-
Thông tin
-
Quiz
Các phương pháp khai thác và thu nhập thông tin của phóng viên | Tiểu luận Lao động nhà báo đối ngoại
Hiện nay, với sự bùng nổ mạnh mẽ của các loại hình truyền thông, con người có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc tiếp nhận thông tin cũng như tìm kiếm tài liệu để phục vụ cho công việc và học tập của mình. Tuy nhiên, trước sự đa dạng hóa đến từ nhiều nguồn tin khác nhau, việc lựa chọn được những thông tin thật sự đáng tin cậy và phục vụ có hiệu quả nhất mới là vấn đề đáng quan tâm. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Lao động nhà báo đối ngoại 1 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Các phương pháp khai thác và thu nhập thông tin của phóng viên | Tiểu luận Lao động nhà báo đối ngoại
Hiện nay, với sự bùng nổ mạnh mẽ của các loại hình truyền thông, con người có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc tiếp nhận thông tin cũng như tìm kiếm tài liệu để phục vụ cho công việc và học tập của mình. Tuy nhiên, trước sự đa dạng hóa đến từ nhiều nguồn tin khác nhau, việc lựa chọn được những thông tin thật sự đáng tin cậy và phục vụ có hiệu quả nhất mới là vấn đề đáng quan tâm. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Lao động nhà báo đối ngoại 1 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ -------------------------
CÁC PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC VÀ THU THẬP THÔNG TIN CỦA PHÓNG VIÊN
Sinh viên: Nguyễn Lệ Thục Anh
Mã số sinh viên: 1756100004
Lớp tín chỉ: Thông tin đối ngoại K37
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Bùi Thị Vân
Môn: Lao động nhà báo đối ngoại
Hà Nội, tháng 12 – năm 2022 1 MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Hiện nay, với sự bùng nổ mạnh mẽ của các loại hình truyền thông, con
người có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc tiếp nhận thông tin cũng như tìm
kiếm tài liệu để phục vụ cho công việc và học tập của mình. Tuy nhiên,
trước sự đa dạng hóa đến từ nhiều nguồn tin khác nhau, việc lựa chọn được
những thông tin thật sự đáng tin cậy và phục vụ có hiệu quả nhất mới là
vấn đề đáng quan tâm. Đây không phải là một công việc đơn giản và đòi
hỏi phải có những phương pháp thu thập thông tin nhất định, đặc biệt là
trong báo chí điều này lại càng cần thiết hơn. Viết hay là một điều rất quan
trọng đối với một nhà báo nhưng chất lượng bài viết lại phụ thuộc phần lớn
vào kĩ năng thu thập và xử lí thông tin. Thu thập thông tin từ nhiều nguồn
khác nhau là chìa khóa để cho ra đời một bài viết hay và có sức truyền cảm
hiệu quả. Đó là cách tốt nhất đảm bảo sự chính xác của bài viết và lòng tin của công chúng.
Có thể nói rằng, trong quá trình thu thập và xử lí thông tin thì quá trình
thu thập thông tin đóng một vai trò rất quan trọng, đó là những nguyên liệu,
là yếu tố nền tảng để xây dựng một sản phẩm báo chí thành công. Tuy
nhiên chất lượng thông tin chỉ thực sự mang lại tác dụng tốt khi nó được xử
lí theo hướng tích cực, đó là lí do khi thu thập thông tin thì cần phải có
những phương pháp, cách thức phù hợp với từng chủ đề, từng lĩnh vực
nghiên cứu, và trên hết là phù hợp với nội dung của đề tài. Thông thường
trong phương pháp thu thập thông tin có mấy phương pháp phổ biến sau đó
là: nghiên cứu văn bản, quan sát và phỏng vấn. Mỗi phương pháp thu thập 2
thông tin đều có những thế mạnh và hạn chế khác nhau, vì vậy, để mạng lại
hiệu quả tốt nhất thì cần có sự kết hợp nhiều phương pháp để đảm bảo tính
chính xác cũng như giá trị của thông tin.
2. Đối tượng nghiên cứu:
˗ Các phương pháp khai thác và thu thập thông tin của phóng viên. 3. Mục đích nghiên cứu
˗ Nêu rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của từng phương pháp khai thác
và thu thập thông tin của phóng viên.
˗ Nâng cao hiểu biết, nhận thức của chính bản thân và người đọc về
những lưu ý bắt buộc phải có khi vận dụng các phương pháp khai
thác trên để tránh những sai phạm đáng tiếc ảnh hưởng xấu đến công việc, tương lai sau này.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: được sử dụng để thu thập thông tin
về cơ sở lý luận, các công trình nghiên cứu trước đây. Các dữ liệu thu thập
từ phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để trình bày tổng quan về
chủ đề và sử dụng linh hoạt trong quá trình phân tích trong bài viết. 5. Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở bài và kết luận, nội dung đề tài nghiên cứu có 3 chương, bao gồm: 3
Chương I: Phương pháp nghiên cứu tư liệu 1.1. Khái niệm tư liệu
1.2. Phương pháp nghiên cứu tư liệu văn bản
1.3. Ưu và nhược điểm của phương pháp nghiên cứu tư liệu
1.4. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp nghiên cứu tư liệu văn bản
Chương II: Phương pháp quan sát
2.1. Khái quát về phương pháp quan sát
2.2. Ưu và nhược của phương pháp quan sát
2.3. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp quan sát
Chương III: Phương pháp phỏng vấn
3.1. Khái niệm và vai trò của phương pháp phỏng vấn
3.2. Ưu điểm và nhược điểm của các hình thức phỏng vấn
3.3. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp phỏng vấn 4 NỘI DUNG
CHƯƠNG I: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TƯ LIỆU 1.1. Khái niệm tư liệu
Tư liệu nói chung là một khái niệm tương đối rộng. Tư liệu là những
thông tin rút ra từ tài liệu viết tay, in ấn, từ các đồ vật như: công cụ sản
xuất, công trình kiến trúc, đồ dùng cá nhân, phim ảnh, băng hình,
internet… và là những thông tin sống động từ con người. Ngày nay, cùng
sự phát triển của xã hội cùng sự bùng nổ mạnh mẽ của các phương tiện
truyền thông, thông tin, tư liệu đến từ rất nhiều nguồn khác nhau như từ
chính con người, môi trường xung quanh cũng như các loại văn bản, sách
báo, giấy tờ ra đời và xuất bản ngày càng phổ biến.
Có thể phân loại tư liệu theo các tiêu chí sau đây:
Phân chia theo hình thức cố định tư liệu:
Tư liệu văn tự: thông tin được lưu giữ dưới dạng ký tự ngôn ngữ, số
liệu trong các văn bản, các bảng biểu, sơ đồ...
Tư liệu phi văn tự: có thể là công trình kiến trúc, các tác phẩm nghệ
thuật (tranh, ảnh…), chương trình truyền hình, băng đĩa có hình ảnh, âm thanh…
Phân chia theo tính chất pháp lý của tư liệu:
Tư liệu chính thức: là những tư liệu được thừa nhận, xuất bản và được
công bố chính thức từ các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội 5
Tư liệu không chính thức: là những tư liệu chưa được thừa nhận, xuất
bản và được công bố chính thức từ các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội
Phân chia theo tính chất tồn tại của tư liệu:
Tư liệu động: Là những tư liệu sống động từ thực tế
Tư liệu tĩnh: Là tư liệu cố định trong các văn bản, giấy tờ...
Phân chia theo cách thức lấy tư liệu:
Tư liệu trực tiếp: là tư liệu phóng viên thu thập được qua sự tiếp xúc
trực tiếp với các sự kiện, con người, không qua khâu trung gian. Tư liệu
trực tiếp là tư liệu “tai nghe, mắt thấy”.
Tư liệu gián tiếp: là loại tư liệu phóng viên thu thập, tìm hiểu được
thông qua một trung gian (người khác hoặc vật khác).
1.2. Phương pháp nghiên cứu tư liệu văn bản
1.2.1. Khái niệm tư liệu văn bản
Theo từ điển Tiếng Việt, văn bản có nghĩa:
- Văn bản là bản chép tay hoặc in ấn với một nội dung nhất định,
thường để lưu lại lâu dài
- Văn bản là những chuỗi ký hiệu ngôn ngữ hay loại ký hiệu nào đó,
tạo nên một chỉnh thể với ý nghĩa trọn vẹn.
Với nghĩa rộng ta có thể hiểu tư liệu văn bản là những thông tin được
chứa đựng trong các dạng cơ bản sau đây: 6
- Sách (sách văn học, lịch sử, văn hoá, pháp luật, kinh tế)
- Báo (báo in, báo hình, báo nói, báo mạng) - Internet
- Băng, đĩa (hình ảnh, âm thanh)
- Các văn bản giấy tờ (văn bản quản lý hành chính nhà nước, văn bản đời thường …).
Trong đó, văn bản quản lý hành chính nhà nước là loại tư liệu quan
trọng, phổ biến mà phóng viên hằng ngày thường khai thác và xử lý. Văn
bản quản lý hành chính nhà nước gồm các loại chủ yếu sau đây:
- Văn bản quy phạm pháp luật (văn bản luật, dưới luật): Luật, nghị
quyết, quyết định, nghị định, thông tư, chỉ thị của các cơ quan quản lý Nhà nước.
- Văn bản hành chính: Báo cáo, tổng kết, biên bản, hợp đồng, thông
báo, giấy mời của các đơn vị, cơ quan nhà nước.
Còn văn bản đời thường là loại tư liệu có tính chất cá nhân, riêng tư.
Văn bản đời thường bao gồm các loại chủ yếu sau đây: - Thư từ, nhật ký…
- Giấy viết tay, sổ sách, ghi chép cá nhân…
1.2.2. Đặc điểm của tư liệu văn bản
Sách báo, internet, các văn bản giấy tờ… giúp phóng viên có được
những thông tin nền trước khi tìm hiểu cụ thể về đối tượng nào đó. Vì vậy,
trong hoạt động sáng tạo tác phẩm, nghiên cứu văn bản thường là cơ sở đầu
tiên để phóng viên triển khai các công việc tiếp theo. 7
Nhìn chung, thông tin rút ra từ tài liệu văn bản “giấy trắng mực đen”
thường ít thiên vị và có độ tin cậy cao.
- Các loại văn bản quy phạm pháp luật có tính chất chuẩn mực vì
đã được những cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền phê duyệt.
- Các loại báo cáo, sơ kết, tổng kết… ít nhiều đã được các cá nhân,
đơn vị, cơ quan có trách nhiệm soạn thảo và kiểm tra.
- Các tư liệu văn bản (như báo cáo, tổng kết của các cơ quan chức
năng) thường chứa đựng những dấu hiệu có thể đo lường được, có
thể đem ra tính toán, so sánh, đối chiếu với các sự việc, hiện
tượng diễn ra trong thực tế.
Nếu nhà báo biết khai thác, phân tích sẽ làm cho việc nhận xét, đánh giá
các sự kiện đó trở nên khách quan hơn, ít phụ thuộc vào tính chủ quan của nhà báo.
Các văn bản đời thường cũng được xem là những vật chứng có ý nghĩa
khi nhìn nhận, đánh giá một sự kiện, con người nào đó nhưng giá trị pháp
lý có thể không cao. Nhưng cũng có khi thư từ, nhật ký, giấy viết tay của cá
nhân lại trở thành những tư liệu quý giá, độc đáo cho bài báo.
Bên cạnh những loại tư liệu nói trên, thông tin được rút ra từ sách báo
cũng có nhiều tác dụng trong việc đào sâu, mở rộng thông tin, làm bài báo
sâu sắc và thuyết phục bạn đọc hơn.
Tuy nhiên, thông tin từ văn bản thường chỉ có vai trò là điểm tựa đầu
tiên chứ không phải là tư liệu duy nhất cho một bài báo. Không nên lạm 8
dụng việc nghiên cứu văn bản để sao chép, xào xáo các thông tin, tư liệu
làm thành tác phẩm báo chí.
Tư liệu văn bản thường khuôn mẫu, khô khan. Một bài báo chỉ có tư
liệu văn bản sẽ nặng nề, kém hấp dẫn.
1.3. Ưu và nhược điểm của phương pháp nghiên cứu tư liệu 1.3.1. Ưu điểm
Trong hoạt động thu thập tư liệu, nghiên cứu văn bản thường là cơ sở
đầu tiên để phóng viên tiến hành các phương pháp khác.
Thông tin rút ra từ tài liệu văn bản giấy trắng mực đen thường ít thiên vị và có độ tin cậy cao.
Các loại văn bản quản lý hành chính nhà nước có tính chất chuẩn mực
(tương đối) vì đã được những cá nhân, hoặc tổ chức có thẩm quyền phê
duyệt. Các loại báo cáo, sơ kết, tổng kết…ít nhiều cũng được các cá nhân,
đơn vị, cơ quan có trách nhiệm soạn thảo và kiểm tra.
Thông tin rút ra từ sách báo có nhiều tác dụng trong việc đào sâu, mở
rộng thông tin, làm bài báo sâu sắc và thuyết phục bạn đọc hơn.
Tư liệu văn bản thường được phổ biến khá rộng rãi, vì vậy nếu khai
thác từ những nguồn tư liệu văn bản thì tính độc quyền trong thông tin sẽ ít.
Các phóng viên cũng có thể khai thác thông tin trên internet, với công
cụ tìm kiếm tiện lợi, phóng viên cũng dễ dàng tìm được, một văn bản theo
ý muốn. Chúng ta cũng có thể thu thập thông tin qua internet, nó chính là
nguồn thông tin khổng lồ. Là nguồn thông tin cực kỳ phong phú, đa dạng. 9
Nó còn là phương tiện truyền thông hiện đại, nó là nguồn thông tin tuyệt vời cho phóng viên.
1.3.2. Nhược điểm của phương pháp nghiên cứu tư liệu
Ngày nay, tuy được sử dụng phổ biến trong các bài báo và có vai trò
quan trọng nhưng việc sử dụng tư liệu văn bản chỉ mang tính chất minh họa
thêm cho nội dung, không phải yếu tố đóng vai trò chủ đạo, nên nó cũng
tồn tại những hạn chế nhất định.
Thông tin từ văn bản thường chỉ có vai trò là điểm tựa đầu tiên chứ
không phải là tư liệu duy nhất cho một bài báo, bởi vì cái cốt lõi mà công
chúng thật sự cần là sự thỏa mãn về mặt thông tin với những yêu cầu về
tính thời sự nóng hổi. Trong một bài báo, lượng thông tin không chỉ giới
hạn ở phần tư liệu văn bản mà còn có nhiều nguồn khác nhau, như đã nói ở
trên là nhằm mục đích tăng tính khách quan cho sản phẩm báo chí, vì vậy,
đây chỉ là một khía cạnh nhỏ bổ trợ cho nội dung thêm phong phú và sâu
sắc. Đó là lí do mặc dù sử dụng tư liệu là cần thiết nhưng không nên lạm
dụng việc nghiên cứu văn bản để sao chép, xào xáo các thông tin, tư liệu
làm thành tác phẩm báo chí.
Tư liệu văn bản thường khuôn mẫu, khô khan. Một bài báo chỉ có tư
liệu văn bản sẽ nặng nề, kém hấp dẫn. Đặc thù của tư liệu văn bản là tồn tại
dưới dạng giấy trắng, mực đen, một số loại hình như sách, báo cáo…đã
được in ấn nên không thể đơn giản hóa hay chỉnh sửa cho phù hợp với
những ý tưởng khác nhau, vì thế nó được đặt trong những khuôn mẫu nhất
định không thể thay đổi được. Đối với loại hình tài liệu này, việc trích dẫn
hoặc đăng tải trong bài viết phải được sử dụng đúng như nội dung lẫn hình 10
thưc vốn có như ban đầu của nó. Người viết không thể làm biến đổi theo ý
thích của mình được, chính vì vậy nó có thể sẽ gây ra cảm giác cứng nhắc,
nặng nề cho tâm lí tiếp nhận của độc giả.
Như vậy, để thấy rằng sử dụng tư liệu văn bản chỉ là một chi tiết nhỏ
trong bài viết, không thể đồng nhất nó với nguồn tin cũng như sử dụng
toàn bộ phẩn tư liệu này trong tác phẩm vừa khô khan, máy móc mà lại
không vận dụng hết được chất lượng của tài liệu
1.4. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp nghiên cứu tư liệu văn bản
Xác định giá trị pháp lý của văn bản
Xác định nguồn gốc, tác giả văn bản
Xác định xem văn bản đó là bản chính hay bản sao
Chú ý thời gian ra đời của văn bản.
Kiểm tra tính xác thực của tư liệu văn bản:
- Phân biệt sự việc và ý kiến;
- Tìm hiểu ý đồ của người soạn thảo văn bản;
- Xem xét bối cảnh tác động đến sự ra đời của văn bản.
Phát hiện ra các con số, các chi tiết quan trọng, nổi bật, có yếu tố tin
tức. Đó là những con số, chi tiết “biết nói”.
Có “thái độ nghi ngờ” trong khai thác tư liệu văn bản.
So sánh thông tin từ tư liệu văn bản với các nguồn tin khác. 11
Văn bản đời thường là loại văn bản thuộc sở hữu riêng của cá nhân. Trừ
trường hợp các văn bản đó có liên quan đến những hành động gây nguy
hiểu cho xã hội cần có sự can thiệp của cơ quan luật pháp, còn lại phóng
viên phải khích lệ sự tự nguyện cung cấp của chủ nhân văn bản.
Dùng danh bạ địa chỉ cụ thể hoặc dùng công cụ tìm kiếm để thu thập thông tin trên internet
- Internet là kho tư liệu khổng lồ của phóng viên. Tuy nhiên, khai
thác thông tin trên internet cũng có bất lợi: Quá nhiều các nguồn tin
dẫn đến việc phân tán thông tin; nhiều thông tin không rõ nguồn gốc
vì vậy việc kiểm tra các nguồn tin nhiều khi cũng rất khó khăn và tốn thời gian.
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT
2.1. Khái quát về phương pháp quan sát 2.1.1. Khái niệm quan sát
Quan sát là khả năng cảm thụ hiện thực của con người nhờ vào các cơ
quan cảm giác chủ yếu như thị giác và thính giác thông qua sự tiếp xúc
nghe nhìn. Quan sát thường đem lại những thông tin có đặc tính mô tả.
Người có năng lực quan sát là người có khả năng tri giác nhanh chóng
và chính xác những điểm quan trọng, chủ yếu và đặc sắc của sự vật, hiện
tượng cho dù những điểm đó khó nhận thấy hoặc có vẻ là thứ yếu 12
2.1.2. Đối tượng quan sát
Đối tượng quan sát của phóng viên rất phong phú, đa dạng nếu chúng
chứa đựng những thông tin, dữ liệu có ích cho chủ đề tác phẩm.
- Quan sát quang cảnh, hiện trạng
- Quan sát diện mạo con người
- Quan sát các hoạt động của con người - Quan sát đồ vật.
2.1.3. Một số hình thức quan sát cơ bản
Theo vị trí của người quan sát
Quan sát tham dự: Người quan sát trực tiếp tham dự vào các hoạt động
cùng với những đối tượng được quan sát. Hoạt động tham dự để quan sát
có nhiều mức độ khác nhau: Tham dự một phần hoặc nhập cuộc hoàn toàn.
Quan sát không tham dự: Người quan sát không tham dự vào các hoạt
động cùng với những đối tượng được quan sát. Họ đứng ngoài cuộc và đơn
thuần ghi lại những gì đang diễn ra. Do nhìn từ bên ngoài nên người quan
sát khó khăn hơn trong việc muốn tìm hiểu những gì xảy ra đằng sau mỗi
hành động của đối tượng được quan sát như: nguyên nhân, động cơ… Theo cách thức quan sát
Quan sát công khai: Đối tượng được quan sát biết rõ mình đang bị
quan sát. Sự có mặt của người quan sát dù sao vẫn có ảnh hưởng (ít hay
nhiều) đến đối tượng được quan sát. Do vậy, quan sát công khai có thể sẽ
gây ra sự căng thẳng, mất tự nhiên cho đối tượng được quan sát. Có trường
hợp quan sát công khai không đưa đến kết quả đúng như nó vốn có. 13
Quan sát bí mật: Đối tượng được quan sát không biết mình đang bị
quan sát. Vì vậy quan sát bí mật có thể nó tạo ra khả năng nhận thức tốt
hơn vì lúc đó các hành động, tình huống xảy ra tự nhiên, ít sai lệch hơn.
Tuy nhiên, cũng có những ý kiến đặt ra vấn đề vi phạm pháp luật, đạo
đức trong một số trường hợp phóng viên thực hiện quan sát bí mật và quan sát tham dự.
2.2. Ưu và nhược điểm của phương pháp quan sát 2.2.1. Ưu điểm
Quan sát là con đường ngắn nhất để phóng viên tiếp cận trực tiếp với hiện thực.
Quan sát đem lại hình ảnh cụ thể, xác thực, sinh động làm bài viết sinh động, hấp dẫn.
Thông tin từ quan sát đem lại những dấu hiệu cần thiết để tiến tới thẩm
định bản chất của sự kiện.
Trong quá trình giao tiếp, quan sát những biểu hiện tâm lý của đối
tượng sẽ giúp phóng viên điều chỉnh nhịp độ cuộc giao tiếp và đánh giá
mức độ tin cậy của thông tin 2.2.2. Nhược điểm
Hoạt động quan sát chịu ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan. Hiện thực
cuộc sống qua quan sát thường gắn với sự nhìn nhận, xem xét và trạng thái
tâm lý của bản thân người quan sát.
Hoạt động quan sát bị giới hạn bởi thời gian, không gian. 14
Quan sát có khi chỉ thấy được biểu hiện bên ngoài chưa chắc đã đúng
với bản chất của sự việc. Đã xảy ra tình trạng nhà báo bị “lừa” hoặc chỉ dựa
vào quan sát để nhận định sự việc nên đã dẫn đến sai sót đáng tiếc
2.3. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp quan sát
Quan sát để tìm ra ý nghĩa: Quan sát không chỉ là mô tả lại những gì
nhìn thấy mà phải đi liền với sự phân tích, bình giá để tìm ra ý nghĩa, giá trị của chi tiết, sự kiện.
Quan sát phải có suy luận, phán đoán: Quan sát không có nghĩa chỉ là
nhìn, trông mà là thấy được sự vật, hiện tượng. Quan sát khác với hoạt
động nhìn, trông vì quan sát có sự tham gia của hoạt động tư duy như: phân
tích, tổng hợp, suy luận, phán đoán…
Quan sát trong sự so sánh: so sánh những gì quan sát được ở sự vật,
hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác hoặc so sánh với bản thân
chúng trong các thời điểm, hoàn cảnh, giai đoạn… khác nhau để làm nổi
bật nên những nét đặc sắc của chúng. Chính sự so sánh, đối chiếu này làm
cho sự quan sát có chiều sâu hơn.
Huy động các giác quan trong quan sát và thận trọng khi kết luận:
Quan sát phải có sự tập trung, chú ý cao độ. Khi quan sát cần sử dụng
các giác quan để nhận biết các đặc điểm, tính chất rất đa dạng của các sự
vật, hiện tượng. Thiếu đi bất cứ một giác quan nào, chúng ta có thể bị mù
trước một thuộc tính nào đó của sự vật. 15
Lựa chọn thời điểm để quan sát bởi vì hoạt động quan sát chỉ thực hiện
được trong thời gian, không gian và giai đoạn diễn tiến nhất định nào đó của sự kiện.
Quan sát nên kết hợp với các phương pháp khác để đảm bảo độ tin cậy
và cơ sở pháp lý cho thông tin đã thu thập.
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP PHỎNG VẤN
3.1. Khái niệm và vai trò của phương pháp phỏng vấn 3.1.1. Khái niệm
Nhìn dưới góc độ phương pháp, phỏng vấn là cuộc gặp gỡ, trao đổi, hỏi
chuyện giữa nhà báo với một hoặc một nhóm đối tượng nhằm thu thập,
khai thác thông tin phục vụ hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí nói chung.
Thông tin từ cuộc phỏng vấn có thể được sử dụng trong các thể loại: tin,
phóng sự, điều tra, phỏng vấn… tùy theo mục đích của nhà báo.
Trong báo chí, phỏng vấn thường được dùng trong hai trường hợp: thể
hiện chân dung nhân vật hoặc cung cấp thông tin về lĩnh vực mà người
được phỏng vấn là chuyên gia hoặc có trách nhiệm trả lời. Phỏng vấn báo
chí có nhiều cách thực hiện: phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn bằng văn bản,
phỏng vấn qua điện thoại.
Có nhiều phương pháp phỏng vấn như phỏng vấn cá nhân, phỏng vấn
hội đồng, phỏng vấn căng thẳng và phỏng vấn mô tả hành vi. Phỏng vấn
hội đồng được thực hiện với nhiều người cùng một lúc. Đây là một trong
những kiểu phỏng vấn khá tốn kém nên chỉ áp dụng để phỏng vấn những sự kiện quan trọng. 16
Hầu hết các cuộc phỏng vấn nên hạn chế việc tạo ra sự căng thẳng cho
người được phỏng vấn. Tuy nhiên đôi khi phóng viên lại cố tình tạo ra sự
căng thẳng để xem phản ứng của người được phỏng vấn. Phỏng vấn này
được gọi là phỏng vấn căng thẳng. Loại phỏng vấn này được áp dụng đối
với các phóng viên có trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao. Mục đích của
cuộc phỏng vấn này là xem ứng viên có trầm tĩnh không. Nó thường được
áp dụng đối với các ngành luật, quân đội, công an, ngoại giao.
Phỏng vấn cá nhân là phỏng vấn một người, đây là phương pháp phổ
biến nhất. Người được phỏng vấn sẽ cảm thấy tự nhiên thoải mái khi trả lời
các câu hỏi, đặc biệt với những câu hỏi hay, thú vị. Họ có dịp đưa ra những
quan niệm, những ý tưởng cùng những nhận xét mang tính chủ quan của
họ. Trong khi thực hiện phỏng vấn cá nhân có thể sử dụng các hình thức
như phỏng vấn thân thiện, phỏng vấn gây áp lực, phỏng vấn theo ekip. 3.1.2. Vai trò
Phương pháp phỏng vấn có thể thực hiện được nhanh, tiết kiệm thời gian và công sức.
Bằng phương pháp phỏng vấn phóng viên có thể tái hiện được sự kiện
đã xảy ra hoặc xảy ra bất ngờ qua lời kể của các nhân chứng mà phóng viên
không có điều kiện được chứng kiến, tham dự.
Thông tin thu thập được qua phương pháp phỏng vấn có tính chất khách
quan từ nguồn tin trực tiếp, đặc điểm này tạo độ tin cậy giá trị cho thông tin. 17
Phương pháp phỏng vấn có thể làm phóng viên an tâm hơn với những
thông tin thu thập được vì những người trả lời phỏng vấn phải có trách
nhiệm với những gì mình phát ngôn.
Nếu khai thác một cách khéo léo, phóng viên có thể nắm giữ trong tay
những thông tin độc quyền. Đó là những thông tin riêng không có mặt
trong các bản báo cáo, tổng kết…
Phỏng vấn là một phương pháp tinh vi, đặc biệt, trong việc khám phá
thế giới nội tâm của nhân vật. Nơi khơi gợi và tìm kiếm được những điều
chỉ có trong đầu và trái tim của người trả lời. Tất nhiên muốn có được
những thông tin đó phóng viên phải có nghệ thuật thuyết phục lòng người.
3.2. Ưu điểm và nhược điểm của các hình thức phỏng vấn
3.2.1. Hình thức phỏng vấn trực tiếp a. Ưu điểm Tính linh hoạt cao
Phỏng vấn trực tiếp có tính linh hoạt cao hơn so với các phương pháp
phỏng vấn khác do người phỏng vấn có thể thay đổi cách hỏi hoặc giải
thích thêm nếu người đc phỏng vấn chưa hiểu rõ câu hỏi.
Thu được nhiều dữ liệu hơn ngoài bảng câu hỏi mà khách hàng trả lời,
bởi vì người phỏng vấn có thể quan sát để thu được thêm dữ liệu về người
được phỏng vấn qua ngôn ngữ không lời (nhà cửa, thái độ, hành vi,trang phục…) Tính chính xác 18
Tỉ lệ người trả lời cao, thông tin thu được khá chính xác và nhiều hơn
so với điều tra bằng thư tín. Tính thuận lợi
Thông tin được trao đổi một cách trực tiếp nên dễ xử lý
Người phỏng vấn có thể thăm dò đối tượng khi thấy thông tin chưa đủ tin cậy b. Nhược điểm Chi phí thực hiện cao
Nhiều chi phí phát sinh: chi phí đi lại, chi phí tổ chức, tiền công trả cho
người đi phỏng vấn và chi phí đào tạo phỏng vấn viên chuyên nghiệp.
Không hỏi được những câu hỏi mang tính chất riêng tư.
Nếu hỏi sẽ khiến người được phỏng vấn ngại trả lời, làm mất sự tự
nhiên, tin tưởng, đôi khi dẫn tới việc bất hợp tác của người được phỏng vấn.
Khi thấy thái độ của người được phỏng vấn không nhiệt tình với câu hỏi
riêng tư đó thì nhanh chóng xin lỗi, chuyển chủ đề và cần tạo cảm giác an
toàn cho người được phỏng vấn.
Phụ thuộc nhiều vào phỏng vấn viên.
Kết quả thu được phụ thuộc nhiều vào yếu tố khách quan như sự thân
thiên giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn, yếu tố ngoại cảnh, yếu tố tình cảm. 19
Nếu công tác chuẩn bị ko kỹ càng, chu đáo thì sẽ dẫn đến thất bại.
Có thể gặp bất đồng ngôn ngữ giữa hai bên.
Phỏng vấn viên phải là người có các kỹ năng phỏng vấn, giao tiếp,
thuyết phục tốt, điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng và số lượng thông tin thu được.
3.2.2. Hình thức phỏng vấn cá nhân
a. Phỏng vấn có tiêu chuẩn hóa:
Vai trò của điều tra viên chỉ là giải thích sáng tỏ cho người được nghiên
cứu về cuộc điều tra đang tiến hành, và đặt câu hỏi dưới dạng nguyên xi
như nó đã trình bày từ trước.
Ưu điểm: Số liệu thu thập có thể so sánh trực tiếp với nhau. Dễ tổng
hợp với việc kiểm định giả thuyết.
Nhược điểm: Yêu cầu theo trình tự gò bó nên ít khi dùng để điều tra về
tâm lý. Mặt khác: Đòi hỏi việc xây dựng các câu hỏi, sắp xếp trật tự các câu
hỏi, cũng như cách thức tiến hành phải được quy định chặt chẽ.
b. Phỏng vấn không tiêu chuẩn hóa (phỏng vấn tự do):
Chỉ các câu hỏi khung là cố định, còn các câu hỏi thăm dò có thể thay
đổi cho phù hợp với người được hỏi và ngữ cảnh thực hiện.
Ưu điểm: Tạo tâm lý thoải mái cho người điều tra và người được điều tra.
Nhược điểm: Đòi hỏi người điều tra phải có trình độ học vấn cao, biết
nói chuyện và lái câu chuyện theo đúng phương hướng.