






Preview text:
Môn học: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Họ và tên: Đàm Xuân Mai Mã sinh viên: 11213621 CHƯƠNG 2
Câu 1: Hiện nay giai cấp công nhân ở các nước tư bản còn rất ít. Mà giai cấp công
nhân ngày càng bị thu hẹp lại, bị “teo đi”, vậy thì giai cấp công nhân có còn sứ mệnh
lịch sử nữa hay không?
Chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn luôn tồn tại, phát triển trong cải cách, đổi mới; giai
cấp công nhân vẫn không ngừng phát triển cả về số lượng, chất lượng và khẳng định vai
trò sứ mệnh lịch sử của họ.
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất và cách
mạng nhất, là lực lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử. Sứ mệnh lịch sử là sự tổng
quát của giai cấp công nhân thông qua chính đảng tiền phong, giai cấp công nhân tổ chức,
lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ các chế độ người bóc lột người, xóa bỏ chủ
nghĩa tư bản, giải phóng giai cấp công nhân nhân dân lao động khỏi mọi sự áp bức,
nghèo nàn, lạc hậu xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.
Hiện nay, thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng học thuyết C. Mác vẫn
sáng ngời, khẳng định giá trị của nó trong nhận thức chủ nghĩa tư bản hiện đại. Về lực
lượng sản xuất, các nước tư bản phát triển triệt để tận dụng những thành tựu mới nhất của
cách mạng khoa học và công nghệ để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao năng suất lao
động, đưa sản xuất phát triển vào chiều sâu, tính chất chuyên môn hóa ngày càng cao.
Kinh tế tri thức ra đời với sự tăng lên rất nhanh của cải vật chất, đã đáp ứng nhu cầu xã
hội ngày càng đa dạng. Theo đó, đời sống của người công nhân với tư cách là lực lượng
sản xuất chủ yếu cũng được quan tâm, nâng cao, phúc lợi xã hội được tăng cường. Về
quan hệ sản xuất, vẫn bảo tồn chế độ sở hữu tư nhân tư bản về nguyên tắc, còn trong hình
thức tổ chức đã có những bước điều chỉnh mở rộng các hình thức sở hữu tư bản như mở
rộng chế độ cổ phần, bán cổ phiếu có giá trị nhỏ cho người lao động. Hiện tượng này đã
được các nhà lý luận tư sản tô vẽ là "chủ nghĩa tư bản nhân dân, nhân đạo", người công
nhân có cổ phần trở thành hữu sản. Trên thực tế, mặc dù đời sống công nhân các nước
phát triển, có thể ít nhiều được cải thiện nhưng địa vị kinh tế của họ vẫn không vì thế mà
thay đổi; quyền chi phối xí nghiệp vẫn do các chủ tư bản chiếm đa số cổ phần điều hành
và bản chất bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư bản vẫn không hề thay đổi.
Cùng với sự phát triển của dân tộc, giai cấp công nhân Việt Nam đã có nhiều thay
đổi, phát triển cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu và vai trò trong xã hội. Thông qua
chính đảng tiền phong của mình, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất lãnh
đạo cách mạng, lãnh đạo xã hội, đưa sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa đến thắng lợi. Vai trò lãnh đạo, bản chất cách mạng, tính tiền phong của giai
cấp công nhân Việt Nam không hề thay đổi. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ở Việt Nam trong tình hình mới, cấp thiết
phải xây dựng giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nhất là việc nâng cao
bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công
nghiệp, kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế. Phát huy vai trò của giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách
mạng, thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Câu 2: Công nhân ở các nước tư bản đã được trung lưu hoá, giai cấp công nhân
đã bắt tay với tư bản nên giai cấp công nhân không còn mục đích lật đổ tư bản nữa?
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa,
xóa bỏ chế độ bóc lột, tự giải phóng, giải phóng nhân dân lao động và toàn thể nhân loại
khỏi sự áp bức, bóc lột, xây dựng thành công xã hội cộng sản chủ nghĩa. Và phát triển về
số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề
nghiệp thực hiện “tri thức hóa công nhân”, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ vào
sản xuất nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả làm việc, xứng đáng với vai trò
lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới.
Trong mỗi hình thái kinh tế – xã hội, lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất và luôn
vận động phát triển do sự thay đổi không ngừng của công cụ lao động ở trình độ ngày
càng cao. Nhưng trình độ của công cụ lao động thay đổi được là kết quả của hoạt động
sáng tạo của con người.Trong chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội với nền sản xuất đại
công nghiệp ngày càng phát triển, giai cấp công nhân trở thành bộ phận quan trọng nhất,
cách mạng nhất trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất. Lao động sống của giai
cấp công nhân tạo ra phần lớn của cải vật chất cho xã hội và đóng vai trò có ý nghĩa
quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Trong chủ nghĩa tư bản, do không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, giai cấp công
nhân buộc phải bán sức lao động trở thành người làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai
cấp tư sản bóc lột nặng nề. Trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản chỉ có thể bóc lột
được giai cấp công nhân khi họ nắm giữ, chi phối tư liệu sản xuất của xã hội. Do vậy,
bằng mọi giá, giai cấp tư sản phải duy trì chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Mặt
khác, giai cấp công nhân cũng chỉ được giải phóng khỏi mọi sự áp bức, bóc lột khi xoá
bỏ được chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và thay thế vào đó là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
Giai cấp tư sản bóc lột, song giai cấp công nhân là đối tượng bị bóc lột trực tiếp và
nặng nề nhất. Do vậy, lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân đối lập trực tiếp với lợi ích
cơ bản của giai cấp tư sản.Giai cấp công nhân có lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của
đại đa số nhân dân lao động, bởi vì muốn giải phóng mình khỏi mọi sự áp bức, bóc lột,
giai cấp công nhân phải đấu tranh xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Nếu
điều này trở thành hiện thực thì giai cấp công nhân không chỉ giải phóng mình mà
còngiải phóng toàn xã hội khỏi mọi sự áp bức, bóc lột. Hơn nữa, do điều kiện làm việc
và điều kiện sống chủ yếu là ở các khu công nghiệp tập trung và ở các thành phố lớn,
nên giai cấp công nhân có khả năng tập hợp lực lượng, đoàn kết với các giai cấp, tầng
lớp nhân dân lao động khác trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản để giải phóng
mình và giải phóng toàn xã hội.
Câu 3: Công nhân ngày càng được trí thức hoá. Vậy phải chăng công nhân đã trở
thành trí thức rồi, không còn là công nhân nữa?
Vai trò của trí thức đối với sự phát triển xã hội là quan trọng, cấp thiết, thể hiện rõ nét
trong kinh tế tri thức, kinh tế số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Với những đóng
góp từ lao động của trí thức giúp cho quá trình sản xuất vật chất của công nhân và nông
dân không ngừng nâng cao về năng xuất, chất lượng, năng lực cạnh tranh, tạo ra sự phát
triển nhanh của đất nước. Nhưng trí thức không thể lãnh đạo xã hội vì: theo quan điểm
của chủ nghĩa Mác – Lênin, trí thức không phải là một giai cấp, mà là một lực lượng xã
hội đặc biệt, có nguồn gốc xuất thân không thuần nhất. Trí thức không đại diện cho một
phương thức sản xuất độc lập nào, phương thức sản xuất của trí thức là độc lập nghiên
cứu, sáng tạo; sản phẩm của trí thức là lý thuyết, phát minh, sáng chế, tồn tại dưới dạng
những giá trị lý thuyết tinh thần là chủ yếu. Trí thức không có hệ tư tưởng riêng, tư tưởng
của trí thức phụ thuộc hệ tư tưởng của các giai cấp thống trị xã hội.
Từ xưa đến nay, trí thức tồn tại với tư cách là lực lượng xã hội đặc biệt. Số lượng trí
thức không đông bằng giai cấp công nhân và nông dân, không phải là một lực lượng kinh
tế, chính trị - xã hội độc lập, không thể so với sự đông đảo của giai cấp công nhân và giai
cấp nông dân. Trên thực tế, trí thức chỉ tồn tại và phát triển dựa vào giai cấp công nhân
hoặc nông dân, dựa trên lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, đó là môi trường để trí thức
có thể áp dụng các lý thuyết, phát minh, sáng chế, thiết kế của mình để kiểm nghiệm thực
tiễn, đánh giá tính đúng – sai, kiểm tra chân lý, qua đó mà trí thức mới có thu nhập, được
nuôi dưỡng, tồn tại và phát triển.
Hiện nay, với sự phát triển của xã hội, số lượng người lao động được đào tạo ở trình
độ, tay nghề cao ngày càng nhiều, do nhu cầu về việc làm, thu nhập mà những người có
trình độ cao đã không ngừng tham gia vào phương thức sản xuất công nghiệp, bổ sung
cho giai cấp công nhân, kể cả chuyên gia đầu ngành, làm cho giai cấp công nhân không
ngừng tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Kinh tế tri thức và kinh tế số là một
trình độ mới của lực lượng sản xuất hiện đại mà vai trò của tri thức ở một số lĩnh vực
sản xuất đã được khẳng định. Việc quan tâm phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số là xu
thế chung hiện nay, nhằm đổi mới cơ cấu kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất. Giai cấp
công nhân Việt Nam vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội Việt Nam thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hiện nay, giai cấp công nhân nước ta có khoảng 20,5 triệu người, có sự phát triển
nhanh về số lượng và chất lượng, đa dạng về cơ cấu, lĩnh vực, ngành nghề; trình độ tay
nghề, vai trò của giai cấp công nhân càng ngày được khẳng định. Giai cấp công nhân
nước ta hiện chiếm tỷ lệ khoảng 14% dân số, 27% lực lượng lao động xã hội, nhưng hằng
năm đã tạo ra trên 65% giá trị tổng sản phẩm xã hội và hơn 70% giá trị thu ngân sách
Nhà nước. Theo Tổng cục Thống kê:“ dịch Covid-19 lần thứ tư với biến chủng mới diễn
biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất công nghiệp...nên chỉ số sản xuất công
nghiệp tháng 7/2021 chỉ tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 2,2% so với cùng kỳ năm
trước, tính chung 7 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,9% so với 7 tháng năm 2020.
Điều đó chứng tỏ giai cấp công nhân nước ta không hề suy yếu, ngược lại giai cấp
công nhân Việt Nam đã phát huy mạnh mẽ vai trò của giai cấp lãnh đạo xã hội, trở thành
nền tảng chính trị đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh Nhà nước.
Câu 4: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tính quy luật của sự ra đời của
Đảng Cộng sản đã được áp dụng vào điều kiện cụ thể của nước ta như thế nào?
Hồ Chí Minh đã kế thừa, vận dụng, phát triển sáng tạo những nguyên lý đảng kiểu
mới của chủ nghĩa Mác-Lênin vào xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện ở những vấn đề cơ bản sau:
Về nguyên tắc tập trung dân chủ: Vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển quan
niệm, bản chất nguyên tắc tập trung dân chủ. "Mọi việc đều bàn bạc một cách dân chủ và
tập thể. Khi đã quyết định rồi, thì phân phối công tác phải rạch ròi, giao cho một hoặc
mấy đồng chí phụ trách làm đến nơi đến chốn". Mở rộng nội hàm nguyên tắc tập trung
dân chủ: Thiểu số phục tùng đa số; cá nhân phục tùng tổ chức; cấp dưới phục tùng cấp
trên; các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội toàn quốc và Ban Chấp hành Trung
ương; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách…
Về tự phê bình và phê bình: Trong bản Di chúc, Người căn dặn “Trong Đảng thực
hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách
tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”. Hồ Chí Minh đã
chỉ rõ: “Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu
mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa
chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.
Theo Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình là việc cần thực hiện thường xuyên, hàng
ngày của mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên “như rửa mặt hàng ngày”, việc tự phê
bình và phê bình là nêu ưu điểm, chỉ rõ khuyết điểm để giúp nhau phát huy ưu điểm, sửa
chữa khuyết điểm, để cùng nhau tiến bộ, tự phê bình và phê bình phải đúng lúc, đúng
cách, phải tôn trọng lẫn nhau…
Về đoàn kết thống nhất trong Đảng: Đây là nét sáng tạo đặc sắc trong tư tưởng của
Người, Người chỉ rõ: "Đảng ta là Đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác-Lênin…Đảng ta
là một Đảng lãnh đạo. Tất cả cán bộ, đảng viên dù ở cương vị khác nhau, làm công tác
khác nhau, cũng đều phải đoàn kết nhất trí". Trong Đảng phải có sự đoàn kết nhất trí,
làm hạt nhân đoàn kết toàn dân tộc và nhân rộng ra là đoàn kết quốc tế, vì vậy, Người
kêu gọi: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết". Đảng có đoàn kết thực sự thì mới tạo nên
sức mạnh, mới đủ năng lực lãnh đạo cách mạng đến thành công "Đoàn kết là sức mạnh,
là then chốt của thành công". Trước lúc từ biệt thế giới này, Người không quên căn dặn
chúng ta: "Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất
trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình"… Như vậy, Hồ Chí Minh không chỉ
nhận thức sâu sắc, vận dụng sáng tạo, mà còn phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác-
Lênin về đoàn kết thống nhất, đó là sự kết hợp, quyện chặt giữa chủ nghĩa Mác-Lênin
với truyền thống văn hóa đoàn kết của dân tộc Việt Nam và nhân loại.
Về cán bộ và công tác cán bộ: Đề cập đến vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của đội
ngũ cán bộ, Hồ Chí Minh khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc". "Muôn
việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém" . Và: "Cán bộ là những người
đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành.
Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng".
Theo Hồ Chí Minh, trong công tác cán bộ phải thực sự công tâm, khách quan, phải
khéo dùng cán bộ, rèn luyện, dạy dỗ cán bộ, vì công việc mà chọn người, phải biết
thương yêu cán bộ đúng cách; cần trách các căn bệnh thích dùng người thân, bạn bè, cục
bộ, không nên cất nhắc cán bộ như giã gạo, “một người làm quan cả họ được nhờ”…
Về tổ chức cơ sở đảng: Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề củng cố tổ chức, xây dựng
Đảng từ cơ sở, vì chính tổ chức cơ sở đảng, chi bộ là nơi lãnh đạo các hoạt động ở cơ sở,
là hạt nhân lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị và các mặt hoạt động ở cơ sở,
nơi giáo dục, quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, là môi trường để đảng viên
phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành và phát triển, nơi gắn bó máu thịt với nhân dân, là nền
tảng của Đảng, do vậy, Người chỉ rõ: "Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi
việc sẽ tốt". "Chi bộ là gốc rễ của Đảng…Chi bộ vững mạnh thì mọi chính sách của Đảng
và Chính phủ nhất định thi hành được tốt". "Mỗi chi bộ của Đảng phải là hạt nhân lãnh
đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy
được trí truệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng. Mỗi cấp bộ của Đảng phải là một cơ
quan lãnh đạo vững chắc ở địa phương, theo đúng đường lối, chính sách của Trung ương".
Về xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên: Hồ Chí Minh dành nhiều thời
gian, công sức, trí tuệ bàn về đạo đức cách mạng, dày công rèn luyện đạo đức cách mạng
cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, và, chính Người là tấm gương sáng thực hành đạo đức
cách mạng như “Lòng sông gương sáng bụi không mờ”. Theo Người, cán bộ, đảng viên
phải có cả đức lẫn tài, “vừa hồng”, “vừa chuyên”, giữa đức và tài thì đức là gốc, là nền
tảng: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải
có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức
thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân". Đạo đức cách mạng là: Trung
với nước, hiếu với dân; nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư.
Tóm lại, Hồ Chí Minh đã quán triệt nghiêm túc, vận dụng triệt để, kế thừa chọn lọc, sáng
tạo và phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về đảng cộng sản phù hợp
với hoàn cảnh của Việt Nam, đã sáng lập, rèn luyện, xây dựng thành công Đảng Cộng
sản Việt Nam-một đảng cách mạng, chân chính, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
cao, xứng đáng là lực lượng duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành, vận dụng sáng tạo
và luôn lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho mọi hành động của Đảng, nhờ vậy, đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành hết
thắng lợi này đến thắng lợi khác. Và, chắc chắn chúng ta sẽ thực hiện được mục tiêu:
“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.