Câu hỏi bổ sung chương 3:(dl 23h59 CN 5/11/2023)
1. Có quan điểm cho rằng: “Án lệ là hình thức pháp luật lạc hậu và chậm thay đổi”. Hãy
cho biết quan điểm trên đúng hay ? Vì sao? sai
Trường hợp án lệ không còn phù hợp do sự thay đổi của pháp luật thì án lệ đương nhiên
bị bãi bỏ (Điều 9 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP). Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao xem
xét, quyết định, việc bãi bỏ án lệ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Án lệ không còn phù hợp do chuyển biến tình hình;
b) Bản án, quyết định nội dung được lựa chọn phát triển thành án lệ đã bị hủy, sửa toàn bộ
hoặc phần liên quan đến án lệ.
2. Có quan điểm cho rằng: “Ngày nay, văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp
luật cơ bản và chủ yếu ở tất cả các quốc gia trên thế giới”. Hãy cho biết quan điểm trên
đúng hay ? Vì sao? sai
Vì không phải tất cả các quốc gia trên TG đều sử dụng hình thức văn bản quy phạm pháp luật
3. Có quan điểm cho rằng: “Tập quán pháp là hình thức pháp luật ra đời sớm nhất, trước
cả khi nhà nước xuất hiện”. Hãy cho biết quan điểm trên hay sai? Vì sao? đúng
Tập quán là loại quy phạm xã hội ra đời từ rất sớm, trước cả khi có sự ra đời của nhà nước.
Tập quán một thuật ngữ thể được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Dưới góc độ
ngôn ngữ tập quán được hiểu thói quen được hình thành đã lâu trong đời sống, được mọi
người tuân theo những quy tắc xử sự được hình thành một cách tự phát lâu ngày thành”,
thói quen trong đời sống hội hoặc giao lưu quốc tế, đang tồn tại được các chủ thể thừa
nhân như là quy tắc xử sự chung”.
Dưới góc độ pháp lý, tập quán thói quen đã thành nếp trong đời sống hội, trong sản
xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận và làm theo như
một quy ước chung của cộng đồng
4. Có quan điểm cho rằng: “Pháp luật Việt Nam chỉ có hình thức pháp luật duy nhất là
văn bản quy phạm pháp luật”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay ? Vì sao? sai
Có ba hình thức pháp luật phổ biến là pháp luật tập quán, pháp luật án lệ và văn bản quy phạm
pháp luật.
5. Có quan điểm cho rằng: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục pháp luật quy định”. Hãy
cho biết quan điểm trên hay sai? Vì sao? đúng
(Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015)
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo
đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật.
6. Có quan điểm cho rằng: “Tất cả các Luật do Quốc hội ban hành đều là văn bản quy
phạm pháp luật”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?
7. Có quan điểm cho rằng: “Tất cả những người có thẩm quyền ban hành thông tư đều
có thể phối hợp với nhau để ban hành thông tư liên tịch”. Hãy cho biết quan điểm trên
đúng hay sai? Vì sao?
Điều 25, Chương II, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao ban hành thông tư liên tịch để quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan
này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng và phòng chống tham nhũng.
8. Có quan điểm cho rằng: “Mọi văn bản quy phạm pháp luật đều cần phải được Chủ tịch
nước công bố”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay ? Vì sao? sai
Điều 80, Mục 6, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
9. Có quan điểm cho rằng: “Trong mọi trường hợp, thời điểm phát sinh hiệu lực của văn
bản quy phạm pháp luật đều không được sớm hơn 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký
ban hành văn bản đó”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay ? Vì sao? sai
Khoản 1, Điều 151, Chương III, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
10. Có quan điểm cho rằng: “Văn bản quy phạm pháp luật bị ngưng hiệu lực là văn bản
bị huỷ bỏ hoặc bãi bỏ”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay ? Vì sao? sai
Khoản 1, Điều 153, Chương III, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
11. Có quan điểm cho rằng: “Quyết định là hình thức văn bản quy phạm pháp luật luôn
được ban hành bởi người (cá nhân) có thẩm quyền”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng
hay sai? Vì sao?
12. Có quan điểm cho rằng: “Thành phần cấu thành của hệ thống pháp luật gồm ngành
luật, chế định pháp luật và quy phạm pháp luật”. Hãy cho biết quan điểm trên hay đúng
sai? Vì sao?
Theo giáo trình trang157
13. Có quan điểm cho rằng: “Mỗi một ngành luật sẽ có một đối tượng điều chỉnh riêng,
phân biết với đối tượng điều chỉnh do ngành luật khác điều chỉnh”. Hãy cho biết quan
điểm trên hay sai? Vì sao? đúng
Theo giáo trình trang157
14. Có quan điểm cho rằng: “Mọi quan hệ nhân thân đều do ngành luật dân sự điều
chỉnh”. Hãy cho biết quan điểm trên hay sai? Vì sao? đúng
Điều 1, Chương, Phần thứ nhất, Luật Dân Sự
15. Có quan điểm cho rằng: “Phương pháp điều chỉnh là căn cứ chủ yếu để phân chia
ngành luật”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay ? Vì sao? sai
Muốn phân biệt ngành luật này với ngành luật khác thì dựa vào hai căn cứ
chủ yếu cơ bản sau: Đó là đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh.
16. Có quan điểm cho rằng: “Đối tượng điều chỉnh của ngành luật hình sự là quan hệ xã
hội giữa người thực hiện tội phạm và người có quyền, lợi ích bị tội phạm xâm hại”. Hãy
cho biết quan điểm trên đúng hay ? Vì sao? sai
Dối tượng điều chỉnh của luật hình sự là những quan hệ xã hội phát sinh giữa
Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm.
17. Các thành viên sáng lập Công ty TNHH Khai Sáng (dự định thành lập vào tháng
8/2020, hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ) đang bàn luận về việc tổ chức
quản lý công ty. Có thành viên cho rằng công ty phải được tổ chức quản lý theo Luật
Doanh nghiệp 2020, có thành viên lại cho rằng công ty phải được tổ chức quản lý theo
Luật Doanh nghiệp 2014, có thành viên cho rằng công ty phải được tổ 75 chức quản lý
theo Luật Thương mại 2005. Bằng kiến thức pháp luật của mình, bạn hãy giải đáp cho
các thành viên của Công ty TNHH Khai sáng về việc áp dụng luật nào cho tổ chức quản
lý công ty nhé.
Cụ thể hơn, tại , công ty cổ phần cóĐiều 137 Luật Doanh nghiệp 2020
quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô
hình dưới đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định
khác: - Mô hình 1: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm
soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
18. Nếu có ba văn bản quy pháp pháp luật gồm Thông tư của Bộ trưởng Bộ X; Nghị
quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh M và Quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh B có nội
dung quy định về quy chế đào tạo đại học và cao đẳng trái với văn bản của Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã ban hành, thì theo bạn văn bản quy phạm pháp luật nào trong số các văn
bản trên được áp dụng trong thực tế? Vì sao? Tình trạng trên có nên thay đổi không?
sao? Hãy cho biết cách thức xử lý đối với tình trạng có nhiều văn bản quy định trái
ngược nhau cùng quy định về đào tạo đại học và cao đẳng. Nêu rõ căn cứ pháp lý cho
giải pháp của mình.
Câu hỏi ôn tập chương 4 (dl 23h59 T3 7/11/2023)
1. Phân tích và giải thích vì sao luật hành chính là ngành luật về tổ chức và hoạt động
quản lý nhà nước?
Luật Hành chính Việt Nam ngành luật điều chỉnh những quan hệ hội chủ yếu phát
sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Hoạt động quản hành chính nhà nước không thể tách rời những quan hệ hội
hướng tới nhằm ổn định hay thay đổi, cho nên đối tượng điều chỉnh của Luật Hành
chính Việt Nam những quan không phải là bản thân quản lý hành chính nhà nước mà là
hệ xã hội hình thành trong quá trình hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Luật Hành chính Việt Nam quan trọng trong việc hoàn thiện hoạt động chấpgiữ vai trò
hành điều hành của Nhà nước. Các quy phạm Luật Hành chính Việt Nam quy định
địa vị pháp của các quan hành chính nhà nước, xác định những nguyên tắc
bản của quản lý hành chính nhà nước và các vấn đề khác có liên quan tới quản lý hành
chính nhà nước. Thông qua đó Luật Hành chính Việt Nam bảo đảm việc củng cố, hoàn
thiện bộ máy hành chính nhà nước không ngừng nâng cao hiệu quả của hoạt động
quản lý hành chính nhà nước.
Luật Hành chính Việt Nam cũng quy định quyền nghĩa vụ của các chủ thể khác của
quản lý hành chính nhà nước, những biện pháp bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa
vụ đó, tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia một cách tích cực vào hoạt động quản
hành chính nhà nước.
Luật Hành chính Việt Nam xác định chế quản hành chính trong mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội.
Luật Hành chính Việt Nam quy định những hành vi nào vi phạm hành chính, biện
pháp xử lý, thủ tục xử lý những tổ chức và cá nhân thực hiện vi phạm hành chính.
Luật Hành chính Việt Nam quy định chế độ công vụ chế độ cán bộ, công chức, viên
chức.
Từ những điều đã phân tích trên đây thể đi đến kết luận: Luật Hành chính Việt Nam
là ngành luật về quản lý hành chính nhà nước.
2. Phân tích và phân biệt hoạt động chấp hành với hoạt động điều hành. Lấy ví dụ minh
hoạ?
Chấp hành là làm theo đúng những điều được đề ra trong văn bản quy phạm pháp
luật, văn bản cá biệt hay trong mệnh lệnh của cấp trên.
Hoạt động chấp hành và điều hành là hoạt động quản lý nhà nước là một loại hoạt
động cơ bản, chủ yếu được thực hiện bởi các cơ quan hành chính Nhà nước.
Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính gồm các hoạt động sau:
– Tuân thủ quy phạm luật hành chính: Là hình thức thực hiện quy phạm luật hành
chính trong đó chủ thể kiềm chế không thực hiện hành vi mà pháp luật hành chính
cấm.
Ví dụ: Một công dân kiềm chế không thực hiện những hành vi mà Pháp lệnh xử lí vi
phạm hành chính, các nghị định về xử phạt hành chính ngăn cấm.
Không thực hiện hành vi vi phạm hành chính nghĩa là công dân đó đã tuân thủ quy
định các văn bản pháp luật đó.
– Thi hành quy phạm luật hành chính: Là hình thức thực hiện quy phạm luật hành
chính, trong đó chủ thể thực hiện nhiệm vụ của mình bằng hành động tích cực( làm
việc phải làm) .
Ví dụ: Pháp luật quy định công dân nam tuổi từ 18 đến 27 tuổi phải làm nghĩa vụ
quân sự. Một nam công dân độ tuổi trên bằng hành động của mình lên đường nhập
ngũ, phục vụ trong quân đội đúng thời gian quy định, nghĩa là người đó đã thi hành
pháp luật.
– Sử dụng quy phạm luật hành chính: Là hình thức thực hiện quy phạm luật hành
chính trong đó chủ thể tự do thực hiện hay không thực hiện quyền chủ thể của
mình đã được pháp luật hành chính quy định: Ví dụ: Pháp luật quy định công dân có
quyền khiếu nại tới cơ quan, người có thẩm quyền. Một công dân gửi đơn khiếu nại
( hay không gửi đơn lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ quyền và lợi
ích của mình bị vi phạm, nghĩa là người đó đã sử dụng quy phạm luật hành chính.
Chủ thể chấp hành quy phạm pháp luật hành chính có thể là bất kì ai: cơ quan nhà
nước ( chủ yếu là cơ quan quản lí), tổ chức xã hội, cán bộ, công chức, viên chức
nhà nước hoặc công dân
3. Phân tích khái niệm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh của Luật Hành chính?
1. Khái niệm Luật hành chính
Luật hành chính một ngành luật trong hệ thống pháp luật nước ta, bao gồm các quy phạm
pháp luật điều chỉnh những quan hệ hội phát sinh trong quá trình hoạt động quản hành
chính của các cơ quan hành chính nhà nước, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các
quan nhà ớc xây dựng ổn định chế độ công tác nội bộ của mình, các quan hệ hội
phát sinh trong quá trình nhân, tổ chức thực hiện hoạt động quản hành chính đối với các
vấn đề do pháp luật qui định.
2. Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính
Đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính các quan hệ hội hình thành trong lĩnh vực
quản nhà nước. Những quan hệ này gọi quan hệ quản hành chính nhà nước hay quan
hệ chấp hành – điều hành. Nội dung của chúng thể hiện:
- Hoạt động quản các công tác xây dựng phát triển kinh tế, văn hoá, hội, quốc phòng
và an ninh chính trị trong cả nước, ở từng địa phương hay từng ngành.
- Hoạt động kiểm tra, giám sát đối với các quan nhà nước trong quá trình thực hiện pháp
luật của cơ quan đó.
- Xử lý hành vi vi phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước.
- Việc thành lập, cải tiến cấu bộ máy, cải tiến chế độ làm việc hoàn chỉnh các quan hệ
công tác của các cơ quan nhà nước ...
các quan hệ quan hệ quản được quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh rất đa dạng, đó
các quan hệ quản được hình thành trong quá trình các quan hành chính nhà nước
thực hiện chức năng chấp hành – điều hành trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Chúng bao gồm
các quan hệ điển hình:
a, Giữa quan hành chính cấp trên với quan hành chính cấp dưới theo hệ thống dọc
đặc biệt là những cơ quan hành chíng cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới trực tiếp.
b, Giữa quan quan hành chính nhà nước thẩm quyền chung với quan hành chính
nhà nước có thhẩm quyền chuyên môn cùng cấp.
c, Giữa cơ quan hành chính nhà nước thẩm quyền chuyên môn cấp trên với quan hành
chíng nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp dưới nhằm thực hiện chức năng theo pháp luật.
d, Giữa những cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp.
e, Giữa quan hành chíng nhà nước địa phương với các đơn vị trực thuộc trung ương
đóng tại địa phương đó.
g, Giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị trực thuộc.
h, Giữa quan hành chính nhà nước với các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh
i, Giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức xã hội.
k, Giữa quan hành chính nhà nước với công dân người không quốc tịch, người nước
ngoài cư trú, làm ăn sinh sống ở Việt nam.
Ngoài ra còn một số quan hệ không điển hình, giữa quan hành chính nhà nước với đối
tượng quản lý của nó.
Bên cạnh những quan hệ quản lý kể trên, Luật hành chính còn điều chỉnh một số quan hệ quản
khác như: các quan hệ quản hình thành trong quá trình các quan nhà nước xây dựng
và củng cố chế độ công tác nội bộ của quan, nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức
năng, nhiệm vụ của nh; các quan hệ quản hình thành trong quá trình các nhân tổ
chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản hành chính nhà nước trong một
số trường hợp cụ thể do pháp luật qui định.
3. Phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính
Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính phương pháp mệnh lệnh, đơn phương.
Phương pháp này được xây dựng trên các nguyên tắc:
- Xác nhận sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản hành chính, một bên
được nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để đưa ra các quyết định hành
chính, còn bên kia phải phục tùng những mệnh lệnh ấy.
- Bên nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước quyền quyết định công việc một
cách đơn phương, xuất phát từ lợi ích chung của nhà nước, hội trong phạm vi quyền hạnh
của mình để chấp hành pháp luật.
- Quyết định đơn phương của bên sử dụng quyền lực nhà nước hiệu lực bắt bộc thi hành
đối với các bên hữu quan và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước.
Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật hành chính?
Quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ quản lý hành chính Nhà nước được điều chỉnh
bởi các quy phạm pháp luật hành chính. Bài viết sau đây sẽ cung cấp cho các bạn đọc
những kiến thức về khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật hành chính.
Quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh theo yêu cầu hợp pháp của chủ thể quản hay
đối tượng quản lý hành chính nhà nước.
Sở các quan hệ pháp luật hành chính đặc điểm này việc điều chỉnh pháp đối với
các quan hệ quản hành Chính nhà nước không chỉ nhằm mục đích bảo đảm lợi ích của Nhà
nước còn ảnh hưởng tới quyền lập nhiều mặt của các quan, tổ chức, nhân trong
hội. Thẩm quyền quản hành chính của Nhà nước chỉ thể được thực hiện nếu sự tham
gia tích cực từ phía các đối tượng quản lý. Mặt khác, nhiều quyền lợi của đối tượng quản
hành chính nhà nước chỉ có thể được bảo đảm nếu có sự hỗ trợ tích cực của các chủ thể quản
lý bằng những hành vi pháp lý cụ thể.
[2] Nội dung của quan hệ pháp luật hành chính các quyền nghĩa vụ pháp hành chính
của các bên tham gia quan hệ đó.
Các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính thể quan nhà nước, t chức hay
nhân; có thể nhân danh nhà nước, lợi ích của Nhà nước hoặc nhân danh chínhnh nhưng
họ đều thực hiện các quyền nghĩa vụ do quy phạm pháp luật hành chính quy định. Việc quy
định thực hiện các quyền nghĩa vụ này cần thiết đối với việc xác lập duy trì trật tự
quản lý hành chính nhà nước
[3] Một bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính phải được sử dụng quyền lực nhà nước.
Như đã nêu, quan hệ pháp luật hành chínhquan hệ quảnhành chính nhà nước được điều
chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính. vậy, về cách cấu chủ thể của quan
hệ pháp luật hành chính phải phù hợp với tư cách và cấu chủ thể của quan hệ quản hành
chính nhà nước tương ứng. Nếu một bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước được
sử dụng quyền lực nhàớc (chủ thể quản hành chính nhà nước) thì chủ thể đó trong quan
hệ pháp luật hành chính tương ứng sẽ được xác định là chủ thể đặc biệt. Mặt khác, trong quan
hệ quản lý hành chính nhà nước, đối tượng quản bên chủ thể không được sử dụng quyền
lực nhà nước nghĩa vụ phục tùng việc sử dụng quyền lực nhà nước của chủ thể quản
thì trong quan hệ pháp luật hành chính tương ứng, các đối tượng này được xác định là chủ thể
thường.
Như vậy, các chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính được phân chia thành chủ thể đặc biệt
chủ thể thường. Trong đó, chủ thể đặc biệt các quan, tổ chức, nhân được nhân
danh sử dụng quyền lực nhà nước trong quan hệ ấy. Từ đó thể nhận định quan hệ pháp
luật hành chính không thể phát sinh và tồn tại nếu thiếu chủ thể đặc biệt.
[4] Trong một quan hệ pháp luật hành chính thì quyền của bên này ứng với nghĩa vụ của bên
kia và ngược lại.
Quan hệ pháp luật hành chính quan hệ “quyền lực – phục tùng”, quan hệ bất bình đẳng về ý
chí giữa các bên tham gia. Chủ thể đặc biệt tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính trên cơ
sở quyền lực nhà nướcchủ thể thường nghĩa vụ chấp hành việc sử dụng quyền lực nhà
nước của chủ thể đặc biệt. Tuy nhiên, không nghĩa trong quan hệ pháp luật hành chính,
chủ thể đặc biệt chỉ có quyền và chủ thể thường chỉ có nghĩa vụ.
Việc thực hiện thẩm quyền của chủ thể đặc biệt vừa quyền vừa trách nhiệm của chủ thể
này. Bên cạnh đó, chủ thể thường tuy nghĩa vụ chấp hành các mệnh lệnh của chủ thể đặc
biệt song cũng những quyền nhất định xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính khách quan, đúng
pháp luật của các hành vi quản lí hành chính nhà nước hoặc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp
pháp của họ như: quyền yêu cầu, đề nghị, khiếu nại, tố cáo…
Việc thực hiện thẩm quyền của chủ thể đặc biệt chỉ hiệu lực khi làm phát sinh nghĩa vụ
chấp hành của chủ thể thường. Mặt khác, việc thực hiện quyền của chủ thể thường trong quan
hệ pháp luật hành chính chỉ ý nghĩa thực sự nếu làm phát sinh trách nhiệm tiếp nhận,
xem xét giải quyết của chủ thể đặc biệt. dụ Công dân quyền khiếu nại nhưng nếu việc:
thực hiện quyền khiếu nại đó của công dân không làm phát sinh trách nhiệm tiếp nhận, xem
xét, giải quyết của người thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì việc khiếu nại đó của công dân
chỉ mang tính hình thức, không có giá trị pháp lí.
[5] Phần lớn các tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính được giải quyết theo
thủ tục hành chính.
Cũng như các công việc khác trong lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước, các tranh chấp phát
sinh trong quan hệ pháp luật hành chính cần phải được giải quyết theo thủ tục hành chính. Tuy
nhiên, do tính chất yêu cầu giải quyết một số tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật
hành chính việc giải quyết chúng còn thể được thực hiện theo thủ tục tố tụng. Ví dụ:Tòa
án thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính tranh chấp về danh sách cử tri;
tranh chấp về quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ tổng cục trưởng
tương đương trở xuống; tranh chấp về quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử vụ
việc cạnh tranh; tranh chấp về quyết định hành chính, hành vi hành chính (trừ các quyết định
hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng,
an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật; quyết định, hành vi của tòa án trong việc áp
dụng biện pháp xử hành chính, xử hành vi cản trở hoạt động tố tụng các quyết định
hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức).
[6] Bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính vi phạm yêu cầu của pháp luật hành chính phải
chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước.
Sở dĩ các quan hệ pháp luật hành chính có đặc điểm này là vì những lí do sau đây:
+ Chủ thể đặc biệt tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính trên sở quyền lực nhà nước
nên phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước khi sử dụng quyền lực ấy.
+ Chủ thể thường thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trước bên đại diện cho Nhà nước,
do đó phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về tính hợp pháp của hành vi do mình thực hiện
trong quan hệ pháp luật hành chính;
+ Những vi phạm trên đều xâm hại đến trật tự quản hành chính nhà nước. Do đó, bên vi
phạm phải chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước về hành vi vi phạm của mình.
Tóm lại, quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ hội phát sinh trong quá trình quản hành
chính nhà nước, được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính giữa các quan, tổ
chức, cá nhân mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính.
4. Quan hệ pháp luật hành chính phát sinh dựa trên cơ sở nào?
Cơ sở làm phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính là: Quy phạm
pháp luật, sự kiện pháp lý và năng lực chủ thể của cơ quan, chức, cá nhân có liên quan.
5. Nêu những điểm khác biệt chính của quan hệ pháp luật hành chính so với quan hệ
pháp luật dân sự và quan hệ pháp luật hình sự?
Luật hành chính với luật dân sự :
Chủ yếu dựa vào phương pháp điều chỉnh
Luật dân sự hướng vào sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, còn luật hành chính
không bình đẳng do một bên ra lệnh, một bên phục tùng lệnh
Đối tượng điều chỉnh của dân sự quan hệ tài sản, đối tượng điều chỉnh của hành
chính là quan hệ xã hội
đối tượng điều chỉnh
của hành
Luật hành chính và luật hình sự:
Luật hình sự quy định về tội phạm và hình phạt
- Luật hình sự quy định về tội phạm và hình phạt.
- Luật hành chính quy định về các vi phạm hành chính, các hình thức xử phạt vi
Luật hành chính quy định về các phạm vi hành chính, các hình thức xử phạt vi phạm hành
chính và các vấn đề có liên quan tới việc xử lí đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
Luật dân sự hướng vào sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, còn luật hành chính
Đối tượng điều chỉnh của dân sự quan hệ tài sản, đối tượng điều chỉnh của hành
Đối tượng điều chỉnh của dân sự quan hệ tài sản, đối tượng điều chỉnh của hành
Đối tượng điều chỉnh của dân sự quan hệ tài sản, đối tượng điều chỉnh của hành
Đối tượng điều chỉnh
của dân sự quan hệ tài
sản, đối tượng điều
chỉnh của hành
Đối tượng điều chỉnh
của dân sự quan hệ tài
sản, đối tượng điều
chỉnh của hành
6. Phân tích khái niệm và phân loại cơ quan hành chính nhà nước?
Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước:
Cơ quan hành chính nhà nước là quan quản chung hay từng lĩnh vực công tác,nhiệm
vụ thực thi pháp luật và chỉ đạo việc thực hiện các chính sách, kế hoạch của nhà nước.
Việt Nam, quan hành chính nhà nước được hình thành từ các quan quyền lực nhà
nước cùng cấp, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất là cơ quan chấp hành
của Quốc hội, Chính phủ do Quốc hội thành lập, Ủy ban nhân dân quan hành chính nhà
nước ở địa phương và là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, do Hội đồng nhân dân
quan cùng cấp bầu miễn nhiệm. Chính phủ Ủy ban nhân dân các cấp hợp thành hệ
thống cơ quan hành chính nhà nước.
Đặc điểm cơ quan hành chính nhà nước:
(i) Tập hợp những con người có tính độc lập tương đối về cơ cấu-tổ chức.
(ii) Chịu sự giám sát lãnh đạo của các cơ quan quyền lực tương ứng.
(iii) Thực hiện các hoạt động mang tính dưới luật hoạt động tiến hành trên sở để thi
hành luật.
(iv) Thẩm quyền chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành và điều hành.
(v) Tất cả các quan mối quan hệ chặt chẽ (trực thuộc trên dưới, ngang trái) trung
tâm chỉ đạo là Chính phủ.
Phân loại cơ quan hành chính nhà nước:
Căn cứ vào quy định của pháp luật
Cơ quan hành chính nhà nước được chia làm 02 loại:
– Các quan do Hiến pháp quy định về tổ chức hoạt động: Chính phủ, bộ, quan ngang
bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, đây những cơ quan quan trọng nhất trong bộ máy hành chính
nhà nước.
– Các quan do luật văn bản dưới luật quy định: các Cục, Vụ, Viện, quan chuyên môn
ở địa phương, đây là những cơ quan ít quan trọng hơn trong bộ máy hành chính nhà nước.
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ hoạt động
Cơ quan hành chính nhà nước được chia làm 02 loại:
– Các cơ quan nhà nước ở trung ương như: Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ (Ngân hàng nhà
nước, hanh tra Chính phủ, Văn phòng Chính phủ, Ủy ban dân tộc); cơ quan thuộc Chính phủ.
Các cơ quan này hoạt động trên phạm vi toàn quốc, văn bản do các quan này ban hành
hiệu lực pháp lý trong cả nước.
– Cơ quan hành chính nhà nước địa phương như: Ủy ban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện,
xã), các cơ quan chuyên môn ở địa phương (sở, phòng, ban).
Các cơ quan này được thành lập và hoạt động trên một phạm vi lãnh thổ nhất định.
Các văn bản do các cơ quan này ban hành chỉ có hiệu lực trên phạm vi địa phương.
Căn cứ vào phạm vi thẩm quyền
Cơ quan hành chính nhà nước được chia làm 02 loại:
– Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung: Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp.
Các quan này được tổ chức hoạt động theo Hiến pháp, quản trên mọi lĩnh vực đời
sống xã hội.
– Cơ quan hành chính nhàớcthẩm quyền chuyên môn: Bộ,quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, các cơ quan chuyên môn ở địa phương (sở, phòng, ban).
Đây là các quan quản ngành hoặc quản chức năng, các quan này hoạt động một
ngành hoặc một lĩnh vực nhất định.
Căn cứ vào chế độ lãnh đạo
– Cơ quan hành chính nhà nước chế độ lãnh đạo tập thể: Bao gồm các quan nhà nước
thẩm quyền chung, do các quan này thường phải giải quyết những vấn đề quan trọng,
liên quan nhiều lĩnh vực cần trí tuệ tập thể.
loại quan này, mọi vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của quan phải đưa ra bàn
bạc, thảo luận và quyết định theo đa số.
– Cơ quan hành chính nhà nước có chế độ một thủ trưởng: Bao gồm các cơ quan chuyên môn,
các quan này do một người đứng đầu, người này đại diện cho quan, phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về hoạt động của cơ quan.
8. Phân tích sự khác nhau giữa cơ quan hành chính nhà nước với cơ quan lập pháp, cơ
quan tư pháp?
9. Phân biệt công chức với viên chức?
Phân biệt công chức và viên chức chủ yếu dựa trên các tiêu chí như sau:
Về cơ chế trở thành công chức, viên chức
– Công chức phải là người Việt Nam, trở thành công chức theo hình thức tuyển dụng, bổ nhiệm
và giữ chức danh theo nhiệm kỳ.
Viên chức phải công dân Việt Nam, trở thành viên chức thông qua hình thức tuyển dụng
vào vị trí việc làm.
Về thời gian tập sự
Với công chức thời gian tập sự được quy định riêng đối với từng ngạch, cấp bậc theo quy
định của Chính phủ.
Viên chức sẽ thời gian tập sự quy định trong hợp đồng làm việc từ khoảng 03 tháng đến
12 tháng.
Về cấp bậc
– Công chức được phân thành các ngạch khác nhau.
– Viên chức được phân theo các chức danh nghề nghiệp.
Vị trí công tác
Công chức làm việc trong các quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị – xã hội ở các cấp trung ương, tỉnh, huyện, quận, thị xã.
Làm việc trong các quan, đơn vị của quân đội Nhân dân, Công an nhân dân không phải
trường hợp quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, quan, hạ
quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế hưởng lương
từ ngân sách nhà nước.
– Viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc.
Nguồn chi trả lương
– Với công chức thì được ngân sách nhà nước chi trả.
– Với viên chức thì được nhận lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập.
Các hình thức kỷ luật
Đối với công chức thể bị kỷ luật theo những nh thức: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc
lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc.
Với viên chức thể bị kỷ luật theo các hình thức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc
thôi việc, ngoài ra còn có thể bị hạn chế hoạt động nghề nghiệp của mình.
Về tính chất công việc
Công chức thực hiện các công việc nhân danh quyền lực nhà nước, thực hiện các nhiệm vụ
quản phải chịu trách nhiệm về công việc của mình trước Đảng Nhà nước, trước nhân
dân và đơn vị quản lý.
Viên chức thực hiện các công việc do đơn vị quản giao cho mang tính chuyên môn nghiệp
vụ, không tính quyền lực nhà nước. Phải chịu mọi trách nhiệm trước đơn vị quản viên
chức.
10. Phân biệt sự khác nhau giữa thủ tục hành chính với các thủ tục pháp lý khác?
- Thủ tục tư pháp bao gồm các thủ tục khi đương sự yêu cầu cơ quan tư pháp ( sở tư pháp
tỉnh, TP ; phòng tư pháp quận huyện, Ban tư pháp phường xã) xác nhận tình trạng nhân thân
của cá nhân công dân như tình trạng hôn nhân, xác nhận cha mẹ cho con bằng cách trích lục
hồ sơ gốc hoặc cấp mới các giấy tờ về nhân thân của đương sự như khai sinh, tình trạng hôn
nhân, kết hôn, chứng nhận độc thân, giấy chứng nhận con nuôi...Tuy nhiên một số vụ việc
thuộc thẩm quyền, phán quyết của Tòa án như xác định cha cho con, ly hôn...mà bản án, quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự do Tòa án cấp cũng có giá trị pháp lý mà cơ
quan tư pháp làm cơ sở xác nhận chứng thực tư pháp cho đương sự.
- Thủ tục hành chính là các công việc của cơ quan hành chính tiến hành như chứng thực, sao y
giấy tờ, xin phép xây dựng, hành chính khác...
11. Khái niệm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: các quy định chủ yếu của pháp luật về
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí?
Tiết kiệm được hiểu ở trong Luật là việc giảm bớt hao phí trong sử dụng tiền, tài sản, lao động,
thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên nhưng vẫn đạt được mục tiêu đã định Đối với lĩnh .
vực quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động
trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên, do trong các lĩnh này có quy định về định
mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nên tiết kiệm ở đây
được hiểu là việc sử dụng ở mức thấp hơn định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng vẫn đạt được
mục tiêu đã định hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng đạt cao hơn mục tiêu
đã định
Lãng phí trái ngược với tiết kiệm,được hiểu là việc quản lý, sử dụng tiền, tài sản, lao động, thời
gian lao động và tài nguyên thiên nhiên không hiệu quả. Cũng tương tự như định nghĩa về tiết
kiệm, đối với lĩnh vực có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành như nêu trên thì lãng phí là việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản
nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên vượt
định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc không đạt mục tiêu đã định
Các quy định chủ yếu của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: Luật số:
44/2013/QH13
12. Khái niệm, đặc điểm của tham nhũng thông qua bản chất và biểu hiện của nó?
Khái niệm tham nhũng: Tham nhũng hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hưởng lợi ích vật
chất trái pháp luật, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể, nhân, xâm phạm hoạt
động đúng đắn của các quan, tổ chức. Trong luật hình sự Việt Nam, nhiều hành vi tham
nhũng cụ thể như hành vi tham ô, nhận hối lộ... đã được quy định tương đối sớm.
Đặc điểm của tham nhũng:
Thứ nhất: Tham nhũng phải là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn
Bởi vì chỉ khi “có chức vụ, quyền hạn” họ mới dễ lợi dụng chức vụ quyền hạn để nhu cầu lợi ích
riêng. Chức vụ, quyền hạn chủ thể của hành vi tham nhũng được thể do được bầu
cử, do được bổ nhiệm, do hợp đồng,do tuyển dụng, hoặc do một nh thức khác, hưởng
lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền
hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Chức vụ, quyền hạn phải gắn với
quyền lực nhà nước trong các lĩnh vực các quan khác nhau: cơ quan lập pháp, quan
hành pháp, quan pháp, trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - hội, tổ chức
hội nghề nghiệp, các tổ chức kinh tế Nhà nước hoặc lực lượng trang từ Trung ương đến địa
phương.
Đây là dấu hiệu giúp ta phân biệt hành vi tham nhũng với những vi phạm pháp luật có yếu tố vụ
lợi nhưng không phải hành vi tham nhũng do người thực hiện hành vi đó không chức vụ
và quyền hạn ví dụ như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc buôn
lậu,…
Thứ hai: Khi thực hiện hành vi tham nhũng, người chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ,
quyền hạn của mình làm trái pháp luật để mưu lợi cá nhân.
“Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để vụ lợi đặc trưng thứ hai của tham nhũng. Khi thực hiện
hành vi tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để
mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác. Nếu không chức vụ,
quyền hạn đó họ sẽ không thể thực hiện được hoặc khó thể thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật để đáp ứng nhu cầu hưởng lợi (trái pháp luật) của bản thân.
Thứ ba: Động cơ của người có hành vi tham nhũng là vì vụ lợi
Người chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để mưu cầu lợi ích
riêng, hành vi của họ không phải nhu cầu công việc hoặc trách nhiệm của cán bộ, công
chức hoàn toàn lợi ích riêng của đơn vị để nhằm chiếm đoạn tiền, tài sản, lợi ích vật
chất hoặc lợi ích phi vật chất của nhà nước, hội nhân dân như vậy thiếu yếu tố vụ lợi t
hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức không bị coi
tham nhũng. Như vậy thể khẳng định rằng một hành vi được coi tham nhũng khi thỏa
mãn hai điều kiện, điều kiện cần đó là người thực hiện hành vi phải là người có chức vụ, quyền
hạn điều kiện đủ đó người chức vụ, quyền hạn phải lợi dụng chức vụ, quyền hạn của
mình và động cơ của hành vi đó là vì vụ lợi.
13. Nguyên nhân và tác động ảnh hưởng của tệ nạn tham nhũng?
Các nguyên nhân tác động từ bên ngoài:
+ Hệ thống pháp luật còn lỏng lẻo, còn nhiều kẽ hở trong quy định quyền hạn, nhiệm vụ. Các
quy trình ra quyết định hoạch định chính sách còn thiếu minh bạch, thủ tục hành chính còn
rườm rà. Chính các nội dung này mang đến tính thiếu minh bạch, giúp các nhân hội
tham nhũng,…
+ Do sự sơ hở của tổ chức bộ máy, do sự thiếu đồng bộ và đầy đủ.
+ Công tác kiểm tra, giám sát còn thiếu chặt chẽ, chưa ngang tầm nhiệm vụ. Do đó mà tội nhận
hối lộ, nhũng nhiễu,… được thực hiện nhiều.
+ Đấu tranh và xử lý những hành vi tham nhũng chưa kịp thời, còn tình trạng nể nang, né tránh,
sợ “đứt dây động rừng”,…
+ Tiền lương của công chức còn thấp. Chưa đảm bảo để họ thể tận tụy công việc chung,
bỏ qua các lợi ích bên ngoài để hoàn thành trách nhiệm,tưởng ban đầu. Quy định kê khai tài
sản, thu nhập còn nhiều tiêu cực.
+ Còn thiếu những chế độ, chính sách, quy định chặt chẽ để từng ớc ngăn chặn tham
nhũng.
+ Tính tích cực của người dân trong đấu tranh chống tham nhũng chưa được phát động
thường xuyên.
+ Vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật, như công an, viện kiểm sát, tòa án chưa được phát
huy đầy đủ nhất.
+ Công tác giáo dục phẩm chất đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên đã không được
quan tâm đúng mức hoặc triển khai thực hiện chưa nghiêm túc, chưa hiệu quả, thậm chí nơi
này nơi khác công tác đó còn bị xao nhãng, lãng quên.
– Nguyên nhân từ chính đối tượng tham nhũng:
Tất cả các nguyên nhân trên tác động tưởng, nhận thức dẫn đến sự suy thoái nhanh chóng
của bộ phận lớn cán bộ.
Sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.
Đến từ các nhận thức ích kỷ, tham lam và tư tưởng, lập trường ban đầu không được giữ vững.
Khi họ được trao quyền hạn nhưng có cơ chế để lợi dụng, chức vụ, quyền hạn một cách tinh vi.
Nhất là những cán bộ, đảng viên chức, có quyền. Họ dễ dàng tiếp cận với nhiều cám dỗ, lợi
ích lớn hơn thay vì nhận được quyền lợi từ thực hiện công vụ.
Tác hại về chính trị:
– Tham nhũng phá hoại đội ngũ cán bộ, tầm thường hoá hệ thống pháp luật. Các giá trị quản
nhà nước xây dựng không mang đến ý nghĩa tương xứng trong nhu cầu của người dân. Đây
cũng là nguyên nhân căn bản nhất dẫn đến thất bại của Đảng và Nhà nước.
– Kỷ cương xã hội không thể giữ vững, các sức mạnh của nhà nước cũng giảm đi trong lòng tin
của nhân dân. Gây mất đoàn kết nội bộ, làm giảm uy tín của Đảng Nhà nước trước nhân
dân. Từ đó hạn chế sức mạnh, niềm tin mãnh liệt của nhân dân vào lực lượng lãnh đạo. Cũng
mang đến cơ hội để cho kẻ thù phá hoại, xâm lược, lực lượng phản động.
– Làm cho bộ máy trở thành quan liêu, đội ngũ viên chức tốt cũng có thể bị tác động trong nhận
thức và thái độ.
Tham nhũng trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước, tiến lên chủ nghĩa hội. Khi
bộ phận lãnh đạo không đảm bảo đóng góp vai trò, thành quả vào sự nghiệp chung. Cản trở,
tác động lên các tư tưởng mạnh mẽ trong thống nhất xây dựng đất nước.
Tác hại về kinh tế:
Tham nhũng làm thất thoát những khoản tiền lớn trong chi tiêu chính sách công. Như các chi
phí cho việc đấu thầu, việc cấp vốn, việc thanh tra, kiểm toán và hàng loạt các chi phí khác. Từ
đó không đảm bảo ý nghĩa, hiệu quả sử dụng triệt để ngân sách nhà nước.
Tham nhũng gây tổn thất lớn cho nguồn thu của ngân sách nhà nước thông qua thuế. Làm
thất thoát nguồn thu, không phải ánh đúng giá trị nghĩa vụ các tổ chức, cá nhân phải thực hiện.
Một số lượng lớn tài sản công trở thành tài sản của một số cán bộ, công chức, viên chức.
Do đó không đảm bảo sử dụng, đầu tư công.
Do tham nhũng một số công trình xây dựng như các công trình cầu đường, nhà cửa kém
chất lượng. Gây nguy hiểm cho cuộc sống của người dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự
phát triển của nền kinh tế – xã hội. Các chất lượng công trình không đảm bảo về mặt thời gian,
vật chất đã bỏ ra.
Tham nhũng gây ảnh hưởng lớn đến môi trường kinh doanh. Làm giảm đáng kể năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp, chậm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Các hành vi tham
nhũng gây mất công bằng, bình đẳng để các doanh nghiệp tiếp cận quyền lợi theo pháp luật.
Hành vi sách nhiễu, gây khó khăn, đòi hối lộ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức
thật. Làm ảnh hưởng đến giải quyết thủ tục hành chính, làm đình tr các hoạt động sản
xuất, kinh doanh. Tác động sâu sắc đến nhận thức, mất niềm tin của nhân dân khi sử dụng các
dịch vụ của nhà nước.
Tác hại về xã hội:
Tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức hội.
Các giá trị phản ánh, giá trị nhận thức trong hội không được duy trì. Làm tha hoá một bộ
phận không nhỏ trong đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.
Nhiều cán bộ, công chức đã không giữ được phẩm chất đạo đức của người cán bộ cách
mạng, không phục vụ nhân dân. Họ coi nghề nghiệp của mình hội, điều kiện để thực
hiện các hành vi tham nhũng. Từ đó hướng tới các lợi ích bất chính, làm trái công vụ, trái lương
tâm, đạo đức nghề nghiệp. Mục đích để nhanh chóng giàu có, bất chấp việc vi phạm pháp
luật.
Điều đáng báo động việc tham nhũng dường như đã trở thành bình thường trong quan
niệm của một số cán bộ, công chức. Đây cũng là nhận thức, đánh giá của người dân. Họ không
dám tin, không có cơ sở để tin tưởng tuyệt đối vào một cá nhân lãnh đạo nào. Đó chính biểu
hiện của sự suy thoái, xuống cấp về đạo đức một cách nghiêm trọng.
14. Những nội dung chủ yếu của pháp luật về phòng, chống tham nhũng?
Luật Phòng, chống tham nhũng 2018
15. Phân biệt vi phạm hành chính với vi phạm pháp luật hình sự?
- Vi phạm hình sự vi phạm hành chính đều hành vi vi phạm, xâm hại trật tự pháp luật
được đặt ra bởi Nhà nước phải chịu những trách nhiệm pháp tương đương. Độ tuổi phải
chịu trách nhiệm pháp lí từ 14 tuổi trở lên.
• Khác nhau
- Vi phạm hình sự những hành vi nguy hiểm cho hội, bị coi tội phạm được quy định
tại Bộ luật Hình sự. Chủ yếu là hình phạt tước tự do của người phạm tội do tòa án áp dụng.
- Vi phạm hành chính là hành vi vi phạm pháp luật có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn
tội phạm, xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước. Chế độ xử phạt chủ yếu đánh vào yếu tố vật
chất, tinh thần của người vi phạm (cảnh cáo, phạt tiền).
16. Phân biệt trách nhiệm hành chính với trách nhiệm hình sự?
- Khác nhau
Chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm hành chính: hình thức trách nhiệm pháp đặt ra với tổ chức, nhân vi phạm
hành chính. Khi nhân, t chức xâm phạm đến các quy tắc quản nhà nước sẽ bị truy cứu
trách nhiệm hành chính.
Trách nhiệm hình sự: hình thức trách nhiệm pháp đặt ra chỉ với nhân. Khi nhân này
thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho hội hoặc làm việc pháp luật ngăn cấm hoặc không
thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật hình sự quy định thì phải buộc chịu hậu quả pháp lý bất lợi.
Chủ thể có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm hành chính: Chủ thể thẩm quyền chủ yếu các quan nhà nước, cán bộ,
công chức của cơ quan đó.
Trách nhiệm hình sự: chủ thể có thẩm quyền là cơ quan tiến hành tố tụng, hệ thống tòa án.
Bản chất
Trách nhiệm hành chính: xử lý vi phạm hành chính
Trách nhiệm hình sự: xử lý vi phạm hình sự
Mức độ nghiêm khắc
Trách nhiệm hành chính: có mức độ nghiêm khắc thấp hơn trách nhiệm hình sự.
Trách nhiệm hình sự được biểu hiện việc người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt, tước bỏ hoặc hạn chế họ một số quyền, lợi ích
hợp pháp.
Hình phạt
Trách nhiệm hành chính: mức độ hình phạt nhẹ hơn so với trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm
hành chính chính bao gồm cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền, trục xuất,…
Trách nhiệm hình sự: nặng hơn, có thể lên đến tử hình với những tội phạm nghiêm trọng.
Thủ tục áp dụng
Trách nhiệm hành chính: áp dụng đúng pháp luật các biện pháp chế tài hành chính, theo thủ
tục hành chính do pháp luật hành chính quy định, đảm bảo tuân thủ đúng trình tự về thời gian,
không gian.
Trách nhiệm hình sự: xác định bằng trình tự đặc biệt quy định trong luật tố tụng hình sự, trình
tự thủ tục phải tuân thủ các quy định về thủ tục tố tụng tư pháp. Trách nhiệm hình sự phải được
phản ánh trong bản án hay quy định có hiệu lực pháp luật của tòa án.
17. Khái niệm và các hình thức xử lý vi phạm hành chính theo Luật Xử lý vi phạm hành
chính 2012?
Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp
luật về quản lý nhà nước mà không phải là phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử tội
phạt vi phạm hành chính.
Các hình thức xử lý vi phạm hành chính:
- Cảnh cáo;
- Phạt tiền;
- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có
thời hạn;
- Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau
đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính);
- Trục xuất.
18. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành
chính 2012?
19. Phân tích khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của khiếu nại?
20. Phân tích khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của tố cáo?
21. Phân biệt khiếu nại với tố cáo?
22. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật Khiếu nại
2011, Luật Tố cáo 2011?
23. Khái niệm vụ án hành chính; các loại vụ án hành chính Tòa án có thẩm quyền giải
quyết; mục đích ý nghĩa của việc giải quyết các vụ án hành chính?
24. Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án hành chính theo Luật Tố tụng
hành chính 2015?
25. Trình bày các giai đoạn chủ yếu của thủ tục tố tụng hành chính?
26.BÀI TẬP CHƯƠNG 4
23h đêm ngày 14/12/2012, sau tiệc sinh nhật tròn 18 tuổi của mình, mượn của bố
chiếc xe ô
tô 4 chỗ Nguyễn Văn A đã phóng nhanh với tốc độ vượt quá tốc độ cho phép trên
đường 15
km và rú ga, bấm còi inh ỏi trong thành phố. A bị chiến sĩ cảnh sát giao thông
đang thực hiện

Preview text:

Câu hỏi bổ sung chương 3:(dl 23h59 CN 5/11/2023)
1. Có quan điểm cho rằng: “Án lệ là hình thức pháp luật lạc hậu và chậm thay đổi”. Hãy
cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?
Trường hợp án lệ không còn phù hợp do có sự thay đổi của pháp luật thì án lệ đương nhiên
bị bãi bỏ (Điều 9 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP). Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao xem
xét, quyết định, việc bãi bỏ án lệ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Án lệ không còn phù hợp do chuyển biến tình hình;
b) Bản án, quyết định có nội dung được lựa chọn phát triển thành án lệ đã bị hủy, sửa toàn bộ
hoặc phần liên quan đến án lệ.
2. Có quan điểm cho rằng: “Ngày nay, văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp
luật cơ bản và chủ yếu ở tất cả các quốc gia trên thế giới”. Hãy cho biết quan điểm trên
đúng hay sai? Vì sao?

Vì không phải tất cả các quốc gia trên TG đều sử dụng hình thức văn bản quy phạm pháp luật
3. Có quan điểm cho rằng: “Tập quán pháp là hình thức pháp luật ra đời sớm nhất, trước
cả khi nhà nước xuất hiện”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?

Tập quán là loại quy phạm xã hội ra đời từ rất sớm, trước cả khi có sự ra đời của nhà nước.
Tập quán là một thuật ngữ có thể được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Dưới góc độ
ngôn ngữ tập quán được hiểu là “thói quen được hình thành đã lâu trong đời sống, được mọi
người tuân theo
”, là “những quy tắc xử sự được hình thành một cách tự phát lâu ngày thành
thói quen trong đời sống xã hội hoặc giao lưu quốc tế, đang tồn tại và được các chủ thể thừa
nhân như là quy tắc xử sự chung
”.
Dưới góc độ pháp lý, tập quán là “thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản
xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận và làm theo như
một quy ước chung của cộng đồng

4. Có quan điểm cho rằng: “Pháp luật Việt Nam chỉ có hình thức pháp luật duy nhất là
văn bản quy phạm pháp luật”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?
Có ba hình thức pháp luật phổ biến là pháp luật tập quán, pháp luật án lệ và văn bản quy phạm pháp luật.
5. Có quan điểm cho rằng: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục pháp luật quy định”. Hãy

cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?
(Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015)
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo
đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
6. Có quan điểm cho rằng: “Tất cả các Luật do Quốc hội ban hành đều là văn bản quy
phạm pháp luật”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?

7. Có quan điểm cho rằng: “Tất cả những người có thẩm quyền ban hành thông tư đều
có thể phối hợp với nhau để ban hành thông tư liên tịch”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?

Điều 25, Chương II, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao ban hành thông tư liên tịch để quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan
này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng và phòng chống tham nhũng.
8. Có quan điểm cho rằng: “Mọi văn bản quy phạm pháp luật đều cần phải được Chủ tịch
nước công bố”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?

Điều 80, Mục 6, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
9. Có quan điểm cho rằng: “Trong mọi trường hợp, thời điểm phát sinh hiệu lực của văn
bản quy phạm pháp luật đều không được sớm hơn 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký

ban hành văn bản đó”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?
Khoản 1, Điều 151, Chương III, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
10. Có quan điểm cho rằng: “Văn bản quy phạm pháp luật bị ngưng hiệu lực là văn bản
bị huỷ bỏ hoặc bãi bỏ”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?

Khoản 1, Điều 153, Chương III, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
11. Có quan điểm cho rằng: “Quyết định là hình thức văn bản quy phạm pháp luật luôn
được ban hành bởi người (cá nhân) có thẩm quyền”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?

12. Có quan điểm cho rằng: “Thành phần cấu thành của hệ thống pháp luật gồm ngành
luật, chế định pháp luật và quy phạm pháp luật”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay
sai? Vì sao? Theo giáo trình trang157
13. Có quan điểm cho rằng: “Mỗi một ngành luật sẽ có một đối tượng điều chỉnh riêng,
phân biết với đối tượng điều chỉnh do ngành luật khác điều chỉnh”. Hãy cho biết quan

điểm trên đúng hay sai? Vì sao? Theo giáo trình trang157
14. Có quan điểm cho rằng: “Mọi quan hệ nhân thân đều do ngành luật dân sự điều
chỉnh”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?

Điều 1, Chương, Phần thứ nhất, Luật Dân Sự
15. Có quan điểm cho rằng: “Phương pháp điều chỉnh là căn cứ chủ yếu để phân chia
ngành luật”. Hãy cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?
Muốn phân biệt ngành luật này với ngành luật khác thì dựa vào hai căn cứ
chủ yếu cơ bản sau: Đó là đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh.
16. Có quan điểm cho rằng: “Đối tượng điều chỉnh của ngành luật hình sự là quan hệ xã
hội giữa người thực hiện tội phạm và người có quyền, lợi ích bị tội phạm xâm hại”. Hãy
cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?

Dối tượng điều chỉnh của luật hình sự là những quan hệ xã hội phát sinh giữa
Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm.
17. Các thành viên sáng lập Công ty TNHH Khai Sáng (dự định thành lập vào tháng
8/2020, hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ) đang bàn luận về việc tổ chức
quản lý công ty. Có thành viên cho rằng công ty phải được tổ chức quản lý theo Luật

Doanh nghiệp 2020, có thành viên lại cho rằng công ty phải được tổ chức quản lý theo
Luật Doanh nghiệp 2014, có thành viên cho rằng công ty phải được tổ 75 chức quản lý
theo Luật Thương mại 2005. Bằng kiến thức pháp luật của mình, bạn hãy giải đáp cho

các thành viên của Công ty TNHH Khai sáng về việc áp dụng luật nào cho tổ chức quản lý công ty nhé.
Cụ thể hơn, tại Điều 137 Luật Doanh nghiệp 2020, công ty cổ phần có
quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô
hình dưới đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định
khác: - Mô hình 1: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm
soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
18. Nếu có ba văn bản quy pháp pháp luật gồm Thông tư của Bộ trưởng Bộ X; Nghị
quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh M và Quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh B có nội
dung quy định về quy chế đào tạo đại học và cao đẳng trái với văn bản của Bộ Giáo dục

và Đào tạo đã ban hành, thì theo bạn văn bản quy phạm pháp luật nào trong số các văn
bản trên được áp dụng trong thực tế? Vì sao? Tình trạng trên có nên thay đổi không? Vì

sao? Hãy cho biết cách thức xử lý đối với tình trạng có nhiều văn bản quy định trái
ngược nhau cùng quy định về đào tạo đại học và cao đẳng. Nêu rõ căn cứ pháp lý cho giải pháp của mình.
Câu hỏi ôn tập chương 4 (dl 23h59 T3 7/11/2023)
1. Phân tích và giải thích vì sao luật hành chính là ngành luật về tổ chức và hoạt động
quản lý nhà nước?
Luật Hành chính Việt Nam là ngành luật điều chỉnh những quan hệ xã hội chủ yếu phát
sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước không thể tách rời những quan hệ xã hội mà
nó hướng tới nhằm ổn định hay thay đổi, cho nên đối tượng điều chỉnh của Luật Hành
chính Việt Nam không phải là bản thân quản lý hành chính nhà nước mà là những quan
hệ xã hội hình thành trong quá trình hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Luật Hành chính Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hoạt động chấp
hành – điều hành của Nhà nước. Các quy phạm Luật Hành chính Việt Nam quy định
địa vị pháp lý của các cơ quan hành chính nhà nước, xác định những nguyên tắc cơ
bản của quản lý hành chính nhà nước và các vấn đề khác có liên quan tới quản lý hành
chính nhà nước. Thông qua đó Luật Hành chính Việt Nam bảo đảm việc củng cố, hoàn
thiện bộ máy hành chính nhà nước và không ngừng nâng cao hiệu quả của hoạt động
quản lý hành chính nhà nước.
Luật Hành chính Việt Nam cũng quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khác của
quản lý hành chính nhà nước, những biện pháp bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa
vụ đó, tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia một cách tích cực vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Luật Hành chính Việt Nam xác định cơ chế quản lý hành chính trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Luật Hành chính Việt Nam quy định những hành vi nào là vi phạm hành chính, biện
pháp xử lý, thủ tục xử lý những tổ chức và cá nhân thực hiện vi phạm hành chính.
Luật Hành chính Việt Nam quy định chế độ công vụ và chế độ cán bộ, công chức, viên chức.
Từ những điều đã phân tích trên đây có thể đi đến kết luận: Luật Hành chính Việt Nam
là ngành luật về quản lý hành chính nhà nước.
2. Phân tích và phân biệt hoạt động chấp hành với hoạt động điều hành. Lấy ví dụ minh hoạ?
Chấp hành là làm theo đúng những điều được đề ra trong văn bản quy phạm pháp
luật, văn bản cá biệt hay trong mệnh lệnh của cấp trên.
Hoạt động chấp hành và điều hành là hoạt động quản lý nhà nước là một loại hoạt
động cơ bản, chủ yếu được thực hiện bởi các cơ quan hành chính Nhà nước.
Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính gồm các hoạt động sau:
– Tuân thủ quy phạm luật hành chính: Là hình thức thực hiện quy phạm luật hành
chính trong đó chủ thể kiềm chế không thực hiện hành vi mà pháp luật hành chính cấm.
Ví dụ: Một công dân kiềm chế không thực hiện những hành vi mà Pháp lệnh xử lí vi
phạm hành chính, các nghị định về xử phạt hành chính ngăn cấm.
Không thực hiện hành vi vi phạm hành chính nghĩa là công dân đó đã tuân thủ quy
định các văn bản pháp luật đó.
– Thi hành quy phạm luật hành chính: Là hình thức thực hiện quy phạm luật hành
chính, trong đó chủ thể thực hiện nhiệm vụ của mình bằng hành động tích cực( làm việc phải làm) .
Ví dụ: Pháp luật quy định công dân nam tuổi từ 18 đến 27 tuổi phải làm nghĩa vụ
quân sự. Một nam công dân độ tuổi trên bằng hành động của mình lên đường nhập
ngũ, phục vụ trong quân đội đúng thời gian quy định, nghĩa là người đó đã thi hành pháp luật.
– Sử dụng quy phạm luật hành chính: Là hình thức thực hiện quy phạm luật hành
chính trong đó chủ thể tự do thực hiện hay không thực hiện quyền chủ thể của
mình đã được pháp luật hành chính quy định: Ví dụ: Pháp luật quy định công dân có
quyền khiếu nại tới cơ quan, người có thẩm quyền. Một công dân gửi đơn khiếu nại
( hay không gửi đơn lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ quyền và lợi
ích của mình bị vi phạm, nghĩa là người đó đã sử dụng quy phạm luật hành chính.
Chủ thể chấp hành quy phạm pháp luật hành chính có thể là bất kì ai: cơ quan nhà
nước ( chủ yếu là cơ quan quản lí), tổ chức xã hội, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước hoặc công dân
3. Phân tích khái niệm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh của Luật Hành chính?
1. Khái niệm Luật hành chính
Luật hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật nước ta, bao gồm các quy phạm
pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động quản lý hành
chính của các cơ quan hành chính nhà nước, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các
cơ quan nhà nước xây dựng và ổn định chế độ công tác nội bộ của mình, các quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính đối với các
vấn đề do pháp luật qui định.
2. Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính
Đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính là các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực
quản lý nhà nước. Những quan hệ này gọi là quan hệ quản lý hành chính nhà nước hay quan
hệ chấp hành – điều hành. Nội dung của chúng thể hiện:
- Hoạt động quản lý các công tác xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng
và an ninh chính trị trong cả nước, ở từng địa phương hay từng ngành.
- Hoạt động kiểm tra, giám sát đối với các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện pháp luật của cơ quan đó.
- Xử lý hành vi vi phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước.
- Việc thành lập, cải tiến cơ cấu bộ máy, cải tiến chế độ làm việc và hoàn chỉnh các quan hệ
công tác của các cơ quan nhà nước ...
các quan hệ quan hệ quản lý được quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh rất đa dạng, đó
là các quan hệ quản lý được hình thành trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước
thực hiện chức năng chấp hành – điều hành trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Chúng bao gồm các quan hệ điển hình:
a, Giữa cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới theo hệ thống dọc mà
đặc biệt là những cơ quan hành chíng cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới trực tiếp.
b, Giữa cơ quan cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung với cơ quan hành chính
nhà nước có thhẩm quyền chuyên môn cùng cấp.
c, Giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên với cơ quan hành
chíng nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp dưới nhằm thực hiện chức năng theo pháp luật.
d, Giữa những cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp.
e, Giữa cơ quan hành chíng nhà nước ở địa phương với các đơn vị trực thuộc trung ương
đóng tại địa phương đó.
g, Giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị trực thuộc.
h, Giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
i, Giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức xã hội.
k, Giữa cơ quan hành chính nhà nước với công dân và người không quốc tịch, người nước
ngoài cư trú, làm ăn sinh sống ở Việt nam.
Ngoài ra còn có một số quan hệ không điển hình, giữa cơ quan hành chính nhà nước với đối tượng quản lý của nó.
Bên cạnh những quan hệ quản lý kể trên, Luật hành chính còn điều chỉnh một số quan hệ quản
lý khác như: các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng
và củng cố chế độ công tác nội bộ của cơ quan, nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức
năng, nhiệm vụ của mình; các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ
chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong một
số trường hợp cụ thể do pháp luật qui định.
3. Phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính
Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh, đơn phương.
Phương pháp này được xây dựng trên các nguyên tắc:
- Xác nhận sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính, một bên
được nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để đưa ra các quyết định hành
chính, còn bên kia phải phục tùng những mệnh lệnh ấy.
- Bên nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước có quyền quyết định công việc một
cách đơn phương, xuất phát từ lợi ích chung của nhà nước, xã hội trong phạm vi quyền hạnh
của mình để chấp hành pháp luật.
- Quyết định đơn phương của bên sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu lực bắt bộc thi hành
đối với các bên hữu quan và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước.
Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật hành chính?
Quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ quản lý hành chính Nhà nước được điều chỉnh
bởi các quy phạm pháp luật hành chính. Bài viết sau đây sẽ cung cấp cho các bạn đọc
những kiến thức về khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật hành chính.
Quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh theo yêu cầu hợp pháp của chủ thể quản lý hay
đối tượng quản lý hành chính nhà nước.
Sở dĩ các quan hệ pháp luật hành chính có đặc điểm này là vì việc điều chỉnh pháp lý đối với
các quan hệ quản lý hành Chính nhà nước không chỉ nhằm mục đích bảo đảm lợi ích của Nhà
nước mà còn ảnh hưởng tới quyền lập nhiều mặt của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã
hội. Thẩm quyền quản lý hành chính của Nhà nước chỉ có thể được thực hiện nếu có sự tham
gia tích cực từ phía các đối tượng quản lý. Mặt khác, nhiều quyền lợi của đối tượng quản lý
hành chính nhà nước chỉ có thể được bảo đảm nếu có sự hỗ trợ tích cực của các chủ thể quản
lý bằng những hành vi pháp lý cụ thể.
[2] Nội dung của quan hệ pháp luật hành chính là các quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính
của các bên tham gia quan hệ đó.
Các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính có thể là cơ quan nhà nước, tổ chức hay cá
nhân; có thể nhân danh nhà nước, vì lợi ích của Nhà nước hoặc nhân danh chính mình nhưng
họ đều thực hiện các quyền và nghĩa vụ do quy phạm pháp luật hành chính quy định. Việc quy
định và thực hiện các quyền và nghĩa vụ này là cần thiết đối với việc xác lập và duy trì trật tự
quản lý hành chính nhà nước
[3] Một bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính phải được sử dụng quyền lực nhà nước.
Như đã nêu, quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ quản lý hành chính nhà nước được điều
chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính. Vì vậy, về tư cách và cơ cấu chủ thể của quan
hệ pháp luật hành chính phải phù hợp với tư cách và cơ cấu chủ thể của quan hệ quản lý hành
chính nhà nước tương ứng. Nếu một bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước được
sử dụng quyền lực nhà nước (chủ thể quản lý hành chính nhà nước) thì chủ thể đó trong quan
hệ pháp luật hành chính tương ứng sẽ được xác định là chủ thể đặc biệt. Mặt khác, trong quan
hệ quản lý hành chính nhà nước, đối tượng quản lý là bên chủ thể không được sử dụng quyền
lực nhà nước và có nghĩa vụ phục tùng việc sử dụng quyền lực nhà nước của chủ thể quản lý
thì trong quan hệ pháp luật hành chính tương ứng, các đối tượng này được xác định là chủ thể thường.
Như vậy, các chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính được phân chia thành chủ thể đặc biệt
và chủ thể thường. Trong đó, chủ thể đặc biệt là các cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhân
danh và sử dụng quyền lực nhà nước trong quan hệ ấy. Từ đó có thể nhận định quan hệ pháp
luật hành chính không thể phát sinh và tồn tại nếu thiếu chủ thể đặc biệt.
[4] Trong một quan hệ pháp luật hành chính thì quyền của bên này ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại.
Quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ “quyền lực – phục tùng”, quan hệ bất bình đẳng về ý
chí giữa các bên tham gia. Chủ thể đặc biệt tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính trên cơ
sở quyền lực nhà nước và chủ thể thường có nghĩa vụ chấp hành việc sử dụng quyền lực nhà
nước của chủ thể đặc biệt. Tuy nhiên, không có nghĩa là trong quan hệ pháp luật hành chính,
chủ thể đặc biệt chỉ có quyền và chủ thể thường chỉ có nghĩa vụ.
Việc thực hiện thẩm quyền của chủ thể đặc biệt vừa là quyền vừa là trách nhiệm của chủ thể
này. Bên cạnh đó, chủ thể thường tuy có nghĩa vụ chấp hành các mệnh lệnh của chủ thể đặc
biệt song cũng có những quyền nhất định xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính khách quan, đúng
pháp luật của các hành vi quản lí hành chính nhà nước hoặc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp
pháp của họ như: quyền yêu cầu, đề nghị, khiếu nại, tố cáo…
Việc thực hiện thẩm quyền của chủ thể đặc biệt chỉ có hiệu lực khi nó làm phát sinh nghĩa vụ
chấp hành của chủ thể thường. Mặt khác, việc thực hiện quyền của chủ thể thường trong quan
hệ pháp luật hành chính chỉ có ý nghĩa thực sự nếu nó làm phát sinh trách nhiệm tiếp nhận,
xem xét giải quyết của chủ thể đặc biệt. Ví dụ: Công dân có quyền khiếu nại nhưng nếu việc
thực hiện quyền khiếu nại đó của công dân không làm phát sinh trách nhiệm tiếp nhận, xem
xét, giải quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì việc khiếu nại đó của công dân
chỉ mang tính hình thức, không có giá trị pháp lí.
[5] Phần lớn các tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính được giải quyết theo thủ tục hành chính.
Cũng như các công việc khác trong lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước, các tranh chấp phát
sinh trong quan hệ pháp luật hành chính cần phải được giải quyết theo thủ tục hành chính. Tuy
nhiên, do tính chất và yêu cầu giải quyết một số tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật
hành chính mà việc giải quyết chúng còn có thể được thực hiện theo thủ tục tố tụng. Ví dụ:Tòa
án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính tranh chấp về danh sách cử tri;
tranh chấp về quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ tổng cục trưởng và
tương đương trở xuống; tranh chấp về quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh; tranh chấp về quyết định hành chính, hành vi hành chính (trừ các quyết định
hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng,
an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật; quyết định, hành vi của tòa án trong việc áp
dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng và các quyết định
hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức).
[6] Bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính vi phạm yêu cầu của pháp luật hành chính phải
chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước.
Sở dĩ các quan hệ pháp luật hành chính có đặc điểm này là vì những lí do sau đây:
+ Chủ thể đặc biệt tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính trên cơ sở quyền lực nhà nước
nên phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước khi sử dụng quyền lực ấy.
+ Chủ thể thường thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trước bên đại diện cho Nhà nước,
do đó phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về tính hợp pháp của hành vi do mình thực hiện
trong quan hệ pháp luật hành chính;
+ Những vi phạm trên đều xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước. Do đó, bên vi
phạm phải chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước về hành vi vi phạm của mình.
Tóm lại, quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý hành
chính nhà nước, được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính giữa các cơ quan, tổ
chức, cá nhân mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính.
4. Quan hệ pháp luật hành chính phát sinh dựa trên cơ sở nào?
Cơ sở làm phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính là: Quy phạm
pháp luật, sự kiện pháp lý và năng lực chủ thể của cơ quan, chức, cá nhân có liên quan.
5. Nêu những điểm khác biệt chính của quan hệ pháp luật hành chính so với quan hệ
pháp luật dân sự và quan hệ pháp luật hình sự?
Luật hành chính với luật dân sự :
Chủ yếu dựa vào phương pháp điều chỉnh
Luật dân sự hướng vào sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, còn luật hành chính
không bình đẳng do một bên ra lệnh, một bên phục tùng lệnh
Đối tượng điều chỉnh của dân sự quan hệ tài sản, đối tượng điều chỉnh của hành chính là quan hệ xã hội
đối tượng điều chỉnh của hành
Luật hành chính và luật hình sự:
Luật hình sự quy định về tội phạm và hình phạt -
Luật hình sự quy định về tội phạm và hình phạt. -
Luật hành chính quy định về các vi phạm hành chính, các hình thức xử phạt vi
Luật hành chính quy định về các phạm vi hành chính, các hình thức xử phạt vi phạm hành
chính và các vấn đề có liên quan tới việc xử lí đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
Luật dân sự hướng vào sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, còn luật hành chính
Đối tượng điều chỉnh của dân sự quan hệ tài sản, đối tượng điều chỉnh của hành
Đối tượng điều chỉnh của dân sự quan hệ tài sản, đối tượng điều chỉnh của hành
Đối tượng điều chỉnh của dân sự quan hệ tài sản, đối tượng điều chỉnh của hành
Đối tượng điều chỉnh
của dân sự quan hệ tài
sản, đối tượng điều chỉnh của hành
Đối tượng điều chỉnh
của dân sự quan hệ tài
sản, đối tượng điều chỉnh của hành
6. Phân tích khái niệm và phân loại cơ quan hành chính nhà nước?
Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước:
Cơ quan hành chính nhà nước là Cơ quan quản lý chung hay từng lĩnh vực công tác, có nhiệm
vụ thực thi pháp luật và chỉ đạo việc thực hiện các chính sách, kế hoạch của nhà nước.
Ở Việt Nam, cơ quan hành chính nhà nước được hình thành từ các cơ quan quyền lực nhà
nước cùng cấp, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất và là cơ quan chấp hành
của Quốc hội, Chính phủ do Quốc hội thành lập, Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương và là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, do Hội đồng nhân dân và
cơ quan cùng cấp bầu và miễn nhiệm. Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp hợp thành hệ
thống cơ quan hành chính nhà nước.
Đặc điểm cơ quan hành chính nhà nước:
(i) Tập hợp những con người có tính độc lập tương đối về cơ cấu-tổ chức.
(ii) Chịu sự giám sát lãnh đạo của các cơ quan quyền lực tương ứng.
(iii) Thực hiện các hoạt động mang tính dưới luật – hoạt động tiến hành trên cơ sở và để thi hành luật.
(iv) Thẩm quyền chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành và điều hành.
(v) Tất cả các cơ quan có mối quan hệ chặt chẽ (trực thuộc trên – dưới, ngang – trái) có trung
tâm chỉ đạo là Chính phủ.
Phân loại cơ quan hành chính nhà nước:
Căn cứ vào quy định của pháp luật
Cơ quan hành chính nhà nước được chia làm 02 loại:
– Các cơ quan do Hiến pháp quy định về tổ chức và hoạt động: Chính phủ, bộ, cơ quan ngang
bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, đây là những cơ quan quan trọng nhất trong bộ máy hành chính nhà nước.
– Các cơ quan do luật và văn bản dưới luật quy định: các Cục, Vụ, Viện, cơ quan chuyên môn
ở địa phương, đây là những cơ quan ít quan trọng hơn trong bộ máy hành chính nhà nước.
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ hoạt động
Cơ quan hành chính nhà nước được chia làm 02 loại:
– Các cơ quan nhà nước ở trung ương như: Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ (Ngân hàng nhà
nước, hanh tra Chính phủ, Văn phòng Chính phủ, Ủy ban dân tộc); cơ quan thuộc Chính phủ.
Các cơ quan này hoạt động trên phạm vi toàn quốc, văn bản do các cơ quan này ban hành có
hiệu lực pháp lý trong cả nước.
– Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương như: Ủy ban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện,
xã), các cơ quan chuyên môn ở địa phương (sở, phòng, ban).
Các cơ quan này được thành lập và hoạt động trên một phạm vi lãnh thổ nhất định.
Các văn bản do các cơ quan này ban hành chỉ có hiệu lực trên phạm vi địa phương.
Căn cứ vào phạm vi thẩm quyền
Cơ quan hành chính nhà nước được chia làm 02 loại:
– Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung: Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp.
Các cơ quan này được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp, quản lý trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
– Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn: Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, các cơ quan chuyên môn ở địa phương (sở, phòng, ban).
Đây là các cơ quan quản lý ngành hoặc quản lý chức năng, các cơ quan này hoạt động ở một
ngành hoặc một lĩnh vực nhất định.
Căn cứ vào chế độ lãnh đạo
– Cơ quan hành chính nhà nước có chế độ lãnh đạo tập thể: Bao gồm các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền chung, do các cơ quan này thường phải giải quyết những vấn đề quan trọng,
liên quan nhiều lĩnh vực cần trí tuệ tập thể.
Ở loại cơ quan này, mọi vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của cơ quan phải đưa ra bàn
bạc, thảo luận và quyết định theo đa số.
– Cơ quan hành chính nhà nước có chế độ một thủ trưởng: Bao gồm các cơ quan chuyên môn,
các cơ quan này do một người đứng đầu, người này đại diện cho cơ quan, và phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về hoạt động của cơ quan.
8. Phân tích sự khác nhau giữa cơ quan hành chính nhà nước với cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp?
9. Phân biệt công chức với viên chức?
Phân biệt công chức và viên chức chủ yếu dựa trên các tiêu chí như sau:
Về cơ chế trở thành công chức, viên chức
– Công chức phải là người Việt Nam, trở thành công chức theo hình thức tuyển dụng, bổ nhiệm
và giữ chức danh theo nhiệm kỳ.
– Viên chức phải là công dân Việt Nam, trở thành viên chức thông qua hình thức tuyển dụng vào vị trí việc làm.
Về thời gian tập sự
– Với công chức thời gian tập sự được quy định riêng đối với từng ngạch, cấp bậc theo quy định của Chính phủ.
– Viên chức sẽ có thời gian tập sự quy định trong hợp đồng làm việc từ khoảng 03 tháng đến 12 tháng. Về cấp bậc
– Công chức được phân thành các ngạch khác nhau.
– Viên chức được phân theo các chức danh nghề nghiệp. Vị trí công tác
– Công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị – xã hội ở các cấp trung ương, tỉnh, huyện, quận, thị xã.
Làm việc trong các cơ quan, đơn vị của quân đội Nhân dân, Công an nhân dân và không phải
trường hợp là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, là sĩ quan, hạ sĩ
quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
– Viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc. Nguồn chi trả lương
– Với công chức thì được ngân sách nhà nước chi trả.
– Với viên chức thì được nhận lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập.
Các hình thức kỷ luật
– Đối với công chức có thể bị kỷ luật theo những hình thức: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc
lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc.
– Với viên chức có thể bị kỷ luật theo các hình thức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc
thôi việc, ngoài ra còn có thể bị hạn chế hoạt động nghề nghiệp của mình.
Về tính chất công việc
– Công chức thực hiện các công việc nhân danh quyền lực nhà nước, thực hiện các nhiệm vụ
quản lý và phải chịu trách nhiệm về công việc của mình trước Đảng và Nhà nước, trước nhân
dân và đơn vị quản lý.
– Viên chức thực hiện các công việc do đơn vị quản lý giao cho mang tính chuyên môn nghiệp
vụ, không có tính quyền lực nhà nước. Phải chịu mọi trách nhiệm trước đơn vị quản lý viên chức.
10. Phân biệt sự khác nhau giữa thủ tục hành chính với các thủ tục pháp lý khác?
- Thủ tục tư pháp bao gồm các thủ tục khi đương sự yêu cầu cơ quan tư pháp ( sở tư pháp
tỉnh, TP ; phòng tư pháp quận huyện, Ban tư pháp phường xã) xác nhận tình trạng nhân thân
của cá nhân công dân như tình trạng hôn nhân, xác nhận cha mẹ cho con bằng cách trích lục
hồ sơ gốc hoặc cấp mới các giấy tờ về nhân thân của đương sự như khai sinh, tình trạng hôn
nhân, kết hôn, chứng nhận độc thân, giấy chứng nhận con nuôi...Tuy nhiên một số vụ việc
thuộc thẩm quyền, phán quyết của Tòa án như xác định cha cho con, ly hôn...mà bản án, quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự do Tòa án cấp cũng có giá trị pháp lý mà cơ
quan tư pháp làm cơ sở xác nhận chứng thực tư pháp cho đương sự.
- Thủ tục hành chính là các công việc của cơ quan hành chính tiến hành như chứng thực, sao y
giấy tờ, xin phép xây dựng, hành chính khác...
11. Khái niệm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: các quy định chủ yếu của pháp luật về
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí?
Tiết kiệm được hiểu ở trong Luật là việc giảm bớt hao phí trong sử dụng tiền, tài sản, lao động,
thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên nhưng vẫn đạt được mục tiêu đã định. Đối với lĩnh
vực quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động
trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên, do trong các lĩnh này có quy định về định
mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nên tiết kiệm ở đây
được hiểu là việc sử dụng ở mức thấp hơn định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng vẫn đạt được
mục tiêu đã định hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng đạt cao hơn mục tiêu đã định
Lãng phí trái ngược với tiết kiệm,được hiểu là việc quản lý, sử dụng tiền, tài sản, lao động, thời
gian lao động và tài nguyên thiên nhiên không hiệu quả. Cũng tương tự như định nghĩa về tiết
kiệm, đối với lĩnh vực có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành như nêu trên thì lãng phí là việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản
nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên vượt
định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc không đạt mục tiêu đã định
Các quy định chủ yếu của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: Luật số: 44/2013/QH13
12. Khái niệm, đặc điểm của tham nhũng thông qua bản chất và biểu hiện của nó?
Khái niệm tham nhũng: Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hưởng lợi ích vật
chất trái pháp luật, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể, cá nhân, xâm phạm hoạt
động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức. Trong luật hình sự Việt Nam, nhiều hành vi tham
nhũng cụ thể như hành vi tham ô, nhận hối lộ... đã được quy định tương đối sớm.
Đặc điểm của tham nhũng:
Thứ nhất: Tham nhũng phải là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn
Bởi vì chỉ khi “có chức vụ, quyền hạn” họ mới dễ lợi dụng chức vụ quyền hạn để nhu cầu lợi ích
riêng. Chức vụ, quyền hạn mà chủ thể của hành vi tham nhũng có được có thể do được bầu
cử, do được bổ nhiệm, do hợp đồng,do tuyển dụng, hoặc do một hình thức khác, có hưởng
lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền
hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Chức vụ, quyền hạn phải gắn với
quyền lực nhà nước trong các lĩnh vực và các cơ quan khác nhau: cơ quan lập pháp, cơ quan
hành pháp, cơ quan tư pháp, trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội nghề nghiệp, các tổ chức kinh tế Nhà nước hoặc lực lượng vũ trang từ Trung ương đến địa phương.
Đây là dấu hiệu giúp ta phân biệt hành vi tham nhũng với những vi phạm pháp luật có yếu tố vụ
lợi nhưng không phải là hành vi tham nhũng do người thực hiện hành vi đó không có chức vụ
và quyền hạn ví dụ như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc buôn lậu,…
Thứ hai: Khi thực hiện hành vi tham nhũng, người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ,
quyền hạn của mình làm trái pháp luật để mưu lợi cá nhân.
“Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng. Khi thực hiện
hành vi tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để
mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác. Nếu không có chức vụ,
quyền hạn đó họ sẽ không thể thực hiện được hoặc khó có thể thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật để đáp ứng nhu cầu hưởng lợi (trái pháp luật) của bản thân.
Thứ ba: Động cơ của người có hành vi tham nhũng là vì vụ lợi
Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để mưu cầu lợi ích
riêng, hành vi của họ không phải là vì nhu cầu công việc hoặc trách nhiệm của cán bộ, công
chức mà hoàn toàn vì lợi ích riêng và của đơn vị để nhằm chiếm đoạn tiền, tài sản, lợi ích vật
chất hoặc lợi ích phi vật chất của nhà nước, xã hội và nhân dân như vậy thiếu yếu tố vụ lợi thì
hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức không bị coi
là tham nhũng. Như vậy có thể khẳng định rằng một hành vi được coi là tham nhũng khi thỏa
mãn hai điều kiện, điều kiện cần đó là người thực hiện hành vi phải là người có chức vụ, quyền
hạn và điều kiện đủ đó là người có chức vụ, quyền hạn phải lợi dụng chức vụ, quyền hạn của
mình và động cơ của hành vi đó là vì vụ lợi.
13. Nguyên nhân và tác động ảnh hưởng của tệ nạn tham nhũng?
Các nguyên nhân tác động từ bên ngoài:
+ Hệ thống pháp luật còn lỏng lẻo, còn nhiều kẽ hở trong quy định quyền hạn, nhiệm vụ. Các
quy trình ra quyết định và hoạch định chính sách còn thiếu minh bạch, thủ tục hành chính còn
rườm rà. Chính các nội dung này mang đến tính thiếu minh bạch, giúp các cá nhân có cơ hội tham nhũng,…
+ Do sự sơ hở của tổ chức bộ máy, do sự thiếu đồng bộ và đầy đủ.
+ Công tác kiểm tra, giám sát còn thiếu chặt chẽ, chưa ngang tầm nhiệm vụ. Do đó mà tội nhận
hối lộ, nhũng nhiễu,… được thực hiện nhiều.
+ Đấu tranh và xử lý những hành vi tham nhũng chưa kịp thời, còn tình trạng nể nang, né tránh,
sợ “đứt dây động rừng”,…
+ Tiền lương của công chức còn thấp. Chưa đảm bảo để họ có thể tận tụy vì công việc chung,
bỏ qua các lợi ích bên ngoài để hoàn thành trách nhiệm, lý tưởng ban đầu. Quy định kê khai tài
sản, thu nhập còn nhiều tiêu cực.
+ Còn thiếu những chế độ, chính sách, quy định chặt chẽ để từng bước ngăn chặn tham nhũng.
+ Tính tích cực của người dân trong đấu tranh chống tham nhũng chưa được phát động thường xuyên.
+ Vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật, như công an, viện kiểm sát, tòa án chưa được phát huy đầy đủ nhất.
+ Công tác giáo dục phẩm chất đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên đã không được
quan tâm đúng mức hoặc triển khai thực hiện chưa nghiêm túc, chưa hiệu quả, thậm chí ở nơi
này nơi khác công tác đó còn bị xao nhãng, lãng quên.
– Nguyên nhân từ chính đối tượng tham nhũng:
Tất cả các nguyên nhân trên tác động tư tưởng, nhận thức dẫn đến sự suy thoái nhanh chóng
của bộ phận lớn cán bộ.
Sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.
Đến từ các nhận thức ích kỷ, tham lam và tư tưởng, lập trường ban đầu không được giữ vững.
Khi họ được trao quyền hạn nhưng có cơ chế để lợi dụng, chức vụ, quyền hạn một cách tinh vi.
Nhất là những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. Họ dễ dàng tiếp cận với nhiều cám dỗ, lợi
ích lớn hơn thay vì nhận được quyền lợi từ thực hiện công vụ.
Tác hại về chính trị:
– Tham nhũng phá hoại đội ngũ cán bộ, tầm thường hoá hệ thống pháp luật. Các giá trị quản lý
nhà nước xây dựng không mang đến ý nghĩa tương xứng trong nhu cầu của người dân. Đây
cũng là nguyên nhân căn bản nhất dẫn đến thất bại của Đảng và Nhà nước.
– Kỷ cương xã hội không thể giữ vững, các sức mạnh của nhà nước cũng giảm đi trong lòng tin
của nhân dân. Gây mất đoàn kết nội bộ, làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nước trước nhân
dân. Từ đó hạn chế sức mạnh, niềm tin mãnh liệt của nhân dân vào lực lượng lãnh đạo. Cũng
mang đến cơ hội để cho kẻ thù phá hoại, xâm lược, lực lượng phản động.
– Làm cho bộ máy trở thành quan liêu, đội ngũ viên chức tốt cũng có thể bị tác động trong nhận thức và thái độ.
– Tham nhũng là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Khi
bộ phận lãnh đạo không đảm bảo đóng góp vai trò, thành quả vào sự nghiệp chung. Cản trở,
tác động lên các tư tưởng mạnh mẽ trong thống nhất xây dựng đất nước. Tác hại về kinh tế:
– Tham nhũng làm thất thoát những khoản tiền lớn trong chi tiêu chính sách công. Như các chi
phí cho việc đấu thầu, việc cấp vốn, việc thanh tra, kiểm toán và hàng loạt các chi phí khác. Từ
đó không đảm bảo ý nghĩa, hiệu quả sử dụng triệt để ngân sách nhà nước.
– Tham nhũng gây tổn thất lớn cho nguồn thu của ngân sách nhà nước thông qua thuế. Làm
thất thoát nguồn thu, không phải ánh đúng giá trị nghĩa vụ các tổ chức, cá nhân phải thực hiện.
– Một số lượng lớn tài sản công trở thành tài sản tư của một số cán bộ, công chức, viên chức.
Do đó không đảm bảo sử dụng, đầu tư công.
– Do tham nhũng mà một số công trình xây dựng như các công trình cầu đường, nhà cửa kém
chất lượng. Gây nguy hiểm cho cuộc sống của người dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự
phát triển của nền kinh tế – xã hội. Các chất lượng công trình không đảm bảo về mặt thời gian, vật chất đã bỏ ra.
– Tham nhũng gây ảnh hưởng lớn đến môi trường kinh doanh. Làm giảm đáng kể năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp, chậm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Các hành vi tham
nhũng gây mất công bằng, bình đẳng để các doanh nghiệp tiếp cận quyền lợi theo pháp luật.
– Hành vi sách nhiễu, gây khó khăn, đòi hối lộ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức
là có thật. Làm ảnh hưởng đến giải quyết thủ tục hành chính, làm đình trệ các hoạt động sản
xuất, kinh doanh. Tác động sâu sắc đến nhận thức, mất niềm tin của nhân dân khi sử dụng các
dịch vụ của nhà nước.
Tác hại về xã hội:
– Tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội.
Các giá trị phản ánh, giá trị nhận thức trong xã hội không được duy trì. Làm tha hoá một bộ
phận không nhỏ trong đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.
– Nhiều cán bộ, công chức đã không giữ được phẩm chất đạo đức của người cán bộ cách
mạng, không phục vụ nhân dân. Họ coi nghề nghiệp của mình là cơ hội, là điều kiện để thực
hiện các hành vi tham nhũng. Từ đó hướng tới các lợi ích bất chính, làm trái công vụ, trái lương
tâm, đạo đức nghề nghiệp. Mục đích là để nhanh chóng giàu có, bất chấp việc vi phạm pháp luật.
– Điều đáng báo động là việc tham nhũng dường như đã trở thành bình thường trong quan
niệm của một số cán bộ, công chức. Đây cũng là nhận thức, đánh giá của người dân. Họ không
dám tin, không có cơ sở để tin tưởng tuyệt đối vào một cá nhân lãnh đạo nào. Đó chính là biểu
hiện của sự suy thoái, xuống cấp về đạo đức một cách nghiêm trọng.
14. Những nội dung chủ yếu của pháp luật về phòng, chống tham nhũng?
Luật Phòng, chống tham nhũng 2018
15. Phân biệt vi phạm hành chính với vi phạm pháp luật hình sự?
- Vi phạm hình sự và vi phạm hành chính đều là hành vi vi phạm, xâm hại trật tự pháp luật
được đặt ra bởi Nhà nước và phải chịu những trách nhiệm pháp lí tương đương. Độ tuổi phải
chịu trách nhiệm pháp lí từ 14 tuổi trở lên. • Khác nhau
- Vi phạm hình sự là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị coi là tội phạm được quy định
tại Bộ luật Hình sự. Chủ yếu là hình phạt tước tự do của người phạm tội do tòa án áp dụng.
- Vi phạm hành chính là hành vi vi phạm pháp luật có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn
tội phạm, xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước. Chế độ xử phạt chủ yếu đánh vào yếu tố vật
chất, tinh thần của người vi phạm (cảnh cáo, phạt tiền).
16. Phân biệt trách nhiệm hành chính với trách nhiệm hình sự? - Khác nhau
Chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm hành chính: hình thức trách nhiệm pháp lý đặt ra với tổ chức, cá nhân vi phạm
hành chính. Khi cá nhân, tổ chức xâm phạm đến các quy tắc quản lý nhà nước sẽ bị truy cứu trách nhiệm hành chính.
Trách nhiệm hình sự: hình thức trách nhiệm pháp lý đặt ra chỉ với cá nhân. Khi cá nhân này
thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội hoặc làm việc mà pháp luật ngăn cấm hoặc không
thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật hình sự quy định thì phải buộc chịu hậu quả pháp lý bất lợi.
Chủ thể có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm hành chính: Chủ thể có thẩm quyền chủ yếu là các cơ quan nhà nước, cán bộ,
công chức của cơ quan đó.
Trách nhiệm hình sự: chủ thể có thẩm quyền là cơ quan tiến hành tố tụng, hệ thống tòa án. Bản chất
Trách nhiệm hành chính: xử lý vi phạm hành chính
Trách nhiệm hình sự: xử lý vi phạm hình sự Mức độ nghiêm khắc
Trách nhiệm hành chính: có mức độ nghiêm khắc thấp hơn trách nhiệm hình sự.
Trách nhiệm hình sự được biểu hiện ở việc người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt, tước bỏ hoặc hạn chế ở họ một số quyền, lợi ích hợp pháp. Hình phạt
Trách nhiệm hành chính: mức độ hình phạt nhẹ hơn so với trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm
hành chính chính bao gồm cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền, trục xuất,…
Trách nhiệm hình sự: nặng hơn, có thể lên đến tử hình với những tội phạm nghiêm trọng. Thủ tục áp dụng
Trách nhiệm hành chính: áp dụng đúng pháp luật các biện pháp chế tài hành chính, theo thủ
tục hành chính do pháp luật hành chính quy định, đảm bảo tuân thủ đúng trình tự về thời gian, không gian.
Trách nhiệm hình sự: xác định bằng trình tự đặc biệt quy định trong luật tố tụng hình sự, trình
tự thủ tục phải tuân thủ các quy định về thủ tục tố tụng tư pháp. Trách nhiệm hình sự phải được
phản ánh trong bản án hay quy định có hiệu lực pháp luật của tòa án.
17. Khái niệm và các hình thức xử lý vi phạm hành chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012?
Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp
luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử
phạt vi phạm hành chính.
Các hình thức xử lý vi phạm hành chính: - Cảnh cáo; - Phạt tiền;
- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
- Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau
đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính); - Trục xuất.
18. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012?
19. Phân tích khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của khiếu nại?

20. Phân tích khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của tố cáo?
21. Phân biệt khiếu nại với tố cáo?

22. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật Khiếu nại 2011, Luật Tố cáo 2011?
23. Khái niệm vụ án hành chính; các loại vụ án hành chính Tòa án có thẩm quyền giải

quyết; mục đích ý nghĩa của việc giải quyết các vụ án hành chính?
24. Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án hành chính theo Luật Tố tụng hành chính 2015?

25. Trình bày các giai đoạn chủ yếu của thủ tục tố tụng hành chính? 26.BÀI TẬP CHƯƠNG 4
23h đêm ngày 14/12/2012, sau tiệc sinh nhật tròn 18 tuổi của mình, mượn của bố chiếc xe ô

tô 4 chỗ Nguyễn Văn A đã phóng nhanh với tốc độ vượt quá tốc độ cho phép trên đường 15
km và rú ga, bấm còi inh ỏi trong thành phố. A bị chiến sĩ cảnh sát giao thông đang thực hiện