lOMoARcPSD| 58702377
Cách giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học
Triết học, không giống như những loại hình nhận thức khác, trước
khi đi vào giải quyết vấn đề cthcủa mình thì nó phải giải quyết một vấn đề mang
ý nghĩa nền tảng và là điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề còn lại được gọi
vấn đề bản của triết học. Ph. Ăngghen quan niệm: Vấn đề bản lớn của
mọi triết học, đặc biệt của triết học hiện đại, vấn đquan hệ giữa duy
tồn tại”. Vấn đề bản của triết học hai mặt, trlời hai câu hỏi lớn. Mặt thứ nhất
trlời cho câu hỏi: Giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào
quyết định cái nào? . Còn mặt thứ hai trả lời cho câu hỏi: Con người có nhận thức
được thế giới hay không?
Mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học được giải
quyết thông qua thuyết khả tri luận, thuyết bất khả tri luận thuyết hoài nghi luận
Thuyết khtri (Thuyết thể biết) khẳng định về nguyên tắc con người
thhiểu được bản chất sự vật. Nói cách khác, cảm giác, biểu tượng, quan
niệm nói chung ý thức con người được về sự vật về nguyên tắc
phù hợp với bản thân sự vật. Thuyết “có thể biếtđược tuyệt đại đa scác
nhà triết học (cả các nhà duy vật các nhà duy tâm) thừa nhận nhưng được
giải thích theo 2 luồng tư tưởng khác nhau:
Phần lớn những người theo chủ nghĩa duy vật thừa nhận vật chất nguồn
gốc của ý thức, ý thức là phản ánh thế gii vật chất do đó con người khả
năng nhận thức được thế giới khách quan. Như vậy, chủ nghĩa duy vật thừa
nhận con người có thể nhận thức được thế giới và các quy luật của thế gii
Một số nhà triết học chủ nghĩa duy tâm cũng thừa nhận thế giới thể
nhận thức được nhưng họ xuất phát từ quan niệm cho rằng ý thức trước
vật chất, quyết định vật chất cho nên theo họ, nhận thức không phải là phản
ánh thế giới khách quan chỉ sự tnhận thức, tự ý thức về bản thân
(cảm giác chủ quan thuần túy) hoặc lực lượng siêu nhiên.
Qua đó ta thấy chủ nghĩa duy tâm phủ nhận thế gii khách quan chính
nguồn gốc của nhận thức, phủ nhận cảm giác, khả năng của con người là sự
phản ánh các sự vật khách quan vào bộ não người
Ví dụ: Tư tưởng khả tri như các nhà Marxist cho
lOMoARcPSD| 58702377
rằng thông qua hoạt động thực ễn sẽ cho con người biết ngày càng sâu sắc về đối
ợng, bằng chứng của việc khả tri con người thể làm thí nghiệm tạo ra các
hiện tượng giống như trong tự nhiên hay khiến cho thế giới tự nhiên phục vụ con
người. Trong dụ nhận biết về con người thì tương tự kiểu: Nghịch cảnh ết lộ
bản chất con người“.
Ngoài ra, để trả lời cho mặt thứ hai vấn đề cơ bản
của triết học còn có trường phái phủ nhận khả năng nhận thức của con người được
gọi Thuyết bất khả tri (Thuyết không thể biết). Theo thuyết này, về nguyên tắc ,
con người không thể hiểu được bản chất của đối tượng . Kết quả nhận thức con
người được chỉ hình thức bề ngoài, hạn hẹp cắt xén về đối tượng các
hình ảnh, nh chất, đặc điểm… của đối tượng giác quan con người thu nhận
được trong quá trình nhận thức không đảm bảo nh chân thực tuyệt đối
Bất khả tri không tuyệt đối phnhận những thực
tại siêu nhiên hay thực tại được cảm giác của con người, nhưng vẫn khẳng định ý
thức con người không thể đạt tới thực tại tuyệt đối hay thực tại như nó vốn có, vì
mọi thực tại tuyệt đối đều nằm ngoài kinh nghiệm của con người về thế giới. Thuyết
bất khả tri cũng không đặt vấn đề niềm n, chỉ phnhận khả năng vô hạn của
nhận thức. Đại biểu điển hình cho các nhà triết học bất khả tri chính là Hume (nhà
triết học người Anh) Kant (nhà triết học người Đức). Hume quan niệm tri thc
con người chỉ dừng ở trình độ kinh nghiệm, chân lý phải phù hợp với kinh nghiệm.
Hume phủ nhận những sự trừu tượng hóa vượt quá kinh nghiệm, dù là những khái
quát giá trị. Còn Kant, mặc không phủ nhận các thực tại siêu nhiên như Hume,
nhưng với thuyết về vật tự nó (hay vật tự thân), Kant đã tuyệt đối hóa sự bí ẩn ca
đối tượng được nhận thức. Ông cho rằng con người không thể được tri thức
đúng đắn, chân thực, bản chất về những thực tại nằm ngoài kinh nghiệm thể
cảm giác được.
VD: dụ theo tưởng bất khả tri của David Hume (1711-
1776), ông cho rng tri thức của con người về thế giới khách quan chỉ là những n
ợng” rồi từ những ấn tượng đó nảy sinh “ý niệm” chứ không phải tri thức
chân thực về bản thân thế giới khách quan. Chẳng hạn khi ta nhận thức về một
người nào đó thì ta chthể thông qua những ấn tượng của bản thân về người
đó, rồi dần dần ý niệm rằng họ người như thế y hay thế kia chứ ta không
hoàn toàn biết chính xác người đó như thế nào. Như dân gian ta có câu “Sông sâu
biển thẳm dễ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người
lOMoARcPSD| 58702377
Tuy nhiên Thuyết bất khả tri và quan niệm vật t
của Kant đã bị Feuerbach Hegel phê phán gay gắt. Song, đúng như Ph.
Ăngghen đã nhận xét, chính thực ễn của con người đã bác bỏ thuyết bất khả tri
một cách triệt để nhất: “ Sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép những sự vặn vẹo
triết học ấy, cũng như tất cả những triết học khác, thực ễn, chính thực nghiệm
và công nghiệp. Nếu chúng có thể chứng minh được nh chính xác của quan điểm
của chúng ta về một hiện tượng tự nhiên nào đó, bằng cách tự chúng ta làm ra hiện
ợng ấy, bằng cách tạo ra từ những điều kiện của nó, và hơn nữa, còn bắt
phải phục vụ mục đích của chúng ta, thì sẽ không còn có cái “vật tự nó” không thể
nắm được của Cantơ nữa” (C. Mác và Ph. Ăngghen:
Toàn tập, Sdd, t.21, tr.406)
Tính tương đối của nhận thức dẫn đến việc ra đời
của trào lưu hoài nghi luận từ triết học Hy Lạp cổ đại. Những người theo hoài nghi
luận nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được
và cho rằng con người không thể đạt tới chân lý khách quan. Tuy cực đoan về mặt
nhận thức nhưng chúng ta thấy rằng trong qtrình phát triển thì thuyết hoài nghi
luận nhiều đóng góp nhất định, đặc biệt trong thời phục hung với vai trò quan
trọng trong cuộc đấu tranh chống hệ tư tưởng và quyền uy của Giáo hôi thời trung
cổ, hoài nghi luận thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh các n điều
tôn giáo.
Lấy ví dụ phân biệt thuyết khả tri duy vật với thuyết khả tri duy tâm
- Thế nào thuyết khả tri? Nđã nêu trên thì
Thuyết khả tri (Thuyết thể biết) học thuyết cả những nhà Triết
học theo chủ nghĩa duy vật lẫn duy tâm đều đã khẳng định con người
khả năng nhận thức được thế giới. Khẳng định về nguyên tắc con
người có thể hiểu được bản chất của sự vật. Nói cách khác, cảm giác,
biểu tượng, quan niệm nói chung ý thức con người được
về sự vật là nguyên tắc phù hợp với bản thân sự vật
- Chnghĩa duy vật: những người cho rằng vật
cht
là cái có trước và quyết định ý thức của con người
- Chnghĩa duy tâm: những người cho rằng ý thức
lOMoARcPSD| 58702377
có trước vật cht
Như vy, Thuyết khả tri duy vật là học thuyết của các
nhà triết học duy vật, cho rằng con người khả năng nhận thức được thế giới trên
phương diện duy vật, tức cho rằng vật chất trong giới tự nhiên trước và quyết
định ý thức con người. Còn Thuyết khả tri duy tâm học thuyết của các nhà triết
học duy tâm, cho rằng con người khả ng nhận thức được thế gii trên phương
diện duy tâm, tức ý thức, nh thần trước vật chất giới tự nhiên. Chính vậy,
cùng một hiện tượng nhưng hai học thuyết lại khả năng nhận thức khác nhau:
VD1: Cả hai học thuyết đều nhận thức được sự ra đời
của con người nhưng lại có cách giải thích khác nhau về nguồn gốc
+ Thuyết khả tri duy vật: Con người là sự ến hóa của
loài vượn cổ, là kết quả của sến hóa không ngừng nghỉ qua từng thời đại (theo
học thuyết Darwin)
+ Thuyết khả tri duy tâm: Chúa trời, thần linh tạo ra con người (dựa
trên những truyền thuyết Adam Eva ở phương
Tây hay Nữ thần Oa ở phương Đông)
VD2: Những người làm việc xấu, những hành vi trái với đạo đức,
chuẩn mực xã hội
+ Thuyết khả tri duy vật: Họ schịu sự trừng phạt thích đáng tpháp
luật
+ Thuyết khả tri duy tâm: Họ sẽ bị tri phạt, bị báo
ứng..
VD3: Khi nhìn nhận về sự phát triển của cây cối
+ Thuyết khả tri duy vật: Đó là quá trình cây cối đang
quang hợp, hấp thu chất dinh dưỡng từ môi trường, đang trao đổi chất trong môi
trường
+ Thuyết khả tri duy tâm: Sự phát triển của cây cối
được sắp đặt bởi lực lượng siêu nhiên. Đến một thời gian cây cối sẽ chết đi
là quy luật sinh tử VD4:
+ Thuyết khả tri duy vật: Con cái sự kết nh, kết quả đẹp đẽ từ
nh yêu của bố và mẹ
lOMoARcPSD| 58702377
+ Thuyết khả tri duy tâm: Con cái là lộc trời cho
Nguồn tài liệu tham khảo:
Giáo trình Triết học Mác Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lun
chính trị)- NXB Chính trị Quốc gia Sự thật hps://nhthonglinh.vn/2022/01/06/bat-
kha-tri-hay-bat-can-khatri/
Thuyết khả tri (Thuyết có thể biết) khẳng định về nguyên tắc con người
thhiểu được bản chất sự vật. Nói cách khác, cảm giác, biểu tượng, quan
niệm nói chung ý thức con người được về sự vật về nguyên tắc
phù hợp với bản thân sự vật. Thuyết “có thể biếtđược tuyệt đại đa scác
nhà triết học (cả các nhà duy vật các nhà duy tâm) thừa nhận nhưng được
giải thích theo 2 luồng tư tưởng khác nhau:
Phần lớn những người theo chủ nghĩa duy vật thừa nhận vật chất nguồn
gốc của ý thức, ý thức là phản ánh thế gii vật chất do đó con người khả
năng nhận thức được thế giới khách quan. Như vậy, chủ nghĩa duy vật thừa
nhận con người có thể nhận thức được thế giới và các quy luật của thế gii
Một số nhà triết học chủ nghĩa duy tâm cũng thừa nhận thế giới thể
nhận thức được nhưng họ xuất phát từ quan niệm cho rằng ý thức trước
vật chất, quyết định vật chất cho nên theo họ, nhận thức không phải là phản
ánh thế giới khách quan chỉ sự tnhận thức, tự ý thức về bản thân
(cảm giác chủ quan thuần túy) hoặc lực lượng siêu nhiên. Qua đó ta thấy chủ
nghĩa duy tâm phủ nhận thế giới khách quan chính nguồn gốc của nhận
thức, phủ nhận cảm giác, khả năng của con người là sự phản ánh các sự vật
khách quan vào bộ não người

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58702377
Cách giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học
Triết học, không giống như những loại hình nhận thức khác, trước
khi đi vào giải quyết vấn đề cụ thể của mình thì nó phải giải quyết một vấn đề mang
ý nghĩa nền tảng và là điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề còn lại được gọi
là vấn đề cơ bản của triết học. Ph. Ăngghen quan niệm: “ Vấn đề cơ bản lớn của
mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và
tồn tại”. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, trả lời hai câu hỏi lớn. Mặt thứ nhất
trả lời cho câu hỏi: Giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào
quyết định cái nào? . Còn mặt thứ hai trả lời cho câu hỏi: Con người có nhận thức
được thế giới hay không?
Mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học được giải
quyết thông qua thuyết khả tri luận, thuyết bất khả tri luận và thuyết hoài nghi luận
Thuyết khả tri (Thuyết có thể biết) khẳng định về nguyên tắc con người có
thể hiểu được bản chất sự vật. Nói cách khác, cảm giác, biểu tượng, quan
niệm và nói chung ý thức mà con người có được về sự vật về nguyên tắc là
phù hợp với bản thân sự vật. Thuyết “có thể biết” được tuyệt đại đa số các
nhà triết học (cả các nhà duy vật và các nhà duy tâm) thừa nhận nhưng được
giải thích theo 2 luồng tư tưởng khác nhau: •
Phần lớn những người theo chủ nghĩa duy vật thừa nhận vật chất là nguồn
gốc của ý thức, ý thức là phản ánh thế giới vật chất do đó con người có khả
năng nhận thức được thế giới khách quan. Như vậy, chủ nghĩa duy vật thừa
nhận con người có thể nhận thức được thế giới và các quy luật của thế giới •
Một số nhà triết học chủ nghĩa duy tâm cũng thừa nhận thế giới là có thể
nhận thức được nhưng vì họ xuất phát từ quan niệm cho rằng ý thức có trước
vật chất, quyết định vật chất cho nên theo họ, nhận thức không phải là phản
ánh thế giới khách quan mà chỉ là sự tự nhận thức, tự ý thức về bản thân
(cảm giác chủ quan thuần túy) hoặc lực lượng siêu nhiên.
Qua đó ta thấy chủ nghĩa duy tâm phủ nhận thế giới khách quan chính là
nguồn gốc của nhận thức, phủ nhận cảm giác, khả năng của con người là sự
phản ánh các sự vật khách quan vào bộ não người
Ví dụ: Tư tưởng khả tri như các nhà Marxist cho lOMoAR cPSD| 58702377
rằng thông qua hoạt động thực tiễn sẽ cho con người biết ngày càng sâu sắc về đối
tượng, bằng chứng của việc khả tri là con người có thể làm thí nghiệm tạo ra các
hiện tượng giống như trong tự nhiên hay khiến cho thế giới tự nhiên phục vụ con
người. Trong ví dụ nhận biết về con người thì tương tự kiểu: “Nghịch cảnh tiết lộ
bản chất con người
“.
Ngoài ra, để trả lời cho mặt thứ hai vấn đề cơ bản
của triết học còn có trường phái phủ nhận khả năng nhận thức của con người được
gọi là Thuyết bất khả tri (Thuyết không thể biết). Theo thuyết này, về nguyên tắc ,
con người không thể hiểu được bản chất của đối tượng . Kết quả nhận thức mà con
người có được chỉ là hình thức bề ngoài, hạn hẹp và cắt xén về đối tượng vì các
hình ảnh, tính chất, đặc điểm… của đối tượng mà giác quan con người thu nhận
được trong quá trình nhận thức không đảm bảo tính chân thực tuyệt đối
Bất khả tri không tuyệt đối phủ nhận những thực
tại siêu nhiên hay thực tại được cảm giác của con người, nhưng vẫn khẳng định ý
thức con người không thể đạt tới thực tại tuyệt đối hay thực tại như nó vốn có, vì
mọi thực tại tuyệt đối đều nằm ngoài kinh nghiệm của con người về thế giới. Thuyết
bất khả tri cũng không đặt vấn đề niềm tin, mà chỉ phủ nhận khả năng vô hạn của
nhận thức. Đại biểu điển hình cho các nhà triết học bất khả tri chính là Hume (nhà
triết học người Anh) và Kant (nhà triết học người Đức). Hume quan niệm tri thức
con người chỉ dừng ở trình độ kinh nghiệm, chân lý phải phù hợp với kinh nghiệm.
Hume phủ nhận những sự trừu tượng hóa vượt quá kinh nghiệm, dù là những khái
quát có giá trị. Còn Kant, mặc dù không phủ nhận các thực tại siêu nhiên như Hume,
nhưng với thuyết về vật tự nó (hay vật tự thân), Kant đã tuyệt đối hóa sự bí ẩn của
đối tượng được nhận thức. Ông cho rằng con người không thể có được tri thức
đúng đắn, chân thực, bản chất về những thực tại nằm ngoài kinh nghiệm có thể cảm giác được.
VD: Ví dụ theo tư tưởng bất khả tri của David Hume (1711-
1776), ông cho rằng tri thức của con người về thế giới khách quan chỉ là những “ấn
tượng” rồi từ những ấn tượng đó mà nảy sinh “ý niệm” chứ không phải là tri thức
chân thực về bản thân thế giới khách quan. Chẳng hạn khi ta nhận thức về một
người nào đó thì ta chỉ có thể thông qua những ấn tượng của bản thân về người
đó, rồi dần dần có ý niệm rằng họ là người như thế này hay thế kia chứ ta không
hoàn toàn biết chính xác người đó như thế nào. Như dân gian ta có câu “Sông sâu
biển thẳm dễ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người
“ lOMoAR cPSD| 58702377
Tuy nhiên Thuyết bất khả tri và quan niệm vật tự
nó của Kant đã bị Feuerbach và Hegel phê phán gay gắt. Song, đúng như Ph.
Ăngghen đã nhận xét, chính thực tiễn của con người đã bác bỏ thuyết bất khả tri
một cách triệt để nhất: “ Sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép những sự vặn vẹo
triết học ấy, cũng như tất cả những triết học khác, là thực tiễn, chính là thực nghiệm
và công nghiệp. Nếu chúng có thể chứng minh được tính chính xác của quan điểm
của chúng ta về một hiện tượng tự nhiên nào đó, bằng cách tự chúng ta làm ra hiện
tượng ấy, bằng cách tạo ra nó từ những điều kiện của nó, và hơn nữa, còn bắt nó
phải phục vụ mục đích của chúng ta, thì sẽ không còn có cái “vật tự nó” không thể
nắm được của Cantơ nữa” (C. Mác và Ph. Ăngghen:
Toàn tập, Sdd, t.21, tr.406)
Tính tương đối của nhận thức dẫn đến việc ra đời
của trào lưu hoài nghi luận từ triết học Hy Lạp cổ đại. Những người theo hoài nghi
luận nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được
và cho rằng con người không thể đạt tới chân lý khách quan. Tuy cực đoan về mặt
nhận thức nhưng chúng ta thấy rằng trong quá trình phát triển thì thuyết hoài nghi
luận có nhiều đóng góp nhất định, đặc biệt trong thời phục hung với vai trò quan
trọng trong cuộc đấu tranh chống hệ tư tưởng và quyền uy của Giáo hôi thời trung
cổ, vì hoài nghi luận thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh và các tín điều tôn giáo.
Lấy ví dụ phân biệt thuyết khả tri duy vật với thuyết khả tri duy tâm -
Thế nào là thuyết khả tri? Như đã nêu ở trên thì
Thuyết khả tri (Thuyết có thể biết) là học thuyết mà cả những nhà Triết
học theo chủ nghĩa duy vật lẫn duy tâm đều đã khẳng định con người
có khả năng nhận thức được thế giới. Khẳng định về nguyên tắc con
người có thể hiểu được bản chất của sự vật. Nói cách khác, cảm giác,
biểu tượng, quan niệm và nói chung là ý thức mà con người có được
về sự vật là nguyên tắc phù hợp với bản thân sự vật -
Chủ nghĩa duy vật: Là những người cho rằng vật chất
là cái có trước và quyết định ý thức của con người -
Chủ nghĩa duy tâm: Là những người cho rằng ý thức lOMoAR cPSD| 58702377 có trước vật chất
Như vậy, Thuyết khả tri duy vật là học thuyết của các
nhà triết học duy vật, cho rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới trên
phương diện duy vật, tức là cho rằng vật chất trong giới tự nhiên có trước và quyết
định ý thức con người. Còn Thuyết khả tri duy tâm là học thuyết của các nhà triết
học duy tâm, cho rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới trên phương
diện duy tâm, tức ý thức, tinh thần có trước vật chất giới tự nhiên. Chính vì vậy,
cùng là một hiện tượng nhưng hai học thuyết lại có khả năng nhận thức khác nhau:
VD1: Cả hai học thuyết đều nhận thức được sự ra đời
của con người nhưng lại có cách giải thích khác nhau về nguồn gốc
+ Thuyết khả tri duy vật: Con người là sự tiến hóa của
loài vượn cổ, là kết quả của sự tiến hóa không ngừng nghỉ qua từng thời đại (theo học thuyết Darwin)
+ Thuyết khả tri duy tâm: Chúa trời, thần linh tạo ra con người (dựa
trên những truyền thuyết Adam và Eva ở phương
Tây hay Nữ thần Oa ở phương Đông)
VD2: Những người làm việc xấu, có những hành vi trái với đạo đức, chuẩn mực xã hội
+ Thuyết khả tri duy vật: Họ sẽ chịu sự trừng phạt thích đáng từ pháp luật
+ Thuyết khả tri duy tâm: Họ sẽ bị trời phạt, bị báo ứng..
VD3: Khi nhìn nhận về sự phát triển của cây cối
+ Thuyết khả tri duy vật: Đó là quá trình cây cối đang
quang hợp, hấp thu chất dinh dưỡng từ môi trường, đang trao đổi chất trong môi trường
+ Thuyết khả tri duy tâm: Sự phát triển của cây cối
được sắp đặt bởi lực lượng siêu nhiên. Đến một thời gian cây cối sẽ chết đi vì nó
là quy luật sinh tử VD4:
+ Thuyết khả tri duy vật: Con cái là sự kết tinh, là kết quả đẹp đẽ từ
tình yêu của bố và mẹ lOMoAR cPSD| 58702377
+ Thuyết khả tri duy tâm: Con cái là lộc trời cho
Nguồn tài liệu tham khảo:
Giáo trình Triết học Mác – Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận
chính trị)- NXB Chính trị Quốc gia Sự thật https://tinhthonglinh.vn/2022/01/06/bat-
kha-tri-hay-bat-can-khatri/

Thuyết khả tri (Thuyết có thể biết) khẳng định về nguyên tắc con người có
thể hiểu được bản chất sự vật. Nói cách khác, cảm giác, biểu tượng, quan
niệm và nói chung ý thức mà con người có được về sự vật về nguyên tắc là
phù hợp với bản thân sự vật. Thuyết “có thể biết” được tuyệt đại đa số các
nhà triết học (cả các nhà duy vật và các nhà duy tâm) thừa nhận nhưng được
giải thích theo 2 luồng tư tưởng khác nhau: •
Phần lớn những người theo chủ nghĩa duy vật thừa nhận vật chất là nguồn
gốc của ý thức, ý thức là phản ánh thế giới vật chất do đó con người có khả
năng nhận thức được thế giới khách quan. Như vậy, chủ nghĩa duy vật thừa
nhận con người có thể nhận thức được thế giới và các quy luật của thế giới •
Một số nhà triết học chủ nghĩa duy tâm cũng thừa nhận thế giới là có thể
nhận thức được nhưng vì họ xuất phát từ quan niệm cho rằng ý thức có trước
vật chất, quyết định vật chất cho nên theo họ, nhận thức không phải là phản
ánh thế giới khách quan mà chỉ là sự tự nhận thức, tự ý thức về bản thân
(cảm giác chủ quan thuần túy) hoặc lực lượng siêu nhiên. Qua đó ta thấy chủ
nghĩa duy tâm phủ nhận thế giới khách quan chính là nguồn gốc của nhận
thức, phủ nhận cảm giác, khả năng của con người là sự phản ánh các sự vật
khách quan vào bộ não người