



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61458992
CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN NHÂN HỌC ĐẠI CƯƠNG
1. Định nghĩa Nhân học? Đối tượng, nhiệm vụ của Nhân học.
- Nhân học là ngành khoa học nghiên cứu tổng hợp về bản chất của con người
trên các phương diện sinh học, xã hội, văn hóa của nhóm người , các cộng
đồng dân tộc khác nhau, cả về quá khứ của con người cho tới hiện nay.
- Đối tượng: con người tìm cách lí giải những nguyên nhân, tác động từ môi
trường, tất cả các yếu tố xung quanh để tạo nên 1 cơ thể sinh học. Điều đó
được thể hiện trên 4 phương diện : Sinh học (Nhân học hình thể), Văn hóa
của đời sống con người như ăn, mặc, ở, ma chay, … (Nhân học văn hóa), Quá
khứ của con người: thông qua hiện vật tái hiện cuộc sống quá khứ (Khảo cổ
học), Tư duy con người: ngôn ngữ ảnh hưởng tư duy của con người (Nhân
học ngôn ngữ), Nhân học ứng dụng
+ Con người với tư cách là thực thể sinh học-XH là khách thể, không phải là
đối tượng nghiên cứu riêng của từng ngành KH: con người tạo ra các khoa học
+ Con người xét tổng thể là khách thể, chưa là đối tượng nghiên cứu riêng
của từng ngành khoa học
+ Nhân học nghiên cứu: toàn diện con người, về con người tự nhiên và con người xã hội.
+ Đối tượng nghiên cứu của Nhân học không chỉ bó hẹp trong nghiên cứu
phương diện sinh học của con người mà cả văn hóa và xã hội của con người
+ Chức năng, nhiệm vụ : Thông qua việc tìm hiểu để ý giải hiện tượng liên
quan tới con người thông qua Khoa học, Nhân học hướng tới sử dụng những
tri thức đó để phục vụ cho mục đích sinh tồn của con người.
2. Trình bày các phương pháp nghiên cứu của nhân học, nội dung của
phương pháp quan sát tham dự, phương pháp phỏng vấn sâu, vấn đề đạo
đức trong nghiên cứu nhân học?
- Các phương pháp nghiên cứu của nhân học:
+ Phương pháp quan sát tham dự.
+ Phương pháp phỏng vấn.
Phương pháp quan sát tham dự :
- Là phương pháp mà theo đó nhà nghiên cứu thâm nhập và nhóm, cộng đồng
thuộc vào đối tượng nghiên cứu và được tiếp nhận như là một thành viên của
nhóm hay cộng đồng. Khái niệm tham sự ở đây đượ hiểu theo nhiều mức độ
khác nhau: từ quan sát tham dự một phần vào các hoạt động đến sự hòa nhập
hoàn toàn của người quan sát: họ là người quan sat đồng thời cũng là người lOMoAR cPSD| 61458992
tham gia vào các hoạt động của cộng đồng. Quan sát tham dự thường là quan
sát với nhiều đối tượng khác nhau được lặp đi lặp lại trong quá trình chung
sống cộng đồng trong một thời gian dài đến hàng tháng, hàng năm để chắc
chắn rằng những thông tin thu thập được là tiêu biểu của các ý tưởng được
bày tỏ của cộng đồng diện rộng. - Ưu điểm:
+ do sự tham gia của người nghiên cứu về các hoạt động của người được quan
sát và khắc phục được những hạn chế do trình độ tri giác thụ động gây ra.
+ Sự tham dự cho phép người quan sát đi sâu và cảm nhận được, hiểu biết
toàn bộ tình cảm và những hành động của đối tượng được quan sát. Từ đó
giúp cho việc thâm nhập vào thế giới nội tâm cảu người được quan sát, để
hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn về những nguyên nhân, động cơ của những hành động được quan sát.
+ cung cấp cho chúng ta những thông tin mà khi sử dụng các phương pháp khác khó mà có được.
+ khi người quan sát trở thành thành viên của cộng đồng sữ dễ dàng nhận thấy
được những gì là thuộc tính vốn có trong bối cảnh văn hóa của mỗi người
trong nhóm hoặc cộng đồng. - Hạn chế:
+ phải có thời gian, kĩ năng quan sát nghề nghiệp tốt, phải am hiểu và có kiến
thức về ngôn ngữ địa phương, thích nghi với môi trường mới.
+ kết quả nghiên cứu phụ thuộc vào cả tính cách, độ tuổi, sự thân thiện, các
khía cạnh đạo đức tâm lý của nhà nghiên cứu khi chung sống với cộng đồng.
+ tham gia vào cộng đồng quá lâu khiến cho người quan sát ít quan tâm đến
những sự khác biệt và đa dạng văn hóa của cộng đồng, làm cho người quan
sát không giữ được cái nhìn khách quan và ảnh hưởng đến kết quả quan sát được.
Phương pháp phỏng vấn: - Khái niệm :
Phỏng vấn là phương pháp trong đó người được phỏng vấn sẽ trả lời một số câu
hỏi người phỏng vấn đặt ra nhằm mục đích thu thập thông tin phù hợp với mục
tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. Là công việc trò chuyện giữa nhà nghiên cứu
với người dân , vì vậy nhà nhân học có kiến thức ngôn ngữ địa phương sẽ gặp
nhiều điều kiện thuận lợi hơn khi tiếp xúc với cộng đồng.
Phỏng vấn sâu là những cuộc phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia hoặc đi sâu tìm
hiểu vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, hay tìm hiểu về cuộc sống, kinh nghiệm
và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ của người ấy. lOMoAR cPSD| 61458992
Mục đích của phỏng vấn con người là để tìm thấy những gì đang diễn ra trong
suy nghĩ và tình cảm của họ về một điều gì đó.
Có 3 loại phỏng vấn và trong thực tế, cả ba loại này thường đan xen với nhau:
phỏng vấn ko có cấu trúc, phỏng vấn bán cấu trúc, phỏng vấn có cấu trúc .
Có 6 loại hình câu hỏi phỏng vấn là : Câu hỏi về các thông tin cá nhân ; Câu
hỏi về kiến thức; Câu hỏi về kinh nghiệm/hành vi; Câu hỏi về quan điểm, giá trị;
Câu hỏi về cảm xúc; Câu hỏi về cảm giác. -
Ưu và nhược điểm của phương pháp phỏng vấn : Ưu điểm:
o Thu thập thông tin 1 cách trực tiếp có thể loại bỏ sai số trung gian o Giảm
tỉ suất rơi rụng thông tin xuống mức thấp nhất do gợi ý của người phỏng vấn
o Quá trình phỏng vấn có thể thu thập nhiều thông tin khác nhau (cả thông
tin bề nổi và thông tin chiều sâu)
o Chức năng của câu hỏi kiểm tra phát huy tốt nhất và có thể biết thông tin
nhờ phương pháp quan sát Nhược điểm:
o Để tiến hành phỏng vấn, những cán bộ điều tra phải được đào tạo và làm
chủ đc những kĩ thuật của phỏng vấn do đó chi phí đào tạo khá tốn kém
o Tronng một thời gian nhất định, nhà nghiên cứu chỉ có thể phỏng vấn một
lượng hạn chế nhất định của những người được điều tra
o Thái độ phỏng vấn ko khéo léo dẫn đến những mâu thuẫn , ko đồng tình
với người phỏng vấn từ đó họ sẽ trả lời không chính xác
o Thái độ của người phỏng vấn sẽ dẫn đến ảnh hưởng cuộc điều tra o Xử lí
thông tin phức tạp và tốn kém
• Vấn đề đạo đức được đặt ra :
- Quy tắc xử sự về đạo đức nghiên cứu là văn bản ghi nhân nḥ ững quy ước
đã trở thành chuẩn mực cho tính chính trực và bảo đảm sự khả tín cho hoạt
đông nghiên c ̣ ứu khoa học. Nó bắt đầu bằng viêc đ ̣ ịnh nghĩa những khái
niêm cơ ḅ ản để tránh viêc vậ n ḍ ụng hay suy diễn tùy tiên.̣
- Môt công tṛ ình nghiên cứu được thực hiên “mộ t c ̣ ách có trách nhiêm”, ḷ
à môt công tṛ ình thể hiên ṣ ự trung thực và tính chính trực trong khi tiến
hành hoạt đông nghiên c ̣ ứu;thể hiên ṣ ự tôn trọng mọi đối tượng tham gia
vào viêc ̣ nghiên cứu, bao gồm con người, con vât, ṿ à môi trường; thể hiên
ṣ ự trân trọng và ghi nhân vai tṛ ò, công sức đóng góp của các công ṣ ự,
đồng tác giả, những người đi trước; thực hiên truỵ ền thông về kết quả lOMoAR cPSD| 61458992
nghiên cứu môṭ cách có trách nhiêm, ṿ à sử dụng nguồn ngân sách công
dành cho viêc nghiêṇ cứu môt c ̣ ách xứng đáng.
- Để có những công trình nghiên cứu được xem là “thực hiên mộ t c ̣ ách có
trách nhiêm” như trên, vai tṛ ò thúc đẩy, tạo điều kiên, kḥ ích lê ṿ à giám
sát của các tổ chức nghiên cứu khoa học (NCKH) là rất quan trọng, bao gồm: + Thúc đẩy nhân tḥ
ức về các văn bản hướng dẫn và quy định hiên ḥ
ành liên quan đến đạo đức nghiên cứu
+ Soạn thảo các tài liêu hự ớng dẫn đơn giản và rõ ràng, tạo ra chính sách
khích lê ṿ à ngăn ngừa sự vi phạm.
+ Mỗi tổ chức NCKH cần có môt quy tṛ ình phù hợp với đăc đị ểm của
mình để quản lý hoạt đông nghiên c ̣ ứu, bao gồm quy trình đánh giá chất lượng,
sự an toàn, mức đô ṛ ủi ro, mức đô ḅ ảo vê quỵ ền riêng tư, những vấn đề tài
chính và đạo đức, sao cho mỗi vai tham gia vào hoạt đông NCKH đ ̣ ều hiểu
rõ trách nhiêm c ̣ ủa mình là gì và nghĩa vụ giải trình trách nhiêm ̣ ấy sẽ được
thực hiên như tḥ ế nào.
- Những quy tắc thực hiện trong nghiên cứu:
+ Tuân thủ các quy định yêu cầu sự chấp thuận và được thông tin đầy đủ
của đối tượng tham gia nghiên cứu + Tôn trọng sự bảo mật và riêng tư
+ Quản lý dữ liêu nghiên c ̣ứu Kết luận
Lợi ích của hoạt động NCKH là điều không ai có thể nghi ngờ, nhưng những
lợi ích ấy chỉ có thể đạt được trong một môi trường nghiên cứu lành mạnh,
một môi trường bảo đảm cho quá trình tìm kiếm tri thức được thực hiện với
mức độ khả tín cao nhất và phản ánh những giá trị nền tảng của xã hội mà mọi
tổ chức, cá nhân đều có trách nhiệm gìn giữ. Trong bối cảnh các nước đang
phát triển như Việt Nam, nhu cầu tăng trưởng nhanh trong NCKH phải gắn
với việc xây dựng nền tảng văn hóa học thuật vững mạnh; không có cái nền
đó thì những thành tựu đạt được chỉ là những lâu đài xây trên cát.
3. Trình bày các lĩnh vực nghiên cứu của nhân học : nhân học văn hóa, nhân
học tôn giáo, nhân học ứng dụng, vai trò của nhân học trong việc giải quyết
những vấn đề của đời sống đương đại. ( Khi trình bày cần nêu khái niệm, các
lĩnh vực nghiên cứu của nhân học, nhân học ứng dụng : Nhân học đô thị, nhân
học y tế, nhân học du lịch, nhân học giáo dục, cần phân tích, cho ví dụ, đánh giá… lOMoAR cPSD| 61458992 Nhân học văn hóa
- Khái niệm: Nhân học văn hóa là phương pháp nghiên cứu văn hóa chủ yếu dựa
vào sự phân bố chủng người và thổ ngữ. Bằng cách gắn các phẩm chất văn hóa
với chủ thể – người (vừa là vật mang, vừa là chủ thể, vừa là kết quả của văn hóa),
phương pháp này đã khắc phục việc lệ thuộc vào hoàn cảnh địa lý, khi tiến hành
lý giải các hiện tượng văn hóa
- Các lĩnh vực nghiên cứu: Các nhà nhân học văn hóa sử dụng các lý thuyết và
phương pháp nhân học để nghiên cứu văn hóa. Họ nghiên cứu nhiều chủ đề khác
nhau, bao gồm danh tính, tôn giáo, quan hệ họ hàng, nghệ thuật, chủng tộc, giới
tính, giai cấp, nhập cư, cộng đồng, tình dục, toàn cầu hóa, các phong trào xã hội
và nhiều chủ đề khác. Tuy nhiên, bất kể chủ đề nghiên cứu cụ thể của họ là gì,
các nhà nhân học văn hóa tập trung vào các khuôn mẫu và hệ thống tín ngưỡng,
tổ chức xã hội và thực hành văn hóa.
- Một số câu hỏi nghiên cứu được các nhà nhân học văn hóa xem xét bao gồm: +
Cách hiểu về giới tính, chủng tộc, tình dục và khuyết tật khác nhau giữa các nhóm văn hóa như thế nào?
+ Những hiện tượng văn hóa nào xuất hiện khi các nhóm khác nhau tiếp xúc,
chẳng hạn như thông qua di cư và toàn cầu hóa?
+ Các hệ thống quan hệ họ hàng và gia đình khác nhau như thế nào giữa các nền văn hóa khác nhau?
+ Làm thế nào để các nhóm khác nhau phân biệt giữa các thực hành cấm kỵ và
các chuẩn mực chính thống?
+ Các nền văn hóa khác nhau sử dụng nghi lễ như thế nào để đánh dấu quá trình
chuyển đổi và các giai đoạn cuộc sống? Nhân học tôn giáo
- Khái niệm : Là ngành nhân học nghiên cứu tôn giáo dưới chiều kích của thời
gian và cả không gian, đặc biệt nghiên cứu tôn giáo, phân tích sắc thái tôn giáo
đặc trưng của từng tộc người, từng dân tộc, từng cộng đồng cư dân chứ không phải tôn giáo nói chung.
- Các lĩnh vực nghiên cứu : Nghiên cứu vấn đề tôn giáo, một bộ phận đặc thù của
văn hóa tinh thần- cần được đặt trong mối tương quan với các vấn đề văn hóa nói
chung-là đối tượng của nhân học tôn giáo, đồng thời cũng cần thấy được tính
riêng biệt của nó trong từng khu vực, từng dân tộc, từng tộc người. Nói cách khác,
nhân học tôn giáo nghiên cứu bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội, nơi mà thời điểm
tôn giáo xuất hiện trong những cộng đồng tộc người cụ thể, nghiên cứu vì sao
cộng đồng cư dân này chấp nhận tôn giáo ấy trong khi các cộng đồng cư dân khác
không chấp nhận... Điều quan trọng là quan điểm của các nhà khoa học, các nhà
nhân học nói chung đã xếp tôn giáo trong nội dung văn hóa, bởi vì theo họ, tôn lOMoAR cPSD| 61458992
giáo là sản phẩm của xã hội, mang tính xã hội và văn hóa, gắn liền văn hóa với
lối sống, là tôn giáo của từng dân tộc, từng khu vực.
Nhân học ứng dụng - Khái niệm:
+ Nhân học ứng dụng là một chuyên ngành của nhân học mới được phát triển
trong những năm gần đây. Các nhà nhân học sử dụng thông tin và và kiến thức
của các ngành nhân học khác để giải quyết những vấn đề thực tế, thường là phục
vụ cho các cơ quan ngoài học thuật. Nhân học ứng dụng bao gồm cả nghiên cứu ứng dụng và can thiệp.
+ Vai trò của nhà nhân học được thể hiện là người biện hộ cho những nhóm xã
hội và các dân tộc bị thiệt thòi; là người xúc tiến, thúc đẩy các chính sách liên
quan đến con người; là người cung cấp thông tin cho những nhà hoạch định chính
sách về con người; là người phân tích tư liệu về con người và là người trung gian
giữa chính sách và người nhận chính sách.
Ví dụ: Nhà nghiên cứu nhân học thể chất sử dụng kết quả nghiên cứu của mình
về y học để phục vụ sức khỏe cộng đồng...Nhà nhân học ngôn ngữ có thể sử dụng
kết quả nghiên cứu vào trong các chương trình đào tạo giáo dục; nhà nhân học
văn hóa nghiên cứu tri thức địa phương trong canh tác nông nghiệp, trong bảo vệ
môi trường, luật tục và các thiết chế xã hội truyền thống để phục vụ cho công
cuộc phát triển nông thôn vừa duy trì văn hóa truyền thống đồng thời cũng kế
thừa những tri thức này cho việc phát triển cộng đồng. Các lĩnh vực mang tính
ứng dụng rộng rãi là: nhân học đô thị, nhân học y tế, nhân học du lịch.
- Các lĩnh vực nghiên cứu: Sơ đồ trình bày mối quan hệ giữa các lĩnh vực nghiên
cứu của ngành nhân học cả về quá khứ và hiện tại Quá khứ xa xưa
Quá khứ gần và hiện tại Hình thể Cổ nhân học Sự đa dạng của con người
Văn hóa Nhân học ngôn Ngôn ngữ lịch sử Ngôn ngữ cấu trúc hay ngữ miêu tả Khảo cổ học Lịch sử văn hóa Nhân học VH- Sư đa dạng văn hóa XH ( Dân tộc học)
4. Khái niệm cú sốc văn hóa là gì? Mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể, (
nêu khái niệm khách thể, chủ thể, quy trình diền dã dân tộc học, cho vị dụ, cú sốc
văn hóa ( khái niệm , biểu hiện, đánh giá….cho ví dụ,…) Cú sốc văn hóa: lOMoAR cPSD| 61458992
- Điền dã dân tộc học là quá trình nghiên cứu của nhà n hân học về đối tượng tìm
hiểu của mình về một chủ đề nhất định, cũng là dịp mà người nghiên cứu học hỏi
về những điều mình chưa biết được về một nền văn hóa khác. Điền dã dân tộc
học cũng là cuộc hành trình gặp gỡ giữa các truyền thống văn hóa, văn hóa của
người nghiên cứu và văn hóa của cộng đồng được nghiên cứu. Sự khác biệt về
ngôn ngữ và phong tục tập quán dễ dẫn đến những cú sốc văn hóa mà đôi khi nhà
nhân học chauw thể tiên liệu được. Các nhà nhân học dùng từ cứ sốc văn hóa để
chỉ cảm giác bất ngờ, khó chịu thường xảy ra khi ta tiếp xúc với nền văn hóa xa
lạ. Cú sốc văn hóa là một cảm giác khó chịu vì nó đăht thành nghi vấn những hiểu
biết đã có của chúng ta về cách vận hành của thế giới , nhưng nó tạo ra một khung
cảnh mới cho sự học hỏi và khám phá. Nghiên cứu điền dã đã đưa con người từ
nhiều truyền thống văn hóa khác nhau lại với nhau một cách có chủ ý. Từ những
cuộc va chạm này, nghiên cứu điền dã mang lại phần lớn những kiến thức mà các
nhà nhân học có được về những xã hội khác nhau và các nền văn hóa khác.
- Ví dụ: Có thể lấy ví dụ trong nghiên cứu điền dã ở Tây Nguyên. Cư dân bản địa
TN có phong tục uống rượu cần như một sinh hoạt văn hóa cộng đồng, theo truyền
thống, đồng bào các dân tộc ở TN rất kính trọng người già và khách quý. Vì vậy
khi uống rượu cần người ta thường mời già làng và khách uống trước để tỏ lòng
kính trọng. Nếu họ mowifchunsg ta – một nhà nhân học đang nghiên cứu tham
dự tại cộng đồng mà chúng ta lại từ chối với sự khiêm tốn và nhường nhịn theo
ứng xử văn hóa của người Việt thì sẽ làm mất lòng họ, khi chúng ta khước từ lòng
tốt của họ. Và như thế trường hợp này sẽ gây tổn thương sự giao hảo giữa chủ và khách.
Khách thể và chủ thể: - Khái niệm:
+ chủ thể: là quan điểm của người bên trong (người bản địa) đưa ra thế giới quan
và quan niệm của họ về những đặc trưng riêng về thế giới của họ. + khách thể: là
quan điểm của người bên ngoài (người nghiên cứu) khi quan sát cung cách ứng
xử của cá thể hoặc nhóm người trong cuộc phát biểu.
- Mối quan hệ: là mối quan hệ giữa người bên trong (người cung cấp thông tin –
thành viên cộng đồng) và người bên ngoài (nhà nghiên cứu).
- Quy trình điền dã dân tộc học: trong thực tế nghiên cứu điền dã dân tộc học
thường diễn ra tình trạng, nhà nhân học quan sát văn hóa đối tượng từ quan điểm
etic (con mắt của người ngoài cuộc) tiếp đến trải nghiệm văn hóa từ đối tượng
bằng quan điểm emic (con mắt của người trong cuộc) sau đó trở lại quan điểm etic để ghi chép.
- Ví dụ: trường hợp Barbara Ward một nhà nhân học làm việc trong làng chài Trung
Hoa ở Hồng Công, bà thấy rằng, cần phải xây dựng một laoij hình của cái gọi là lOMoAR cPSD| 61458992
“mẫu hình hữu thức” để hiểu những người mà bà nghiên cứu. Thường thường khi
bà hỏi người dân trong làng tại sao họ lại theo phong tục riêng, thì họ trả lời “bởi
vì chúng tôi là người Trung Hoa”. Bà ấy nói đây là mẫu hình hệ thống xã hội hữu
thức của họ àm họ đã mang trong tâm trí nhằm giải thích và minh định cung cách
ứng xử của họ như thể là người Trung Hoa. Nhưng khi khảo sát ngườ dân ở nhiều
nơi trên TQ thì lại có rất nhiều ý kiến khác nhau về người Trung Hoa. Mỗi nhóm
có nhwunxg mình hình hữu thúc trực tiếp khác nhau không giống với mẫu hình
có phần lí tưởng hóa do giới trí thức truyền thống đề xướng. Theo War, người duy
nhất có thể quan sátđược những sự khác biệt giữa các mẫu hình thức trực tiếp là
những ngươi bên ngoài (hoặc những nhà khoa học xã hội) và một mẫu hình Trung
Hoa chỉ có thể cây dựng từ một quan điểm khách thể.
5. Thế nào là phương pháp quan sát tham dự ?
- Khái niệm : Là dạng quan sát mà ở đó người đi quan sát trực tiếp tham gia vào các
hoạt động của những người được quan sát. - Ưu điểm
+ Cho kết quả cao hơn so với quan sát không tham dự do sự tham gia của
điều tra viên vào hoạt động của người được quan sát nên đã khắc phục
được những hạn chế do quá trình tri giác thụ động gây ra và đưa tính hiệu
quả, độ sâu sắc và sức mạnh của quan sát đến đặc tính logic của nó. + Sự
tham dự đó cho phép người quan sát đi sâu vào thế giới nội tâm của
người được quan sát, để hiểu sâu hơn đầy đủ hơn những nguyên nhân,
động cơ của những hành động được quan sát.
+ Quan sát tham dự còn cung cấp cho ta những thông tin, mà khi sử dụng
những phương pháp khác khó có thể thu nhận được. Đó là những thông
tin liên quan đến hoạt động của nhóm. - Nhược điểm
+ Không phải lúc nào nhà nghiên cứu cũng có khả năng tham dự vào hoạt
động được quan sát. Để tham dự được vào các hoạt động của người được
quan sát, điều tra viên phải nắm bắt được ở một mức độ nào đó những
nghề nghiệp phù hợp hay am hiểu những hành động của người được quan sát.
+ Sự tham gia yêu cầu một thời gian dài quan sát hơn để điều tra viên
thích ứng hơn với môi trường mới. Kinh nghiệm chỉ ra rằng, thời gian để
thích ứng làm quen với môi trường mới của điều tra viên cũng kéo dài
hàng tuần, hàng tháng, tất nhiên điều này còn phụ thuộc vào tính cách của
người đi quan sát cùng với đặc trưng về giới tính tuổi tác của anh ta.
Ngoài ra cũng còn phụ thuộc vào bầu không khí tâm lý, đạo đức. + Đôi
khi sự tham dự quá tích cực, lâu dài của người quan sát vào đời sống của lOMoAR cPSD| 61458992
nhóm người được quan sát sẽ dẫn đến kết quả là người quan sát quen với
thái độ, hành động của các thành viên trong nhóm đến mức coi tất cả
những cái đó như là hiển nhiên và không để ý đến chúng nữa. + Sự tham
dự quá tích cực, lâu dài trong hoạt động, tiếp xúc hàng ngày, người đi
quan sát không giữ được thái độ trung lập, bày tỏ công khai thái độ của
mình, sự ưa thích của mình hoặc đứng về phía ai đó hay phê phán một ý
kiến, hành vi nào đóđều là sự nguy hại đến kết quả quan sát.
6. Trình bày và phân tích mối quan hệ giữa nhân học với các ngành khoa học xã hội.
a. Nhân học và triết học: Suy luận -
Triết học là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. -
Mối quan hệ giữa 1 ngành cụ thể với thế giới quan khoa học -
Vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng làm
cơ sở lý luận để nghiên cứu con người -
Nhân học thường sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể
để giải đáp những vấn đề thực tiễn sinh động đến con người . b. Nhân học và sử học: Hệ thống -
Nhân học có mối quan hệ chặt chẽ với sử học bởi nhân học nghiên cứu
con người về các phương diện sinh học, văn hóa, xã hội thường tiếp cận
từ góc độ lịch sử (theo lịch đại) -
Những vấn đề nghiên cứu của nhân học ko thể tách rời bối cảnh lịch sử cụ
thể cả về không gian và thời gian lịch sử. Thiếu tri thức lịch sử, nhà nhân
học ko thể tiến hành nghiên cứu có hiệu quả. Ngược lại, các nhà sử học sử
dụng tài liệu của nhân học để soi sáng những vấn đề lịch sử và văn hóa. -
Mối quan hệ nhân học và sử học là ở chỗ nhân học thường sử dụng phương
pháp nghiên cứu của sử học. VD: phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại. -
Sự khác nhau giữa nhân học và sử học là ở chỗ nhân học sử dụng tư liệu
từ nghiên cứu tham dự sâu tại cộng đồng còn sử học chủ yếu sử dụng tư
liệu viết bằng văn bản để tái tạo lại những sự kiện lịch sử đã diễn ra trong
quá khứ. c. Nhân học và xã hội học: Điều tra xã hội -
Các nhà nhân học thường vận dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp
để thu thập miêu tả, so sánh phân tích bối cảnh, tình huống và đặc điểm
chung của xã hội với tư cách là một chỉnh thể trọn vẹn. -
Các nhà xã hội học nghiên cứu các sự kiện, bằng chứng xảy ra trong bối
cảnh xã hội đã cho, tức là trong chỉnh thể xã hội hiện có. lOMoAR cPSD| 61458992 -
Về phương pháp nghiên cứu, các nhà nhân học hướng tới việc sử dụng
phương pháp nghiên cứu tham dự sâu tại cộng đồng, sưu tập những dữ liệu
định tính và tiến hành so sánh đối chiếu xuyên văn hóa -
Để tiếp cận vấn đề nghiên cứu, nhân học đã sử dụng phương pháp nghiên
cứu định lượng của xã hội học và phương pháp khác . Ngược lại các nhà
xã hội học sử dụng khá quen thuộc những phương pháp nghiên cứu của
nhân học như phương pháp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu.
d. Nhân học với địa lý học: Liên hệ môi trường -
Nhân học và địa lý học có mối quan hệ gắn bó với nhau hình thành lĩnh
vực nghiên cứu nhân học sinh thái( bao gồm sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân
văn )nhằm giải quyết mối quan hệ tương tác giữa con người với môi trường xã hội và nhân văn. -
Nhân học sinh thái liên quan với địa lý kinh tế trong việc phân vùng lãnh
thổ mà các tộc người sinh sống, địa- văn hóa để có cái nhìn tổng thể trong mối
quan hệ đa chiều : tự nhiên- con người - kinh tế- văn hóa và hành vi ứng xử.
e. Nhân học và kinh tế học : Cơ sở tồn tại hình thành nên nhân học kinh tế -
Nhân học kinh tế vận dụng một số quan niệm, phạm trù lý thuyết của kinh
tế học và công tác nghiên cứu của mình; ví dụ lý thuyết về vốn con người , vốn
xã hội, vốn tự nhiên, thị trường v.v… -
Nhân học không đi nghiên cứu các quy luật của kinh tế học mà tập trung
tiếp cận trên bình diện văn hóa- xã hội của quá trình hoạt động kinh tế như cách
thức chế tạo công cụ, hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng
mang yếu tố văn hóa tộc người, địa phương, nghề nghiệp phản ánh truyền thống văn hóa tộc người.
f. Nhân học và tâm lý học : Phức hợp xuất hiện lĩnh vực nghiên cứu nhân học
tâm lý hay tâm lý tộc người -
Trong tâm lý học, sự quan tâm chủ yếu dành cho việc phân tích những nét
tâm lý của cá nhân trong những kinh nghiệm nghiên cứu xuyên văn hóa; còn
nhân học tập trung nghiên cứu tính cách dân tộc, ý nghĩa của tính tộc người với
tư cách là tâm lý học cộng đồng tộc người lại có ý nghĩa to lớn. -
Mối quan hệ giữa nhân học và tâm lý thể hiện xu hướng tâm lý trong
nghiên cứu văn hóa và các lý thuyết văn hóa theo xu hướng nhân học tâm lý
trong những thập niên gần đây.
g. Nhân học và luật học : Luật, tục, định chế hình thành lĩnh vực nghiên cứu nhân học luật pháp -
Khác với luật học nghiên cứu các chuẩn mực và quy tắc hành động do cơ
quan thẩm quyền chính thức của nhà nước đề ra, nhân học luật pháp nghiên cứu lOMoAR cPSD| 61458992
những nhân tố văn hóa- xã hội tác động đến luật pháp trong các nền văn hóa và
các tộc người khác nhau. -
Nhân học luật pháp nghiên cứu đến luật tục là hiện tượng phổ quát của
nhân loại trong thời kì phát triển tiền công nghệ -
Mối quan hệ giữa luật tục và luật pháp để từ đó vận dụng luật tục và luật
pháp trong quản lý xã hội và phát triển cộng đồng
h. Nhân học và tôn giáo học : Văn hóa tâm linh hình thành lĩnh vực nhân học tôn giáo -
Tôn giáo đc coi như là một thành tố văn hóa tộc người, dĩ nhiên nhân học
ko thể ko nghiên cứu tôn giáo -
Cộng đồng tộc người và cộng đồng tôn giáo là 2 dạng thức khác nhau của
cộng đồng người và có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau trong quá trình phát triển
7. Chủng tộc là gì? Nêu đặc điểm của 4 chủng tộc : Úc, Phi, Âu, Á. Nguyên
nhân hình thành chủng tộc, thuyết phân biệt chủng tộc.
• Chủng tộc là quần thể (hoặc tập hợp các quần thể) đặc trưng bởi những đặc
điểm di truyền về hình thái, sinh lý mà nguồn gốc và quá trình hình thành của
chúng liên quan đến một vùng địa vực nhất định. -
Nhận thức chủng tộc trên cơ sở quần thể (chứ ko phải cá thể ) là một bước
tiến quan trọng trong lý thuyết nhân chủng và sinh học. -
Các chủng tộc rất phong phú, các dạng trung gian do hỗn chủng sinh ra
ngày càng nhiều -> làm thay đổi và xóa nhòa ranh giới giữa các chủng tộc.
• Đặc điểm nhân chủng các đại chủng: Căn cứ vào hình thái bên ngoài của cơ thể
(màu da, mái tóc, mắt, mũi...), các nhà khoa học đã chia dân cư thành ba chủng
tộc chính: Môn-gô-lô-it (thường gọi là người da vàng), Nê-grô-it (người da đen)
và Ơ-rô-pê-ô-it (người da trắng). -
Chủng tộc Môn-gô-lô-it:
+ Số lượng chiếm khoảng 40% dân cư thế giới.
+ Tập trung chủ yếu ở châu Á và châu Mĩ. + Đặc điểm chung : Da vàng, nâu nhạt.
Tóc màu đen, cứng và thẳng, lông và râu ít phát triển.
Mắt màu đen và nâu không to, có khi nhỏ và xếch, thường mắt một mí, mắt có góc mi.
Mặt to bè, xương gò má phát triển.
Mũi trung bình, sống mũi ít dô.
Răng hình bàn xẻng và hơi vẩu.
Môi trung bình và mỏng. lOMoAR cPSD| 61458992
Hình dạng đầu trung bình.
Chiều cao ở mức trung bình, chân ngắn. -
Chủng tộc Nêgrô- Ôxtralôit:
+ Số lượng chiếm khoảng 12 % dân cư thế giới. + Đặc điểm chung :
Màu da, tóc và mắt đều sẫm (đen hoặc nâu đen).
Tóc xoăn hoặc dạng sóng, lông và râu thường rất ít.
Mũi tẹt, cánh mũi rộng, lỗ mũi rộng và nằm gần ngang.
Miệng rộng, môi dày, xương hàm trên rất dô.
Vóc người cao và chân dài nhưng có tiểu chủng thấp nhất trên thế giới (Picme), đầu dài. -
Chủng tộc Ơ-rô-pê-ô-it:
+ Số lượng chiếm khoảng 48 % dân cư thế giới. + Đặc điểm chung: Da trắng.
Tóc xoăn dạng sóng, mềm; lông và râu thường rất phát triển. Mũi cao và hẹp. Môi mỏng, cằm dô.
Mắt xanh xám hoặc nâu nhạt.
Vóc người cao và chân dài •
Nguyên nhân hình thành chủng tộc:
- Sự thích nghi với điều kiện môi trường địa lí, hoàn cảnh tự nhiên
+ Tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong qua trình hình thành đặc điểm chủng
tộc. Nhiều đặc điểm chủng tộc là kết quả sự chọn lọc tự nhiên và sự thích nghi
với môi trường, vì lúc bấy giờ sức sản xuất thấp và những thiết kế của con người
chưa được hoàn chỉnh, chưa đủ sức chống chọi lại những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên.
+ Màu da là một ví dụ rõ ràng vè sự thích ứng tự nhiên. Màu da người đâm nhạt
là do lượng sắc tố mêlanin trong da quyết định. Săc tố meelanin có khả năng hấp
thụ tia tử ngoại mặt trời,do đó có tác dụng bảo vệ các kết cấu quan trọng của da.
Người da đen sống ở vùng xích đạo Châu Phi và Tây Thái Binh Dương quanh
năm ánh sáng chói chang tất nhiên phải có nhiều mêlanin trong da và da phải đen.
Tóc người da đen thường xoăn, là một hình thức thích ứng để chấp nhận với môi trường đó.
+ Người Mongôlôit (Mông Cổ) khe mắt nhỏ thường là mắt một mí hay mí góc
che hạch nước mắt. Những đặc điểm đó có liên quan với điều kiện sống trong
vùng nhiều gió cát ở Trung Á và Xibia. Cũng cần nói thêm rằng, hoàn cảnh tự
nhiên chỉ có tác dụng đối với quá trình hình thành chủng tộc, khi kinh tế, văn hóa, lOMoAR cPSD| 61458992
khoa học, kỹ thuật phát triển thì sự thích ứngtự nhiên không còn là nguyên nhân
xuất hiện chủng tộc nữa.
- Sự trao đổi hôn nhân, sự lai giống giữa các nhóm người
+ Là nguyên nhân quan trọng và là yếu tố để hình thành, hợp nhất các chủng
tộc. Thời kỳ đầu, những đặc điểm chủng tộc được hình thành do sự thích nghi với
môi trường địa lý, nhưng về sau khi các điều kiện kinh tes xã hội phát triển thì
các yếu tố có tính chất xã hội ngày càng được tăng cường, sự lai giống ngày một
đẩy mạnh, đóng vai trò quan trọng để hìnhthành các loại hình nhân chủng mới.
- Sự sống biệt lập với nhóm người
+ Do dân số ít, mỗi quần thể ban đầu chỉ vài trăm người ở môi trường khác nhau
đã tạo nên sự khác biệt về một số đặc điểm cấu tạo bên ngoài cơ thể. Theo các
nhà dân tộc học, do sựu sống biệt lập, họ tiến hành nội hôn trong nhóm, điều đó
đóng vai trò to lớn trong việc hình thành chủng tộc. Di truyền học cho biết nếu
lấy nhau trong nội bộ thì khoảng 50 thế hệ, mỗi thế hệ khoảng 25 năm thì 1250
năm mới có thể làm biến đổi một số đặc điểm của chủng tộc ban đầu.
• Thuyết phân biệt chủng tộc
- Thuyết phân biệt chủng tộc đã phân chia loài người thành những chủng tộc thượng
đẳng có khả năng phát triển trí tuệ về mọi mặt, là người xây dựng nền văn minh
nhân loại, đối lập với những chủng tộc hạ đẳng bị xem là người hèn kém dốt nát,
cần phải có sự khai hóa của chủng tộc thượng đẳng, khi cần thiết để bảo vệ họ,
để bảo vệ nền văn minh có thể hi sinh chủng tộc hạ đẳng. Những người theo
thuyết phân biệt chủng tộc lợi dụng những đặc điểm khác nhau của đặc trưng
nhân học giữa các chủng tộc, phóng đại nó lên để biến thành những khác biệt có
ý nghĩa bản chất và bất biến.
- Thuyết phân biệt chủng tộc đầu tiên với lập luận sai lầm của nhưng mang dángvẻ
khoa học do giáo sư y học người Đức J.F. Blumenbach đưa ra. Quan điểm này
một lần nữa được tán đồng bỏi nhà nhân chủng học Pháp G. Buffon, đưa thêm
vào các chuẩn sinh học và các đặc điểm cơ thể lẫn đặc điểm tâm lý.
- Thế kỷ 19, những đặc điểm chủng tộc được coi là cội nguồn của số phận
conngười. Những năm 70 cảu thế kỷ 20, không ít người đã tin rằng, tội phạm là
một hiện tượng sinh học. Thuyết phân biệt chủng tộc đã gây không biết bao tai
hại ở các nước tư bản phương Tây, gieo rắc không biết bao tai họa cho loài người.
- Những tai hại và đau thương của thuyết phân biệt chủng tộc phải kể đến những
nạn nhân của nước Mỹ ngay sau khi mới thành lập những nhà tư bản Mỹ, Đức
Quốc Xã dưới quyền thống trị của Hitler, chủ nghĩa Apacthai,..
8. Trình bày khái niệm tộc người, dân tộc, dân tộc thiểu số •
KHÁI NIỆM TỘC NGƯỜI (ETHNICITY lOMoAR cPSD| 61458992
- Theo Từ điển nhân học( Thomas Barfield 1998): Nhóm tộc người, tộc ngườilà
những thuậtngữ được dùng lần đầu tiên trong nhân học dùng để chỉ một dân tộc
được xem là thuộc veef cùng một xã hội, chia sẻ cùng một nền văn hóa và đặc
biệt, cùng một ngôn ngữ - một nền vănhóa và ngôn ngữ được truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác không thay đổi. Thuật ngữ này bắ đầu được sử dụng từ sau Chiến
tranh thế giới II nhằm thay thế những từu cổ hơn như “bộ lạc” và “chủng tộc”
theo cách dùng của người Anh.
- Ở Pháp, tộc người (ethnos) là một nhóm cá nhân liên kết với nhau bởi mộtphức
hợp các tính chất chung- về mặt nhân chủng, chính trị - lịch sử..v..v mà sự kết
hợp các tính chất đó làm thành một hệ thống riêng, một cơ cấu mang tính văn hóa
chủ yếu: một nền văn hóa. Như thế tộc người được xem là một tập thể hay đúng
hơn là một cộng đồng gắn bó với nhau bởi nền văn hóa riêng biệt.
- Các nhà nhân tộc học ở Việt Nam: “tộc người là một tập đoàn người ổn địnhhoặc
tương đốiổn định được hình thành trong lịch sử, dựa trên những mối liên hệ chung
về ngôn ngữ, sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác dân tộc thể hiện bằng một tộc danh chung. •
Dân tộc: Dân tộc là vương quốc theo nghĩa rộng, gồm hội đồng ngườidân
cùng nhau sinh sống trên một chủ quyền lãnh thổ to lớn, được quản lý và vận
hành bởi sự quản trị của cỗ máy nhà nước, trong một dân tộc thì hoàn toàn có thể
gồm nhiều tộc người, mỗi tộc người lại có những nét văn hóa truyền thống và
ngôn từ khác nhau tạo ra nét nhiều mẫu mã, độc lạ .
Ngoài ra dân tộc còn được hiểu là những nhóm người cùng sinh sống với nhau
trên một khu vực địa lý nhất định trong chủ quyền lãnh thổ, mang những đặc thù
riêng không liên quan gì đến nhau như về ngôn từ, văn hóa truyền thống, phong tục tập quán … •
Dân tộc thiểu số: Từ điển Bách khoa (Trung tâm biên soạn từ điển
BáchKhoa Việt Nam 1995) đưa ra định nghĩa: Dân tộc thiểu số là dân tộc có dân
cư ít, cư trú trong một quốc gia thống nhất đa dân tộc, trong đó có một dân tộc
chiếm dân số động. Trong quốc gia có nhiều thành phần dân tộc, mỗi dân tộc
thành viên có hai ý thức: ý thức về tổ quốc mình sinh sống và ý thức dân tộc mình
sinh sống và ý thức về dân tộc mình. Các dân tộc thiểu số có thể cư trú tập trung
hoặc rải rác, xen kẽ nhau, thường ở những vùng ngoại vi, vùng hẻo lánh, vùng
điều kiện phát triển kinh tế-xã hội còn khó khăn, vì vậy Nhà nước tiến bộ thường
thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc nhằm xóa bỏ những chênh lệch trong sự
phát triển kinh tế- xã hội giữa các dân tộc đông người và các dân tộc thiểu số.
9. Các tiêu chí của tộc người •
KHÁI NIỆM TỘC NGƯỜI (ETHNICITY): là một tập đoàn người ổn lOMoAR cPSD| 61458992
định hoặc tương đối ổn định được hình thành trong lịch sử, dựa trên những mối
liên hệ chung về ngôn ngữ, sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác dân tộc thể hiện bằng 1 danh từ chung. •
CÁC TIÊU CHÍ TỘC NGƯỜI GỒM: ngôn ngữ, văn hóa, ý thức tự giác tộc người •
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÁC TIÊU CHÍ TỘC NGƯỜI: -
Ngôn ngữ: Là dấu hiệu cơ bản để người ta xem xét sự tồn tại của một dân
tộc và để phân biệt các dân tộc khác nhau.
Ngôn ngữ là hệ thống giao tiếp
Có vai trò trong việc cố kết cộng đồng tộc người
Tiếng mẹ đẻ truyền tải và lưu truyền các giá trị văn hóa
Bảo vệ ngôn ngữ là bảo vệ sự tồn tại của tộc người, dân tộc
Hiện tượng đa ngữ, song ngữ hiện nay rất phổ biến.
Vì vậy, ngôn ngữ là 1 tiêu chuẩn để xác định tộc người nhưng ko phải là tiêu chuẩn quan trọng nhất. - Văn hóa:
Là tiêu chuẩn quan trọng để xác định tộc người.
Có 2 loại: văn hóa của tộc người và văn hóa tộc người:
+ Văn hóa của tộc người là tổng thể những thành tựu VH thuộc về một tộc người
nào đó, do tộc người đó sáng tạo ra hay tiếp thu vay mượn của các DT khác trong quá trình LS
+ VHTN là gồm tổng thể những yếu tố văn hoá vật thể và phi vật thể giúp cho
việc phân biệt tộc người này và tộc người khác. VHTN là tổng thể những yếu tố
VH mang tính đặc trưng và đặc thù TN, nó thực hiện chức năng cố kết TN, làm
cho TN này khác với TN khác
+ Không phải lúc nào cúng ta cũng phân biệt được rạch ròi VH của tộc người
và Văn hoá tộc người. Có nhiều hiện tượng văn hoá du nhập từ bên ngoài vào,
trong quá trình tiếp biến văn hoá nó được bản địa hoá, trở thành văn hoá tộc
người, mang sắc thái tộc người. -
Ý thức tự giác tộc người:
Ý thức tự giác tộc người là ý thức tự coi mình thuộc về một tộc người nhất
định được thể hiện trong hàng loạt yếu tố: Sử dụng một tên gọi tộc người chung
thống nhất, có ý niệm chung về nguồn gốc lịch, huyền thoại về tổ tiên và vận
mệnh lịch sử của tộc người,...
Ý thức tộc người được thể hiện qua việc cùng tuân theo phong tục, tập quán, lối sống tộc người
Ý thức tự giác tộc người thể hiện qua: + Tên gọi (tộc danh) lOMoAR cPSD| 61458992
+ Ý thức về nguồn gốc lịch sử
+ Cộng đồng tinh thần tộc người, cộng đồng nguồn gốc lịch sử, và lịch sử tộc
người qua huyền thoại và lịch sử
+ Cộng đồng về giá trị và biểu tượng của văn hóa dân tộc.
10.Trình bày khái niệm quá trình tộc người, những quá trình tộc người: quá
trình phân ly và hợp nhất; trình bày quá trình hợp nhất, chỉ ra 3 loại hình
hợp nhất tộc người ( cố kết, đồng hóa, hòa hợp tộc người)
• Quá trình tộc người:
- Cộng đồng tộc người là một hệ thống động và sự thay đổi của chúng tạo nên thực
chất của lịch sử tộc người của nhan loại. Để phát hiện những nét đặc trưng của
nó, việc xem xét có sự thay đổi của dộng đôồng tộc người hay nói cách khác là
quá trình tộc người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
- Khái niệm: sự thay đổi bất kỳ của một thành tố tộc người này hay tộc người khác
được diễn ra trong quá trình và có thể coi như quá trình tộc người. Bên cạnh việc
hiểu theo nghĩa rộng, theo quan điểm của chúng ta, qua trình tộc người như là
hiện tượng trong sự thay đổi cả ý thức tộc người. Với ý nghĩa thực tiễn, quá trình
tộc người ghi nhận chủ yếu như sự thay đổi những thuộc tính tộc người, trường
hợp thứ nhất phản ánh sự thay đổi mang tính tiến hóa tộc người, trường hợp thứ
2 là quá trình quá độ chuyển sang trạng thái tộc người hoàn toàn mới.
• Những quá trình tộc người: như dã chỉ ra, việc nghiên cứu lịch sử các toojc người
trên thế giới có hai kiểu loại hình cơ bản của quá trình tộc người là quá trình phân
ly tộc người và quá trình hợp nhất tộc người.
a. Quá trình phân ly tộc người: quá trình phân ly tộc người (tộc người cùng nguồn
gốc) lại được chia ra làm hai loại hình cơ bản: quá trình chia nhỏ và quá trình chia tách.
- Thuộc loại hình thứ nhất, một tộc người thống nhất được chia ra làm nhiều bộ
phận khác nhau, những bộ phận này trở thành những tộc người mới trong quá trình phân li.
- Trường hợp thứ hai là từ một bộ phận nhỏ tộc người gốc nào đó được chia tách
ra dần dần trở thành một tộc người độc lập. Nếu như trong trường hợp thứ nhất,
tộc người xuất phát ngừng sự tồn tại của mình thì trong trường hợp thứ hai tộc
người gốc vẫn tiếp tục được giữ lại. Loại hình chia tách tộc người được chia ra
làm hai tiểu loại hình phụ thuộc vào những nhân tố tạo nên sự phân ly tộc người,
một bộ phận ngỏ tách khỏi tộc người gốc do quá trình di cư đến một vùng đất mới
gọi là quá trình chia tách tộc người di cư. Nếu như nhân tố ảnh cơ bản của quá
trình chia tách tộc người là sự phân chia số đông tộc người giữa các quốc gia thì
gọi là sự phân ly tộc người chính trị. lOMoAR cPSD| 61458992
- Quá trình phân ly tộc người là đặc điểm vốn có của xã hội nguyên thủy. Dạng cơ
bản của quá trình phân ly này là sự phân chia cảu các bộ lạc do sự đông lên của
các thành viên và sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên thường diễn ra dưới hình thức
chia tách tộc người, chính quá trình phân ly này là cơ sở của sự phân cưu cảu con
người đến vùng khác nhau trên trái đất từ khu vực hình thành người Hôm
sapinens. Trong các xã hội có giai cấp, quá trình phân chia tộc người gắn liền với
sự di cư số đông là cơ sở cho sự xuất hiện của các tộc người khác nhau.
Với sự xuất hiện của các quốc gia, biên giới chính trị đóng vai trò là nhân tố phân
ly tộc người. (ví dụ: trong quá trình phân chia tộc người của người Nga cổ đã hình
thành ba tộc người là Nga. Ucraina, Bêlơrútxia. Cộng đồng người Việt: Việt,
Mường, Chứt. Quá trình chai tách khá phổ biến ở Việt Nam và Đông Nam Á. Từ
cộng đồng Thái ở Vân Nam , Quý Châu TQ, các bộ phận họ trong quá trinh diw
cư đến Lào, Thái Lan, Việt Nam hình thành các tộc người Thái ở TL, Lào ở Lào,
Thái ở Việt Nam. Cũng có những tộc người do quá trình di cư đến Việt Nam đã
tách ra hình thành nhwunxg nhóm địa phương những vẫn coi mình thuộc về tộc
goocd. Đó là trường hợp các nhóm địa phương của người Nùng, Dao, H’mông.
Ở người Chăm quá trình phân ly tộc người do sự khác biệt về tôn giáo của các
nhóm dân cư: nhóm Chăm theo Hồi giáo ở HCM, nhóm Chăm theo Bà La Môn
ở Ninh Thuận Bình Thuận. Người Stiêng ở Bình Phước Việt Nam bị tách khỏi
khối người Stieng ở bên kia biên giới Campuchia do sự phân chia ranh giới chính trị giữa hai nước.)
- Trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, sự phân chia một bộ phân từ một tộc người gốc
đến sự hình thành các tộc người khác do quá trình di cư đến các vùng đất thuộc
người Anh – Úc, người Anh ở Mỹ...
- Hiện nay trên thế giới do sự phát triển của chủ nghãi dân tộc, sự khác biệt tôn
giáo vẫn thấy tình trạng có những dân tộc tuy cùng chung một nguồn gốc lịch sử
nhưng muốn tách ra để hình thành các quốc gia và dân tộc riêng biệt.
b. Quá trình hợp nhất tộc người:
Xu hướng hợp nhất tộc người và đặc trưng chiếm ưu thế cho các thời kì lịch sử
khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã cho tới hiện nay. Quá trình này phản ánh
xu hướng tiến bộ mang tính quy luật lịch sử nói chung dẫn tới sự củng cố các tộc người.
Xu hướng hợp nhất tộc người được chia ra làm ba loại hình riêng: quá trình cố
kết hay kết hợp (consolation), quá trình đồng hóa (asimilation) và quá trình hòa hợp (intergration).
• Quá trình cố kết tộc người ( consolation): lOMoAR cPSD| 61458992
- Quá trình cố kết tộc người được chia ra hai loại: cố kết trong nội bộ từng người
và cố kết giữa các tộc người gần gũi về mặt ngôn ngữ và văn hóa để đến hình
thành một cộng đồng tộc người lớn hơn.
- Cố kết trong nội bộ tộc người là sự tăng cường kết gắn chặt chẽ một tộc người
bằng cách gạt bỏ dần sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa của các nhóm địa
phương, củng cổ ý thức tự giác tộc người nói chung.
- Cùng với quá trình cố kết tộc trong nội bộ tộc người là quá trình cố kết giữa các
tộc người vốn có chung nguồn gốc từ cộng đồng ngôn ngữ văn hóa trong quá khứ.
Sự phát triển của quá trình cố kết giữa các tộc người trong nhiều trường hợp là sự
phủ định biện chứng qua trình phân ly tộc người trước đây.
• Quá trình đồng hóa tộc người. (asimilation)
- Quá trình đồng hóa tộc là quá trình hòa tan (mất đi) của một dân tộc hoặc một bộ
phận của nó vào môi trường của một dân tộc khác. Nói cách khác, đồng hóa là
quá trình mất đi hoàn toàn hay gần hết thuộc tính của một tộc người (nhóm) xuất
phát vào một dân tộc khác.
- Khác với quá trình cố kết, quá trình đồng hóa tộc người thường diễn ra ở các tộc
người khác nhau về nguồn gốc, ngôn ngữ và văn hóa. Quá trình đồng hóa thường
xảy ra ở các dân tộc nhỏ, hoặc những nhóm nhỏ của tộc ngời có trình độ phát
triển kinh tế - xã hội thấp hơn bị đồng hóa bởi tộc người đông hơn, trình độ phát
triển kinh tế - xã hội cao hơn.
- Quá trình thường diễn ra lúc đầu họ tiếp thu một số yếu tố ngôn ngữ văn hóa của
dân tộc khác, sau là đồng hóa văn hóa. Về mặt ngôn ngữ, lúc đầu họ tư duy từ
tình trạng song ngữ sau chuyển sang ngôn ngữ của tộc người khác mà họ chịu
ảnh hưởng. Về mặt ý thức tự giác, tên gọi dân tộc người dần dần mất đi để chuyển
sang tên gọi mới của dân tộc chịu ảnh hưởng.
Trong quá trình đồng hóa có đồng hóa tự nhiên và đồng hóa cưỡng bức:
- Đồng hóa tự nhiên là quá trình giao lưu tiếp xúc thường xuyên của một bộ phận
hay của cả tộc người với tộc người bên cạnh tường là có trình độ phát triển kinh
tế - xã hội cao hơn, có số dân đông hơn. Quá trình giao lưu tiếp xúc lâu dài về
mặt ngôn nhữ và văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác cũng như những cuộc
hôn nhân hỗn hợp giữa các dân tộc đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.
Họ có nguyện vọng được trở thành thành viên của dân tộc lớn hơn mà họ chịu
ảnh hưởng. Khái niệm đồng hóa lâu nay được hiểu theo nghĩa xấu thể hiện sự
thốn tính lẫn nhau. Nhưng các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lenin không
những không phản đối mà họ còn cho đồng hóa là một sự tiến bộ xã hội của các
quan hệ giữa các dân tộc quá độ từ dân tộc này sang dân tộc kia, phát triển làm
một bước cao hơn. V.I.Lenin chi ra rằng “đồng hóa tự nhiên là khuynh hướng có
tính chất toàn thế giới của chủ nghĩa tư bản nhằm đập tan mọi coản trở dân tộc, lOMoAR cPSD| 61458992
nhằm xóa bỏ mọi sự khác biệt dân tộc, nhằm đồng hóa dân tộc...”. “Khynh hướng
này ngày càng mạnh mẽ và làm thành một động lực vĩ đại nhất, biến chủ nghĩa tư
bản thành chủ nghĩa xã hội...”. Giai cấp vô sản không những không đấu tranh giữ
lại sự phát triển riêng của mỗi dân tộc, mà còn chào mừng bất cứ sự đồng hóa dân
tộc nào, trừ đồng hóa dựa trên độc quyền và đồng hóa cưỡng bức.
- Đồng hóa cưỡng bức là quá trình đồng hóa mà chính sách của nhà nước đa dân
tộc đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Bằng nhwunxg biện pháp chính trị, kinh
tế, xã hội, văn hóa, khi công khai, khi tinh vi nhằm thúc đẩy quá trình đồng hóa
bằng cách ngăn cản sự duy trì, phát triển ngôn ngữ, chữ viết, văn hóa, phong tục
tập quán của những dân tộc thiểu số.
- Trong quá tình đồng hóa, trước đây người ta còn dùng thuật ngữ diệt chủng để
nói về sự biến mất khỏi vuc đài lịch sử của một dân tộc nào đó, còn sự tiêu diệt
văn hóa của một dân tộc người ta dùng thuật ngữ ethnocisme.
• Quá trình hòa hợp giữa các tộc người:
- Quá trình hòa hợp giữa các tộc người thường diễn ra ở các dân tộc khác nhau về
ngôn ngữ văn hóa, nhưng do kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa lâu
dài trong lịch sử đã xuất hiện những yếu tố văn hóa chủng bên cạnh đó vẫn giữ
lại những đặc trưng văn hóa của tộc người. Quá trình này thường diễn ra ở các
khu vực lịch sử - văn hóa hay trong phạm vi một quốc gia đa dân tộc. Đây cũng
là biểu hiện trình xích lại và hợp nhất các dân tộc mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nêu lên.
- Quá trình hòa hợp tộc người là xu thế lịch sử do sự giao lưu tiếp xúc kinh tế, văn
hóa – xã hội ngày cnagf đẩy mạnh ở các vùng, các quốc gia và cả khu vực. Đây
cũng là sự phủ định biện chứng quá trình phân ly tộc người để tạo nên tính thống nhất chung.
- Ở VN quá trình hòa hợp giữa các tộc người diễn ra theo hai khuynh hướng: 1 là
sự hòa hợp giữa các tộc người diễn ra trong phạm vi của một vùng lịch sử - văn
hóa; 2 là sự hòa hợp giữa các tộc người diễn ra trong phạm vi ca nước.
- Sự hòa hợp giữa các tộc người thường diễn ra trong các vùng lịch sử - văn hóa.
Do cùng chung sống lâu dài trong một không gian địa lý giữa các dân tộc đã diễn
ra quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa dẫn tới hình thành những đặc điểm văn hóa
cung của cả vùng bên cạnh những đặc trưng văn hóa của từng tộc người. Những
đặc điểm văn hóa đó thể hiện qua phương thức mưu sinh, văn hóa vật chất, văn
hóa tinh thần và ý thức cộng đồng khu vực. Quá trình hòa hợp giữa các tộc người
có thể nhận thấy ở các vùng như: miền núi Việt Bắc và Đông Bắc, miền núi Tây
Bắc và Thanh – NGhệ, Trường Sơn – Tây Nguyên, Nam Bộ,... lOMoAR cPSD| 61458992
11.Tôn giáo là gì, nêu và phân tích những đặc trưng của tôn giáo •
Khái niệm: Để có khái niệm đầy đủ về tôn giáo cần phải chú ý: -
Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn
phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu,
thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình. -
Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh
với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do
đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối,
một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời
mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống. Nó gieo niềm hi vọng vào con
người, dù có phần ảo tưởng để mà yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong
một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải
Như vậy: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang
tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách
hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm
tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh
địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành
bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.
• Đặc trưng tôn giáo:
- Tôn giáo được xem như là niềm tin và các hành vi của con người sử dụng để
giải quyết những khó khăn trong cuộc sống - khó khăn ko thể giải quyết bằng
kinh tế hay công nghệ - công nghệ hướng tới thế lực siêu nhiên .Ví dụ : thờ
cúng các vị thần thông qua các hình thức khác nhau như cầu nguyện, hát
xướng, vũ điệu, hiến tế,… để giải quyết khó khăn
- Có các yếu tố thần thánh : các vị thần thánh, những điều thiêng liêng, tín
ngưỡng. Ví dụ : thánh Ala trong Hồi giáo
- Có các hoạt động tôn giáo : có thể bao gồm các nghi lễ, bài giảng, lễ kỉ niệm
hay biểu hiện sự tôn kính, tế tự,lễ hội, dịch vụ tang lễ, dịch vụ hôn nhân, thiền,
cầu nguyện, âm nhạc, nghệ thuật, múa, dịch vụ công cộng, hoặc các khía cạnh
khác của văn hóa con người. Ví dụ : Đại lễ Phật Đản
- Có kinh sách thiêng liêng: có thể được bảo tồn trong các sách vở, ghi chép.
Tôn giáo có thẻ chứa những câu chuyện tượng trưng, đôi khi được những
người tin theo cho là đúng, có mục đích phụ là giải thích nguồn gốc của sự
sống, vũ trụ và những thứ khác.Ví dụ : kinh Phật
- Có các vật thiêng : thánh tích, thần vật, các biểu tượng. Ví dụ : Thánh Gióng