá trị thặng dư trong nền kinh tế. Để nâng cao giá
trị hàng hóa sức lao động của sinh viên Việt Nam hiện nay, cần chú trọng cả về tư tưởng lẫn hành động,
dựa trên lý luận Mác - Lênin và thực tiễn trong nước. 9 nlbdang
- Trước hết, sinh viên cần nhận thức rõ vai trò của mình trong quá trình sản xuất và phát triển kinh tế.
Theo giáo trình Kinh tế Chính trị Mác - Lênin, việc nâng cao năng suất lao động là yếu tố then chốt để
tăng giá trị hàng hóa sức lao động. Điều này đòi hỏi sinh viên phải không ngừng học tập, rèn luyện kỹ
năng và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn.
- Thứ hai, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sinh viên cần chủ động
thích nghi với sự biến động của thị trường lao động. Việc tham gia các hoạt động ngoại khóa, thực tập,
làm thêm không chỉ giúp tích lũy kinh nghiệm mà còn nâng cao khả năng thích ứng và sáng tạo trong công việc.
- Thứ ba, sinh viên cần chú trọng đến việc phát triển kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm, tư duy
phản biện và quản lý thời gian. Những kỹ năng này là yếu tố quan trọng giúp sinh viên nâng cao giá trị
bản thân trong mắt nhà tuyển dụng.
- Thứ tư, việc hiểu biết và tuân thủ pháp luật lao động cũng là một yếu tố quan trọng. Sinh viên cần nắm
vững quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động để bảo vệ bản thân và đóng góp tích cực vào môi trường làm việc lành mạnh.
- Thứ năm, sinh viên cần tích cực tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo.
Điều này không chỉ giúp nâng cao trình độ chuyên môn mà còn góp phần vào sự phát triển chung của xã hội.
- Thứ sáu, việc học tập và áp dụng công nghệ thông tin trong học tập và công việc là điều cần thiết trong
thời đại số.Sinh viên cần trang bị cho mình những kỹ năng công nghệ để nâng cao hiệu quả công việc và
tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động.
- Thứ bảy, sinh viên cần xây dựng thái độ làm việc chuyên nghiệp, trách nhiệm và cầu tiến. Thái độ tích
cực sẽ giúp sinh viên dễ dàng thích nghi với môi trường làm việc và đạt được thành công trong sự nghiệp.
- Thứ tám, việc tham gia vào các hoạt động xã hội, tình nguyện sẽ giúp sinh viên phát triển kỹ năng lãnh
đạo, quản lý và tăng cường mối quan hệ xã hội, từ đó nâng cao giá trị bản thân.
- Thứ chín, sinh viên cần có kế hoạch học tập và phát triển bản thân rõ ràng, đặt ra mục tiêu cụ thể và nỗ
lực thực hiện để đạt được những thành tựu trong học tập và công việc.
- Cuối cùng, sinh viên cần nhận thức rõ rằng việc nâng cao giá trị hàng hóa sức lao động không chỉ là
trách nhiệm của cá nhân mà còn là sự đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội và đất nước.
- Tóm lại, việc nâng cao giá trị hàng hóa sức lao động của sinh viên Việt Nam hiện nay cần sự kết hợp
giữa nhận thức tư tưởng và hành động thực tiễn. Sinh viên cần không ngừng học tập, rèn luyện kỹ năng,
tích lũy kinh nghiệm và phát triển bản thân để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và đóng góp vào
sự phát triển bền vững của đất nước.
2. Sinh viên cần làm gì để hội nhập quốc tế?
- Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa là xu thế khách quan, mở ra nhiều cơ hội cho sinh viên Việt Nam học
tập, tiếp cận tri thức hiện đại và nâng cao giá trị sức lao động. Theo Kinh tế chính trị Mác – Lênin, việc
tiếp thu thành tựu văn minh nhân loại là điều kiện cần thiết để phát triển lực lượng sản xuất và thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Trong bối cảnh đó, sinh viên cần chủ động nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và kỹ năng mềm
để thích ứng với thị trường lao động trong nước và quốc tế. Đồng thời, phải không ngừng rèn luyện bản
lĩnh chính trị, giữ vững lập trường tư tưởng, niềm tin vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.
- Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Hội nhập quốc tế là đặt đất nước vào dòng chảy chính của thời đại,
hòa nhịp cùng thế giới.” (Bài viết “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”, 2025). Vì vậy, sinh viên cần tỉnh 10 nlbdang
táo tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tránh chạy theo các trào
lưu lai căng hoặc phản văn hóa.
- Trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, sinh viên cần trang bị tri thức chính trị
vững vàng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch, nhất là trên không gian mạng và trong môi trường học thuật.
- Sinh viên cũng cần tích cực tham gia các hoạt động giao lưu quốc tế, hội thảo văn hóa – học thuật, vừa
học hỏi kiến thức mới, vừa quảng bá bản sắc Việt Nam. Đó là cách thiết thực để khẳng định vị thế trí tuệ
Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
- Đồng thời, sinh viên cần tham gia xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đề cao đạo đức, lối sống
nhân văn, trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến – những giá trị cốt lõi của công dân trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tóm lại, trách nhiệm của sinh viên không chỉ nằm ở việc học tập để phát triển bản thân, mà còn ở chỗ
góp phần xây dựng xã hội chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh, độc lập, nhân văn, hiện đại và hội nhập –
nhưng không bao giờ đánh mất mình.
3. Trách nhiệm của sinh viên đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam?
- Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sinh viên
giữ vai trò đặc biệt quan trọng với tư cách là lực lượng trí thức trẻ, là chủ nhân tương lai của đất nước.
Theo tinh thần kinh tế chính trị Mác – Lênin, phát triển kinh tế không chỉ là tăng trưởng sản lượng mà còn
phải gắn với công bằng, tiến bộ xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa rõ rệt.
- Sinh viên cần thấm nhuần sâu sắc chủ trương, đường lối, lý tưởng cao đẹp và bản chất tốt đẹp của Đảng
Cộng sản Việt Nam – lực lượng duy nhất lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Từ đó, củng cố niềm tin vào vai
trò lãnh đạo của Đảng, chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền
tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
- Theo định hướng của Hội nghị Trung ương và các bài viết chính thống trên Báo Nhân Dân, sinh viên
cần tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chủ động noi
gương những cá nhân, tập thể thanh niên tiên tiến để lan tỏa tinh thần phấn đấu, sáng tạo, góp phần hiện
thực hóa mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
- Cùng với đó, sinh viên phải tích cực đổi mới phương pháp học tập lý luận chính trị để nâng cao hiệu quả
giáo dục tư tưởng; đồng thời phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường và
trách nhiệm xã hội. Việc quan tâm đến các sự kiện chính trị – xã hội cũng là biểu hiện cụ thể của tính tích
cực chính trị trong thời kỳ hội nhập.
- Không chỉ dừng lại ở lý tưởng, sinh viên còn phải hành động cụ thể bằng cách rèn luyện kỹ năng xã hội,
tham gia giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh. Những việc
làm như tham gia hoạt động tình nguyện, phản biện xã hội, bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí
hậu đều góp phần xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ.
- Trong điều kiện kinh tế thị trường, sinh viên cần chủ động học tập, không ngừng nâng cao trình độ học
vấn, kỹ năng nghề nghiệp để thích ứng với nhu cầu của thị trường lao động trong nước và quốc tế. Quá
trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, theo định hướng của Đảng, đòi hỏi thanh niên phải trở thành những
công dân toàn cầu nhưng vẫn giữ vững tinh thần dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Việc tổ chức các chương trình huấn luyện kỹ năng xã hội, mô hình học tập tự chủ, học tập trải nghiệm
và khuyến khích đổi mới sáng tạo là những yếu tố cần thiết để sinh viên nâng cao năng lực thực tiễn, góp
phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong giai đoạn mới.
- Như vậy, sinh viên không chỉ là người học mà còn là chủ thể hành động trong công cuộc xây dựng đất
nước. Hội nhập quốc tế đi đôi với giữ gìn bản sắc và lý tưởng, là con đường để sinh viên vừa phát triển
bản thân, vừa góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 11 nlbdang ĐỀ THI CÁC NĂM [UIT] HK1 21 - 22
1. Giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa là gì? Chỉ ra mối quan hệ giữa giá trị hàng hóa và giá trị thặng dư.
Hãy nêu các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
- Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra, là kết quả
của lao động không công của công nhân cho nhà tư bản. Ký hiệu giá trị thặng dư là m.
- Mối quan hệ giữa giá trị hàng hoá và giá trị thặng dư:
2. Tại sao các quốc gia cần phải tiến hành công nghiệp hóa? Phân tích đặc trưng chiến lược công nghiệp
hóa của Hàn Quốc (Nhật Bản, Trung Quốc) và rút ra bài học cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay. [UIT] HK1 23 - 24
1. Trình bày hai thuộc tính của hàng hoá. Hãy chỉ ra mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hoá với
tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá. Giữa giá trị hàng hoá và giá cả có mối quan hệ như thế nào?
2. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? Tại sao phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa? Tên gọi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có từ khi nào?
- Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là: hệ thống đường lối, chủ trương chiến lược,
hệ thống luật pháp, chính sách quy định xác lập cơ chế vận hành, điều chỉnh chức năng, hoạt động, mục
tiêu, phương thức hoạt động, các quan hệ lợi ích của các tổ chức, các chủ thể kinh tế nhằm hướng tới xác
lập đồng bộ các yếu tố thị trường, các loại thị trường hiện đại theo hướng góp phần thúc đẩy dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
- Lý do phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN:
+ Thứ nhất, do thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chưa đồng bộ. Do mới được
hình thành và phát triển, cho nên, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế là yêu cầu mang tính khách quan. Nhà
nước quản lý, điều tiết nền kinh tế thị trường bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công
cụ khác nhằm giảm thiểu các thất bại của thị trường, thực hiện công bằng xã hội. Do đó, cần phải xây
dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường để phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt tiêu cực và khuyết tật của nó.
+ Thứ hai, hệ thống thể chế chưa đầy đủ. Thể chế kinh tế thị trường là sản phẩm của nhà nước, nhà nước
với tư cách là tác giả của thể chế chính thức nên đương nhiên là nhân tố quyết định số lượng, chất lượng
của thể chế cũng như toàn bộ tiến trình xây dựng và hoàn thiện thể chế. Với bản chất Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do vậy thể chế
kinh tế thị trường ở Việt Nam phải là thể chế phục vụ lợi ích, vì lợi ích của nhân dân. Trình độ và năng
lực tổ chức và quản lý nền kinh tế thị trường của Nhà nước thể hiện chủ yếu ở năng lực xây dựng và thực
thi thể chế. Do vậy, Nhà nước phải xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu của nền kinh tế.
+ Thứ ba, hệ thống thể chế còn kém hiệu lực, hiệu quả, thiếu các yếu tố thị trường và các loại thị trường.
Trên thực tế, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn nhiều khiếm khuyết,
hệ thống thể chế vừa chưa đủ mạnh, vừa hiệu quả thực thi chưa cao. Các yếu tố thị trường, các loại hình 12 nlbdang
thị trường mới ở trình độ sơ khai. Do đó, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa là yêu cầu khách quan. [HCMUS] HK1 24 - 25
1. Giá trị hàng hoá là gì? Trình bày mối quan hệ giữa giá trị hàng hóa và giá trị thặng dư. Theo kinh tế
chính trị Mac - Lenin, giá trị sử dụng của hàng hoá có ảnh hưởng đến giá trị hàng hoá hay không?
2. Hội nhập kinh tế quốc tế là gì? Tại sao Việt Nam phải hội nhập kinh tế quốc tế? Hội nhập kinh tế quốc
tế tạo ra thời cơ và thách thức gì cho Việt Nam? [HCMUS] HK.HÈ 22 - 23
1. Sản xuất hàng hoá là gì? Trình bày hai điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá. Tại sao sản xuất hàng
hóa thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh? Ưu thế của sản xuất hàng hoá so với kinh tế tự nhiên.
- Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế mà ở đó, những người sản xuất ra sản phẩm nhằm
mục đích trao đổi, mua bán.
- Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá (có 2 điều kiện):
• Phân công lao động xã hội: là sự phân chia lao động xã hội thành các ngành, nghề khác nhau trong nền
sản xuất xã hội. Nó tạo ra sự chuyên môn hóa lao động, chuyên môn hoá sản xuất thành những ngành
nghề khác nhau, do đó mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định. Song
cuộc sống của mỗi người lại cần nhiều loại sản phẩm khác nhau. Do đó, bản thân nhu cầu đòi hỏi họ phải
trao đổi sản phẩm cho nhau.
• Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất do quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quy định.
Người sở hữu tư liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm lao động. Chính quan hệ sở hữu khác nhau về tư
liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại có những mối liên
hệ thông qua phân công lao động xã hội nên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng. Do vậy,
người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua sự mua - bán hàng hoá, tức là phải
trao đổi dưới những hình thái hàng hoá.
=> Sản xuất hàng hoá ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nói trên, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy
thì không có sản xuất hàng hoá và sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hoá.
- Sản xuất hàng hóa thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh là vì nó đặt người sản xuất vào một môi
trường cạnh tranh gay gắt, buộc họ phải không ngừng đổi mới và nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh
doanh. Do mỗi người sản xuất đều hoạt động độc lập và phải tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, họ phải
năng động trong việc nắm bắt nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng để tồn tại và phát triển. Điều này đòi hỏi
phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, hợp lý hóa quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng và đa
dạng hóa mẫu mã sản phẩm. Cạnh tranh cũng buộc các chủ thể kinh tế tối ưu hóa chi phí, tổ chức tốt việc
phân phối và tiêu thụ hàng hóa. Chính áp lực thị trường này là động lực mạnh mẽ thúc đẩy năng suất lao
động xã hội tăng lên, làm cho trình độ kỹ thuật, tay nghề và cơ sở vật chất không ngừng được nâng cao.
Nhờ đó, lực lượng sản xuất – gồm người lao động, công cụ lao động và trình độ tổ chức sản xuất – được
phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
- Ưu thế của sản xuất hàng hoá so với kinh tế tự nhiên
+ Mục đích của sản xuất hàng hoá là để thoả mãn nhu cầu của người khác, của thị trường. Sự gia tăng
không hạn chế nhu cầu của thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. 13 nlbdang
+ Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển trên cơ sở phân công lao động xã hội, tạo ra trình chuyên môn
hoá cao và dưới tác động của cạnh tranh là cơ sở nâng cao năng suất lao động, số lượng và chất lượng sản
phẩm làm ra đáp ứng nhu cầu xã hội tốt hơn.
+ Sản xuất hàng hoá tạo điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng, miền, địa phương
trong nước và quốc tế; nâng cao trình độ phát triển, tạo điều kiện ngày càng có đời sống ngày càng vật
chất và tinh thần của người dân, làm nền kinh tế phát triển năng động và có hiệu quả hơn.
2. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? (trùng UIT/HK1 23 - 24)
Tại sao phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa? Chất lượng thể chế kinh
tế có tầm quan trọng như thế nào đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia? [HCMUS] HK1 23 - 24
1. Tuần hoàn tư bản là gì? Tăng tốc độ chu chuyển tư bản mang lại lợi ích gì cho các nhà sản xuất kinh doanh? Cho ví dụ.
- Tuần hoàn của tư bản là sự vận động của tư bản lần lượt trải qua ba giai đoạn dưới ba hình thái kế tiếp
nhau (tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất, tư bản hàng hóa) gắn với thực hiện những chức năng tương ứng
(chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư, thực hiện giá trị thặng dư) và quay trở về
hình thái ban đầu cùng với giá trị thặng dư.
- Các lợi ích mà việc tăng tốc độ chu chuyển tư bản mang lại cho các nhà sản xuất kinh doanh là:
2. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? (trùng UIT/HK1 23 - 24)
Tại sao phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa? Chất lượng thể chế kinh
tế có tầm quan trọng như thế nào đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia? (trùng HCMUS/HK.HÈ 22 - 23) 14