












Preview text:
lOMoAR cPSD| 40551442 ĐẶT VẤN ĐỀ
Bình đẳng giới là một mục tiêu quan trọng cần hướng đến không chỉ của Việt
Nam, mà của các nước trên thế giới, đây được xem là một trong những tiêu chí để
đánh giá sự phát triển của một xã hội, một đất nước. Do đó, vấn đề bình đẳng giới
nói chung và những yếu tố ảnh hướng đến vấn đề bình đẳng giới trong các lĩnh vực
của đời sống xã hội hiện nay là một vấn đề luôn luôn dành được nhiều được quan
tâm. Nhận thức được tầm quan trọng đó, sau đây em xin phép lựa chọn đề bài :
“Trình bày một số yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề bình đẳng giới trong các lĩnh vực
của đời sống xã hội” để nhằm tìm hiểu những vấn đề mới phát sinh về vấn đề bình
đẳng giới, xác định những yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới cũng như những
thách thức và các biện pháp khai thác một cách tối đa, hiệu quả các cơ hội nhằm thúc
đẩy vấn đề bình đẳng giới trong kỷ nguyên số và hội nhập ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Một số vấn đề lý luận cơ bản về giới và bình đẳng giới
1.1. Khái niệm giới và đặc điểm của giới
Khái niệm “Giới” hiện nay được qui định cụ thể tại Khoản 1 Điều 5 Luật Bình
đẳng giới 2006 như sau: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất
cả các mối quan hệ xã hội”1.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, giới là các đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và
nữ trong các mối quan hệ xã hội, do đó giới có đặc điểm cơ bản sau:
1 Luật Bình đẳng giới 2006 lOMoAR cPSD| 40551442
Thứ nhất, giới có tính đa dạng, nó được hình thành từ các quan điểm, quan
niệm xã hội chứ không tự nhiên sinh ra.
Thứ hai, giới luôn thay đổi và vận động không ngừng theo thời gian và không gian.
Thứ ba, giới nam (đặc điểm, vị trí, vai trò của nam trong quan hệ xã hội) và
giới nữ (đặc điểm, vị trí, vai trò của nữ trong quan hệ xã hội) có thể thay đổi vai trò
trong một quan hệ xã hội cụ thể.
1.2. Khái niệm và đặc điểm của bình đẳng giới
Theo quy định tại Điều 5 Khoản 3 Luật Bình đẳng giới, bình đẳng giới được
hiểu “là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát
huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng
như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.
Bình đẳng giới là mục tiêu và thước đo tiến độ phát triển của một xã hội. Sự
bình đẳng giới được thể hiện ở nhiều phương diện, cụ thể như: nữ và nam có điều
kiện ngang nhau để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình;
nữ và nam có cơ hội ngang nhau để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực
của xã hội trong quá trình phát triển; nữ và nam có các quyền lợi ngang nhau trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Bình đẳng giới thể hiện vị trí, vai trò của nam và nữ ngang nhau trong các
quan hệ xã hội, do đó bình đẳng giới có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, bình đẳng giới không chỉ có ý nghĩa cơ học là số lượng của phụ nữ
và nam giới tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau. Bình đẳng giới có nghĩa lOMoAR cPSD| 40551442
là nam và nữ giới được công nhận và được hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội2.
Thứ hai, bình đẳng giới không có nghĩa là nhìn nhận nam giới và nữ giới giống
y hệt nhau mà sự tương đồng và khác biệt tự nhiên tự nhiên giữa nam và nữ được
công nhận và có giá trị như nhau. Bình đẳng giới có nghĩa là nam và nữ được hưởng
các thành quả một cách bình đẳng.
Bình đẳng giới trong xã hội hiện nay không chỉ nói về sự bình đẳng giữa phụ
nữ và nam giới mà hiện nay, vấn đề bình đẳng giới còn được đặt ra với những người
đồng tính, song tính, vô tính và chuyển giới bởi họ xứng đáng được hưởng những
điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ quyền con người và có cơ hội đóng góp, thụ
hưởng những thành quả phát triển của xã hội nói chung3.
II. Những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề bình đẳng giới trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội
2.1. Sự phân biệt về giới tính
Giới tính: “Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ”. Giới
tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay
đổi được. Phân biệt giới tính hay kỳ thị giới tính (tiếng Anh: sexism), một thuật ngữ
xuất hiện giữa thế kỷ 20, là một dạng niềm tin hay thái độ cho rằng một giới là hạ
đẳng, kém khả năng và kém giá trị hơn giới còn lại. Thuật ngữ này hầu như được
dùng để ám chỉ sự thống trị của nam so với nữ. Cuộc đấu tranh chống lại sự phân
2 https://luatduonggia.vn/yeu-to-anh-huong-den-van-de-binh-dang-gioi-trong-cac-linh-vuc-cua-doi-song-xa-hoi/
3 http://hnmu.edu.vn/vi-su-tien-bo-cua-phu-nu/binh-dang-gioi-trong-xa-hoi-hien-nay.html lOMoAR cPSD| 40551442
biệt giới tính, mà trung tâm là phong trào nữ quyền diễn ra dưới nhiều hình thức đa
dạng và không chỉ dành riêng cho nữ4.
Nhiều chỉ trích đã phê phán quan niệm cho rằng các đặc tính giới khác nhau
giữa nam và nữ đã dẫn đến sự phân chia các vai trò khác nhau trong xã hội, gia đình,
kinh doanh hay chính trị. Trong lịch sử đã có nhiều tư tưởng cho rằng nam và nữ có
vai trò đặc trù trong xã hội, trong đó nam giới thường đảm nhiệm các công việc về
nghệ thuật, kỹ nghệ, quân đội trong khi phụ nữ đảm nhận việc nội trợ gia đình và
chăm sóc trẻ em. Sự chuyên môn hóa về vai trò này đã dẫn đến sự hình thành 5quan
niệm rằng phụ nữ không có khả năng thực hiện các công việc đòi hỏi trí tuệ.
Hiện nay tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, phụ nữ đều có thu nhập thấp
hơn nam giới bất chấp một số nỗ lực về pháp luật đã được đưa ra để thu hẹp khoảng
cách về thu nhập. Theo kết quả của những nghiên cứu gần đây cho thấy, sự khác
nhau về thu nhập vẫn còn tồn tại, phụ nữ có thu nhập thấp hơn nam giới tồn tại trong
mọi ngành nghề. Kết quả điều tra mức sống dân cư năm 2002 cho thấy: thu nhập
bình quân hàng tháng của phụ nữ chiếm 85% thu nhập của nam (tỷ lệ này ở khu vực
nông nghiệp chỉ là 66% và ở khu vực công nghiệp là 78%)6. Trong khi sự bất bình
đẳng về thu nhập trong lao động có thể phản ánh sự kết hợp của các yếu tố trong đó
có sự khác nhau về trình độ văn hóa, chuyên môn, kinh nghiệm công tác và những
nguyên nhân khác cùng với sự phân biệt đối xử. Lao động nữ chỉ được nhận 86% so
với mức tiền lương cơ bản của nam giới. Tiền lương cơ bản của lao động nữ trong
tổng thu nhập là (71%) thấp hơn so với nam giới (73%).Theo các nhà nữ quyền, phân
biệt giới hiện nay phản ánh trên một số mặt sau: quyền bỏ phiếu cho phụ nữ, sự bình
4 https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/Yeu-to-anh-huong-den-van-de-binh-dang-gioi-trong-cac-linh-vuc-cua- doisong-xa-hoi-9437/
5 https://luatduonggia.vn/yeu-to-anh-huong-den-van-de-binh-dang-gioi-trong-cac-linh-vuc-cua-doi-song-xa-hoi/ 6
https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/Yeu-to-anh-huong-den-van-de-binh-dang-gioi-trong-cac-linh-vuc-cua- doisong-xa-hoi-9437/ lOMoAR cPSD| 40551442
đẳng về chính trị, xóa bỏ các ngôn ngữ phân biệt giới, bạo lực gia đình mà đối tượng
thường là nữ, những chỉ trích về các quảng cáo có tính phân biệt giới, các chỉ trích
về sự thể hiện vai trò của phụ nữ trong khoa học...
2.2. Định kiến về giới
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 5, Luật Bình đẳng giới 2006 thì:“ Định kiến
giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí vai trò
và năng lực của nam hoặc nữ”. Hay nói cách khác thì đây là một tập hợp các đặc
điểm được số đông gán cho là thuộc về nam hay nữ, các quan niệm này đôi khi sai
lầm và hạn chế những điều mà một cá nhân có thể làm. Những định kiến như trên
không chỉ tồn tại nhiều từ thời xã hội phong kiến mà ở xã hội ngày nay thì những
quan niệm đó vẫn còn hiện hữu.
Định kiến giới vừa phản ánh sự bất bình đẳng giới, vừa củng cố duy trì thực
trạng bất bình đẳng giới trong xã hội. Thể hiện rõ nhất của định kiến giới phải kể đến
tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã ăn sâu bám rễ lâu đời. Mặc dầu, những năm gần
đây cái nhìn về “con gái” trong xã hội đã cởi mở hơn. Vai trò và vị trí của phụ nữ
được nâng cao và được khẳng định hơn. Nhưng tư tưởng thích con trai hơn nên nhiều
phụ nữ sẵn sàng phá thai nếu biết thai nhi là con gái bất chấp điều đó có hại như thế
nào đối với sức khỏe. Còn ở các vùng nông thôn không có khả năng tiếp cận dịch vụ
chẩn đoán giới tính thai nhi sớm đã xảy ra tình trạng có nhiều gia đình vẫn tiếp tục
sinh tiếp con thứ 4, thứ 5 cho đến khi sinh đươc con trai mới thôi. Chính những tư
tưởng này đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính ở Việt Nam. Theo kết quả
điều tra mới nhất về các vấn đề nóng của dân số Việt Nam của Quỹ dân số Liên Hợp
Quốc (UNFPA) cho thấy, năm 2007 cứ 112 bé trai ra đời mới có 100 bé gái được
sinh ra, cao hơn năm 2006 và hơn mức bình thường (tỷ lệ 107/103). Đáng chú ý, lOMoAR cPSD| 40551442
năm 2007 có tới 35 tỉnh có tỷ lệ giới tính khi sinh là 110 bé trai/100 bé gái trở lên,
trong khi đó năm 2006 có 19 tỉnh6.
Trong quan niệm của người Việt Nam, xã hội đặt những chuẩn mực riêng đối
với các em gái như chăm làm, duyên dáng, nấu ăn giỏi, biết may vá, thêu thùa... Phụ
nữ cũng không được khuyến khích tham gia vào lĩnh vực chính trị hay trở thành lãnh
đạo, bởi theo quan niệm của nhiều xã hội, đó vẫn là vai trò của nam giới. Khi phụ
nữ tham gia vào những lĩnh vực này, họ sẽ mất đi vẻ "nữ tính". Những chuẩn mực
đó đã khiến các em gái tập trung phát triển các kỹ năng để sau này làm một người
nội trợ giỏi hơn là chú ý đến những kỹ năng để sau này kiếm được việc làm tốt hay
đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Bởi vậy, khi ra trường và tham gia vào thị
trường lao động, phụ nữ nói chung sẽ thấp kém hơn nam giới cùng lứa. Khi đã có
công việc, xã hội Việt Nam mong đợi phụ nữ có gia đình, và dành thời gian chăm
sóc cho gia đình hơn là dành thời gian cho xã hội. Khái niệm "hạnh phúc" cũng gắn
liền với quan niệm này. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến việc chọn nghề của người
phụ nữ. Ví dụ, nghề giáo viên được coi là thích hợp với nữ giới một phần vì có nhiều
thời gian chăm sóc cho gia đình.
Ngày nay, phụ nữ tham gia vào việc tạo thu nhập ở nhiều lĩnh vực như nam
giới nhưng xã hội vẫn mong đợi họ phải làm tốt cả công việc nội trợ trong gia đình,
chăm sóc con cái, chăm lo việc họ hàng, trong khi nam giới chỉ cần đi làm kiếm thu
nhập là đủ. Điều này lại không được coi là quá sức đối với phụ nữ hay bất bình đẳng
trong khi họ được coi là "phái yếu". Bởi mong muốn làm tốt cả hai vai trò, trong khi
qũy thời gian có hạn, phụ nữ phải gồng mình để học tập, lao động và phấn đấu nếu
muốn có vị trí ngang bằng với nam giới; hoặc đây là quyết định của phần đa phụ nữ,
hy sinh phát triển nghề nghiệp để có thời gian chăm sóc gia đình. Để phát triển nghề
nghiệp được tốt, ai cũng cần phải cập nhật kiến thức, trao dồi kỹ năng thường xuyên.
6 http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/23014002-bat-binh-dang-gioi-van-ton-tai-tren-nhieu-linh-vuc.html lOMoAR cPSD| 40551442
Thời gian nghỉ ngơi, giải trí hàng ngày cũng rất cần thiết để tinh thần và thể chất
được hồi phục để có thể tiếp tục làm việc. Đương nhiên khoảng thời gian nghỉ ngơi
này phải phù hợp đối với nam giới. Nhưng quan niệm xã hội lại không cho phép phụ
nữ được hưởng quyền đó vì mong đợi họ cống hiến tiếp cho các công việc gia đình.
Rõ ràng, quan niệm của xã hội về một người phụ nữ tốt và hạnh phúc đã tước đoạt
đi quyền phát triển nghề nghiệp, thể chất và trí tuệ của chị em
2.3 Bạo lực gia đình
Theo Công ước CEDAW của Liên hợp quốc thì bạo lực giới có thể được hiểu
là “bất kì hành động nào dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân
thể, về tình dục hay tâm lí, hoặc đau khổ cho phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những
hành vi như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù xẩy ra ở
nơi công cộng hay trong đời sống riêng tư”7.
Theo kết quả khảo sát tại 8 tỉnh ở 8 vùng trên cả nước do Uỷ ban về các đề
xã hội của Quốc hội tiến hành trong 6 tháng đầu năm 2006: có 2,3% gia đình có bạo
lực về thể chất. Theo báo cáo của Bộ công an, trên toàn quốc, cứ 2- 3 ngày có một
người bị giết liên quan tới bạo lực gia đình. Thực trạng trên đã nói lên tình trạng bất
bình đẳng giới đang diễn ra phổ biến ở tất cả mọi nơi từ thành thị tới nông thôn Vấn
đề nổi cộm, gây nhức nhối dư luận thời gian gần đây là tình trạng bạo lực tình dục.
Việc thừa nhận đó là hình thức bạo lực độc lập hay không cũng còn nhiều ý kiến
khác nhau. Tuy nhiên, do mức độ nghiêm trọng cũng như tính nhân văn, tính đột phá
của vấn đề, pháp luật vẫn đề cập tới vấn đề này, coi đó là một dạng của bạo lực. Theo
điểm đ Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định “cưỡng ép
quan hệ tình dục” là một trong những hành vi của bạo lực gia đình. Bạo lực tình dục
thường thể hiện dưới dạng: cưỡng ép quan hệ tình dục, hiếp dâm, cưỡng dâm, quấy
7 Công ước CEDAW của Liên hợp quốc lOMoAR cPSD| 40551442
rối tình dục, ép buộc sử dụng văn hóa đồi trụy để thỏa mãn nhu cầu tình dục. Và thực
tế cho thấy tình trạng này không còn là quá mới mẻ. Theo tờ trình của Uỷ ban các
vấn đề xã hội của Quốc hội về Dự án Luật Phòng, chống bạo lực gia đình thì có tới
30% các cặp vợ chồng có hiện tượng ép buộc quan hệ tình dục.
Bên cạnh hành vi bạo lực về thể chất và bạo lực tình dục thì các hành vi về
bạo lực tinh thần (người vợ bị chồng chửi mắng, xỉ vả, cấm tham gia công tác xã
hội, cấm quan hệ với mọi người) và bạo lực về kinh tế (chồng kiểm soát vợ về thu
nhập, không chịu đóng góp vào kinh tế chung của gia đình). cũng đang diễn ra ngày
càng phổ biến gây ra hậu quả xấu đối với gia đình và toàn xã hội.
2.4 Những yếu tố khác
Yếu tố giáo dục, địa lý và kinh tế cũng là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến
vấn đề bình đẳng giới. Qua khảo sát có thể thấy ở các vùng thành thị, tỉ lệ bất bình
đẳng giới cũng ít hơn so với các vùng nông thôn, nơi còn chịu nhiều ảnh hưởng của
tư tưởng phong kiến. Ở những nơi điều kiện giáo dục tốt, nam giới và cả nữ giới
được tiếp xúc với kiến thức một cách dễ dàng, hiểu biết pháp luật thì tình trạng bất
bình đẳng giới cũng được hạn chế hơn. Điều kiện kinh tế cũng ảnh hưởng khá lớn
đến vấn đề bình đẳng giới, đặc biệt là tình trạng vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.
Cuộc sống kinh tế khó khăn, áp lực cuộc sống nặng nề dẫn đến việc không làm chủ
được bản thân và có những hành vi trái pháp luật.
III. Một số kiến nghị góp phần đảm bảo vấn đề bình đẳng giới trong các
lĩnh vực của đời sống xã hội hiện nay
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Công dân đều bình đẳng
trước pháp luật. Đàn bà có quyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội và gia đình”. Trong bản di chúc viết tháng 5 năm 1968, Người đã
căn dặn: "Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ đảm đang đã góp phần xứng lOMoAR cPSD| 40551442
đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Ðảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch
thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách
mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên.
Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ".8 Do đó,
để góp phần đảm bảo vấn đề bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
hiện nay, trong thời gian tới các cơ quan, đoàn thể, ban ngành cần thực hiện tốt những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, nâng cao năng lực, nhận thức lý luận và khoa học về giới, công bằng
giới… để khắc phục tình trạng lệch lạc trong nhận thức, thái độ và hành động như “
mù giới”, “định kiến giới”, “quy giản vấn đề bình đẳng giới về vấn đề phụ nữ”, “quy
giản vấn đề giới về vấn đề bình đẳng giới”, “quy giản vấn đề giới về vấn đề thực
hiện Luật Bình đẳng giới”…
Thứ hai, lồng ghép vào trong mọi chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển
kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước. Lồng ghép giới là phương pháp tiếp cận, một
biện pháp chiến lược nhằm đạt được bình đẳng giới trên diện rộng xã hội. Đó là một
quá trình liên tục nhằm thay đổi cách tư duy, mỗi quan hệ giới giữa nam và nữ cũng
như cách thức làm việc của họ. Lồng ghép giới bảo đảm các khác biệt của nữ và
nam đều được coi trọng, xem xét và giải quyết một cách tự giác ngay từ đầu ở mọi
cấp, mọi giai đoạn của chu trình chính sách. Nói cách khác, cần phải đặt vấn đề bình
đẳng giới ngay từ gốc của tổ chức, chương trình, từ trong mỗi công đoạn của quá
trình hoạch định chính sách và thể hiện ở mỗi biện pháp chính sách cụ thể.
Thứ ba, nâng cao năng lực tổ chức và chỉ đạo thực hiện về giới, chính sách
bình đẳng giới. Muốn có được một thái độ tích cực và sự chỉ đạo sâu sát, hiệu quả
Luật Bình đẳng giới và công tác phụ nữ ở đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý các cấp
8 http://hnmu.edu.vn/vi-su-tien-bo-cua-phu-nu/binh-dang-gioi-trong-xa-hoi-hien-nay.html lOMoAR cPSD| 40551442
thì ngoài việc nâng cao nhận thức cho họ, chúng ta cần phải có những hoạt động
khích lệ, cổ vũ, nêu gương, xây dựng những mẫu hình cán bộ biết hi sinh, tận tụy
với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, đấu tranh không khoan nhượng với tư tưởng và
hành động trọng nam khinh nữ, coi thường phụ nữ.
Thứ tư, tiếp tục đổi mới, kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy và nâng cao năng
lực của Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ. Sau khi đã có Luật Bình đẳng giới
thì nên nghiên cứu, chuyển đổi tổ chức cũ này thành tổ chức mới, có thể thay thế
bằng Uỷ ban Quốc gia về bình đẳng giới. Điều đáng nói ở đây, nếu như Việt Nam
chưa có Bộ Bình đẳng giới thì nên giao cho một cơ quan thực hiện việc tổng hợp các
vấn đề về bình đẳng giới như Văn Phòng Chính phủ…. Vì Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội (cũng như một bộ nào đó được giao nhiệm vụ này) sẽ không thể bao
quát toàn bộ phạm vi và độ sâu của Luật Bình đẳng giới vì đây là trách nhiệm của
cả hệ thống chính trị và của toàn thể xã hội.
Thứ năm, tăng cường vai trò và phát huy vị thế của các tổ chức xã hội bao
gồm cả tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp… trong việc thực thi
các chính sách xã hội về bình đẳng giới. Trong những bước tiếp theo sẽ thao tác cụ
thể hơn phương châm: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong
hoạch định, điều chỉnh hoặc thay đổi chính sách bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.
“Nhân dân” ở đây không chỉ là cá nhân công dân, các tổ chức chính trị xã hội, mà
quan trọng hơn là còn tất cả các tổ chức xã hội tự nguyện của nhân dân nói chung,
các nhóm phụ nữ nói riêng.
Thứ sáu, tăng cường công tác tuyên truyền về giới, chính sách bình đẳng giới.
Giải quyết vấn đề cán bộ nữ cũng phải xuất phát từ phương thức giải quyết các nhu
cầu giới chiến lược và nhu cầu giới thực tiễn. Khi đặt ra các biện pháp giải quyết
những nhu cầu cụ thể, thiết yếu nhằm giảm thiểu những khó khăn tạm thời của phụ
nữ cần phải tính đến những nguyên nhân gốc rễ của vấn đề bất bình đẳng giới, từ đó lOMoAR cPSD| 40551442
đề ra những giải pháp mang tính chiến lược hơn, tức là đáp ứng những nhu cầu mà
sau đó có thể giúp vào việc thay đổi các quan hệ về quyền lực cũng như sự phân
công lao đông giữa nam và nữ và góp phần cải thiện bình đẳng giới.
KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Nhìn chung, việc bảo đảm vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam trên các lĩnh vực
của đời sống xã hội trong giai đoạn hiện nay có tiến bộ vượt bậc so với khoảng thời
gian trước đây. Phụ nữ và nam giới có sự bình đẳng về thực chất trên các lĩnh vực
cuộc sống, tuy nhiên, việc thực hiện quyền bình đẳng giữa nam và nữ còn nhiều hạn
chế. Phấn đấu để khắc phục những khoảng cách giới là nhiệm vụ quan trọng nhằm
bảo đảm lợi ích của từng giới trong việc thực thi quyền con người ở Việt Nam như
lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, coi vấn đề bình đẳng nam nữ là “một cuộc
cách mạng khá to và khó. Vì trọng trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để
lại. Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội...
Phải cách mạng từng người, từng gia đình, đến toàn dân. Dù to và khó nhưng nhất
định thành công”. lOMoAR cPSD| 40551442
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Giáo trình, sách tham khảo, luật 1.
Tập bài giảng Luật bình đẳng giới – TS. Ngô Thị Hường; TS. Nguyễn
Phương Lan – Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2013 2.
Luật Bình đẳng giới 2006 3.
Công ước CEDAW của Liên hợp quốc 4.
“ Giáo dục Việt Nam từ bình đẳng giới ở trình độ thấp đến bình
đẳng giớiở trình độ cao” - Lê Ngọc Hùng – Tạp chí Lý luận chính trị.Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, số 12/2011. * Trang web: 1.
http://baophutho.vn/xa-hoi/201803/binh-dang-gioi-danh-thuc-vai-tro- cuaphu-nu-156850 2.
https://luatduonggia.vn/yeu-to-anh-huong-den-van-de-binh-dang-
gioitrong-cac-linh-vuc-cua-doi-song-xa-hoi/ 3.
http://hnmu.edu.vn/vi-su-tien-bo-cua-phu-nu/binh-dang-gioi-trong- xahoi-hien-nay.html 4.
https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/Yeu-to-anh-huong-den-van-
debinh-dang-gioi-trong-cac-linh-vuc-cua-doi-song-xa-hoi-9437/ 5.
https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/Yeu-to-anh-huong-den-van-
debinh-dang-gioi-trong-cac-linh-vuc-cua-doi-song-xa-hoi-9437/ lOMoAR cPSD| 40551442 6.
http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/23014002-bat-binh-dang-
gioivan-ton-tai-tren-nhieu-linh-vuc.html.