CÁC CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH CỦA MỸ VIỆT NAM (1954
1973)
BỐI CẢNH LỊCH SỬ CHUNG SAU NĂM 1954
1.
Miền Bắc: Hoàn thành giải phóng, Xây dựng chủ nghĩa hội
Vai trò chơi Hậu phương Chiến lược
Giai đoạn 1954-1955 một bước đi lịch sử đại, đánh dấu sự kết thúc hoàn toàn của
ách thống trị thực dân Pháp tại miền Bắc Việt Nam. Sau khi Hiệp định Giơ-ne-
được kết, mặc nguy hiểm phải cố gắng trì hoãn hành vi phá hoại chủ đích
từ phía bên Pháp bao gồm cả việc phá hủy các sở kinh tế, kỹ thuật chiến dịch
Chống bức gần một triệu đồng bào di o miền Nam quân đội Pháp phải buộc
phải t lui hoàn toàn vào tháng 5 năm 1955. Sự kiện Sự kiện Chính phủ Chủ tịch
Hồ Chí Minh Trở về thủ đô Nội đầu năm 1955 khẳng định chính c ch quyền,
hoàn thành công cuộc giải phóng miền Bắc bắt đầu một giai đoạn phát triển mới.
Với tầm chiến lược nhìn lược dài dài, Đảng Chính phủ đã xác định nhiệm vụ trọng
tâm củng cố vững chắc chính quyền cách mạng, khẩn trương khôi phục kinh tế sau
chiến tranh tiến hành cải tiến tạo hội chủ nghĩa . Mục tiêu cao nhất xây dựng
Miền Bắc thành một sở vững chắc về mọi mặt , một hậu phương lớn tiềm năng
kinh tế, quân tăng cường dồi dào, giữ vai trò trò chơi tiên phong quyết định trong
sự nghiệp đấu tranh giải phóng Miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Đây nền
tảng chiến lược sau đó chốt cho toàn bộ bộ chiến đấu chống Mỹ sau này.
2.
Miền Nam: Sự kiện Phá vỡ Hiệp định, Chủ nghĩa Thực dân Mới
Khởi động Xung đột kéo dài
Ngược lại với Miền Bắc đang ổn định xây dựng, tình hình Miền Nam lại rơi vào
vòng tròn xoáy của các thế lực bên ngoài đất nước bị chia cắt kéo dài. Mặc sức
mạnh của cách mạng đã làm giảm bớt các điều khoản về đình chiến, tập kết chuyển
quân ra Bắc theo quy định của Hiệp định (tại các khu vực như Cao Lãnh, Mau,
Hàm Tân),
nhưng Mỹ đã nhanh chóng thế chân Pháp để tấn công sâu rộng vào tình
hình chính trị Miền Nam áp dụng ảnh hưởng của mình vào miền Nam. Ngay sau
Hiệp định, Ngoại trưởng Mỹ đã tuyên bố tuyên bố cam kết hỗ trợ chính quyền thân
Mỹ chống chặn Chủ nghĩa Cộng sản lan rộng theo Học thuyết Đôminô . Mỹ viện đã
hỗ trợ bảo trợ cho Ngô Đình Diệm thiết lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa
hiển thị thực hiện chiến lược "Chủ nghĩa thực dân kiểu mới" một hình thái kiểm soát
gián tiếp thông qua chính quyền tay sai phụ về quân sự, kinh tế chính trị. Hành
động quyết định phá vỡ Hiệp định quyền chính của Ngô Đình Diệm, được Mỹ bật
đèn xanh, từ chối tổ chức tổng tuyển cử nhất (dự kiến tháng 7/1956). Sự xác nhận này
đã chấm dứt mọi hy vọng hòa bình theo tinh thần thần thoại Giơ-ne-vơ, mở đường cho
một giai đoạn đấu tranh chính trị quân sự đẩy lùi, đặt nền tảng cho cuộc chiến tranh
Việt Nam phức tạp kéo dài.
1.
CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐƠN PHƯƠNG” (1954 1960)
Bối cảnh
Sau Hiệp định Giơnevơ, Mỹ nhanh chóng thay thế vai trò của Pháp miền Nam Việt
Nam. Lợi dụng việc đất nước tạm thời chia cắt, Mỹ dựng lên chính quyền tay sai Ngô
Đình Diệm nhằm thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Chính quyền Diệm
được Mỹ hậu thuẫn về tài chính, khí cố vấn quân sự, từng bước củng cố quyền
lực, đàn áp các lực lượng cách mạng còn hoạt động miền Nam. Mỹ không vào
Hiệp định Giơ-ne- nên không bị ràng buộc, họ cố tình phá hoại tổng tuyển cử
thống nhất đất nước vào năm 1956 như hiệp định quy định.
Nội dung
Chiến lược “Chiến tranh đơn phương” hình thức chiến tranh do người Việt đánh
người Việt, trong đó Mỹ không trực tiếp đưa quân vào chiến đấu dựa hoàn toàn
vào chính quyền quân đội Sài Gòn để tiến hành đàn áp phong trào cách mạng. Mục
tiêu của Mỹ tiêu diệt lực lượng kháng chiến còn sót lại, ổn định chế độ tay sai
biến miền Nam thành “tiền đồn chống cộng” Đông Nam Á.
Thủ đoạn
Mỹ chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành nhiều chính sách tàn bạo: ban nh
Luật 10/59, cho phép kết án tử hình hoặc chung thân bất kỳ ai bị nghi cộng sản; mở
các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”; lập các nhà tù, trại giam để giam cầm, tra tấn
những người yêu nước. Cùng lúc đó, Diệm tiến hành “dồn dân lập ấp”, “bình định
nông thôn”, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Mỹ cung cấp viện trợ khổng lồ để xây
dựng quân đội Sài Gòn, huấn luyện quan, củng cố chính quyền tay sai từ trung ương
đến địa phương.
Kết qu
Những thủ đoạn trên khiến phong trào cách mạng miền Nam chịu nhiều tổn thất trong
những năm đầu. Tuy nhiên, với truyền thống yêu nước bền bỉ, phong trào đấu tranh
của nhân dân miền Nam vẫn âm ngày càng mạnh mẽ. Đỉnh cao Phong trào
Đồng khởi (19591960), bùng nổ Bến Tre, lan rộng toàn miền Nam, đánh dấu bước
ngoặt lớn của cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Hệ
thống chính quyền tay sai bị lung lay, nhiều vùng nông thôn được giải phóng.
Ý nghĩa
Chiến lược “Chiến tranh đơn phương” thất bại đã chứng minh chính sách dựa vào tay
sai không thể khuất phục được nhân dân Việt Nam. Phong trào Đồng khởi tạo tiền đề
cho sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (12/1960), mở ra
thời kỳ mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ. Mỹ buộc phải thay đổi phương thức
xâm lược, chuyển sang chiến lược mới mang tính quy hơn “Chiến tranh đặc
biệt”.
2.
CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” (1961 1965)
Bối cảnh
Sau khi chiến lược “Chiến tranh đơn phương” sụp đổ, Mỹ chính quyền Kennedy
(sau này Johnson) nhận thấy rằng nếu không can thiệp sâu hơn, họ sẽ mất miền
Nam. vậy, từ năm 1961, Mỹ triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” hình
thức chiến tranh thực dân kiểu mới, trong đó Mỹ chỉ huy, điều hành, cung cấp tài
chính, khí, cố vấn. Quân đội Sài Gòn lực lượng chiến đấu ch yếu.
Nội dung
Mỹ muốn trong thời gian ngắn tiêu diệt lực lượng cách mạng, bình định miền Nam,
củng cố chính quyền tay sai để làm bàn đạp chống phá miền Bắc. Đây kiểu chiến
tranh không cần lính Mỹ chết” nhưng vẫn đảm bảo Mỹ kiểm soát toàn bộ chiến
rường.
Thủ đoạn
Mỹ Diệm triển khai chương trình “ấp chiến lược”, dồn dân vào những khu được rào
kẽm gai, tách ch mạng khỏi dân, hòng “bình định nông thôn”. Hàng loạt chiến dịch
càn quét quy lớn được tiến hành; hệ thống cố vấn Mỹ mặt hầu hết các đơn vị
quân đội Sài Gòn. Mỹ viện trợ hàng tỷ đô la để trang bị khí, huấn luyện quân đội
Sài Gòn theo hình Mỹ. Bên cạnh đó, chúng tiến hành tuyên truyền, chiến tranh
tâm lý, chia rẽ dân tộc tôn giáo, triệt hạ phong trào cách mạng vùng nông thôn.
Kết quả
Tuy ưu thế khí kỹ thuật, song Mỹ chính quyền Sài Gòn không đạt được
mục tiêu. Quân dân miền Nam giành nhiều chiến thắng lớn như ( Bắc (1963), Bình
Giã (19641965), tiêu diệt nhiều sinh lực địch, p tan hệ thống “ấp chiến lược”.
Phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, đặc biệt đô thị, phát triển mạnh
mẽ. Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ (1963), chính quyền Sài Gòn rối ren, khủng
hoảng trầm trọng. Mỹ buộc phải thừa nhận “Chiến tranh đặc biệt” thất bại chuyển
sang “Chiến tranh cục bộ”.
Ý nghĩa
Thất bại của Chiến tranh đặc biệt” cho thấy sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân
dân Việt Nam khả năng chiến đấu của lực lượng cách mạng miền Nam. Chiến lược
này tan đã khiến Mỹ phải trực tiếp đưa quân chiến đấu vào miền Nam, đánh dấu
bước leo thang mới trong cuộc chiến tranh xâm lược.
3.
CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” (1965 1968)
Bối cảnh
Sau các thất bại nặng nề, chính quyền Lyndon B. Johnson quyết định “Mỹ hóa” hoàn
toàn cuộc chiến. Từ giữa m 1965, Mỹ ạt đưa hàng chục vạn lính Mỹ quân đồng
minh c hầu vào miền Nam Việt Nam, đồng thời mở rộng chiến tranh ra miền Bắc.
Đây giai đoạn Mỹ trực tiếp can dự sâu nhất vào cuộc chiến tranh Việt Nam.
Nội dung
“Chiến tranh cục bộ” chiến lược chiến tranh xâm lược trực tiếp quy lớn nhất,
trong đó Mỹ sử dụng quân đội viễn chinh của mình làm lực lượng chủ yếu, quân đội
Sài Gòn làm lực lượng hỗ trợ, với mục tiêu tiêu diệt lực lượng cách mạng, “bình định
miền Nam trong 18 tháng”, phá hoại miền Bắc buộc ta phải đàm phán trong thế
yếu.
Thủ đoạn
Mỹ huy động hơn 54 vạn lính Mỹ 60 vạn quân đồng minh, tiến hành hàng loạt cuộc
hành quân “tìm diệt”, “bình định nông thôn”, sử dụng bom đạn, chất độc hóa học hủy
diệt môi trường con người. Cùng lúc, chúng mở chiến tranh phá hoại miền Bắc lần
thứ nhất (19651968), đánh phá ác liệt các mục tiêu dân sự quân sự, nhằm ngăn
chặn chi viện từ Bắc vào Nam. Trên bàn ngoại giao, Mỹ vẫn rêu rao “đàm phán trong
thế mạnh” để che đậy bản chất xâm lược.
Kết qu
Trên chiến trường, quân dân Việt Nam giành hàng loạt thắng lợi vang dội: Vạn Tường
(1965) “Ấp Bắc của Mỹ”, Plây Me Ia Đrăng (1965), hai a khô 19651967 đánh
bại các cuộc hành quân lớn của Mỹ. Đặc biệt, Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu
Thân 1968 đã làm rung chuyển nước Mỹ, khiến luận thế giới bàng hoàng. chịu
tổn thất lớn, ta đã chứng minh cho thế giới thấy rằng Mỹ không thể thắng Việt Nam.
Sau Mậu Thân, Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc chấp nhận ngồi
vào bàn đàm phán Paris.
Ý nghĩa
Thất bại của “Chiến tranh cục bộ” thất bại quân sự nặng nề nhất của Mỹ kể từ sau
Thế chiến II. làm phá sản chiến lược “Mỹ hóa chiến tranh”, gây khủng hoảng
chính trị trong lòng nước Mỹ, khiến phong trào phản chiến lan rộng. Đây bước
ngoặt quan trọng buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, chuyển sang “Việt Nam hóa chiến
tranh”, rút dần quân về nước.
4.
CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” (1969 1973)
Bối cảnh
Sau thất bại của “Chiến tranh cục bộ”, chính quyền Richard Nixon lên cầm quyền
(1969) đã đề ra một chiến lược mới “Việt Nam hóa chiến tranh” với mục tiêu “rút
dần quân Mỹ về nước trong danh dự” nhưng vẫn giữ được chế độ thân Mỹ miền
Nam. Bối cảnh thế giới lúc này cũng thay đổi: phong trào phản chiến Mỹ dâng cao,
nền kinh tế Mỹ khủng hoảng, Liên Trung Quốc tăng cường ủng hộ Việt Nam.
Nội dung
“Việt Nam hóa chiến tranh” chiến lược “dùng người Việt đánh người Việt”, trong
đó Mỹ rút dần quân chiến đấu, nhưng tiếp tục viện trợ khí, tài chính không
quân, hải quân để hỗ trợ quân đội Sài Gòn. Nixon kỳ vọng xây dựng một quân đội Sài
Gòn “mạnh, hiện đại, tự chiến đấu được” để giữ miền Nam không cần lính Mỹ
tham chiến trực tiếp.
Thủ đoạn
Mỹ tăng cường viện trợ quân sự, trang bị hiện đại cho quân đội Sài Gòn. Tổ chức lại
hệ thống chính quyền tay sai,
đồng thời mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương
tiến hành xâm lược Campuchia (1970) Nam Lào (1971) hòng cắt đứt tuyến chi viện
Trường Sơn. Mỹ vẫn duy trì chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai (1972), sử
dụng máy bay B52 ném bom ác liệt Nội, Hải Phòng. Trên bàn đàm phán Paris, Mỹ
kéo dài thương lượng, nhằm tìm cách rút lui trong danh dự không chịu thừa nhận
thất bại.
Kết qu
Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” nhanh chóng rơi vào bế tắc. Các cuộc hành
quân lớn như Đường 9 Nam Lào (1971) cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 đều
bị quân dân Việt Nam đập tan. Đặc biệt, Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”
(12/1972)
buộc Mỹ phải Hiệp định Paris (27/1/1973), cam kết rút toàn bộ quân
Mỹ đồng minh, chấm dứt chiến tranh xâm lược.
Ý nghĩa
Thất bại của “Việt Nam hóa chiến tranh” đòn kết liễu cho toàn bộ cuộc chiến tranh
xâm lược của Mỹ Việt Nam. khẳng định sức mạnh đại của chiến tranh nhân
dân, của ý chí độc lập dân tộc. Hiệp định Paris mở đường cho nhân dân Việt Nam tiến
tới Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất đất ớc.
=> Bốn chiến lược chiến tranh Mỹ tiến hành tại Việt Nam từ m 1954 đến 1973 là một
quá trình leo thang xâm lược phản ánh sự ngoan cảo tưởng của chủ nghĩa đế quốc. Từ
“Chiến tranh đơn phương” đến “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ lần lượt thất bại cả về chính
trị, quân sự lẫn ngoại giao.
Những thắng lợi của nhân dân ta không chỉ khẳng định đường lối cách mạng đúng đắn
của Đảng, còn thể hiện sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, ý chí kiên cường độc lập,
tự do. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam trở thành biểu tượng của lòng yêu
nước, khát vọng hòa bình và tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX.

Preview text:

CÁC CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH CỦA MỸ Ở VIỆT NAM (1954 – 1973)
BỐI CẢNH LỊCH SỬ CHUNG SAU NĂM 1954
1. Miền Bắc: Hoàn thành giải phóng, Xây dựng chủ nghĩa Xã hội và
Vai trò chơi Hậu phương Chiến lược
Giai đoạn 1954-1955 là một bước đi lịch sử vĩ đại, đánh dấu sự kết thúc hoàn toàn của
ách thống trị thực dân Pháp tại miền Bắc Việt Nam. Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ
được ký kết, mặc dù nguy hiểm phải cố gắng trì hoãn và hành vi phá hoại có chủ đích
từ phía bên Pháp – bao gồm cả việc phá hủy các cơ sở kinh tế, kỹ thuật và chiến dịch
Chống bức gần một triệu đồng bào di cư vào miền Nam – quân đội Pháp phải buộc
phải rút lui hoàn toàn vào tháng 5 năm 1955. Sự kiện Sự kiện Chính phủ và Chủ tịch
Hồ Chí Minh Trở về thủ đô Hà Nội đầu năm 1955 khẳng định chính xác chủ quyền,
hoàn thành công cuộc giải phóng miền Bắc và bắt đầu một giai đoạn phát triển mới.
Với tầm chiến lược nhìn lược dài dài, Đảng và Chính phủ đã xác định nhiệm vụ trọng
tâm là củng cố vững chắc chính quyền cách mạng, khẩn trương khôi phục kinh tế sau
chiến tranh và tiến hành cải tiến tạo xã hội chủ nghĩa . Mục tiêu cao nhất là xây dựng
Miền Bắc thành một cơ sở vững chắc về mọi mặt , một hậu phương lớn có tiềm năng
kinh tế, quân tăng cường dồi dào, giữ vai trò trò chơi tiên phong và quyết định trong
sự nghiệp đấu tranh giải phóng Miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Đây là nền
tảng chiến lược sau đó chốt cho toàn bộ bộ chiến đấu chống Mỹ sau này.
2. Miền Nam: Sự kiện Phá vỡ Hiệp định, Chủ nghĩa Thực dân Mới và
Khởi động Xung đột kéo dài
Ngược lại với Miền Bắc đang ổn định và xây dựng, tình hình Miền Nam lại rơi vào
vòng tròn xoáy của các thế lực bên ngoài đất nước bị chia cắt kéo dài. Mặc dù sức
mạnh của cách mạng đã làm giảm bớt các điều khoản về đình chiến, tập kết và chuyển
quân ra Bắc theo quy định của Hiệp định (tại các khu vực như Cao Lãnh, Cà Mau,
Hàm Tân), nhưng Mỹ đã nhanh chóng thế chân Pháp để tấn công sâu rộng vào tình
hình chính trị Miền Nam và áp dụng ảnh hưởng của mình vào miền Nam. Ngay sau
Hiệp định, Ngoại trưởng Mỹ đã tuyên bố tuyên bố cam kết hỗ trợ chính quyền thân
Mỹ chống chặn Chủ nghĩa Cộng sản lan rộng theo Học thuyết Đôminô . Mỹ viện đã
hỗ trợ và bảo trợ cho Ngô Đình Diệm thiết lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa và
hiển thị thực hiện chiến lược "Chủ nghĩa thực dân kiểu mới" – một hình thái kiểm soát
gián tiếp thông qua chính quyền tay sai phụ về quân sự, kinh tế và chính trị. Hành
động quyết định phá vỡ Hiệp định là quyền chính của Ngô Đình Diệm, được Mỹ bật
đèn xanh, từ chối tổ chức tổng tuyển cử nhất (dự kiến tháng 7/1956). Sự xác nhận này
đã chấm dứt mọi hy vọng hòa bình theo tinh thần thần thoại Giơ-ne-vơ, mở đường cho
một giai đoạn đấu tranh chính trị và quân sự đẩy lùi, đặt nền tảng cho cuộc chiến tranh
Việt Nam phức tạp và kéo dài.
1. CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐƠN PHƯƠNG” (1954 – 1960) Bối cảnh
Sau Hiệp định Giơnevơ, Mỹ nhanh chóng thay thế vai trò của Pháp ở miền Nam Việt
Nam. Lợi dụng việc đất nước tạm thời chia cắt, Mỹ dựng lên chính quyền tay sai Ngô
Đình Diệm nhằm thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Chính quyền Diệm
được Mỹ hậu thuẫn về tài chính, vũ khí và cố vấn quân sự, từng bước củng cố quyền
lực, đàn áp các lực lượng cách mạng còn hoạt động ở miền Nam. Mỹ không ký vào
Hiệp định Giơ-ne-vơ nên không bị ràng buộc, và họ cố tình phá hoại tổng tuyển cử
thống nhất đất nước vào năm 1956 như hiệp định quy định. Nội dung
Chiến lược “Chiến tranh đơn phương” là hình thức chiến tranh do người Việt đánh
người Việt, trong đó Mỹ không trực tiếp đưa quân vào chiến đấu mà dựa hoàn toàn
vào chính quyền và quân đội Sài Gòn để tiến hành đàn áp phong trào cách mạng. Mục
tiêu của Mỹ là tiêu diệt lực lượng kháng chiến còn sót lại, ổn định chế độ tay sai và
biến miền Nam thành “tiền đồn chống cộng” ở Đông Nam Á. Thủ đoạn
Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành nhiều chính sách tàn bạo: ban hành
Luật 10/59, cho phép kết án tử hình hoặc chung thân bất kỳ ai bị nghi là cộng sản; mở
các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”; lập các nhà tù, trại giam để giam cầm, tra tấn
những người yêu nước. Cùng lúc đó, Diệm tiến hành “dồn dân lập ấp”, “bình định
nông thôn”, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Mỹ cung cấp viện trợ khổng lồ để xây
dựng quân đội Sài Gòn, huấn luyện sĩ quan, củng cố chính quyền tay sai từ trung ương đến địa phương. Kết quả
Những thủ đoạn trên khiến phong trào cách mạng miền Nam chịu nhiều tổn thất trong
những năm đầu. Tuy nhiên, với truyền thống yêu nước bền bỉ, phong trào đấu tranh
của nhân dân miền Nam vẫn âm ỉ và ngày càng mạnh mẽ. Đỉnh cao là Phong trào
Đồng khởi (1959–1960), bùng nổ ở Bến Tre, lan rộng toàn miền Nam, đánh dấu bước
ngoặt lớn của cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Hệ
thống chính quyền tay sai bị lung lay, nhiều vùng nông thôn được giải phóng. Ý nghĩa
Chiến lược “Chiến tranh đơn phương” thất bại đã chứng minh chính sách dựa vào tay
sai không thể khuất phục được nhân dân Việt Nam. Phong trào Đồng khởi tạo tiền đề
cho sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (12/1960), mở ra
thời kỳ mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ. Mỹ buộc phải thay đổi phương thức
xâm lược, chuyển sang chiến lược mới mang tính quy mô hơn – “Chiến tranh đặc biệt”.
2. CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” (1961 – 1965) Bối cảnh
Sau khi chiến lược “Chiến tranh đơn phương” sụp đổ, Mỹ và chính quyền Kennedy
(sau này là Johnson) nhận thấy rằng nếu không can thiệp sâu hơn, họ sẽ mất miền
Nam. Vì vậy, từ năm 1961, Mỹ triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” – hình
thức chiến tranh thực dân kiểu mới, trong đó Mỹ chỉ huy, điều hành, cung cấp tài
chính, vũ khí, cố vấn. Quân đội Sài Gòn là lực lượng chiến đấu chủ yếu. Nội dung
Mỹ muốn trong thời gian ngắn tiêu diệt lực lượng cách mạng, bình định miền Nam,
củng cố chính quyền tay sai để làm bàn đạp chống phá miền Bắc. Đây là kiểu chiến
tranh “không cần lính Mỹ chết” nhưng vẫn đảm bảo Mỹ kiểm soát toàn bộ chiến rường. Thủ đoạn
Mỹ – Diệm triển khai chương trình “ấp chiến lược”, dồn dân vào những khu được rào
kẽm gai, tách cách mạng khỏi dân, hòng “bình định nông thôn”. Hàng loạt chiến dịch
càn quét quy mô lớn được tiến hành; hệ thống cố vấn Mỹ có mặt ở hầu hết các đơn vị
quân đội Sài Gòn. Mỹ viện trợ hàng tỷ đô la để trang bị vũ khí, huấn luyện quân đội
Sài Gòn theo mô hình Mỹ. Bên cạnh đó, chúng tiến hành tuyên truyền, chiến tranh
tâm lý, chia rẽ dân tộc và tôn giáo, triệt hạ phong trào cách mạng ở vùng nông thôn. Kết quả
Tuy có ưu thế vũ khí và kỹ thuật, song Mỹ và chính quyền Sài Gòn không đạt được
mục tiêu. Quân dân miền Nam giành nhiều chiến thắng lớn như ( Bắc (1963), Bình
Giã (1964–1965), tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá tan hệ thống “ấp chiến lược”.
Phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, đặc biệt là ở đô thị, phát triển mạnh
mẽ. Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ (1963), chính quyền Sài Gòn rối ren, khủng
hoảng trầm trọng. Mỹ buộc phải thừa nhận “Chiến tranh đặc biệt” thất bại và chuyển
sang “Chiến tranh cục bộ”. Ý nghĩa
Thất bại của “Chiến tranh đặc biệt” cho thấy sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân
dân Việt Nam và khả năng chiến đấu của lực lượng cách mạng miền Nam. Chiến lược
này tan rã đã khiến Mỹ phải trực tiếp đưa quân chiến đấu vào miền Nam, đánh dấu
bước leo thang mới trong cuộc chiến tranh xâm lược.
3. CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” (1965 – 1968) Bối cảnh
Sau các thất bại nặng nề, chính quyền Lyndon B. Johnson quyết định “Mỹ hóa” hoàn
toàn cuộc chiến. Từ giữa năm 1965, Mỹ ồ ạt đưa hàng chục vạn lính Mỹ và quân đồng
minh chư hầu vào miền Nam Việt Nam, đồng thời mở rộng chiến tranh ra miền Bắc.
Đây là giai đoạn Mỹ trực tiếp can dự sâu nhất vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Nội dung
“Chiến tranh cục bộ” là chiến lược chiến tranh xâm lược trực tiếp quy mô lớn nhất,
trong đó Mỹ sử dụng quân đội viễn chinh của mình làm lực lượng chủ yếu, quân đội
Sài Gòn làm lực lượng hỗ trợ, với mục tiêu tiêu diệt lực lượng cách mạng, “bình định
miền Nam trong 18 tháng”, phá hoại miền Bắc và buộc ta phải đàm phán trong thế yếu. Thủ đoạn
Mỹ huy động hơn 54 vạn lính Mỹ và 60 vạn quân đồng minh, tiến hành hàng loạt cuộc
hành quân “tìm diệt”, “bình định nông thôn”, sử dụng bom đạn, chất độc hóa học hủy
diệt môi trường và con người. Cùng lúc, chúng mở chiến tranh phá hoại miền Bắc lần
thứ nhất (1965–1968), đánh phá ác liệt các mục tiêu dân sự và quân sự, nhằm ngăn
chặn chi viện từ Bắc vào Nam. Trên bàn ngoại giao, Mỹ vẫn rêu rao “đàm phán trong
thế mạnh” để che đậy bản chất xâm lược. Kết quả
Trên chiến trường, quân dân Việt Nam giành hàng loạt thắng lợi vang dội: Vạn Tường
(1965) – “Ấp Bắc của Mỹ”, Plây Me – Ia Đrăng (1965), hai mùa khô 1965–1967 đánh
bại các cuộc hành quân lớn của Mỹ. Đặc biệt, Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu
Thân 1968 đã làm rung chuyển nước Mỹ, khiến dư luận thế giới bàng hoàng. Dù chịu
tổn thất lớn, ta đã chứng minh cho thế giới thấy rằng Mỹ không thể thắng ở Việt Nam.
Sau Mậu Thân, Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán Paris. Ý nghĩa
Thất bại của “Chiến tranh cục bộ” là thất bại quân sự nặng nề nhất của Mỹ kể từ sau
Thế chiến II. Nó làm phá sản chiến lược “Mỹ hóa chiến tranh”, gây khủng hoảng
chính trị trong lòng nước Mỹ, khiến phong trào phản chiến lan rộng. Đây là bước
ngoặt quan trọng buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, chuyển sang “Việt Nam hóa chiến
tranh”, rút dần quân về nước.
4. CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” (1969 – 1973) Bối cảnh
Sau thất bại của “Chiến tranh cục bộ”, chính quyền Richard Nixon lên cầm quyền
(1969) đã đề ra một chiến lược mới – “Việt Nam hóa chiến tranh” – với mục tiêu “rút
dần quân Mỹ về nước trong danh dự” nhưng vẫn giữ được chế độ thân Mỹ ở miền
Nam. Bối cảnh thế giới lúc này cũng thay đổi: phong trào phản chiến ở Mỹ dâng cao,
nền kinh tế Mỹ khủng hoảng, Liên Xô và Trung Quốc tăng cường ủng hộ Việt Nam. Nội dung
“Việt Nam hóa chiến tranh” là chiến lược “dùng người Việt đánh người Việt”, trong
đó Mỹ rút dần quân chiến đấu, nhưng tiếp tục viện trợ vũ khí, tài chính và không
quân, hải quân để hỗ trợ quân đội Sài Gòn. Nixon kỳ vọng xây dựng một quân đội Sài
Gòn “mạnh, hiện đại, tự chiến đấu được” để giữ miền Nam mà không cần lính Mỹ tham chiến trực tiếp. Thủ đoạn
Mỹ tăng cường viện trợ quân sự, trang bị hiện đại cho quân đội Sài Gòn. Tổ chức lại
hệ thống chính quyền tay sai, đồng thời mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương –
tiến hành xâm lược Campuchia (1970) và Nam Lào (1971) hòng cắt đứt tuyến chi viện
Trường Sơn. Mỹ vẫn duy trì chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai (1972), sử
dụng máy bay B52 ném bom ác liệt Hà Nội, Hải Phòng. Trên bàn đàm phán Paris, Mỹ
kéo dài thương lượng, nhằm tìm cách rút lui trong danh dự mà không chịu thừa nhận thất bại. Kết quả
Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” nhanh chóng rơi vào bế tắc. Các cuộc hành
quân lớn như Đường 9 – Nam Lào (1971) và cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 đều
bị quân dân Việt Nam đập tan. Đặc biệt, Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”
(12/1972) buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris (27/1/1973), cam kết rút toàn bộ quân
Mỹ và đồng minh, chấm dứt chiến tranh xâm lược. Ý nghĩa
Thất bại của “Việt Nam hóa chiến tranh” là đòn kết liễu cho toàn bộ cuộc chiến tranh
xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Nó khẳng định sức mạnh vĩ đại của chiến tranh nhân
dân, của ý chí độc lập dân tộc. Hiệp định Paris mở đường cho nhân dân Việt Nam tiến
tới Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất đất nước.
=> Bốn chiến lược chiến tranh mà Mỹ tiến hành tại Việt Nam từ năm 1954 đến 1973 là một
quá trình leo thang xâm lược phản ánh sự ngoan cố và ảo tưởng của chủ nghĩa đế quốc. Từ
“Chiến tranh đơn phương” đến “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ lần lượt thất bại cả về chính
trị, quân sự lẫn ngoại giao.
Những thắng lợi của nhân dân ta không chỉ khẳng định đường lối cách mạng đúng đắn
của Đảng, mà còn thể hiện sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, ý chí kiên cường vì độc lập,
tự do. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam trở thành biểu tượng của lòng yêu
nước, khát vọng hòa bình và tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX.