CÂU HỎI ÔN TẬP TRIẾT
1. VẬT CHẤT Ý THỨC
Câu hỏi 1: Trình bày quan điểm của triết học Mác -Lênin về vật chất (Thi)
Quan điểm của Mác Ăngghen về vật chất
- Mác Ph. Ăngghen trong khi đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri phê
phán chủ nghĩa duy vật - siêu hình, máy móc đã đưa ra những tưởng hết sức quan trọng về vật chất.
Theo Ph.Ăngghen, để một quan niệm đúng đắn về vật chất, cần phải sự phân biệt ràng giữa
vt cht vi tính cáchlà mt phm trù ca triết hc.
- Ph. Ăngghen chỉ rõ, các sự vật, hiện tượng của thế giới rất phong phú, muôn vẻ nhưng
chúng vẫn một đặc tính chung, thống nhất đó tính vt cht - tính tồn tại, độc lập không lệ thuộc
vào ý thức.
- Định nghĩa vật chất của Lênin
Kế thừa những ởng quan niệm của Mác Ăngghen, tổng kết thành quả của khoa học
tự nhiên, xuất phát từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm bảo vệ chủ nghĩa duy vật.
Lênin đã đưa ra định nghĩa vật chất.
“Vật chất phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, mang lại cho con người
trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, tồn tại không lệ thuộc vào
cảm giác”
4
.
-Nội dung của định nghĩa
Thứ nhất, Vật chất là một phạm t triết học” nghĩa là một phạm trù khái quát, rộng
nhất, do đó không được hiểu vật chất theo nghĩa hẹp như trong các khoa học cụ thể hoặc trong đời
sống hàng ngày.
Thứ hai, thuộc tính bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất là “thực tại khách quan”
(tồn tại khách quan) tức tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người,
cho con người nhận thức được hay không nhận thức được nó. Đây chính tiêu chuẩn để phân
biệt cái vật chất, cái không phải vật chất.
Thứ ba, “thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của
chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Điều đó nghĩa “thực tại
khách quan” ( vật chất ) dưới những dạng tồn tại cụ thể của nó, là cái thể gây nên cảm giác con
người khi trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người; “cảm giác” (ý thức) của
con người sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất cái được ý thức phản ánh.
Nói cách khác, trong mối quan hệ giữa vật chất ý thức t vật chất cái trước, nguồn
gốc khách quan của cảm giác, ý thức ; bằng những phương thức nhận thức khác nhau ( chép lại,
chụp lại, phản ánh,..) con người thể nhận thức được thế giới vật chất.
Tóm lại, nội dung định nghĩa của V.I.Lênin về phạm t vật chất đã xuất phát từ vấn đề
bản của triết học, đặt phạm t vật chất trong mối quan hệ với phạm t ý thức qua đó giải quyết
được cả hai mặt trong nội dung vấn đề bản của triết học theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng.
- Ý nghĩa của định nghĩa:
+ Định nghĩa vật chất đã bác bỏ thuyết không thể biết, đồng thời khắc phục được tính chất
siêu hình, trực quan trong các quan niệm về vật chất trước Mác, quy vật chất vào các dạng cụ thể hoặc
vào một thuộc tính cụ thể nào đấy của vật chất.
+ Định nghĩa vật chất của Lênin đã chống lại các quan điểm duy tâm (duy tâm khách quan
duy tâm chủ quan) về vật chất; đồng thời tạo ra sở lý luận để khắc phục quan điểm duy tâm về
đời sống hội của chủ nghĩa duy vật trước Mác.
+ Định nghĩa vật chất của Lênin còn ý nghĩa định hướng đối với các khoa học cụ thể trong
việc đi sâu vào thế giới vật chất khách quan để phát hiện ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới
của các vật thể trong thế giới.
Câu hỏi 2: Ý thức ? Trình bày nguồn gốc, bản chất kết cấu của ý thức.
Ý thức hình thức phản ánh cao nhất của bộ óc con người về hiện thực khách quan trên sở
thực tiễn hội lịch sử.
a) Nguồn gốc của ý thức
4
. Lênin 1980 t18 tr151
Nguồn gốc tự nhiên của ý thức
+ Ý thức nguồn gốc từ bộ não người
Bộ não người phải là bộ não sống, bộ não đang hoạt động bình thường, bộ não không bị tổn
thương bất kỳ chức năng thần kinh nào. Bộ não con người cùng với hệ thần kinh trung ương là cơ
quan vật chất của ý thức. Ý thức một dạng thuộc tính của vật chất t chức cao nhất bộ não con
người, chức năng của bộ não, kết quả hoạt động sinh thần kinh của bộ o (bộ não phải bộ
não sống, bộ não đang hoạt động bình thường). Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thì bộ
não con người khoảng 14 -15 tỷ nơ-ron thần kinh, các nơ-ron thần kinh có sự kích thích, cảm ứng.
Bộ não của con người phải quá trình hoạt động, tác động vào thế giới khách quan thì mới hình
thành lên sự phản ánh của ý thức.
Như vậy, s xut hin con người và hình thành b óc ca con người có năng lc phn ánh hin thc
kháchquan là ngun gc t nhiên ca ý thc.
+ Sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não của con người thông qua hoạt động của
các giác quan, hình thành nên quá trình phản ánh.
Bộ não con người cùng với thế giới khách quan tác động vào bộ não con người, bộ não con
người thu nhận thông tin phản ánh những thông tin từ thế giới khách quan nguồn gốc tự nhiên
của ý thức.
Phản ánh sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này dạng vật chất khác trong quá
trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng.
Ý thức của con người i phản ánh, thế giới khách quan cái được phản ánh. Sự tác động
qua lại giữa cái phản ánh cái được phản ánh, cái phản ánh mang tính chủ quan - ý thức, cái được
phản ánh sự vật, hiện tượng mang tính khách quan, cái phản ánh tác động lên cái được phản ánh (là
vật chất), cái được phản ánh tác động trở lại đối với cái phản ánh (là ý thức), cái phản ánh lưu giữ
thông tin của cái được phản ánh ( vật chất), cái phản ánh xử thông tin đó theo quan điểm chủ
quan của mình. Nghĩa ý thức “cái nhận thức”, thế giới khách quan “cái được nhận thức”. “Cái
nhận thức” không phản ánh “cái được nhận thức” một cách thụ động “cái nhận thức” lưu giữ
thông tin xử thông tin của “cái được nhận thức” theo quan điểm chủ quan của mình.
Ý thức quá trình phản ánh, quá trình phản ánh cao nhất, bao hàm trong tất cả các
hình thức phản ánh.
+ Các hình thc của phn ánh.
* Phản ánh vật lý: hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng cho giới tự nhiên sinh.
* Phản ánh sinh học: nh thức phản ảnh của giới tự nhiên hữu sinh, được biểu hiện
hai trình độ khác nhau như: Tính kích thích xuất hiện những thực vật động vật bậc thấp ; Tính
cảm ứng xuất hiện những loài động vật năng lực cảm giác.
* Phản ánh tâm : phản ánh của động vật bậc cao hệ thần kinh trung ương phát triển,
gắn liền với quá trình hình thành các phản xạ điều kiện.
* Phản ánh ý thức: một phản ánh mới, có tính năng động sáng tạo, chỉ một dạng vật
chất có tổ chức cao nhất đó bộ não con người. Phản ánh ý thức được thực hiện qua quá trình hoạt
động sinh thần kinh của bộ não người khi thế giới khách quan tác động lên giác quan của con người.
=> Không bộ não người sự tác động của thế giới khách quan vào bộ não người thì
không thể ý thức. Sự phản ánh của thế giới khách quan vào bộ não người chính nguồn gốc tự
nhiên của ý thức.
- Nguồn gốc hội của ý thức
+ Lao động
K/n: Lao động quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động giới tự nhiên,
nhằm cải biện giới tự nhiên phục vụ mục đích của con người.
Ăng ghen viết: “Với quá trình phát triển của bàn tay- với quá trình lao động, con người
bắt đầu thống trị tự nhiên và cứ mỗi lần sự thống trị đó tiến lên một bước, mỗi lần mở rộng
thêm tầm mắt của con người”
6
Nhờ kết quả lao động thể của con người, đặc biệt bộ óc các giác quan ngày càng
hoàn thiện dần cả về cấu tạo chức năng.
Nhờ lao động con người đã dần chuyển hóa t vượn thành người; nhờ lao động con
người đã thoát khỏi cuộc sống bầy đàn, đi tới khẳng định mình từng bước trinh phục giới tự nhiên,
bắt tự nhiên phải phục vụ mục đích của mình; nh lao động tri thức của con người ngày càng
hoàn thiện, con người ngày càng phát hiện ra các thuộc tính mới của vật chất các quy luật của tự
nhiên, đồng thời con người chế tạo ra các công cụ mới giúp con người nối dài bàn tay của mình để
trinh phục từng bước tiến tới làm chủ tự nhiên; nhờ lao động đã làm cho thân thể con người
đẹp hơn bộ não của con người ngày càng khả năng sáng tạo hơn, lao động chính một trong
những nguồn gốc hội để hoàn thiện ý thức của con người.
- Ngôn ngữ
Nhờ lao động ngôn ngữ được hình thành. Khi đề cập đến vấn đề này, Ph. Ăngghen viết:
“Đem so sánh con người với các loài vật, người ta sẽ thấy rằng ngôn ngữ bắt nguồn t lao động
cùng phát triển với lao động, đó cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ”
1
.
Trong hoạt động lao động sản xuất, để săn bắn, hái lượm đạt kết quả tốt nhất, con người
cần phải quan hệ với nhau, phối hợp với nhau, trao đổi thông tin cho nhau, nhu cầu ấy ngay càng
phát triển, “Phát triển đến mức họ thấy cần thiết phải nói với nhau một cái đấy”
9
. Như vậy, nhu
cầu đó dẫn đến xuất hiện ngôn ngữ.
*Khái niệm Ngôn ngữ: toàn bộ những hiệu, tự, chữ viết tiếng nói, nhằm trao đổi
thông tin giữa con người với con người trong quá trình sống.
Tóm lại, nguồn gốc t nhiên nguồn gốc hội là hai điều kiện cần đủ cho s ra đời của ý thức.
Nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì con người không th ý thức. Xem xét nguồn gốc tự nhiên
nguồn gốc xã hội của ý thức cho thấy, ý thức xuất hiện la két quả của quá trình tiến hoá lâu dài của
giới tự nhiên, của lịch sử trái đất, đồng thời kết qụả trực tiếp của thực tiễn hội - lịch sử của con
người.
b) Bản chất của ý thức
+ Ý thức hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Nội dung của ý thức do thế giới khách
quan quy định, nhưng ý thức hình ảnh chủ quan, hình ảnh tinh thần không tính vật chất. "Y
thức không bao giờ thể cái khác hơn sự tồn tại được ý thức". Sự hình thành ý thức chịu sự
tác động bởi lăng kinh chủ quan của mỗi người (tình cảm, tâm trạng, nguyện vọng, kinh nghiệm, nhu
cầu, lập trường...).
+ Ý thức con người tính năng động, sáng tạo. Tính năng động của ý thức thể hiện chỗ, ý thức
không phải bản sao giản đơn, thụ động, máy móc sự vật, ý thức sự phản ánh hiện thực khách
quan theo nhu cầu của thực tiễn, sự phản ánh chủ động chọn lọc của con người. Tính sáng tạo
của ý thức thế hiện chỗ, trên sở cái đã có, ý thức thể sáng tạo ra tri thức mới về sự vật; thế
tưởng tượng ra cái không trong thực tế; ý thức thể tiên đoán, dự báo tương lai; ý thức thể tạo
ra những ảo tưởng, huyền thoại, giả thuyết, thuyết khoa học... Tính sáng tạo của ý thức không
nghĩa ý thức đẻ ra vật chất. Sáng tạo của ý thức sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật trong
khuôn khổ của sự phản ánh kết quả bao giờ cũng những khách thể tinh thần. Ý thức "chẳng qua
chỉ vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người được cải biến đi trong đó".
+ Ý thức mang bản chất hội. Con người thực thế hội, nên ý thức mang bản chất hội. Sự ra
đời tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn lịch sử của con người, chịu sự chi phối không
chỉ của các quy luật sinh học chủ yếu của quy luật hội, do nhu cầu giao tiếp hội các
điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người quy định. C.Mác Ph. Ăngghen khẳng định: "Ngay từ
đầu, ý thức đã một sản phẩm hội, vẫn như vậy chừng nào con người còn tồn tại".
c) Kết cấu của ý thức
*Các lớp kết cấu của ý thức:
+ Tri thức: kết quả của quá trình nhận thức, sự hiểu biết của con người về thế giới hiện thực, làm
tái hiện trong tưởng nhưng thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy diễn đạt chúng dưới hình
thức ngôn ngữ, hoặc các hệ thống hiệu khác. Theo Mác “Phương thức theo đó ý thức tồn tại
theo đó một cái tồn tại đối với ý thức tri thức. Tri thức là hành vi duy nhất của ý thức. Cho
nên một cái đó nảy sinh ra đời với ý thức, chừng nào ý thức biết cái đó”
1
+ Tình cảm cảm động của con người trong quan hệ của mình với thực tại xung quanh đối với
bản thân mình.
Tình cảm thể mang tính chất chủ động chứa đựng hai sắc thái gồm: cảm xúc tích cực cảm xúc
tiêu cực. Tình cảm mang tính tích cực là một trong những động lực nâng cao năng lực hoạt động sống
8. C.Mác Ph Ảngghen (1994), Toàn tập, í. 20, Sđd. tr. 645.
9 . 10 Sdd t20 tr 644
1
Mác Ăng ghen 2004 t42 tr236
của con người. Tri thức kết hợp với tình cảm tạo nên niềm tin, nâng cao ý chí tích cực biến thành
hành động thực tế mới phát huy được sức mạnh của mình.
+ Ý chí: Để đạt đến trình độ cao của nhận thức, con đường đi lên chiếm lĩnh đỉnh cao ấy không bằng
phẳng cùng khó khăn để đến được đỉnh cao ấy đòi hỏi con người phải ý chí.
Ý chí sự quyết tâm, cố gắng, nỗ lực, khả năng huy động mọi tiềm năng để đạt tới mục đích của con
người trong hoạt động thực tiễn.
Ý chí thể hiện là lòng tin, lòng quả cảm, sự quyết đoán, quyết tâm, dũng cảm sự định hướng ràng
mục tiêu phấn đấu.
- Cấp độ của ý thức
+ Tự ý thức: Trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh, con người đồng thời cũng tự nhận thức
bản thân mình. Đó chính tự ý thức. Như vậy, tự ý thức cũng ý thức, một thành tố quan trọng
của ý thức, nhưng đây ý thức về bản thân mình trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài.
+ Tiềm thức: những hoạt động tâm lý tự động diễn ra bên ngoài sự kiểm soát của chủ thể, song lại
liên quan trực tiếp đến các hoạt động tâm đang diễn ra dưới sự kiểm soát của chủ thể ấy. Về
thực chất, tiềm thức những tri thức chủ thể đã được từ trước nhưng đã gần như trở thành
bản năng, thành kỹ năng nằm trong tầng sâu của ý thức chủ thể, ý thức dưới dạng tiềm tàng.
+ thức:Vô thức những trạng thái tâm chiều sâu, điều chỉnh sự suy nghĩ, hành vi, thái độ
ứng xử của con người chưa sự tranh luận của nội tâm, chưa sự truyền tin bên trong, chưa
s kiểm tra, tính toán của trí.
+ Vấn đề “trí tuệ nhân tạo: Trí tuệ nhân tạo bộ não do con người sản xuất ra bằng hệ thống các vi
mạch (chất bán dẫn vật liệu thông minh…), tích hợp những phần mềm được con người lập trình dựa
trên các hoạt động của bộ não con người, khả năng nhận thức, tự động xử những vấn đề gần
giống với con người, chịu sự điều khiển của con người.
Con người một thực thể tự nhiên - hội ý thức, chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chất tinh
thần quyết định sự tồn tại phát triển của hội. Khẳng định vai trò to lớn của ý thức trong đời
sống hiện thực của con người về thực chất khẳng định vai trò của con người - chủ thể mang ý thức
đó. Cần thái độ đúng đối với con người, quan tâm, chăm lo phát triển con người toàn diện cả về
thể chất tinh thần.
Câu hỏi 3: Trình bày mối quan hệ giữa vật chất ý thức ? Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp
luận.
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khăng định, vật chất ý thức mối quan hệ biện chứng với nhau,
trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất.
* Vật chất quyết định ý thức
Vật chất quyết định ý thức thể hiện chỗ:
- Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức (sinh ra ý thức). Vật chất trước, ý thức sau.
Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức nguồn gốc sinh ra ý thức. Não người dạng vật
chất tổ chức cao, quan phản ánh để hình thành ý thức. Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động
thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan.
- Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức. Ý thức sự phản ánh thế giới khách quan vào não
người, hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan. Thế giới khách quan không chỉ nguồn gốc của
ý thức, còn quy định nội dung của ý thức.
- Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức. Ý thức bản chất năng động sáng tạo. Chính
thực tiễn hoạt động vật chất tính cải biến thế giới của con người - sở để hình thành, phát
triển ý thức, trong đó ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh để sáng tạo sáng
tạo trong phản ánh.
- Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức. Điều kiện vật chất thay đổi thì sớm
hoặc muộn ý thức cũng thay đổi. Sự biến đổi của ý thức sự phản ánh sự biến đổi của vật chất.
Vai trò của vật chất đối với ý thức trong đời sống hội ợc bộc lộ mối quan hệ giữa kinh tế
văn hóa, giữa tồn tại hội ý thức hội.
* Ý thức tính độc lập tương đối tác động trở lại vật chất
Thừa nhận vai trò hết sức to lớn của ý thức. C. Mác đã viết: "Vũ khí của sự phê phán nhiên không
thể thay thể được sự phê phần bằng khí, lực lượng vật chất chỉ thể bị đánh đồ bằng lực lượng
vật chất, nhưng luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi xâm nhập vào quần chúng"
- Thứ nhất, ý thức tính độc lập tương đối so với vật chất bởi ý thức tính năng động, sáng tạo;
Mặc ý thức tự không thể làm được nhưng thông qua hoạt động của con người, ý thức thể
tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan.
- Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Nhờ hoạt động thực tiễn, ý thức thể làm biến đối những điều kiện, hoàn cảnh vật chất, tạo ra "thiên
nhiên thứ hai" phục vụ cuộc sống con người. Con người dựa trên nhng tri thức của mình về thế giới
khách quan, hiểu biết những quy luật khách quan để từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp
thực hiện ý chí thực hiện mục tiêu ấy.
- Thứ ba, ý thức chỉ đạo hoạt động, hành động của con người, thể làm cho hoạt động của con người
đúng hay sai, thành công hay thất bại. Do đó, ý thức thế tác động trở lại vật chất theo hai chiều
hướng:
+ Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan, tác dụng thúc đấy hoạt động thực tiễn của con
người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất.
+ Ý thức phần ánh không đúng hiện thực khách quan, mức độ nhất định, thể kìm hãm hoạt động
thực tiền của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất.
+ Ngoài tính khoa học, sự tác động của ý thức đối với vật chất còn phụ thuộc vào mức độ thâm nhập
của ý thức vào những người hành động, vào điều kiện hội, trình độ phát triển của hội chế độ
hội.
- Thứ tư, hội ng phát triển thì vai t của ý thức càng to lớn, nhất trong thời đại ngày nay, khi
khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Chú ý: Vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của ý thức con người trong quá trình cải tạo thế giới hiện
thực được phát triển đến mức độ nào chăng nữa vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giới khách quan
các điều kiện khách quan.
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Vật chất quyết định ý thức, cho nên trong hoạt động của con người đòi hỏi phải luôn quán triệt quan
điểm khách quan. Yêu cầu của quan điểm khách quan là:
+ Thứ nhất, trong hoạt động nhận thức cũng như thực tiễn bao giờ cũng phải xuất phát từ những điều
kiện, hoàn cảnh thực tê, đặc biệt từ điều kiện vật chất để xác định mục tiêu phương hướng hành
động, tránh chủ quan duy ý chí, nóng vội, định kiến, không trung thực.
+ Thứ hai, quan điểm khách quan đặc biệt yêu cầu phải luôn luôn tôn trọng các quy luật khách quan.
Thực tế lịch sử cho thấy, mỗi khi làm trái quy luật, con người đều phải trả giá. Từ kinh nghiệm thành
công thất bại trong hoạt động thực tiễn cách mạng, Cương lĩnh của Đảng đã rút ra bài học là: "Mọi
đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan"
+ Thứ ba, quan điểm khách quan còn yêu cầu muốn nhận thức cải tạo sự vt, hiện tượng thì phải
xuất phát từ chính bản thân nó. Chúng ta không thể áp đặt cho sự vật những cái vốn không
hoặc chưa thể có. Chúng ta chỉ có thể phân tích chính bản thân sự vật, nhận thức bn chất của
để t đó thể tìm ra phương thức cải tạo nó. Nếu không như vậy s thất bại.
- Ý thức tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con
người, cho nên cần phải phát huy tính tích cực của ý thức đối với vt chất bằng cách bồi dưỡng tinh
thần phấn đấu, xây dựng ý thức lành mạnh, không ngừng nâng cao năng lực nhận thức các quy luật
khách quan vận dụng chúng vào trong hoạt động thực tiễn của con người. Từ đó, làm cho con
người luôn chủ động, sáng tạo trong cuộc sống.
2. CÁC NGUYÊN BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Câu hỏi 1: Trình bày nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
* Khái niệm
- Mối liên hệ khái niệm dùng để chỉ sự quy định, s tác động chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự
vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, một hiện tượng trong thế giới.
- Mối liên hệ phổ biến khái niệm dùng để chỉ những mối liên hệ tồn tại nhiều sự vật, hiện tượng
của thế giới.
+ Mối liên hệ phổ biến nhất khái niệm dùng để chỉ những mối liên hộ tồn tại mọi sự vật, hiện
tượng của thế giới, đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng duy vật, như các mối liên hệ giữa
các mặt đôi lập, chất lượng, khẳng định phủ định, cái riêng cái chung, nội dung hình thức..
* Tính chất của mối liên hệ
- Mối liên hệ mang tính khách quan, cái vốn có của mọi sự vật, hiện tượng. dụ:
Quan hệ giữa cây xanh với môi trường. cái vốn của sự vật, hiện tượng. Không phải do ý
muốn của con người quy định. Cây xanh muốn tồn tại thì phải đất, nước, ánh sáng... phải liên hệ
chặt chê với môi trường.
- Mối liên hệ mang tính phổ biến. Mối liên hệ là phổ biến bởi mối liên hệ chẳng những diễn ra
mọi sự vật hiện tượng trong tự nhiên, trong hội, trong duy còn diễn ra đối với các mặt,
các yếu tố, các giai đoạn trong quá trình vận động, phát triển của mỗi sự vật hiện ợng.
- Mối liên hệ tính đa dạng, phong phú:
Mỗi sự vật, hiện tượng đều không gian khác nhau, thời gian khác nhau vậy, chúng mối liên
hệ khác nhau, không mối liên hệ nào trùng khít, hoặc giống hệt mối liên hệ nào. vật chất muôn
hình vạn trạng khác nhau, thì mối liên hệ cung muôn nh vạn trạng khác nhau. Chính điều này đã tạo
lên sự muôn hình, muôn của mối liên hệ.
Dựa vào tính đa dạng đó thể phân chia ra các mối liên hệ khác nhau theo từng cặp:
+Mối liên h n trong mối liên h bên ngoài.
+Mối liên hệ chủ yếu mối liên hệ thứ yếu.
+Mối liên hệ bản mối liên hệ không bản.
+Mối liên hệ tất nhiên mối liên hệ ngẫu nhiên.
Mỗi loi mối liên hệ trong từng cặp th chuyn hoá lẫn nhau tu theo phm vi bao quát của mối liên hệ
hoặc do kết quả vận động của chính c sự vật.
dụ: nếu xem t các doanh nghiệp tồn tại với ch các đơn v độc lập thì mối liên hệ giữa
chúng mối liên h n ngoài.
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Các sự vật hiện ợng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến nhiều vẻ, do đó
muốn nhận thức tác động o chúng, chúng ta phải quan điểm toàn diện. Quan điểm toàn diện
đòi hỏi:
+ Thứ nhất, để nhận thức đúng đắn về sự vật thì cần phải đặt trong mỗi liên hệ qua lại giữa các bộ
phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với
các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp mối liên hệ gián tiếp.
+ Thứ hai, quan điểm toàn diện không nghĩa cách xem xét cào bằng, tràn lan, phải thấy được
vị trí, vai trò của từng mối liên hệ, từng mặt, từng yếu tố trong tổng thể của chúng, từ đó tiếp tục đi
đến chỗ khái quát để rút ra mối liên hệ bản chất chi phối sự tồn tại phát triển của sự vật hay hiện
tượng đó.
+ Thứ ba, quan điểm toàn diện còn đòi hỏi phải chống lại cách xem xét phiến diện một chiều, phải
chống lại chủ nghĩa chiết trung thuật ngụy biện.
- các sự vật, hiện tượng khác nhau, tồn tại trong không gian, thời gian khác nhau, các mối liên hệ
biểu hiện khác nhau nên trong hoạt động nhận thức thực tiền chúng ta cần quan điểm lịch sử -
cụ thể. Quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi: chúng ta khi nhận thức về sự vật cải tạo s vật phải chú
ý đến điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại phát
triển. Thực tế cho thấy, một luận điểm o đó luận điểm khoa học trong điều kiện này, nhưng s
không luận điểm khoa học trong điều kiện khác.
Câu hỏi 2: Trình bày nguyên lý về sự phát triển.
+ Quan điểm biện chứng: Xem t sự phát triển một quá trình tiến lên từ thấp đến cao. Quá
trình đó diễn ra vừa dần dần vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. trong hiện
thực khách quan hay trong duy, sự phát triển diễn ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng
rất quanh co, phức tạp, thậm chí thể những bước lùi tạm thời nhưng vẫn nằm trong khuynh
hướng của sự phát triển..
K/n: Phát triển một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ m hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.
* Tính chất của sự phát triển
- Sự phát triển mang tính khách quan: Theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của
sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy
sinh trong sự tồn tại vận động của sự vật, nhờ đó sự vật luôn luôn phát triển.
Phát triển sự phát triển tự bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng, ý
chí, ý thức con người. Con người muốn hay không muốn, sự vật vẫn phát triển theo khuynh hướng
chung nhất của nó.
- Sự phát triển mang tính phổ biến: diễn ra mọi lĩnh vực của tự nhiên, hội
duy. bất cứ sự vật hiện tượng nào, vào không gian nào, thời gian nào cũng nằm trong khuynh
hướng của sự phát triển. Ngay cả các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá
trình vận động phát triển, hoặc đúng hơn, mọi hình thức của duy cũng luôn phát triển.
- Sự phát triển còn tính đa dạng phong phú: Khuynh hướng phát triển khuynh hướng
chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật hiện tượng lại quá trình phát triển không
giống nhau. Các sự vật, hiện tường tồn tại không gian khác nhau, thời gian khác nhau, cấu trúc
của chúng khác nhau, không sự vật hiện tượng nào trùng khít n sự vật hiện tượng nào vậy các
dạng phát triển của chúng mang tính khác nhau.
Tồn tại không gian khác nhau, thời gian khác nhau, sự vật phát triển sẽ khác nhau.
Trong quá trình phát triển của mình,sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng
khác, của rất nhiều yếu tố, điều kiện. Sự tác động đó thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của
sự vật, đôi khi thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi.
- Sự phát triển thường diễn ra quanh co, phức tạp, phải trải qua nhiều khâu trung gian,
thậm chí lúc sự thụt lùi tạm thời.
Mỗi sự vật đều quá trình phát triển của riêng mình. Tuy nhiên vẫn phải tuân theo trình
tự chung là: sinh thành lớn lên tiêu vong. Chính sự mất đi của các sự vật, hiện tượng này một
trong những điều kiện ra đời của các sự vật, hiện tượng khác. Bởi vậy, khuynh hướng thụt lùi, đi
xuống lại một điều kiện cho sự phát triển tiến lên cũng nằm trong sự phát triển.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, sự phát triền kết quả của quả trình thay đổi lượng
dẫn tới sự thay đổi về chất, sự phát triển diễn ra theo đường xoáy óc, nghĩa trong quá trình phát
triển dường như sự quay trở lại điểm xuất phát, nhưng trên một sở mới cao hơn.
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Nếu khuynh hướng chung của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan vận động đi lên thì
trong nhận thức va thực tiễn cần phải quan điểm phát triển. Quan điểm phát triển đòi hỏi:
+ Thứ nhất, khi xem xét các sự vật hiện tượng phải đặt trong sự vận động, trong sự phát
triển không ngừng. V.I. Lênin viết: "Lôgic biện chứng đòi hỏi phải xét s vật trong sự phát triển,
trong "sự vận động" (...), trong s biến đổi của nó"
+ Thứ hai, quan điểm phát triển cũng đòi hỏi không chỉ thấy sự vật như là cái đang còn
phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó.
+ Thứ ba, trong quá trình nhận thức đòi hỏi chúng ta phải thây tính quanh co, phức tạp của
quá trình phát triển như một quá trình phổ biến. Thiếu quan điểm như vậy, người ta rất dễ bi quan,
dao động khi tiến trình cách mạng nói chung sự tiến triển của từng lĩnh vực hội cũng như
của nhân nói riêng tạm thời gặp khó khăn trắc trở.
+ Thứ tư, trong hoạt động thực tiễn, nhằm thúc đẩy sự vật phát triển theo quy luật vốn của
đòi hỏi chúng ta phải tìm ra mâu thuẫn của chính sự vật, bằng hoạt động thực tiễn mà giải quyết
mâu thuẫn.
3. CÁC CẶP PHẠM TRÙ BẢN CỦA PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG
Câu hỏi 1: Trình bày phạm trù cái chung cái riêng. (Thi)
- Cái riêng phạm t triết học, dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất
định.
dụ: cái bàn, cái ghế, cái bảng, bạn A, bạn B những cái riêng c thể. Những i riêng cụ thể
này khác nhau về không gian thời gian, tính chất…
- Cái đơn nht phạm trù triết học dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ vốn một sự vật,
hiện tượng (một cái riêng) nào đó không lặp lại sự vật, hiện tượng nào khác.
Thí dụ: vân ngón tay của mỗi người, ADN của mỗi người cái đơn nhất.
Thí dụ khác: Trên thế giới năm 1917 duy nhất cuộc cách mạng sản tháng 10 Nga.
- Cái chung: phạm trù triết học, dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính giống nhau, được
lặp lại trong nhiều sự vật, nhiều hiện tượng, nhiều quá trình riêng lẻ.
dụ: cái bàn, cái ghế, cái bảng, bạn A, bạn B Trong các sự vật riêng lẻ này chúng điểm
chung là đều tồn tại khách quan, điểm chung đó cái chung. dụ khác: Bạn A, bạn B, bạn C
những cái riêng. Bạn A, bạn B, bạn C đều dân tộc kinh, đều máu đỏ, da vàng cái chung
- Mối liên hệ giữa cái chung cái riêng
+ Thứ nhất, “cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng biểu hiện sự tồn
tại của mình”
1
. Điều đó nghĩa cái chung thực sự tồn tại, nhưng chỉ tồn tại trong cái riêng chứ
không tồn tại biệt lập, lửng đâu đó bên cạnh cái riêng. Trong sự vật, hiện tượng tồn tại cả hai loại
thuộc tính, thuộc tính chung thuộc tính riêng ngoài những thuộc tính quy định cái riêng t
những thuộc tính quy định cái chung.
dụ khác: Bạn A, bạn B, bạn C những cái riêng nhưng giữa Bạn A, bạn B, bạn C lại
điểm chung các bạn đều mái tóc….). Mái tóc chỉ một bộ phận của bạn A hoặc bạn B cụ thể.
+ Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, đưa tới cái chung”
1
. Vì, bất
cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ nào không bao giờ tồn tại một cách biệt lập không
đưa đến một cái chung nào đó. Thậm chí cái ta tưởng hết sức xa lạ, nhưng giữa chúng vẫn s
ảnh ởng nhau, đưa đến một cái chung.
dụ: cái cây trong rừng với con người thành phố, chúng ta c tưởng rằng giữa chúng
không điểm chung, nhưng thực chất chúng rất nhiều điểm chung, chúng đều xuất phát từ tế bào,
các tế bào của chúng đều giống nhau về hình thức vỏ, mang, nhân tế bào đề sự tác động của môi
trường, đều chung một hệ sinh thái, đều tồn tại chung một sinh quyển.
dụ của Lênin: Ivan người, Ivan “cái riêng”, người “cái chung”.
+ Thứ ba, Cái riêng i toàn bộ, phong phú hơn Cái chung. Còn Cái chung cái bộ phận,
nhưng sâu sắc hơn Cái riêng.
Cái chung tồn tại trong cái riêng. những trường hợp cụ thể nhất định, cái chung i riêng
không sự mâu thuẫn. Thí dụ: Con người cụ thể cái riêng, con người ai cũng mái tóc, mái tóc
cái chung, mái tóc con người cụ thể không sự mâu thuẫn.
Cái chung cái bộ phận, nhưng sắc hơn cái riêng: dụ: Bạn A, bạn B, bạn C những cái
riêng. Bạn A, bạn B, bạn C đều lòng yêu nước cái chung. Tuy nhiên, việc tìm ra thuộc tính yêu
nước trong cả 3 bạn không đơn giản. Trong thực tiễn, những người tài tổ chức những người có
khả năng tìm ra được cái chung trong vàn cái riêng của mỗi con người, tìm được cái chung mới
quy tụ được nhân tâm về một mối. Năm 1945 Hồ Chí Minh tìm được cái chung của toàn thể n tộc
Việt Nam ai cũng cần cơm no, áo ấm, độc lập, tự do. vậy, Người mới quy tụ được nhân tâm của
toàn thể dân tộc Việt Nam, lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành chính quyền. Việc nhìn thấy mỗi con
người cụ thể thì đơn giản, nhưng việc tìm thấy điểm suy nghĩ giống nhau trong ng triệu con người
thì không đơn giản. Do vậy, phải người duy thật sâu sắc mới tìm ra được cái chung trong
hàng triệu triệu i riêng. Vấn đề đoàn kết dân tộc chính đoàn kết hàng triệu con người có chung
trưởng, chung trí hướng thống nhất với nhau cùng xây dựng đất nước.
+ Thứ , Cái đơn nhất Cái chung thể chuyển hoá lẫn nhau, trong quá trình phát triển
của sự vật. Cái đơn nhất thể chuyển hóa thành cái chung: những sự vật, hiện tượng mới đầu
xuất hiện cái đơn nhất, cái biệt. Nhưng theo quy luật cái mới nhất định sẽ phát triển mạnh lên,
ngày càng trở thành hoàn thiện, tiến tới hoàn toàn chiến thắng cái trở thành cái chung.
dụ: năm 1920 trên thế giới chỉ duy nhất 1 người Việt Nam là đảng viên Đảng Cộng sản
Hồ Chí Minh (cái đặc thù). Bởi vì, lúc bấy giờ hơn 20 triệu người Việt Nam chỉ 1 người duy nhất
đảng viên, Đảng cộng sản. Nhưng sau 100 năm đến năm 2020 Việt Nam gần 5 triệu đảng viên
Đảng Cộng sản. Thời điểm hiện nay, đảng viên Đảng Cộng sản không còn cái đặc t nữa cái
chung của gần 5 triệu người.
Cái chung thể chuyển hóa thành cái đơn nhất: trong thực tiễn những cái ngày càng
mất dần đi từ chỗ cái chung, biến dần thành cái đơn nhất: dụ: cách đây 50 năm, cái cối xay
cái chung phổ biến trong mỗi gia đình của người Việt Nam, nhưng đến nay chỉ duy nhất viện bảo
tàng dân tộc học mới có.
1
Lênin toàn tập (1981)- t29 tr381
1
Lênin toàn tập t29 tr.391
Lưu ý: Cái đơn nhất không thể chuyển hóa thành cái riêng, cái chung không thể chuyển hóa
thành cái riêng.
* Ý nghĩa phương pháp luận
+ Cái chung chỉ tồn tại trong những Cái riêng, thông qua cái riêng biểu hiện mình, nên
muốn phát hiện Cái chung của chúng, phải thông qua việc nghiên cứu nhiều Cái riêng cụ thể. (Muốn
khái quát thành luận (cái chung), phải đúc kết từ các kinh nghiệm trong nhiều trường hợp cụ thể).
+ Cái chung cái sâu sắc, cái bản chất, chi phối Cái riêng, nên trước khi nghiên cứu cụ thể Cái
riêng nào đó, cần nắm bắt Cái chung trước, để khỏi mất phương hướng.
+ Cái chung chỉ tồn tại trong những Cái riêng khác nhau, dưới dạng đã bị cải biến (do sự tác
động một cách khách quan giữa “cái chung” với “cái đơn nhất” trong cái riêng đó), nên khi vận dụng
Cái chung vào Cái riêng cần phải được biệt hoá” cho thích hợp.
+ Không được tuyệt đối hóa mặt nào. Nếu tuyệt đối hóa Cái chung sẽ rơi vào giáo điều, rập
khuôn, kinh viện, “tả khuynh”. Nếu tuyệt đối hóa Cái riêng sẽ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, về
tưởng xét lại, hữu khuynh.
+ Cái đơn nhất Cái chung thể chuyển hóa lẫn nhau, nên trong thực tiễn, cần tạo điều
kiện cho Cái đơn nhất trở thành Cái chung, nếu điều đó lợi cho con người. làm cho Cái chung
bất lợi trở thành Cái đơn nhất.
Câu hỏi 2: Trình bày phạm trù v nguyên nhân kết quả ( Gần mực thì đen, gần đèn t rạng)
* Khái niệm:
-Nguyên nhân một phạm trù triết học sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật
hay giữa các sự vật với nhau, khiến gây ra những biến đổi nhất định.
+ Theo chủ nghĩa Mác để gọi nguyên nhân thì phải sự tương tác, để sự tương tác thì ít
nhất phải hai sự vật, hiên tượng tham gia tác động.
+ Lưu ý 1, cần phải phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ, vấn đề này chỉ xảy ra trong lĩnh vực
hội. Nguyên c sự xuyên tạc, bịa đặt mối quan hệ tương tác. Nguyên cớ mang tính chủ quan,
không phải tự bản thân, sự vật, hiện tượng xuất hiện; nguyên do sự bịa đặt của con người để
phục v mục đích không đúng đắn con người sẵn sàng tạo cớ.
+ Lưu ý 2: Phân biệt nguyên nhân điều kiện: Nguyên nhân sự tác động qua lại lấn nhau
giữa các mặt trong một sự vật hay giữa các sự vật với nhau gây ra, nhưng nguyên cớ chỉ một bên
tác động. Điều kiện môi trường, chất xúc tác để cho sự tác động lẫn nhau ấy tạo ra kết quả.
- Kết quả những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật
hay giữa các sự vật với nhau gây ra. (thí dụ trong tự nhiên, hội, duy).
- Các loại nguyên nhân
+ Nguyên nhân chủ yếu nguyên nhân thứ yếu: Nguyên nhân chủ yếu những tương tác
giữa vai trò trọng tâm, quyết định để gây ra sự biến đổi nhất định của các sự vật, hiện tượng. Nguyên
nhân thứ yếu những tương tác hỗ trợ không đóng vai trò trọng tâm của sự biến đổi y.
+ Nguyên nhân bên trong nguyên nhân bên ngoài; Nguyên nhân bên trong sự tương tác
giữa các thành tố bên trong của một sự vật, hiện tượng gây ra sự biến đổi. Nguyên nhân bên ngoài
sự tương tác giữa sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác (sự vật hiện tượng khác nhau) gây
ra sự biến đổi.
Nguyên nhân bên trong bao giờ củng quyết định sự hình thành, tồn tại phát triển của các kết
cấu vật chất
+ Nguyên nhân khách quan nguyên nhân chủ quan; Nguyên nhân khách quan là những
tương tác gây ra sự biến đối không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
Nguyên nhân chủ quan sự tương tác do yếu tố chủ quan của ý thức con người gây ra sự biến đổi.
*Tính chất của mối liên hệ nhân-quả:
+ Tính khách quan: mối liên hệ nhân quả tính vốn của sự vật, hiện tượng, không phụ
thuộc vào ý muốn ch quan của con người. trong thế lẫn thế giới vi mô, luôn luôn s tương
tác, nghĩa tự bản thân các sự vật đã sự tương tác, sự tương tác ấy không phụ thuộc vào ý muốn
chủ quan của con người.
+ nh phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng đều nguyên nhân nhất định gây ra, không sự vật
hiện tượng nào không nguyên nhân, chỉ nguyên nhân ấy đã được phát hiện hay chưa? sự
vật, hiện tượng con người biết được nguyên nhân sự vật, hiện tượng con người chưa biết nguyên
nhân.
Từ phân tích trên thể hiểu, nguyên nhân kết quả diễn ra trong tất cả các sự vật hiện ợng
trong mọi không gian thì không gian.
+ Tính tất yếu cùng một nguyên nhân, trong những điều kiện giống nhau, sẽ cho ra kết quả như
nhau:
Thực tiễn cho thấy rằng, một nguyên nhân nhất định trong những hoàn cảnh nhất định chỉ
thể gây ra kết quả nhất định. Điều đó chứng tỏ mối liên hệ nhân quả trong những điều kiện nhất định
tính tất yếu. dụ, vật trong chân không luôn rơi với gia tốc 9,8 m/s
2
. Nước áp suất 1 atphotphet
luôn luôn sôi 100°c, v.v.. Chính nhờ tính tất yếu này của mối liên hệ nhân quả hoạt động thực
tiễn của con người mới thể tiến hành được.
* Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân kết quả
- Nguyên nhân cái sinh ra kết quả.
Nguyên nhân được sinh ra trước, còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện
bắt đầu tác động. Tuy nhiên, không phải sự nối tiếp nào trong thời gian của các hiện tượng cũng đều
biểu hiện mối liên hệ nhân quả. dụ, ngày luôn luôn "đến sau" đêm, nhưng không phải nguyên
nhân của đêm.
- Tính phức tạp trong quan hệ nhân-quả
+ 1 nguyên nhân sinh ra 1 kết quả. dụ: 1 phôi trứng gà, ấp nở ra 1 con. Một phôi chứng
nếu không đảm bảo môi trường, nhiệt độ phù hợp t không thể nở ra con gà. ràng: chứng phải
s tương tác của môi trường.
+ 1 nguyên nhân sinh ra nhiu kết qu. Ví d: 1 thy dy, kết qu thi của sinh viên khác nhau. Một thy
giáo tương c với nhiu hc sinh. Mi học sinh th sng khác nhau, có tính ch khác nhau và kh năng
nhn thc khác nhau. Do vy, kết qu hc tập của hc sinh khác nhau.
+ Nhiều nguyên nhân sinh ra 1 kết quả. dụ: việc thu hoạch trong nông nghiệp phụ thuộc vào
nhiều nguyên nhân trong đó có: nước, phân, cần, giống, môi trường tự nhiên…Để một kết quả
được mùa thì trước đó phải nhiều sự tương tác.
+ Nhiều nguyên nhân sinh ra nhiều kết quả. dụ: sự hoạt động đồng bộ hiệu quả của 5
thành phân kinh tế nước ta làm cho sản xuất phát triển, kinh tế tăng trưởng, hội ổn định, an ninh
quốc phòng được bảo đảm, chế độ chính trị được giữ vững...
- Kết quả tác động trở lại với nguyên nhân
+ Nguyên nhân sản sinh ra kết quả. Nhưng sau khi xuất hiện, kết quả không giữ vai trò thụ
động đối với nguyên nhân, trái lại, lại tác động tích cực ngược trở lại đối với nguyên nhân.
+ Kết quả tác động trở lại với nguyên nhân theo chiều hướng tích cực, hoặc tiêu cực tùy thuộc
vào điều kiện sự biến đổi của kết quả đó. Trong đời sống hội còn phụ thuộc vào quan điểm
chủ quan của con người.
- Nguyên nhân kết quả thể hoán đổi vị trí cho nhau: trong mối quan hệ này nguyên
nhân, nhưng mối quan hệ khác kết qu ngược lại. chuỗi nhân quả cùng, tận. Trong thế
giới vật chất, chuỗi quan hệ nhân quả thuỷ chung.
+ Một hiện tượng nào đó với tính cách kết quả do một nguyên nhân nào đó sinh ra, đến lượt
mình, lại trở thành nguyên nhân của hiện tượng khác. Hiện tượng khác này lại trở thành nguyên nhân
của hiện tượng thứ ba v.v. quá trình này cứ thế tiếp tục mãi không bao giò kết thúc, tạo nên một
chuỗi nhân quả cùng tận. Trong chuỗi đó không có khâu nào thể trở thành khâu bắt đầu hay
khâu cuối cùng.
nghĩa phương pháp luận
+ mối liên hệ nhân qu khách quan, phổ biến, tất yếu, nguyên nhân trước kết quả, nên
khi m nguyên nhân của một hiện tượng nào đó, phải m trong thế giới hiện thực ; phải tìm trong
những sự kiện xẩy ra trước hiện ợng đó.
+ Muốn loại bỏ một hiện ợng o đó cần loại bỏ ngun nhân nảy sinh ra . Ngược lại, muốn
cho hiện ợng ấy xuất hiện cần tạo ra ngun nhân cùng với những điều kiện cần thiết.
+ thể nhiều nguyên nhân với những vai trò khác nhau đối với kết quả, nên cần biết
phân biệt các loại nguyên nhân chiều hướng tác động của chúng. Quan tâm đúng mức các nguyên
nhân bản, chủ yếu, bên trong. Trong lĩnh vực hội, cần đặc biệt coi trọng việc phân tích nguyên
nhân chủ quan.
+ kết quả tác động trở lại nguyên nhân (tích cực hoặc tiêu cực), nên cần khai thác sự tác
động trở lại đó cho phù hợp.
Câu hỏi 3: Trình bày phạm trù nội dung hình thức
* Khái niệm
- Nội dung tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên s vật.
- Hình thức phương thức tồn tại phát triển của sự vật, hệ thống các mối liên hệ tương
đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật đó.
Bất cứ sự vật nào cũng có hình thức bên ngoài hình thức bên trong. Hình thức bên ngoài
tất cả những biểu hiện ra con người thể nhìn thấy trực tiếp, còn hình thức bên trong hình
thức của các bộ phận, của các quá trình bên trong sự vật mà con người không thể nhìn thấy bằng
trực giác. Phép biện chứng duy vật chú ý chủ yếu đến nh thức bên trong của sự vật, nghĩa nói đến
hình thức bên trong gắn liền với nội dung, cấu bên trong của nội dung.
* Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung hình thức
- Nội dung hình thức tồn tại khách quan. Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng các bộ phận,
các yếu tố cấu thành, tức phải có nội dung nội dung ấy phong phú hay đơn giản. Đồng thời,
các bộ phận, các yếu tố đó phải được sắp xếp theo một trật tự nhất định, phải hình khối, màu sắc...
do đó, phải hình thức hình thức này hợp hay chưa hợp lý.
- Nội dung hình thức luôn gắn chặt chế với nhay nội dung thể thống nhất
Không hình thức nào tồn tại thuần túy không chứa đựng nội dung, ngược lại không nội
dung nào lại không tồn tại trong một hình thức xác định.
- Mối quan hệ giữa nội dung hình thức mang tính phức tạp: Một nội dung thể được thể
hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Một hình thức thể được áp dụng với nhiều nội dung khác
nhau.
Không phải một nội dung bao giờ cũng chỉ được thể hiện ra trong một hình thức nhất định,
một hình thức luôn chỉ chứa một nội dung nhất định, cùng một nội dung trong tình hình phát triển
khác nhau thể nhiều hình thức, ngược lại, cùng một hình thúc thể hiện nhiều nội dung
khác nhau.
- Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức. Trong mối quan hệ giữa nội dung hình
thức thì nội dung khuynh hướng chủ đạo biến đối, còn hình thức khuynh hướng chủ đạo
tương đối bền vững, chậm biến đổi hơn so với nội dung. Khi nội dung đã biến đổi tới một giói hạn
nhất định thì hình bắt buộc phải thay đổi theo.
- S tác động trở lại của hình thức đối với nội dung. Hình thức do nội dung quyết định, nhưng
hình thức tính độc lập tương đối tác động trở lại nội dung. Sự tác động của hình thức đến nội
dung theo hai hướng, cụ thể là: Nếu phù hợp với nội dung t hình thức sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc
đấy nội dung phát triển. Nếu không phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ ngăn cản, kìm hãm sự phát
triển của nội dung.
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn phải chú ý đến sự thống nhất giữa nội
dung hình thức, không được tách rời hình thức khỏi nội dung, hoặc tuyệt đôi hóa một trong hai mặt
đó. Đặc biệt cần chống chủ nghĩa hình thức.
- Cùng một nội dung trong quá trình phát triển của sự vật thể nhiều hình thức, ngược lại
một hình thức thể chứa đựng nhiều nội dung. vậy, trong hoạt động thực tiên cải tạo hội cần
phải chủ động sử dụng nhiều hình thức khác nhau, đáp ứng với yêu cầu thực tiễn của hoạt động cách
mạng trong giai đoạn khác nhau.
- Nội dung quyết định hình thức, do vậy để nhận thức cải tạo sự vật , trước hết phải căn cứ
vào nội dung, song hình thức tính độc lập tương đối tác động trở lại nội dung, nên trong hoạt
động thực tiễn phải thường xuyên đối chiếu giữa nội dung hình thức, làm cho hình thức phù hợp
với nội dung để thúc đẩy nội dung phát triển.
- Khi hình thức đã lạc hậu, mâu thuẫn với nội dung thì phải kiên quyết thay đổi hình thức để tạo
điều kiện thuận lợi cho nội dung phát triển.
Câu hỏi 4: Trình bày phạm trù bản chất hiện tượng
* Khái niệm
- Bản chất tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên ơng đối ổn định bên trong sự
vật, quy định sự vận động phát triển của sự vật đó.
- Còn hiện ợng sự biểu hiện của những mặt, những mối liên hệ ấy ra bên ngoài ( Hiện ợng sự
biểu hiện ra bên ngoài của bản chất )
* Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất hiện tượng
- Bản chất hiện tượng tồn tại khách quan, là cái vốn của sự vật không do ai sáng tạo ra.
- Giữa bản chất hiện tượng mối quan hệ biện chứng: vừa thống nhất gắn chặt chẽ với nhau,
vừa mâu thuẫn đối lập nhau.
- Sự thống nhất giữa bản chất hiện tượng:
+ Thứ nhất, bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng, còn hiện ợng bao giờ cũng sự biêu
hiện của bản chất mức độ nhất định. Không bản chất nào tồn tại thuần túy ngoài hiện tượng,
đồng thời cũng không hiện tượng nào hoàn toàn không biểu hiện ra bản chất.
+ Thứ hai, bản chất hiện tượng về căn bn phù hợp với nhau. Bản chất được bộc lộ ra những
hiện tượng tương ứng. Bản chất nào thì hiện tượng ấy, bản chất khác nhau sẽ bộc lộ những hiện
tượng khác nhau. Bản chất thay đổi t hiện tượng biểu hiện cũng thay đối theo. Khi bản chất biến
mất t hiện ợng biểu hiện cũng mất theo.
- Sự mâu thuẫn giữa bản chất hiện tượng ( Thương cho roi cho vọt / Ghét cho ngọt cho bùi )
+ Thứ nhất, bản chất phản ánh cái chung tất yếu, cái chung quyết định sự tồn tại phát triển của sự
vật, còn hiện tượng phản ánh cái biệt.
+ Thứ hai, bản chất mặt bên trong ẩn giấu sâu xa của hiện thực khách quan, còn hiện tượng mặt
bên ngoài của hiện thực khách quan ấy.
Thứ ba, bản chất tương đối ổn định, biến đổi chậm; còn hiện tượng không ổn định, luôn trôi qua,
biến đổi nhanh hơn so với bản chất.
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Bản chất không tồn tại thuần túy tồn tại trong sự vật biểu hiện qua hiện tượng, do đó, muốn
nhận thức được bản chất của sự vật phải xuất phát từ những sự vật, hiện tượng, quá trình thực tế.
- Bản chất của sự vật không được biểu hiện đầy đủ trong một hiện tượng nhất định cũng biến đổi
trong quá trình phát triển của sự vật. Do đó, cần phải phân tích, tông hợp sự biến đổi của nhiều hiện
tượng, nhất những hiện tượng điển hình thì mới hiểu được bản chất của sự vật, từ bản chất ít
sâu sắc mới tiến tới nhận thức bản chất sâu sắc hơn.
- Vì bản chất cái tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động phát triển của
sự vật; còn hiện tượng cái không ổn định, không quyết định sự vận động phát triển của sự vật. Do
vậy, trong nhận thức không được chỉ dừng lại hiện tượng mà phải tiến đến nhận thức được bản chất
của sự vật. Còn trong hoạt động thực tiến, phải dựa vào bản chất của sự vật để xác định phương thức
hoạt động cải tạo sự vật chứ không được dựa vào hiện tượng.
4. CÁC QUY LUẬT BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Câu hỏi 1: Trình bày quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những sự thay đổi v
chất ngược lại ( quy luật Lượng Chất ) (Thi)
- Vị t của quy luật : Chỉ ra cách thức vận động phát triển của sự vật, hiện tượng
*Khái niệm
+ Thuộc tính của sự vật đặc điểm, những tính chất, những trạng thái vốn của sự vật, cấu thành
nên s vật, nhờ đó sự vật tồn tại qua đó con người nhận thức được sự vật
Thuộc tính bản: Thuộc tính cấu thành chất của sự vật. Khi thay đổi thì chất của sự
vật thay đổi.
Thuộc tính không bản: Không quyết định chất của sự vật. thay đổi thậm chí mất đi,
thể không làm cho chất thay đổi
- Chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn của sự vật, hiện tượng, là s thống
nhất hữu c thuộc tính làm cho không phải cái khác
- Lượng dùng để chỉ tính quyết định khách quan vốn của sự vật về phương tiện : số
lượng các yếu tố cấu thành, quy của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận
động phát triển của sự vật.
*Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
- Sự biến đổi về lượng sẽ dẫn đến sự biến đổi về chất
+ Các sự vật hiện tượng đều thể thống nhất giữa chất lượng
+ Bên cạnh sự thống nhất, sự biến đổi về chất bắt đầu t sự thay đổi dần về lượng
+ Lượng biến đổi dần dần : Tăng ( tích lũy dần về lượng ), giảm
Biến đổi về lượng tăng hoặc giảm đều dẫn đến biến đổi về chất
-
Lượng của s vật thay đổi đến một giới hạn nhưng chưa làm thay đổi chất của sự vật
thì người ta gọi đó “ĐỘ”
-
“Độ” khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản
bản chất của sự vật, hiện tượng.
- Chỉ khi nào đạt đến “Điểm nút” thì chất của sự vật mới thể thay đổi.
-
“Điểm nút” điểm giới hạn tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi chất của
sự vật
-
Chất mới thay thế chất cũ, sự vật mới ra đời thay thế sự vật phải thông qua “Bước
nhảy”
-Bước nhảy
+ ng để chỉ sự chuyển hóa về chất của s vật do sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó
gây n
+ sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật điểm khởi đầu của một giai đoạn
phát triển mới.
Theo nhịp điệu bước nhảy
+ Bước nhảy đột biến
+ Bước nhảy dần dần
Theo quy bước nhảy
+ Bước nhảy toàn bộ
+ Bước nhảy cục bộ
-Sự tác động trở lại của những biến đổi về chất đối với những biến đổi về lượng
+ Chất mới của sự vật ra đời sẽ tác động trở lại lượng của sự vật
+ Chất mới ấy thể làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động
phát triển của sự vật
nghĩa phương pháp luận
- Trong nhận thức thực tiễn phải biết tích lũy về lượng để biến đổi về chất; Không được
nôn nóng cũng như không được bảo thủ
- Khi lượng đã đạt đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy yêu cầu khách quan của sự vận
động của sự vật, hiện tượng vậy tránh chủ quan, nóng vội đốt cháy giai đoạn hay bảo thủ,
thụ động
- Phải thái độ khách quan, khoa học thái độ quan tâm thực hiện bước nhảy; trong lĩnh
vực hội phải chú ý đến các điều kiện chủ quan.
- Phải nhận thức được phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật, hiện tượng để
lựa chọn phương án phù hợp.
Câu hỏi 2: Trình bày Quy luật thống nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập. (Thi)
-Vị trí của quy luật: hạt nhân của phép biện chứng , chỉ ra nguồn gốc động lực của sự
vận động phát triển của sự vật, hiện tượng.
*Khái niệm tính chất chung của mâu thuẫn
Khái niệm
-Mâu thuẫn thông thường là chắc tại xung đột, trong đôi trái ngược nhau về hình thức
nội dung.
-Theo quan điểm siêu hình: mâu thuẫn cái đối lập phản logic, không sự thống nhất,
không sự chuyển hóa biện chứng giữa các mặt đối lập.
-Theo triết học Mác-Lênin
+ Khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh chuyển hóa giữa các
mặt đối lập của mỗi sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
-> Đó mâu thuẫn biện chứng
+ Mặt đối lập khái niệm dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng
vận động trái ngược nhau nhưng đồng thời lại điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau.
Tính chất chung của mâu thuẫn
+) Tính khách quan
Mâu thuẫn tồn tại vốn trong bản thân các sự vật, hiện tượng không do ai quy định.
+) Tính đa dạng phong phú
+) Tính phổ biến: mâu thuẫn tồn tại trong mỗi sự vật hiện tượng, trong quá trình, trong mọi
lĩnh vực tự nhiên - hội duy
- Mỗi s vật, hiện tượng quá trình đều những mâu thuẫn khác nhau.
- Cùng một sự vật hiện tượng trong những điều kiện lịch sử c thể khác nhau, xuất hiện
những mâu thuẫn khác nhau.
* Quá trình vận động của mâu thuẫn
Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau.
- Sự thống nhất giữa các mặt đối lập
+ Thứ nhất, các mặt đối lập nương tựa làm tiền đề cho nhau tồn tại.
+ Thứ hai, Các mặt đối lập tác động ngang nhau cân bằng nhau, thể hiện sự đấu tranh giữa cái
mới đang hình thành với cái chưa mất hẳn.
+ Thứ ba, giữa các mặt đối lập sự tương đồng.
- Sự đấu tranh của các mặt đối lập
+ Đấu tranh của các mặt đối lập sự tác động qua lại theo xu hướng bài tr và phủ định lẫn
nhau của các mặt đó.
+ Tính đa dạng của hình thức đấu tranh giữa các mặt đối lập cũng như của mối quan hệ qua
lại giữa chúng phụ thuộc vào lĩnh vực tồn tại của các mặt đối lập.
+ Sự thống nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập mối quan hệ biện chứng với nhau, trong
đó sự thống nhất giữa các mặt đối lập tương đối, đấu tranh giữa các mặt đối lập tuyệt đối,
bởi trong khi quy định, ràng buộc lẫn nhau hai mặt đối lập vẫn luôn có xu hướng phát triển
trái ngược nhau, đấu tranh với nhau.
- Sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập.
+ Thứ nhất, sự chuyển hóa từng mặt, từng khía cạnh của mặt đối lập này sao nổi lập
khác.
+ Thứ hai, thể mặt đối lập này chuyển thành mặt đối lập khác.
+ Thứ ba, cả hai mặt đối lập đều bị mất đi chuyển thành hai mặt đối lập mới trong sự
vật mới.
- Quá trình hình thành của mâu thuẫn
Đồng nhất - Khác nhau ( xung đột ) - Mâu thuẫn
+ Khi mới suất hiện, mâu thuẫn được biểu hiện sự khác nhau của hai mặt. Song, không phải
bất cứ sự khác nhau nào của các mặt cũng mâu thuẫn. Chỉ còn hai mặt khác nhau nào liên
hệ hữu với nhau trong một chỉnh thể khuynh hướng phát triển trái ngược nhau thì
mới hình thành bước đầu mâu thuẫn.
+ Sau đó phát triển lên thành hai mặt đối lập. Khi hai mặt đối lập của màu thuận xung đột với
nhau gây gắt khi điều kiện chín muồi thì giữa chúng sự chuyển hóa.
+ Mâu thuẫn được giải quyết. Mâu thuẫn mất đi, mâu thuẫn mới được hình thành, lại một
quá trình mới làm cho sự vật không ngừng vận động, phát triển.
- Phân loại mâu thuẫn
+ Căn cứ vào quan hệ với các sự vật, hiện tượng được xem xét: mâu thuẫn bên trong mâu
thuẫn bên ngoài. Mâu thuẫn giữa đồng hóa, dị hóa
+ Căn cứ vào ý nghĩa tồn tại phát triển của toàn bộ sự vật hiện tượng có: mâu thuẫn bản,
mâu thuẫn không bản
dụ: mâu thuẫn giữa giai cấp sản với giai cấp sản
+ Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn : mâu thuẫn chủ yếu mâu thuẫn thứ yếu
+ Căn cứ vào tính chất các lợi ích đối lập tạo thành mẫu thuẫn hội: mâu thuẫn đối kháng
( lực,..) , mâu thuẫn không đối kháng ( đàm phán,…)
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Mâu thuẫn hiện tượng khách quan, phổ biến
-> Trong nhận thức thực tiễn Phải tôn trọng mâu thuẫn( không được lẫn tránh mâu thuẫn
cũng như không được tạo ra mâu thuẫn )
- Mẫu thuẫn nguồn gốc động lực của sự phát triển
-> Muốn thúc đẩy được mâu thuẫn phải nhận thức được mâu thuẫn, tìm cách giải quyết được
mâu thuẫn, tạo điều kiện thúc đẩy sự đấu tranh của các mặt đối lập theo chiều hướng phát
triển.
- Mọi mâu thuẫn đều quá trình phát sinh, phát triển biến hóa. Sự vật khác nhau thì
mâu thuẫn khác nhau. Mỗi mâu thuẫn có đặc điểm riêng.
-> Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể tìm cách giải quyết mâu thuẫn.
Câu hỏi 3: Trình bày quy luật phủ định của phủ định (Thi)
-Vị trí của quy luật trong phép biện chứng: chỉ ra khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện
tượng
* Khái niệm phủ định biện chứng
- Phủ định nói chung sự thay thế một sự vật, hiện tượng này bởi một sự vật, hiện tượng
khác : A => B
- Phủ định biện chứng tự phụ định, tự phát triển của sự vật, hiện tượng, “mắt xích” trong
“sợi dây chuyền” dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới, tiến bộ hơn so với sự vật, hiện
tượng cũ.
* Tính chất của phủ định biện chứng
- Tính khách quan
+ kết quả của việc giải quyết màu thuận nội tại bên trong bản thân của mỗi sự vật.
+ một không tất yếu của quá trình phát triển.
- Tính kế thừa
+ Cái mới ra đời không xóa bỏ hoàn toàn mọi yếu tố của i chị sợ bỏ những yếu tố đã
lỗi thời, lạc hậu, giữa lại các yếu tố tích cực, tiến bộ, cải biến chúng trở thành những yếu tố
của cái mới.
* Nội dung của quy luật
- Tính khách quan tính kế thừa (vì phủ định của phủ định chính phủ định biện chứng)
- Tính chu kỳ: từ một điểm suất phát trải qua một số lần phủ định, sự vật dường như quay trở
lại điểm xuất phát nhưng trên sở cao hơn.
+ những sự vật trải qua 2,3,4 lần phủ định nhưng kết quả lại vẫn chỉ hai lần phủ định cơ
bản trái ngược nhau.
Phủ định lần thứ nhất: làm cho sự vật trở thành cái đối lập với chính nó, tức chuyển từ
khẳng định sang phủ định.
Phủ định lần hai (Phủ định của phủ định ): Sự vật mới ra đời, đối lập với cái đối lập nên sự
vật dường như quay lại cái trên sở cao hơn, đó đặc điểm bản của quy luật phủ định
của phủ định.
- dụ: Cái khẳng định trải qua phủ định lần 1 -> cái phủ định trải qua phủ định lần 2 -> Cái
phủ định của phủ định
- Tính phát triển về chất
Phủ định của phủ định không đơn giản chỉ của sự vật ban đầu sang cái đối lập, sự phủ
định đã qua một số phụ định biện chứng, bao hàm trong sự chuyển hóa lẫn nhau của các
mặt đối lập, làm xuất hiện một sự vật mới trong đó khôi phục lại một số đặc trưng của cái
xuất phát, ban đầu nhưng trên sở mới cao n về chất.
- Bản chất của quy luật
Quy luật phủ định của phủ định nêu lên mối liên hệ sự kế thừa giữa sự vật sự tự phụ định
của nó, nhờ đó sự phủ định biện chứng điều kiện cho sự phát triển, bảo tồn một số nội
dung của các giai đoạn trước bổ sung thêm những thuộc tính mới, dẫn tới phủ định của phủ
định làm cho sự phát triển theo khuynh ớng đường xoáy ốc
* Khuynh hướng của sự phát triển theo đường “xoáy ốc”
- Thể hiện tính chất biện chứng của sự phát triển, đó tính kế thừa, tính lập lại tính tiến
lên.
- Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc dường như lập lại nhưng với một trình độ cao hơn
- Sự tiếp nối của c vòng trong đường xoáy ốc phản ánh quá trình phát triển tận từ thấp
đến cao của sự vật, hiện tượng trong thế giới
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Nhận thức đúng đắn về xu hướng phát triển của s vật
- Tránh thái độ phủ định sạch trơn cái
- Phải biết kế thừa chọn lọc những tinh hoa của cái cũ.
- Phải biết phát hiện ra cái mới ủng hộ nó.
5. LUẬN NHẬN THỨC DUY VẬT BIỆN CHỨNG
Câu hỏi 1: Trình bày thực tiễn vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
* Khái niệm thực tiễn
- Thực tiễn toàn bộ những hoạt động vật chất cảm tính tính lịch sử - hội của con
người nhằm cải tạo tự nhiên hội phục vụ nhân loại tiến bộ.
+ Các hình thức bản của thực tiễn
Hoạt động sản xuất vật chất
Hoạt động chính trị - hội
Hoạt động thực nghiệm khoa học
- Vai t của thực tiễn đối với nhận thức
+ Thứ nhất, Thực tiễn sở, là nguồn gốc của nhận thức
+ Thứ hai, thực tiễn động lực của nhận thức
+ thứ ba, Thực tiễn là mục đích của nhận thức
+ Thứ tư, thực tiễn là tiêu chuẩn để ktra chân
Câu hỏi 2: Trình bày con đường biện chứng của sự nhận thức chân
- Trong tác phẩm “bút triết học” Lênin đã khái quát từ trực quan sinh động -> duy trừu
tượng từ duy trừu tượng -> thực tiễn đó con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của
sự nhận thức hiện thực khách quan.
- Nhận thức của con người được chia làm 2 giai đoạn
1. Trực quan sinh động -> duy trừu tượng
2. duy trừu ợng -> thực tiễn
+ Trực quan sinh động còn gọi nhận thức cảm tính
+ duy chiều tượng còn gọi nhận thức tính
a) Giai đoạn từ nhận thức cảm tính sang nhận thức tính
* Nhận thức cảm tính giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Đó giai đoạn con người
sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật nhầm nắm bắt sự vật ấy.
-Nhận thức cảm tính gồm ba hình thức: cảm giác, tri giác, biểu trước.
+ Cảm giác sự phản ánh từng mặt, từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng khi chúng
đang tác động trực tiếp vào các giác quan của con người.
+ Tri giác là sự tổng hợp của nhiều cảm giác
+ Biểu tượng hình thức phản ánh cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính khâu trung
gian chuyển từ nhận thức cảm tính sang nhận thức tính
- Nhận xét về nhận thức cảm tính
Từ ba hình thức nhận thức cảm tính chúng ta thấy trong nhận thức cảm tính đã tồn tại cả cái
bản chất, hiện ợng, các cái tất yếu, ngẫu nhiên các cái bên trong lẫn bên ngoài của sự vật.
Nhưng đây con người chưa phân biệt được cái bản chất không bản chất, đâu tất
nhiên đâu ngẫu nhiên vậy đâu n trong bên ngoài nên chưa nắm bắt được cái bản chất, cái tất
yếu, cái bên trong của s vật.
Muốn nắm bắt được bản chất của sự vật thì nhận thức của con người, phát triển lên một trình
độ mới cao hơn về chất. Đó trình độ nhận thức lý tính ( giai đoạn duy trừu tượng )
* Nhận thức tính giai đoạn cao hơn của quá trình nhận thức. Thông qua duy chiều
tượng con người phản ánh được bản chất sự vật một cách trực tiếp, khách quan, chiều tượng đầy
đủ hơn.
+ Khái niệm hình thức bản của duy trừu tượng phản ánh những đặc tính bản chất của
sự vật. Sự hình thành khái niệm kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm,
thuộc nh của sự vật hay một lớp sự vật.
+ Phán đoán hình thức duy liên kết các khái niệm lại với nhau để phản ánh mối liên hệ
của các sự vật, hiện tượng nhầm khẳng định hay phủ định một đặc điểm, một thuộc tính o đó của
đối tượng.
+ Suy luận hình thức cao nhất của nhận thức tính, phản ánh những mối liên hệ phức tạp
giữa các sự vật hiện tượng. Suy luận sự liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra phán đoán
mới.
* Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính tính.
- hai giai đoạn của quá trình nhận thức, giữa chúng sự tác động qua lại, không thể tách rời.
Chúng đều phản ánh thế giới vật chất, đều cùng một sở sinh duy nhất hệ thần kinh của
con người đều cùng chịu sự chi phối của thực tiễn lịch sử - hội.
- Nhận thức cảm tính cung cấp những hình ảnh chân thực, bề ngoài của sự vật hiện tượng
sở của nhận thức tính. Không nhận thức cảm tính thì không nhận thức tính. nhận thức
cảm tính không nhận thức tính thì không thể nắm bắt được bản chất quy luật của sự vật.
- Những thức lý tính cung cấp sở luận các phương pháp nhận thức cho nhận thức cảm
tính nhanh chính xác hơn.
- Tránh tuyệt đối hóa nhận thức cảm tính sẽ rơi vào chủ nghĩa duy cảm hoặc phủ nhận vai t
của nhận thức cảm tính sẽ rơi vào chủ nghĩa duy cực đoan.
b) Giai đoạn giữa nhận thức cảm tính đến thực tiễn ( sự thống nhất giữa trực quan sinh
động ,tư duy trừu tượng thực tiễn )
- Quá trình nhận thức được bắt đầu t thực tiễn trở về thực tiễn để kiểm tra, khẳng định chân
sai lầm.
- Quay trở v thực tiễn chứng tỏ nhận thức đã hình thành một chu trình biến chứng của . Từ
thực tiễn mới, một chu trình nhận thức mới lại được bắt đầu làm quá trình nhận thức của con người
không ngừng vận động phát triển.
- Vòng khâu của nhận thức được lặp đi lặp lại nhưng sâu hơn về bản chất, quá trình giải
quyết mâu thuẫn nảy sinh trong nhận thức, giữa chưa biết biết, giữa biết ít biết nhiều, giữa
chân sai lầm.
6. HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI
Câu hỏi 1: Trình bày sự biện chứng giữa LLSX-QHSX (Thi)
a) Khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
- Phương thức sản xuất bao gồm: lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất.
- Phương thức sản xuất phạm trù dùng để chỉ cách thức con người sử dụng để sản xuất ra của
cải vật chất trong giai đoạn lịch sử nhất định.
- Phương thức sản xuất sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất một trình độ nhất định với
quan hệ sản xuất tương ứng.
- Vai trò của phương thức sản xuất: quyết định sự chuyển biến của hội loài người qua các
giai đoạn lịch sử.
- Lực lượng sản xuất toàn bộ các nhân tố vật chất, thuật của quá trình sản xuất, chúng tồn
tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, tạo ra năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật
chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người hội.
b) Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất mối quan hệ thống nhất biện chứng,
trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng
sản xuất.
* Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
- Lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất hai mặt bản, tất yếu của quá trình sản xuất. Trong đó
lực ợng sản xuất nội dung của phương thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất hình thức của
phương thức sản xuất.
=> Lực lượng sản xuất nào thì quan hệ sản xuất ấy
Khi lực lượng sản xuất sự thay đổi => quan hệ sản xuất cũng phải thay đổi theo
- Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi khách quan
của nền sản xuất
Lực lượng sản xuất thường xuyên biến đổi còn quan hệ sản xuất lại mang tính ổn định tương đối.
vậy, khi lực lượng sản xuất biến đổi buộc quan hệ sản xuất biến đổi theo.
- Yêu cầu khách quan của phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến việc xóa bỏ quan hệ sản xuất
cũ, thay thế bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, để mở đường thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển.
- Trong hội có giai cấp đối kháng, màu thuận giữa lực lượng sản xuất mới quan hệ sản xuất lỗi
thời sở khách quan của các cuộc đấu tranh giai cấp, đồng thời cũng tiền đề tất yếu của c
cuộc cách mạng hội.
* Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất.
- Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ hình thành hệ
thống động lực thúc đẩy sản xuất phát triển; đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền sản xuất.
- Sự tác động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất thể diễn ra theo hai chiều hướng
phù hợp ( thúc đẩy ) hoặc không phù hợp ( kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất) .
- Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất làm cho lịch sử hội loài
người lịch sự kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất từ thấp lên cao.
* Ý nghĩa phương pháp luận.
- Phát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sản xuất, trước hết là phát triển lực lượng lao
động công cuộc lao động.
- Muốn xóa bỏ một quan hệ sản xuất cũ, thiết lập một quan hệ sản xuất mới phải xuất phát t tính tất
yếu kinh tế, yêu cầu khách quan của quy luật kinh tế, chống tùy tiện, chủ quan, duy tâm, duy ý chí.
Câu hỏi 2 : Trình bày sự biện chứng giữa cơ sở hạ tầng kiến trúc thượng tầng. (Thi)
a) Khái niệm sở hạ tầng kiến trúc thượng tầng của hội.
- sở hạ tầng toàn bộ những quan hệ sản xuất của một hội trong sự vận động hiện thực của
chúng hợp thành cấu kinh tế của hội đó.
- Cấu trúc của sở hạ tầng.
+ Quan hệ sản xuất thống trị
+ Quan hệ sản xuất tàn
+ Quan hệ sản xuất mầm mống.
- Kiến trúc thượng tầng toàn bộ những quan điểm, tưởng hội ( chính trị, pháp quyền, triết học,
đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật…) Cùng với những thiết chế hội tương ứng như (nhà nước, đảng phái,
giáo hội, các đoàn thể hội…) được hình thành trên một sở hạ tầng nhất định.
b) Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa sở hạ tầng kiến trúc thượng tầng.
* Vai trò quyết định của sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
- Theo quan điểm duy vật lịch sử, quan hệ vật chất quyết định quan hệ tinh thần. Kinh tế xét đến cùng
quyết định chính trị - hội.
- sở hạ tầng nguồn gốc để hình thành kiến trúc thượng tầng
- sở hạ tầng quyết định đến cấu, tính chất s vận động, phát triển của kiến trúc thượng tầng.
- Sự thay đổi của sở hạ tầng sẽ dẫn tới sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng.
* Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với sở hạ tầng
-Vai trò kiến trúc thượng tầng bảo vệ, duy trì, củng cố lợi ích kinh tế của giai cấp thống trị hội
( nhà nước); đảm bảo sự thống trị về chính tr tư tưởng của giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế.
- Trong các bộ phận của kiến trúc thượng tầng thì nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, tác
dụng to lớn đối với sở hạ tầng
- Các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng cũng tác động mạng mẽ đến sở hạ tầng.
- Tác động của kiến trúc thượng tầng đối với sở hạ tầng diễn ra theo hai chiều ớng tích cực
tiêu cực.
* Ý nghĩa của phương pháp luận
- sở khoa học cho việc nhận thức 1 cách đúng đắn Mối quan hệ giữa kinh tế chính trị trong
đó kinh tế quyết định chính trị, chính trị tác động trở lại to lớn mạnh mẽ đối với kinh tế.
- Trong nhận thức thực tiễn, nếu tách rời hoặc tuyệt đối hóa một yếu tố nào giữa kinh tế chính
trị đều sai lầm.
- Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đổi mới toàn diện cả kinh tế chính trị, trong đó đổi mới kinh
tế trung tâm đồng thời đổi mới chính trị.
Câu hỏi 3: Trình bày sự biện chứng giữa Tồn tại hội ý thức hội
Câu hỏi 4: Trình bày phạm trù nh thái kinh tế - hội quá trình lịch sử - tự nhiên.(Thi)
+ K/n: Hình thái kinh tế hội một phạm t của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ
hội từng giai đoạn phát triển lịch s nhất định, với những quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội
đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất với một kiến trúc thượng tầng tương
ứng được xây dựng lên trên những quan hệ sản xuất đó.
*Cấu trúc
+ nh thái kinh tế - hội một hệ thống hoàn chỉnh, cấu trúc phức tạp, trong đó các
mặt cơ bản lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất kiến trúc thượng tầng. Mỗi mặt của hình thái
kinh tế - hội vị t riêng tác động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau.
+ Lực lượng sản xuất nhân tố quan trọng, bản nhất, yếu tố tạo thành nội dung vật chất
kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế sản xuất. Mỗi hình thái kinh tế sản xuất khác nhau thì lực
lượng sản xuất khác nhau. Sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành phát triển
thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế hội.
+ Quan hệ sản xuất quan hệ khách quan, bản, chi phối quyết định mọi quan hệ
hội, đồng thời tiêu chuẩn quan trọng nhất để phân biệt bản chất các chế độ hội khác nhau.
+ Những QHSX của một hội cụ thể hợp thành CSHT, trên đó hình thành lên một KTTT
hội, chức năng XH của bảo vệ, duy trì phát triển sở hạ tầng đã sinh ra nó.
- Tiến trình lịch sử - tự nhiên của hội loài người
+ Sự vận động thay đổi của các hình thái kinh tế hội trong lịch sử không tuân theo ý chí
chủ quan của con người tuân theo quy luật khách quan. Đó chính do sự tác động của quy luật
quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất quy luật sở hạ
tầng quyết định kiến trúc thượng tầng c quy luật hội khác.
+ Nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của hội, của lịch sử nhân loại, của mọi lĩnh
vực kinh tế hội suy cho đến cùng đều do nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp t sự phát triển
của lực lượng sản xuất hội.
Lực lượng sản xuất nền tảng vật chất - kỹ thuật, quyết định sự hình thành, phát triển thay
thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế - hội, trong đó “Quan hệ sản xuất những quan hệ bản
ban đầu quyết định tất cả mọi mối quan hệ hội khác”
19
.
Sự vận động phát triển của hội bắt đầu từ sự phát triển của lực lượng sản xuất trước hết
s biến đổi, phát triển của công cụ sản xuất sự phát, triển về tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của
người lao động. Mỗi sự phát triển của lực lượng sản xuất đều tạo khả năng, điều kiện đặt ra yêu
cầu khách quan cho sự biến đổi của quan hệ sản xut. Sự phù hợp biện chứng giữa quan hệ sản xuất
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là yêu cầu khách quan của nền sản xuất hội. Khi lực
lượng sản xuất phát triển về chất, đòi hỏi phải xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất
mới về chất. Sự phát triển về chất của quan hệ sản xuất, tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chất của sở
hạ tầng hội. Khi sở hạ tầng hội biến đổi về chất dẫn đến sự biến đổi, phát triển căn bản
(nhanh hay chậm, ít hoặc nhiều) của kiến trúc thượng tầng hội. Hình thái kinh tế - hội mất
đi, hình thái kinh tế - hội mới, tiến bộ hơn ra đời. Cứ như vậy lịch sử hội loài người một tiến
trình nối tiếp nhau từ thấp đến cao của các hình thải kinh tế - hội:
Tiến trìnhlch s xã hi loài ngưi kết quả của sự thống nhất giữa lôgíc lịch sử. Xu hướng
bản, xu hướng chung của sự vận động, phát triển lịch sử loài người do sự chi phối của quy luật
khách quan (thống nhất giữa cái chung với cái đặc thù cái riêng) xét đến cùng sự phát triển của
lực lượng sản xuất Lôgic của toàn bộ tiên trinh lịch loài ngươi la sự ke tiếp nhau của các hình
thái kinh tể I hội từ thấp đến cao.
S thng nht gia logic và lch s trong tiến trình lịch sử - tự nhiên của hội loài người bao
hàm cả s phát trin tun t đối với lịch sử phát triển toàn thế giới s phát trin b quá một hay vài
hình thái kinh - hội đối với một số quốc gia, dân tộc cụ thể.
+ Quá trình phát triển của hình thái kinh tế hội quá trình thay thế nhau của hình thái
kinh tế - hội trong lịch sử nhân loại, đó cũng quá trình phát triển của lịch s hội loài
người, thể là do nhiều sự tác động của nhân tố chủ quan, nhưng nhân tố giữ vai trò quyết định
sự tác động của các quy luật khách quan.
Hình thi kinh tế-xã hi cng sn ch nghĩa ra đời tất yếu khách quan của lịch sử hội. Phát
triển xu hướng tất yếu, bản của lịch sử hội loài người. Chủ nghĩa bản không phải nấc
thang phát triển cuối cùng của hội loài người. Chính những mâu thuẫn bản trong lòng hội
bản đã quyết đinh sự vận động phát triển của hội loài người.
- Giá trị khoa học của học thuyết hình thái kinh tế –xã hội:
19
LN, nxb Mcv 1974,t1,tr159

Preview text:

CÂU HỎI ÔN TẬP TRIẾT
1. VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
Câu hỏi 1: Trình bày quan điểm của triết học Mác -Lênin về vật chất (Thi)
Quan điểm của Mác – Ăngghen về vật chất
- Mác và Ph. Ăngghen trong khi đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri và phê
phán chủ nghĩa duy vật - siêu hình, máy móc đã đưa ra những tư tưởng hết sức quan trọng về vật chất.
Theo Ph.Ăngghen, để có một quan niệm đúng đắn về vật chất, cần phải có sự phân biệt rõ ràng giữa
vật chất với tính cáchlà một phạm trù của triết học.
- Ph. Ăngghen chỉ rõ, các sự vật, hiện tượng của thế giới dù rất phong phú, muôn vẻ nhưng
chúng vẫn có một đặc tính chung, thống nhất đó là tính vật chất - tính tồn tại, độc lập không lệ thuộc vào ý thức.
- Định nghĩa vật chất của Lênin
Kế thừa những tư tưởng và quan niệm của Mác và Ăngghen, tổng kết thành quả của khoa học
tự nhiên, xuất phát từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm bảo vệ chủ nghĩa duy vật.
Lênin đã đưa ra định nghĩa vật chất.
“Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, mang lại cho con người
trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”4.
-Nội dung của định nghĩa
Thứ nhất, “Vật chất là một phạm trù triết học” – nghĩa là nó là một phạm trù khái quát, rộng
nhất, do đó không được hiểu vật chất theo nghĩa hẹp như trong các khoa học cụ thể hoặc trong đời sống hàng ngày.
Thứ hai, thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất là “thực tại khách quan”
(tồn tại khách quan) – tức là tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người,
cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó. Đây chính là tiêu chuẩn để phân
biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất.
Thứ ba, “thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của
chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Điều đó có nghĩa “thực tại
khách quan” ( vật chất ) dưới những dạng tồn tại cụ thể của nó, là cái có thể gây nên cảm giác ở con
người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người; “cảm giác” (ý thức) của
con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh.
Nói cách khác, trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, là nguồn
gốc khách quan của cảm giác, ý thức ; và bằng những phương thức nhận thức khác nhau ( chép lại,
chụp lại, phản ánh,. ) con người có thể nhận thức được thế giới vật chất.
Tóm lại, nội dung định nghĩa của V.I.Lênin về phạm trù vật chất đã xuất phát từ vấn đề cơ
bản của triết học, đặt phạm trù vật chất trong mối quan hệ với phạm trù ý thức và qua đó giải quyết
được cả hai mặt trong nội dung vấn đề cơ bản của triết học theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng. -Ýnghĩacủađịnhnghĩa:
+ Định nghĩa vật chất đã bác bỏ thuyết không thể biết, đồng thời khắc phục được tính chất
siêu hình, trực quan trong các quan niệm về vật chất trước Mác, quy vật chất vào các dạng cụ thể hoặc
vào một thuộc tính cụ thể nào đấy của vật chất.
+ Định nghĩa vật chất của Lênin đã chống lại các quan điểm duy tâm (duy tâm khách quan và
duy tâm chủ quan) về vật chất; đồng thời nó tạo ra cơ sở lý luận để khắc phục quan điểm duy tâm về
đời sống xã hội của chủ nghĩa duy vật trước Mác.
+ Định nghĩa vật chất của Lênin còn có ý nghĩa định hướng đối với các khoa học cụ thể trong
việc đi sâu vào thế giới vật chất khách quan để phát hiện ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới
của các vật thể trong thế giới.
Câu hỏi 2: Ý thức là gì ? Trình bày nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức.
Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của bộ óc con người về hiện thực khách quan trên cơ sở
thực tiễn xã hội – lịch sử.
a) Nguồn gốc của ý thức 4. Lênin 1980 t18 – tr151
Nguồn gốc tự nhiên của ý thức
+ Ý thức có nguồn gốc từ bộ não người
Bộ não người phải là bộ não sống, bộ não đang hoạt động bình thường, bộ não không bị tổn
thương ở bất kỳ chức năng thần kinh nào. Bộ não con người cùng với hệ thần kinh trung ương là cơ
quan vật chất của ý thức. Ý thức là một dạng thuộc tính của vật chất có tổ chức cao nhất là bộ não con
người, là chức năng của bộ não, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não (bộ não phải là bộ
não sống, bộ não đang hoạt động bình thường). Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thì bộ
não con người có khoảng 14 -15 tỷ nơ-ron thần kinh, các nơ-ron thần kinh có sự kích thích, cảm ứng.
Bộ não của con người phải có quá trình hoạt động, tác động vào thế giới khách quan thì mới hình
thành lên sự phản ánh của ý thức.
Như vậy, sự xuất hiện con người và hình thành bộ óc của con người có năng lực phản ánh hiện thực
khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
+ Sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não của con người thông qua hoạt động của
các giác quan, hình thành nên quá trình phản ánh.
Bộ não con người cùng với thế giới khách quan tác động vào bộ não con người, bộ não con
người thu nhận thông tin và phản ánh những thông tin từ thế giới khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá
trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng.
Ý thức của con người là cái phản ánh, thế giới khách quan là cái được phản ánh. Sự tác động
qua lại giữa cái phản ánh và cái được phản ánh, cái phản ánh mang tính chủ quan - là ý thức, cái được
phản ánh là sự vật, hiện tượng mang tính khách quan, cái phản ánh tác động lên cái được phản ánh (là
vật chất), cái được phản ánh tác động trở lại đối với cái phản ánh (là ý thức), cái phản ánh lưu giữ
thông tin của cái được phản ánh (là vật chất), cái phản ánh xử lý thông tin đó theo quan điểm chủ
quan của mình. Nghĩa là ý thức là “cái nhận thức”, thế giới khách quan là “cái được nhận thức”. “Cái
nhận thức” không phản ánh “cái được nhận thức” một cách thụ động mà “cái nhận thức” lưu giữ
thông tin và xử lý thông tin của “cái được nhận thức” theo quan điểm chủ quan của mình.
Ý thức là quá trình phản ánh, là quá trình phản ánh cao nhất, nó bao hàm trong nó tất cả các hình thức phản ánh.
+ Các hình thức của phản ánh.
* Phản ánh vật lý: là hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng cho giới tự nhiên vô sinh.
* Phản ánh sinh học: là hình thức phản ảnh của giới tự nhiên hữu sinh, nó được biểu hiện ở
hai trình độ khác nhau như: Tính kích thích xuất hiện ở những thực vật và động vật bậc thấp ; Tính
cảm ứng xuất hiện ở những loài động vật có năng lực cảm giác.
* Phản ánh tâm lý: là phản ánh của động vật bậc cao có hệ thần kinh trung ương phát triển,
gắn liền với quá trình hình thành các phản xạ có điều kiện.
* Phản ánh ý thức: là một phản ánh mới, có tính năng động sáng tạo, chỉ có ở một dạng vật
chất có tổ chức cao nhất đó là bộ não con người. Phản ánh ý thức được thực hiện qua quá trình hoạt
động sinh lý thần kinh của bộ não người khi thế giới khách quan tác động lên giác quan của con người.
=> Không có bộ não người và sự tác động của thế giới khách quan vào bộ não người thì
không thể có ý thức. Sự phản ánh của thế giới khách quan vào bộ não người chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
- Nguồn gốc xã hội của ý thức + Lao động
K/n: Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động và giới tự nhiên,
nhằm cải biện giới tự nhiên phục vụ mục đích của con người.
Ăng ghen viết: “Với quá trình phát triển của bàn tay- và với quá trình lao động, con người
bắt đầu thống trị tự nhiên và cứ mỗi lần sự thống trị đó tiến lên một bước, là mỗi lần nó mở rộng
thêm tầm mắt của con người”6
Nhờ kết quả lao động cơ thể của con người, đặc biệt là bộ óc và các giác quan ngày càng
hoàn thiện dần cả về cấu tạo và chức năng.
Nhờ có lao động mà con người đã dần chuyển hóa từ vượn thành người; nhờ có lao động con
người đã thoát khỏi cuộc sống bầy đàn, đi tới khẳng định mình và từng bước trinh phục giới tự nhiên,
bắt tự nhiên phải phục vụ mục đích của mình; nhờ có lao động mà tri thức của con người ngày càng
hoàn thiện, con người ngày càng phát hiện ra các thuộc tính mới của vật chất và các quy luật của tự
nhiên, đồng thời con người chế tạo ra các công cụ mới giúp con người nối dài bàn tay của mình để
trinh phục và từng bước tiến tới làm chủ tự nhiên; nhờ có lao động đã làm cho thân thể con người
đẹp hơn và bộ não của con người ngày càng có khả năng sáng tạo hơn, lao động chính là một trong
những nguồn gốc xã hội để hoàn thiện ý thức của con người. - Ngôn ngữ
Nhờ có lao động mà ngôn ngữ được hình thành. Khi đề cập đến vấn đề này, Ph. Ăngghen viết:
“Đem so sánh con người với các loài vật, người ta sẽ thấy rõ rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động
và cùng phát triển với lao động, đó là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ”1.
Trong hoạt động lao động và sản xuất, để săn bắn, hái lượm đạt kết quả tốt nhất, con người
cần phải quan hệ với nhau, phối hợp với nhau, trao đổi thông tin cho nhau, nhu cầu ấy ngay càng
phát triển, “Phát triển đến mức là họ thấy cần thiết phải nói với nhau một cái gì đấy”9. Như vậy, nhu
cầu đó dẫn đến xuất hiện ngôn ngữ.
*Khái niệm Ngôn ngữ: Là toàn bộ những ký hiệu, ký tự, chữ viết tiếng nói, nhằm trao đổi
thông tin giữa con người với con người trong quá trình sống.
Tóm lại, nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội là hai điều kiện cần và đủ cho sự ra đời của ý thức.
Nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì con người không thể có ý thức. Xem xét nguồn gốc tự nhiên và
nguồn gốc xã hội của ý thức cho thấy, ý thức xuất hiện la két quả của quá trình tiến hoá lâu dài của
giới tự nhiên, của lịch sử trái đất, đồng thời là kết qụả trực tiếp của thực tiễn xã hội - lịch sử của con người.
b) Bản chất của ý thức
+ Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Nội dung của ý thức là do thế giới khách
quan quy định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, là hình ảnh tinh thần nó không có tính vật chất. "Y
thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức". Sự hình thành ý thức chịu sự
tác động bởi lăng kinh chủ quan của mỗi người (tình cảm, tâm trạng, nguyện vọng, kinh nghiệm, nhu cầu, lập trường. .).
+ Ý thức con người có tính năng động, sáng tạo. Tính năng động của ý thức thể hiện ở chỗ, ý thức
không phải là bản sao giản đơn, thụ động, máy móc sự vật, mà ý thức là sự phản ánh hiện thực khách
quan theo nhu cầu của thực tiễn, là sự phản ánh chủ động và có chọn lọc của con người. Tính sáng tạo
của ý thức thế hiện ở chỗ, trên cơ sở cái đã có, ý thức có thể sáng tạo ra tri thức mới về sự vật; có thế
tưởng tượng ra cái không có trong thực tế; ý thức có thể tiên đoán, dự báo tương lai; ý thức có thể tạo
ra những ảo tưởng, huyền thoại, giả thuyết, lý thuyết khoa học. . Tính sáng tạo của ý thức không có
nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất. Sáng tạo của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật và trong
khuôn khổ của sự phản ánh mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần. Ý thức "chẳng qua
chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó".
+ Ý thức mang bản chất xã hội. Con người là thực thế xã hội, nên ý thức mang bản chất xã hội. Sự ra
đời tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn lịch sử của con người, chịu sự chi phối không
chỉ của các quy luật sinh học mà chủ yếu là của quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các
điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người quy định. C.Mác và Ph. Ăngghen khẳng định: "Ngay từ
đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại".
c) Kết cấu của ý thức
*Các lớp kết cấu của ý thức:
+ Tri thức: là kết quả của quá trình nhận thức, sự hiểu biết của con người về thế giới hiện thực, làm
tái hiện trong tư tưởng nhưng thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng dưới hình
thức ngôn ngữ, hoặc các hệ thống ký hiệu khác. Theo Mác “Phương thức mà theo đó ý thức tồn tại
mà theo đó một cái gì tồn tại đối với ý thức là tri thức. Tri thức là hành vi duy nhất của ý thức. Cho
nên một cái gì đó nảy sinh ra đời với ý thức, chừng nào ý thức biết cái đó”1
+ Tình cảm là cảm động của con người trong quan hệ của mình với thực tại xung quanh và đối với bản thân mình.
Tình cảm có thể mang tính chất chủ động chứa đựng hai sắc thái gồm: cảm xúc tích cực và cảm xúc
tiêu cực. Tình cảm mang tính tích cực là một trong những động lực nâng cao năng lực hoạt động sống
8. C.Mác và Ph Ảngghen (1994), Toàn tập, í. 20, Sđd. tr. 645. 9 . 10 Sdd t20 – tr 644
1 Mác – Ăng ghen 2004 t42 tr236
của con người. Tri thức kết hợp với tình cảm tạo nên niềm tin, nâng cao ý chí tích cực biến thành
hành động thực tế mới phát huy được sức mạnh của mình.
+ Ý chí: Để đạt đến trình độ cao của nhận thức, con đường đi lên chiếm lĩnh đỉnh cao ấy không bằng
phẳng mà nó vô cùng khó khăn để đến được đỉnh cao ấy đòi hỏi con người phải có ý chí.
Ý chí là sự quyết tâm, cố gắng, nỗ lực, khả năng huy động mọi tiềm năng để đạt tới mục đích của con
người trong hoạt động thực tiễn.
Ý chí thể hiện là lòng tin, lòng quả cảm, sự quyết đoán, quyết tâm, dũng cảm sự định hướng rõ ràng mục tiêu phấn đấu.
- Cấp độ của ý thức
+ Tự ý thức: Trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh, con người đồng thời cũng tự nhận thức
bản thân mình. Đó chính là tự ý thức. Như vậy, tự ý thức cũng là ý thức, là một thành tố quan trọng
của ý thức, nhưng đây là ý thức về bản thân mình trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài.
+ Tiềm thức: Là những hoạt động tâm lý tự động diễn ra bên ngoài sự kiểm soát của chủ thể, song lại
có liên quan trực tiếp đến các hoạt động tâm lý đang diễn ra dưới sự kiểm soát của chủ thể ấy. Về
thực chất, tiềm thức là những tri thức mà chủ thể đã có được từ trước nhưng đã gần như trở thành
bản năng, thành kỹ năng nằm trong tầng sâu của ý thức chủ thể, là ý thức dưới dạng tiềm tàng.
+ Vô thức:Vô thức là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu, điều chỉnh sự suy nghĩ, hành vi, thái độ
ứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận của nội tâm, chưa có sự truyền tin bên trong, chưa
có sự kiểm tra, tính toán của lý trí.
+ Vấn đề “trí tuệ nhân tạo: Trí tuệ nhân tạo là bộ não do con người sản xuất ra bằng hệ thống các vi
mạch (chất bán dẫn – vật liệu thông minh…), tích hợp những phần mềm được con người lập trình dựa
trên các hoạt động của bộ não con người, có khả năng nhận thức, tự động xử lý những vấn đề gần
giống với con người, chịu sự điều khiển của con người.
Con người là một thực thể tự nhiên - xã hội có ý thức, chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh
thần quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Khẳng định vai trò to lớn của ý thức trong đời
sống hiện thực của con người về thực chất là khẳng định vai trò của con người - chủ thể mang ý thức
đó. Cần có thái độ đúng đối với con người, quan tâm, chăm lo phát triển con người toàn diện cả về
thể chất và tinh thần.
Câu hỏi 3: Trình bày mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ? Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận.
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khăng định, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau,
trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất.
* Vật chất quyết định ý thức
Vật chất quyết định ý thức thể hiện ở chỗ:
- Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức (sinh ra ý thức). Vật chất có trước, ý thức có sau.
Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức. Não người là dạng vật
chất có tổ chức cao, là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức. Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động
thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan.
- Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức. Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não
người, là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan. Thế giới khách quan không chỉ là nguồn gốc của
ý thức, mà còn quy định nội dung của ý thức.
- Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức. Ý thức có bản chất năng động và sáng tạo. Chính
thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của con người - là cơ sở để hình thành, phát
triển ý thức, trong đó ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh để sáng tạo và sáng tạo trong phản ánh.
- Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức. Điều kiện vật chất thay đổi thì sớm
hoặc muộn ý thức cũng thay đổi. Sự biến đổi của ý thức là sự phản ánh sự biến đổi của vật chất.
Vai trò của vật chất đối với ý thức trong đời sống xã hội dược bộc lộ ở mối quan hệ giữa kinh tế và
văn hóa, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
* Ý thức có tính độc lập tương đối tác động trở lại vật chất
Thừa nhận vai trò hết sức to lớn của ý thức. C. Mác đã viết: "Vũ khí của sự phê phán có nhiên không
thể thay thể được sự phê phần bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đồ bằng lực lượng
vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó xâm nhập vào quần chúng"
- Thứ nhất, ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất bởi vì ý thức có tính năng động, sáng tạo;
Mặc dù ý thức tự nó không thể làm gì được nhưng thông qua hoạt động của con người, ý thức có thể
tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan.
- Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Nhờ hoạt động thực tiễn, ý thức có thể làm biến đối những điều kiện, hoàn cảnh vật chất, tạo ra "thiên
nhiên thứ hai" phục vụ cuộc sống con người. Con người dựa trên những tri thức của mình về thế giới
khách quan, hiểu biết những quy luật khách quan để từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp
thực hiện và ý chí thực hiện mục tiêu ấy.
- Thứ ba, ý thức chỉ đạo hoạt động, hành động của con người, có thể làm cho hoạt động của con người
đúng hay sai, thành công hay thất bại. Do đó, ý thức có thế tác động trở lại vật chất theo hai chiều hướng:
+ Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan, có tác dụng thúc đấy hoạt động thực tiễn của con
người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất.
+ Ý thức phần ánh không đúng hiện thực khách quan, ở mức độ nhất định, có thể kìm hãm hoạt động
thực tiền của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất.
+ Ngoài tính khoa học, sự tác động của ý thức đối với vật chất còn phụ thuộc vào mức độ thâm nhập
của ý thức vào những người hành động, vào điều kiện xã hội, trình độ phát triển của xã hội và chế độ xã hội.
- Thứ tư, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức càng to lớn, nhất là trong thời đại ngày nay, khi
khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Chú ý: Vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của ý thức con người trong quá trình cải tạo thế giới hiện
thực được phát triển đến mức độ nào chăng nữa vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giới khách quan và
các điều kiện khách quan.
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Vật chất quyết định ý thức, cho nên trong hoạt động của con người đòi hỏi phải luôn quán triệt quan
điểm khách quan. Yêu cầu của quan điểm khách quan là:
+ Thứ nhất, trong hoạt động nhận thức cũng như thực tiễn bao giờ cũng phải xuất phát từ những điều
kiện, hoàn cảnh thực tê, đặc biệt là từ điều kiện vật chất để xác định mục tiêu và phương hướng hành
động, tránh chủ quan duy ý chí, nóng vội, định kiến, không trung thực.
+ Thứ hai, quan điểm khách quan đặc biệt yêu cầu phải luôn luôn tôn trọng các quy luật khách quan.
Thực tế lịch sử cho thấy, mỗi khi làm trái quy luật, con người đều phải trả giá. Từ kinh nghiệm thành
công và thất bại trong hoạt động thực tiễn cách mạng, Cương lĩnh của Đảng đã rút ra bài học là: "Mọi
đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan"
+ Thứ ba, quan điểm khách quan còn yêu cầu muốn nhận thức và cải tạo sự vật, hiện tượng thì phải
xuất phát từ chính bản thân nó. Chúng ta không thể áp đặt cho sự vật những cái mà vốn nó không có
hoặc nó chưa thể có. Chúng ta chỉ có thể phân tích chính bản thân sự vật, nhận thức bản chất của nó
để từ đó có thể tìm ra phương thức cải tạo nó. Nếu không như vậy sẽ thất bại.
- Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con
người, cho nên cần phải phát huy tính tích cực của ý thức đối với vật chất bằng cách bồi dưỡng tinh
thần phấn đấu, xây dựng ý thức lành mạnh, không ngừng nâng cao năng lực nhận thức các quy luật
khách quan và vận dụng chúng vào trong hoạt động thực tiễn của con người. Từ đó, làm cho con
người luôn chủ động, sáng tạo trong cuộc sống.
2. CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Câu hỏi 1: Trình bày nguyên lý về mối liên hệ phổ biến * Khái niệm
- Mối liên hệ là khái niệm dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự
vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, một hiện tượng trong thế giới.
- Mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ những mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới.
+ Mối liên hệ phổ biến nhất là khái niệm dùng để chỉ những mối liên hộ tồn tại ở mọi sự vật, hiện
tượng của thế giới, nó là đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng duy vật, như các mối liên hệ giữa
các mặt đôi lập, chất và lượng, khẳng định và phủ định, cái riêng và cái chung, nội dung và hình thức.
* Tính chất của mối liên hệ
- Mối liên hệ mang tính khách quan, là cái vốn có của mọi sự vật, hiện tượng. Ví dụ:
Quan hệ giữa cây xanh với môi trường. Nó là cái vốn có của sự vật, hiện tượng. Không phải do ý
muốn của con người quy định. Cây xanh muốn tồn tại thì phải có đất, nước, ánh sáng. . nó phải liên hệ
chặt chê với môi trường.
- Mối liên hệ mang tính phổ biến. Mối liên hệ là phổ biến bởi vì mối liên hệ chẳng những diễn ra ở
mọi sự vật và hiện tượng trong tự nhiên, trong xã hội, trong tư duy mà còn diễn ra đối với các mặt,
các yếu tố, các giai đoạn trong quá trình vận động, phát triển của mỗi sự vật và hiện tượng.
- Mối liên hệ có tính đa dạng, phong phú:
Mỗi sự vật, hiện tượng đều có không gian khác nhau, thời gian khác nhau vì vậy, chúng có mối liên
hệ khác nhau, không có mối liên hệ nào trùng khít, hoặc giống hệt mối liên hệ nào. vật chất muôn
hình vạn trạng khác nhau, thì mối liên hệ cung muôn hình vạn trạng khác nhau. Chính điều này đã tạo
lên sự muôn hình, muôn vè của mối liên hệ.
Dựa vào tính đa dạng đó có thể phân chia ra các mối liên hệ khác nhau theo từng cặp:
+Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài.
+Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu.
+Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản.
+Mối liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu nhiên.
Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ theo phạm vi bao quát của mối liên hệ
hoặc do kết quả vận động của chính các sự vật.
Ví dụ: nếu xem xét các doanh nghiệp tồn tại với tư cách là các đơn vị độc lập thì mối liên hệ giữa
chúng là mối liên hệ bên ngoài.
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Các sự vật và hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến và nhiều vẻ, do đó
muốn nhận thức và tác động vào chúng, chúng ta phải có quan điểm toàn diện. Quan điểm toàn diện đòi hỏi:
+ Thứ nhất, để nhận thức đúng đắn về sự vật thì cần phải đặt nó trong mỗi liên hệ qua lại giữa các bộ
phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với
các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp.
+ Thứ hai, quan điểm toàn diện không có nghĩa là cách xem xét cào bằng, tràn lan, mà phải thấy được
vị trí, vai trò của từng mối liên hệ, từng mặt, từng yếu tố trong tổng thể của chúng, từ đó tiếp tục đi
đến chỗ khái quát để rút ra mối liên hệ bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó.
+ Thứ ba, quan điểm toàn diện còn đòi hỏi phải chống lại cách xem xét phiến diện một chiều, phải
chống lại chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện.
- Vì các sự vật, hiện tượng khác nhau, tồn tại trong không gian, thời gian khác nhau, các mối liên hệ
biểu hiện khác nhau nên trong hoạt động nhận thức và thực tiền chúng ta cần có quan điểm lịch sử -
cụ thể. Quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi: chúng ta khi nhận thức về sự vật và cải tạo sự vật phải chú
ý đến điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát
triển. Thực tế cho thấy, một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này, nhưng sẽ
không là luận điểm khoa học trong điều kiện khác.
Câu hỏi 2: Trình bày nguyên lý về sự phát triển.
+ Quan điểm biện chứng: Xem xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao. Quá
trình đó diễn ra vừa dần dần vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Dù trong hiện
thực khách quan hay trong tư duy, sự phát triển diễn ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng
mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có thể có những bước lùi tạm thời nhưng vẫn nằm trong khuynh
hướng của sự phát triển.
K/n: Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.
* Tính chất của sự phát triển
- Sự phát triển mang tính khách quan: Theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của
sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy
sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật, nhờ đó sự vật luôn luôn phát triển.
Phát triển là sự phát triển tự bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng, ý
chí, ý thức con người. Con người có muốn hay không muốn, sự vật vẫn phát triển theo khuynh hướng chung nhất của nó.
- Sự phát triển mang tính phổ biến: vì nó diễn ra ở mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư
duy. Ở bất cứ sự vật hiện tượng nào, ở vào không gian nào, thời gian nào cũng nằm trong khuynh
hướng của sự phát triển. Ngay cả các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá
trình vận động và phát triển, hoặc đúng hơn, mọi hình thức của tư duy cũng luôn phát triển.
- Sự phát triển còn có tính đa dạng phong phú: Khuynh hướng phát triển là khuynh hướng
chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật hiện tượng lại có quá trình phát triển không
giống nhau. Các sự vật, hiện tường tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau, cấu trúc
của chúng khác nhau, không sự vật hiện tượng nào trùng khít nên sự vật hiện tượng nào vì vậy các
dạng phát triển của chúng mang tính khác nhau.
Tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau, sự vật phát triển sẽ khác nhau.
Trong quá trình phát triển của mình,sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng
khác, của rất nhiều yếu tố, điều kiện. Sự tác động đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của
sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi.
- Sự phát triển thường diễn ra quanh co, phức tạp, phải trải qua nhiều khâu trung gian,
thậm chí có lúc có sự thụt lùi tạm thời.
Mỗi sự vật đều có quá trình phát triển của riêng mình. Tuy nhiên nó vẫn phải tuân theo trình
tự chung là: sinh thành – lớn lên – tiêu vong. Chính sự mất đi của các sự vật, hiện tượng này là một
trong những điều kiện ra đời của các sự vật, hiện tượng khác. Bởi vậy, khuynh hướng thụt lùi, đi
xuống lại là một điều kiện cho sự phát triển tiến lên và cũng nằm trong sự phát triển.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, sự phát triền là kết quả của quả trình thay đổi và lượng
dẫn tới sự thay đổi về chất, sự phát triển diễn ra theo đường xoáy óc, nghĩa là trong quá trình phát
triển dường như có sự quay trở lại điểm xuất phát, nhưng trên một cơ sở mới cao hơn.
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Nếu khuynh hướng chung của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan là vận động đi lên thì
trong nhận thức va thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển. Quan điểm phát triển đòi hỏi:
+ Thứ nhất, khi xem xét các sự vật và hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, trong sự phát
triển không ngừng. V.I. Lênin viết: "Lôgic biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển,
trong "sự vận động" (. .), trong sự biến đổi của nó"
+ Thứ hai, quan điểm phát triển cũng đòi hỏi không chỉ thấy sự vật như là cái đang có mà còn
phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó.
+ Thứ ba, trong quá trình nhận thức đòi hỏi chúng ta phải thây rõ tính quanh co, phức tạp của
quá trình phát triển như là một quá trình phổ biến. Thiếu quan điểm như vậy, người ta rất dễ bi quan,
dao động khi mà tiến trình cách mạng nói chung và sự tiến triển của từng lĩnh vực xã hội cũng như
của cá nhân nói riêng tạm thời gặp khó khăn trắc trở.
+ Thứ tư, trong hoạt động thực tiễn, nhằm thúc đẩy sự vật phát triển theo quy luật vốn có của
nó đòi hỏi chúng ta phải tìm ra mâu thuẫn của chính sự vật, và bằng hoạt động thực tiễn mà giải quyết mâu thuẫn.
3. CÁC CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG
Câu hỏi 1: Trình bày phạm trù cái chung và cái riêng. (Thi)
- Cái riêng là phạm trù triết học, dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất
định. Ví dụ:cáibàn, cái ghế, cái bảng, bạn A, bạn B là những cái riêngcụ thể. Nhữngcáiriêng cụ thể
này khác nhau về không gian và thời gian, tính chất…
- Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ vốn có ở một sự vật,
hiện tượng (một cái riêng) nào đó mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng nào khác.
Thí dụ: vân ngón tay của mỗi người, ADN của mỗi người là cái đơn nhất.
Thí dụ khác: Trên thế giới năm 1917 duy nhất có cuộc cách mạng vô sản tháng 10 Nga.
- Cái chung: là phạm trù triết học, dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính giống nhau, được
lặp lại trong nhiều sự vật, nhiều hiện tượng, nhiều quá trình riêng lẻ.
Ví dụ: cái bàn, cái ghế, cái bảng, bạn A, bạn B Trong các sự vật riêng lẻ này chúng có điểm
chung là đều tồn tại khách quan, điểm chung đó là cái chung. Ví dụ khác: Bạn A, bạn B, bạn C là
những cái riêng. Bạn A, bạn B, bạn C đều là dân tộc kinh, đều máu đỏ, da vàng là cái chung
- Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng
+ Thứ nhất, “cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn
tại của mình”1. Điều đó có nghĩa là cái chung thực sự tồn tại, nhưng chỉ tồn tại trong cái riêng chứ
không tồn tại biệt lập, lơ lửng ở đâu đó bên cạnh cái riêng. Trong sự vật, hiện tượng tồn tại cả hai loại
thuộc tính, thuộc tính chung và thuộc tính riêng ngoài những thuộc tính quy định cái riêng thì có
những thuộc tính quy định cái chung.
Ví dụ khác: Bạn A, bạn B, bạn C là những cái riêng nhưng giữa Bạn A, bạn B, bạn C lại có
điểm chung là các bạn đều có mái tóc….). Mái tóc chỉ là một bộ phận của bạn A hoặc bạn B cụ thể.
+ Thứ hai, “cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, đưa tới cái chung”1. Vì, bất
cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ nào không bao giờ tồn tại một cách biệt lập mà không
đưa đến một cái chung nào đó. Thậm chí có cái ta tưởng nó hết sức xa lạ, nhưng giữa chúng vẫn có sự
ảnh hưởng nhau, và đưa đến một cái chung.
Ví dụ: cái cây ở trong rừng với con người ở thành phố, chúng ta cứ tưởng rằng giữa chúng
không có điểm chung, nhưng thực chất chúng có rất nhiều điểm chung, chúng đều xuất phát từ tế bào,
các tế bào của chúng đều giống nhau về hình thức có vỏ, mang, nhân tế bào đề có sự tác động của môi
trường, đều chung một hệ sinh thái, đều tồn tại chung một sinh quyển.
Ví dụ của Lênin: Ivan là người, Ivan là “cái riêng”, người là “cái chung”.
+ Thứ ba, Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn Cái chung. Còn Cái chung là cái bộ phận,
nhưng sâu sắc hơn Cái riêng.
Cái chung tồn tại trong cái riêng. Có những trường hợp cụ thể nhất định, cái chung và cái riêng
không có sự mâu thuẫn. Thí dụ: Con người cụ thể là cái riêng, con người ai cũng có mái tóc, mái tóc
là cái chung, mái tóc và con người cụ thể không có sự mâu thuẫn.
Cái chung là cái bộ phận, nhưng sắc hơn cái riêng: Ví dụ: Bạn A, bạn B, bạn C là những cái
riêng. Bạn A, bạn B, bạn C đều có lòng yêu nước là cái chung. Tuy nhiên, việc tìm ra thuộc tính yêu
nước trong cả 3 bạn không đơn giản. Trong thực tiễn, những người có tài tổ chức là những người có
khả năng tìm ra được cái chung trong vô vàn cái riêng của mỗi con người, có tìm được cái chung mới
quy tụ được nhân tâm về một mối. Năm 1945 Hồ Chí Minh tìm được cái chung của toàn thể dân tộc
Việt Nam là ai cũng cần cơm no, áo ấm, độc lập, tự do. Vì vậy, Người mới quy tụ được nhân tâm của
toàn thể dân tộc Việt Nam, lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành chính quyền. Việc nhìn thấy mỗi con
người cụ thể thì đơn giản, nhưng việc tìm thấy điểm suy nghĩ giống nhau trong hàng triệu con người
thì không đơn giản. Do vậy, phải có người có tư duy thật sâu sắc mới tìm ra được cái chung trong
hàng triệu triệu cái riêng. Vấn đề đoàn kết dân tộc chính là đoàn kết hàng triệu con người có chung lý
trưởng, chung trí hướng thống nhất với nhau cùng xây dựng đất nước.
+ Thứ tư, Cái đơn nhất và Cái chung có thể chuyển hoá lẫn nhau, trong quá trình phát triển
của sự vật. Cái đơn nhất có thể chuyển hóa thành cái chung: có những sự vật, hiện tượng mới đầu
xuất hiện là cái đơn nhất, cái cá biệt. Nhưng theo quy luật cái mới nhất định sẽ phát triển mạnh lên,
ngày càng trở thành hoàn thiện, tiến tới hoàn toàn chiến thắng cái cũ và trở thành cái chung.
Ví dụ: năm 1920 trên thế giới chỉ có duy nhất 1 người Việt Nam là đảng viên Đảng Cộng sản là
Hồ Chí Minh (cái đặc thù). Bởi vì, lúc bấy giờ hơn 20 triệu người Việt Nam chỉ có 1 người duy nhất
là đảng viên, Đảng cộng sản. Nhưng sau 100 năm đến năm 2020 Việt Nam có gần 5 triệu đảng viên
Đảng Cộng sản. Thời điểm hiện nay, đảng viên Đảng Cộng sản không còn là cái đặc thù nữa mà là cái
chung của gần 5 triệu người.
Cái chung có thể chuyển hóa thành cái đơn nhất: trong thực tiễn có những cái cũ ngày càng
mất dần đi và từ chỗ là cái chung, nó biến dần thành cái đơn nhất: Ví dụ: cách đây 50 năm, cái cối xay
là cái chung phổ biến trong mỗi gia đình của người Việt Nam, nhưng đến nay chỉ duy nhất ở viện bảo
tàng dân tộc học mới có.
1 Lênin toàn tập (1981)- t29 tr381
1 Lênin toàn tập t29 – tr.391
Lưu ý: Cái đơn nhất không thể chuyển hóa thành cái riêng, cái chung không thể chuyển hóa thành cái riêng.
* Ý nghĩa phương pháp luận
+ Cái chung chỉ tồn tại trong những Cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện mình, nên
muốn phát hiện Cái chung của chúng, phải thông qua việc nghiên cứu nhiều Cái riêng cụ thể. (Muốn
khái quát thành lý luận (cái chung), phải đúc kết từ các kinh nghiệm trong nhiều trường hợp cụ thể).
+ Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất, chi phối Cái riêng, nên trước khi nghiên cứu cụ thể Cái
riêng nào đó, cần nắm bắt Cái chung trước, để khỏi mất phương hướng.
+ Cái chung chỉ tồn tại trong những Cái riêng khác nhau, dưới dạng đã bị cải biến (do có sự tác
động một cách khách quan giữa “cái chung” với “cái đơn nhất” trong cái riêng đó), nên khi vận dụng
Cái chung vào Cái riêng cần phải được “cá biệt hoá” cho thích hợp.
+ Không được tuyệt đối hóa mặt nào. Nếu tuyệt đối hóa Cái chung sẽ rơi vào giáo điều, rập
khuôn, kinh viện, “tả khuynh”. Nếu tuyệt đối hóa Cái riêng sẽ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, và về tư
tưởng là xét lại, hữu khuynh.
+ Vì Cái đơn nhất và Cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau, nên trong thực tiễn, cần tạo điều
kiện cho Cái đơn nhất trở thành Cái chung, nếu điều đó có lợi cho con người. Và làm cho Cái chung
bất lợi trở thành Cái đơn nhất.
Câu hỏi 2: Trình bày phạm trù về nguyên nhân và kết quả ( Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng) * Khái niệm:
-Nguyên nhân là một phạm trù triết học sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật
hay giữa các sự vật với nhau, khiến gây ra những biến đổi nhất định.
+ Theo chủ nghĩa Mác để gọi là nguyên nhân thì phải có sự tương tác, để có sự tương tác thì ít
nhất phải có hai sự vật, hiên tượng tham gia tác động.
+ Lưu ý 1, cần phải phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ, vấn đề này chỉ xảy ra trong lĩnh vực
xã hội. Nguyên cớ là sự xuyên tạc, bịa đặt mối quan hệ tương tác. Nguyên cớ mang tính chủ quan,
không phải tự bản thân, sự vật, hiện tượng xuất hiện; nguyên cơ là do sự bịa đặt của con người để
phục vụ mục đích không đúng đắn con người sẵn sàng tạo cớ.
+ Lưu ý 2: Phân biệt nguyên nhân và điều kiện: Nguyên nhân là sự tác động qua lại lấn nhau
giữa các mặt trong một sự vật hay giữa các sự vật với nhau gây ra, nhưng nguyên cớ chỉ có một bên
tác động. Điều kiện là môi trường, chất xúc tác để cho sự tác động lẫn nhau ấy tạo ra kết quả.
- Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật
hay giữa các sự vật với nhau gây ra. (thí dụ trong tự nhiên, xã hội, tư duy).
- Các loại nguyên nhân
+ Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu: Nguyên nhân chủ yếu là những tương tác
giữa vai trò trọng tâm, quyết định để gây ra sự biến đổi nhất định của các sự vật, hiện tượng. Nguyên
nhân thứ yếu là những tương tác hỗ trợ không đóng vai trò trọng tâm của sự biến đổi ấy.
+ Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài; Nguyên nhân bên trong là sự tương tác
giữa các thành tố bên trong của một sự vật, hiện tượng gây ra sự biến đổi. Nguyên nhân bên ngoài là
sự tương tác giữa sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác (sự vật hiện tượng khác nhau) gây ra sự biến đổi.
Nguyên nhân bên trong bao giờ củng quyết định sự hình thành, tồn tại và phát triển của các kết cấu vật chất
+ Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan; Nguyên nhân khách quan là những
tương tác gây ra sự biến đối không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
Nguyên nhân chủ quan là sự tương tác do yếu tố chủ quan của ý thức con người gây ra sự biến đổi.
*Tính chất của mối liên hệ nhân-quả:
+ Tính khách quan: mối liên hệ nhân quả là tính vốn có của sự vật, hiện tượng, không phụ
thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. trong thế vĩ mô lẫn thế giới vi mô, luôn luôn có sự tương
tác, nghĩa là tự bản thân các sự vật đã có sự tương tác, sự tương tác ấy không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
+ Tính phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân nhất định gây ra, không có sự vật
hiện tượng nào mà không có nguyên nhân, chỉ có nguyên nhân ấy đã được phát hiện hay chưa? Có sự
vật, hiện tượng con người biết được nguyên nhân và có sự vật, hiện tượng con người chưa biết nguyên nhân.
Từ phân tích trên có thể hiểu, nguyên nhân và kết quả diễn ra trong tất cả các sự vật hiện tượng
trong mọi không gian thì ở không gian.
+ Tính tất yếu cùng một nguyên nhân, trong những điều kiện giống nhau, sẽ cho ra kết quả như
nhau: Thực tiễn cho thấy rằng, một nguyên nhân nhất định trong những hoàn cảnh nhất định chỉ có
thể gây ra kết quả nhất định. Điều đó chứng tỏ mối liên hệ nhân quả trong những điều kiện nhất định
có tính tất yếu. Ví dụ, vật trong chân không luôn rơi với gia tốc 9,8 m/s2. Nước ở áp suất 1 atphotphet
luôn luôn sôi ở 100°c, v.v. Chính nhờ có tính tất yếu này của mối liên hệ nhân quả mà hoạt động thực
tiễn của con người mới có thể tiến hành được.
* Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả.
Nguyên nhân được sinh ra trước, còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện và
bắt đầu tác động. Tuy nhiên, không phải sự nối tiếp nào trong thời gian của các hiện tượng cũng đều
biểu hiện mối liên hệ nhân quả. Ví dụ, ngày luôn luôn "đến sau" đêm, nhưng không phải là nguyên nhân của đêm.
- Tính phức tạp trong quan hệ nhân-quả
+ 1 nguyên nhân sinh ra 1 kết quả. Ví dụ: 1 phôi trứng gà, ấp nở ra 1 gà con. Một phôi chứng
nếu không đảm bảo môi trường, nhiệt độ phù hợp thì không thể nở ra con gà. Rõ ràng: chứng gà phải
có sự tương tác của môi trường.
+ 1 nguyên nhân sinh ra nhiều kết quả. Ví dụ: 1 thầy dạy, kết quả thi của sinh viên khác nhau. Một thầy
giáo tương tác với nhiều học sinh. Mỗi học sinh có cơ thể sống khác nhau, có tính cách khác nhau và khả năng
nhận thức khác nhau. Do vậy, kết quả học tập của học sinh khác nhau.
+ Nhiều nguyên nhân sinh ra 1 kết quả. Ví dụ: việc thu hoạch trong nông nghiệp phụ thuộc vào
nhiều nguyên nhân trong đó có: nước, phân, cần, giống, môi trường tự nhiên…Để có một kết quả
được mùa thì trước đó phải có nhiều sự tương tác.
+ Nhiều nguyên nhân sinh ra nhiều kết quả. Ví dụ: sự hoạt động đồng bộ và có hiệu quả của 5
thành phân kinh tế ở nước ta làm cho sản xuất phát triển, kinh tế tăng trưởng, xã hội ổn định, an ninh
quốc phòng được bảo đảm, chế độ chính trị được giữ vững. .
- Kết quả tác động trở lại với nguyên nhân
+ Nguyên nhân sản sinh ra kết quả. Nhưng sau khi xuất hiện, kết quả không giữ vai trò thụ
động đối với nguyên nhân, trái lại, nó lại tác động tích cực ngược trở lại đối với nguyên nhân.
+ Kết quả tác động trở lại với nguyên nhân theo chiều hướng tích cực, hoặc tiêu cực tùy thuộc
vào điều kiện và sự biến đổi của kết quả đó. Trong đời sống xã hội nó còn phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của con người.
- Nguyên nhân và kết quả có thể hoán đổi vị trí cho nhau: trong mối quan hệ này nguyên
nhân, nhưng ở mối quan hệ khác là kết quả và ngược lại. chuỗi nhân quả vô cùng, vô tận. Trong thế
giới vật chất, chuỗi quan hệ nhân quả là vô thuỷ vô chung.
+ Một hiện tượng nào đó với tính cách là kết quả do một nguyên nhân nào đó sinh ra, đến lượt
mình, lại trở thành nguyên nhân của hiện tượng khác. Hiện tượng khác này lại trở thành nguyên nhân
của hiện tượng thứ ba v.v. và quá trình này cứ thế tiếp tục mãi không bao giò kết thúc, tạo nên một
chuỗi nhân quả vô cùng tận. Trong chuỗi đó không có khâu nào có thể trở thành khâu bắt đầu hay khâu cuối cùng.
*Ý nghĩa phương pháp luận
+ Vì mối liên hệ nhân quả là khách quan, phổ biến, tất yếu, và nguyên nhân có trước kết quả, nên
khi tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đó, phải tìm trong thế giới hiện thực ; và phải tìm trong
những sự kiện xẩy ra trước hiện tượng đó.
+ Muốn loại bỏ một hiện tượng nào đó cần loại bỏ nguyên nhân nảy sinh ra nó. Ngược lại, muốn
cho hiện tượng ấy xuất hiện cần tạo ra nguyên nhân cùng với những điều kiện cần thiết.
+ Vì có thể có nhiều nguyên nhân với những vai trò khác nhau đối với kết quả, nên cần biết
phân biệt các loại nguyên nhân và chiều hướng tác động của chúng. Quan tâm đúng mức các nguyên
nhân cơ bản, chủ yếu, bên trong. Trong lĩnh vực xã hội, cần đặc biệt coi trọng việc phân tích nguyên nhân chủ quan.
+ Vì kết quả có tác động trở lại nguyên nhân (tích cực hoặc tiêu cực), nên cần khai thác sự tác
động trở lại đó cho phù hợp.
Câu hỏi 3: Trình bày phạm trù nội dung và hình thức * Khái niệm
- Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật.
- Hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương
đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật đó.
Bất cứ sự vật nào cũng có hình thức bên ngoài và hình thức bên trong. Hình thức bên ngoài là
tất cả những gì biểu hiện ra mà con người có thể nhìn thấy trực tiếp, còn hình thức bên trong là hình
thức của các bộ phận, của các quá trình ở bên trong sự vật mà con người không thể nhìn thấy bằng
trực giác. Phép biện chứng duy vật chú ý chủ yếu đến hình thức bên trong của sự vật, nghĩa là nói đến
hình thức bên trong gắn liền với nội dung, là cơ cấu bên trong của nội dung.
* Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
- Nội dung và hình thức tồn tại khách quan. Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có các bộ phận,
các yếu tố cấu thành, tức là nó phải có nội dung dù nội dung ấy là phong phú hay đơn giản. Đồng thời,
các bộ phận, các yếu tố đó phải được sắp xếp theo một trật tự nhất định, phải có hình khối, màu sắc. .
do đó, nó phải có hình thức dù hình thức này hợp lý hay chưa hợp lý.
- Nội dung và hình thức luôn gắn bó chặt chế với nhay nội dung thể thống nhất
Không có hình thức nào tồn tại thuần túy không chứa đựng nội dung, ngược lại không có nội
dung nào lại không tồn tại trong một hình thức xác định.
- Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức mang tính phức tạp: Một nội dung có thể được thể
hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Một hình thức có thể được áp dụng với nhiều nội dung khác
nhau. Không phải một nội dung bao giờ cũng chỉ được thể hiện ra trong một hình thức nhất định, và
một hình thức luôn chỉ chứa một nội dung nhất định, mà cùng một nội dung trong tình hình phát triển
khác nhau có thể có nhiều hình thức, và ngược lại, cùng một hình thúc có thể hiện nhiều nội dung khác nhau.
- Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình
thức thì nội dung có khuynh hướng chủ đạo là biến đối, còn hình thức có khuynh hướng chủ đạo là
tương đối bền vững, chậm biến đổi hơn so với nội dung. Khi nội dung đã biến đổi tới một giói hạn
nhất định thì hình bắt buộc phải thay đổi theo.
- Sự tác động trở lại của hình thức đối với nội dung. Hình thức do nội dung quyết định, nhưng
hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung. Sự tác động của hình thức đến nội
dung theo hai hướng, cụ thể là: Nếu phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc
đấy nội dung phát triển. Nếu không phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ ngăn cản, kìm hãm sự phát triển của nội dung.
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn phải chú ý đến sự thống nhất giữa nội
dung và hình thức, không được tách rời hình thức khỏi nội dung, hoặc tuyệt đôi hóa một trong hai mặt
đó. Đặc biệt cần chống chủ nghĩa hình thức.
- Cùng một nội dung trong quá trình phát triển của sự vật có thể có nhiều hình thức, ngược lại
một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung. Vì vậy, trong hoạt động thực tiên cải tạo xã hội cần
phải chủ động sử dụng nhiều hình thức khác nhau, đáp ứng với yêu cầu thực tiễn của hoạt động cách
mạng trong giai đoạn khác nhau.
- Nội dung quyết định hình thức, do vậy để nhận thức và cải tạo sự vật , trước hết phải căn cứ
vào nội dung, song hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung, nên trong hoạt
động thực tiễn phải thường xuyên đối chiếu giữa nội dung và hình thức, làm cho hình thức phù hợp
với nội dung để thúc đẩy nội dung phát triển.
- Khi hình thức đã lạc hậu, mâu thuẫn với nội dung thì phải kiên quyết thay đổi hình thức để tạo
điều kiện thuận lợi cho nội dung phát triển.
Câu hỏi 4: Trình bày phạm trù bản chất và hiện tượng * Khái niệm
- Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định bên trong sự
vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật đó.
- Còn hiện tượng là sự biểu hiện của những mặt, những mối liên hệ ấy ra bên ngoài ( Hiện tượng là sự
biểu hiện ra bên ngoài của bản chất )
* Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
- Bản chất và hiện tượng tồn tại khách quan, là cái vốn có của sự vật không do ai sáng tạo ra.
- Giữa bản chất và hiện tượng có mối quan hệ biện chứng: vừa thống nhất gắn bó chặt chẽ với nhau,
vừa mâu thuẫn đối lập nhau.
- Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng:
+ Thứ nhất, bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ cũng là sự biêu
hiện của bản chất ở mức độ nhất định. Không có bản chất nào tồn tại thuần túy ngoài hiện tượng,
đồng thời cũng không có hiện tượng nào hoàn toàn không biểu hiện ra bản chất.
+ Thứ hai, bản chất và hiện tượng về căn bản là phù hợp với nhau. Bản chất được bộc lộ ra ở những
hiện tượng tương ứng. Bản chất nào thì có hiện tượng ấy, bản chất khác nhau sẽ bộc lộ ở những hiện
tượng khác nhau. Bản chất thay đổi thì hiện tượng biểu hiện nó cũng thay đối theo. Khi bản chất biến
mất thì hiện tượng biểu hiện nó cũng mất theo.
- Sự mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng ( Thương cho roi cho vọt / Ghét cho ngọt cho bùi )
+ Thứ nhất, bản chất phản ánh cái chung tất yếu, cái chung quyết định sự tồn tại và phát triển của sự
vật, còn hiện tượng phản ánh cái cá biệt.
+ Thứ hai, bản chất là mặt bên trong ẩn giấu sâu xa của hiện thực khách quan, còn hiện tượng là mặt
bên ngoài của hiện thực khách quan ấy.
Thứ ba, bản chất tương đối ổn định, biến đổi chậm; còn hiện tượng không ổn định, nó luôn trôi qua,
biến đổi nhanh hơn so với bản chất.
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Bản chất không tồn tại thuần túy mà tồn tại trong sự vật và biểu hiện qua hiện tượng, do đó, muốn
nhận thức được bản chất của sự vật phải xuất phát từ những sự vật, hiện tượng, quá trình thực tế.
- Bản chất của sự vật không được biểu hiện đầy đủ trong một hiện tượng nhất định và cũng biến đổi
trong quá trình phát triển của sự vật. Do đó, cần phải phân tích, tông hợp sự biến đổi của nhiều hiện
tượng, nhất là những hiện tượng điển hình thì mới hiểu rõ được bản chất của sự vật, và từ bản chất ít
sâu sắc mới tiến tới nhận thức bản chất sâu sắc hơn.
- Vì bản chất là cái tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động phát triển của
sự vật; còn hiện tượng là cái không ổn định, không quyết định sự vận động phát triển của sự vật. Do
vậy, trong nhận thức không được chỉ dừng lại ở hiện tượng mà phải tiến đến nhận thức được bản chất
của sự vật. Còn trong hoạt động thực tiến, phải dựa vào bản chất của sự vật để xác định phương thức
hoạt động cải tạo sự vật chứ không được dựa vào hiện tượng.
4. CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Câu hỏi 1: Trình bày quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về
chất và ngược lại ( quy luật Lượng – Chất ) (Thi) -
Vị trí của quy luật : Chỉ ra cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng *Khái niệm
+ Thuộc tính của sự vật là đặc điểm, những tính chất, những trạng thái vốn có của sự vật, cấu thành
nên sự vật, nhờ đó sự vật tồn tại và qua đó con người nhận thức được sự vật
 Thuộc tính cơ bản: Thuộc tính cấu thành chất của sự vật. Khi nó thay đổi thì chất của sự vật thay đổi.
 Thuộc tính không cơ bản: Không quyết định chất của sự vật. Nó thay đổi thậm chí mất đi,
có thể không làm cho chất thay đổi
- Chất là dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, là sự thống
nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải là cái khác
- Lượng là dùng để chỉ tính quyết định khách quan vốn có của sự vật về phương tiện : số
lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận
động phát triển của sự vật.
*Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
- Sự biến đổi về lượng sẽ dẫn đến sự biến đổi về chất
+ Các sự vật – hiện tượng đều là thể thống nhất giữa chất và lượng
+ Bên cạnh sự thống nhất, sự biến đổi về chất bắt đầu từ sự thay đổi dần về lượng
+ Lượng biến đổi dần dần : Tăng ( tích lũy dần về lượng ), giảm
 Biến đổi về lượng tăng hoặc giảm đều dẫn đến biến đổi về chất -
Lượng của sự vật thay đổi đến một giới hạn nhưng chưa làm thay đổi chất của sự vật
thì người ta gọi đó là “ĐỘ” -
“Độ” là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản
bản chất của sự vật, hiện tượng. -
Chỉ khi nào đạt đến “Điểm nút” thì chất của sự vật mới có thể thay đổi. -
“Điểm nút” là điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi chất của sự vật -
Chất mới thay thế chất cũ, sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ phải thông qua “Bước nhảy” -Bước nhảy
+ Dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên
+ Là sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới.
 Theo nhịp điệu bước nhảy + Bước nhảy đột biến + Bước nhảy dần dần
 Theo quy mô bước nhảy + Bước nhảy toàn bộ + Bước nhảy cục bộ
-Sự tác động trở lại của những biến đổi về chất đối với những biến đổi về lượng
+ Chất mới của sự vật ra đời sẽ tác động trở lại lượng của sự vật
+ Chất mới ấy có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật
*Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong nhận thức và thực tiễn phải biết tích lũy về lượng để có biến đổi về chất; Không được
nôn nóng cũng như không được bảo thủ
- Khi lượng đã đạt đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy là yêu cầu khách quan của sự vận
động của sự vật, hiện tượng vì vậy tránh chủ quan, nóng vội đốt cháy giai đoạn hay bảo thủ, thụ động
- Phải có thái độ khách quan, khoa học và thái độ quan tâm thực hiện bước nhảy; trong lĩnh
vực xã hội phải chú ý đến các điều kiện chủ quan.
- Phải nhận thức được phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật, hiện tượng để
lựa chọn phương án phù hợp.
Câu hỏi 2: Trình bày Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. (Thi)
-Vị trí của quy luật: hạt nhân của phép biện chứng , chỉ ra nguồn gốc và động lực của sự
vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
*Khái niệm và tính chất chung của mâu thuẫnKhái niệm
-Mâu thuẫn thông thường là chắc tại xung đột, trong đôi trái ngược nhau có về hình thức và nội dung.
-Theo quan điểm siêu hình: mâu thuẫn là cái đối lập phản logic, không có sự thống nhất,
không có sự chuyển hóa biện chứng giữa các mặt đối lập.
-Theo triết học Mác-Lênin
+ Khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các
mặt đối lập của mỗi sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
-> Đó là “mâu thuẫn biện chứng
+ Mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng
vận động trái ngược nhau nhưng đồng thời lại là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau.
Tính chất chung của mâu thuẫn +) Tính khách quan
• Mâu thuẫn tồn tại vốn có trong bản thân các sự vật, hiện tượng không do ai quy định. +) Tính đa dạng phong phú
+) Tính phổ biến: mâu thuẫn tồn tại trong mỗi sự vật hiện tượng, trong quá trình, trong mọi
lĩnh vực tự nhiên - xã hội và tư duy
- Mỗi sự vật, hiện tượng quá trình đều có những mâu thuẫn khác nhau.
- Cùng một sự vật hiện tượng trong những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, xuất hiện
những mâu thuẫn khác nhau.
* Quá trình vận động của mâu thuẫn
Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau.
- Sự thống nhất giữa các mặt đối lập
+ Thứ nhất, các mặt đối lập nương tựa và làm tiền đề cho nhau tồn tại.
+ Thứ hai, Các mặt đối lập tác động ngang nhau cân bằng nhau, thể hiện sự đấu tranh giữa cái
mới đang hình thành với cái cũ chưa mất hẳn.
+ Thứ ba, giữa các mặt đối lập có sự tương đồng.
- Sự đấu tranh của các mặt đối lập
+ Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau của các mặt đó.
+ Tính đa dạng của hình thức đấu tranh giữa các mặt đối lập cũng như của mối quan hệ qua
lại giữa chúng phụ thuộc vào lĩnh vực tồn tại của các mặt đối lập.
+ Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong
đó sự thống nhất giữa các mặt đối lập là tương đối, đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối,
bởi vì trong khi quy định, ràng buộc lẫn nhau hai mặt đối lập vẫn luôn có xu hướng phát triển
trái ngược nhau, đấu tranh với nhau.
- Sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập.
+ Thứ nhất, Là sự chuyển hóa từng mặt, từng khía cạnh của mặt đối lập này sao mà nổi lập khác.
+ Thứ hai, có thể mặt đối lập này chuyển thành mặt đối lập khác.
+ Thứ ba, cả hai mặt đối lập cũ đều bị mất đi và chuyển thành hai mặt đối lập mới trong sự vật mới.
- Quá trình hình thành của mâu thuẫn
Đồng nhất - Khác nhau ( xung đột ) - Mâu thuẫn
+ Khi mới suất hiện, mâu thuẫn được biểu hiện ở sự khác nhau của hai mặt. Song, không phải
bất cứ sự khác nhau nào của các mặt cũng là mâu thuẫn. Chỉ còn hai mặt khác nhau nào liên
hệ hữu cơ với nhau trong một chỉnh thể và có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau thì
mới hình thành bước đầu có mâu thuẫn.
+ Sau đó phát triển lên thành hai mặt đối lập. Khi hai mặt đối lập của màu thuận xung đột với
nhau gây gắt và khi có điều kiện chín muồi thì giữa chúng có sự chuyển hóa.
+ Mâu thuẫn được giải quyết. Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới được hình thành, lại một
quá trình mới làm cho sự vật không ngừng vận động, phát triển. - Phân loại mâu thuẫn
+ Căn cứ vào quan hệ với các sự vật, hiện tượng được xem xét: mâu thuẫn bên trong và mâu
thuẫn bên ngoài. Mâu thuẫn giữa đồng hóa, dị hóa
+ Căn cứ vào ý nghĩa tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật hiện tượng có: mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn không cơ bản
• Ví dụ: mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản
+ Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn : mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu
+ Căn cứ vào tính chất các lợi ích đối lập tạo thành mẫu thuẫn xã hội: mâu thuẫn đối kháng
( vũ lực,. ) , mâu thuẫn không đối kháng ( đàm phán,…)
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan, phổ biến
-> Trong nhận thức và thực tiễn Phải tôn trọng mâu thuẫn( không được lẫn tránh mâu thuẫn
cũng như không được tạo ra mâu thuẫn )
- Mẫu thuẫn là nguồn gốc và động lực của sự phát triển
-> Muốn thúc đẩy được mâu thuẫn phải nhận thức được mâu thuẫn, tìm cách giải quyết được
mâu thuẫn, tạo điều kiện thúc đẩy sự đấu tranh của các mặt đối lập theo chiều hướng phát triển.
- Mọi mâu thuẫn đều có quá trình phát sinh, phát triển và biến hóa. Sự vật khác nhau thì có
mâu thuẫn khác nhau. Mỗi mâu thuẫn có đặc điểm riêng.
-> Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể và tìm cách giải quyết mâu thuẫn.
Câu hỏi 3: Trình bày quy luật phủ định của phủ định (Thi)
-Vị trí của quy luật trong phép biện chứng: chỉ ra khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng
* Khái niệm phủ định biện chứng
- Phủ định nói chung là sự thay thế một sự vật, hiện tượng này bởi một sự vật, hiện tượng khác : A => B
- Phủ định biện chứng là tự phụ định, tự phát triển của sự vật, hiện tượng, là “mắt xích” trong
“sợi dây chuyền” dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới, tiến bộ hơn so với sự vật, hiện tượng cũ.
* Tính chất của phủ định biện chứng - Tính khách quan
+ Là kết quả của việc giải quyết màu thuận nội tại bên trong bản thân của mỗi sự vật.
+ Là một không tất yếu của quá trình phát triển. - Tính kế thừa
+ Cái mới ra đời không xóa bỏ hoàn toàn mọi yếu tố của cái cũ mà chị sợ bỏ những yếu tố đã
lỗi thời, lạc hậu, giữa lại các yếu tố tích cực, tiến bộ, cải biến chúng trở thành những yếu tố của cái mới.
* Nội dung của quy luật
- Tính khách quan và tính kế thừa (vì phủ định của phủ định chính là phủ định biện chứng)
- Tính chu kỳ: từ một điểm suất phát trải qua một số lần phủ định, sự vật dường như quay trở
lại điểm xuất phát nhưng trên cơ sở cao hơn.
+ Có những sự vật trải qua 2,3,4 lần phủ định nhưng kết quả lại vẫn chỉ có hai lần phủ định cơ bản trái ngược nhau.
Phủ định lần thứ nhất: làm cho sự vật trở thành cái đối lập với chính nó, tức là chuyển từ
khẳng định sang phủ định.
Phủ định lần hai (Phủ định của phủ định ): Sự vật mới ra đời, đối lập với cái đối lập nên sự
vật dường như quay lại cái cũ trên cơ sở cao hơn, đó là đặc điểm cơ bản của quy luật phủ định của phủ định.
- Ví dụ: Cái khẳng định trải qua phủ định lần 1 -> cái phủ định trải qua phủ định lần 2 -> Cái
phủ định của phủ định
- Tính phát triển về chất
• Phủ định của phủ định không đơn giản chỉ của sự vật ban đầu sang cái đối lập, mà là sự phủ
định đã qua một số phụ định biện chứng, bao hàm trong nó sự chuyển hóa lẫn nhau của các
mặt đối lập, làm xuất hiện một sự vật mới trong đó khôi phục lại một số đặc trưng của cái
xuất phát, ban đầu nhưng trên cơ sở mới cao hơn về chất.
- Bản chất của quy luật
Quy luật phủ định của phủ định nêu lên mối liên hệ sự kế thừa giữa sự vật và sự tự phụ định
của nó, nhờ đó sự phủ định biện chứng là điều kiện cho sự phát triển, nó bảo tồn một số nội
dung của các giai đoạn trước và bổ sung thêm những thuộc tính mới, dẫn tới phủ định của phủ
định làm cho sự phát triển theo khuynh hướng đường “xoáy ốc
* Khuynh hướng của sự phát triển theo đường “xoáy ốc”
- Thể hiện tính chất biện chứng của sự phát triển, đó là tính kế thừa, tính lập lại và tính tiến lên.
- Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc dường như lập lại nhưng với một trình độ cao hơn
- Sự tiếp nối của các vòng trong đường xoáy ốc phản ánh quá trình phát triển vô tận từ thấp
đến cao của sự vật, hiện tượng trong thế giới
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Nhận thức đúng đắn về xu hướng phát triển của sự vật
- Tránh thái độ phủ định sạch trơn cái cũ
- Phải biết kế thừa có chọn lọc những tinh hoa của cái cũ.
- Phải biết phát hiện ra cái mới và ủng hộ nó.
5. LÝ LUẬN NHẬN THỨC DUY VẬT BIỆN CHỨNG
Câu hỏi 1: Trình bày thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
* Khái niệm thực tiễn
- Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất – cảm tính có tính lịch sử - xã hội của con
người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ.
+ Các hình thức cơ bản của thực tiễn
 Hoạt động sản xuất vật chất
 Hoạt động chính trị - xã hội
 Hoạt động thực nghiệm khoa học
- Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
+ Thứ nhất, Thực tiễn là cơ sở, là nguồn gốc của nhận thức
+ Thứ hai, thực tiễn là động lực của nhận thức
+ thứ ba, Thực tiễn là mục đích của nhận thức
+ Thứ tư, thực tiễn là tiêu chuẩn để ktra chân lý
Câu hỏi 2: Trình bày con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý
- Trong tác phẩm “bút ký triết học” Lênin đã khái quát từ trực quan sinh động -> tư duy trừu
tượng và từ tư duy trừu tượng -> thực tiễn đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của
sự nhận thức hiện thực khách quan.
- Nhận thức của con người được chia làm 2 giai đoạn
1. Trực quan sinh động -> tư duy trừu tượng
2. Tư duy trừu tượng -> thực tiễn
+ Trực quan sinh động còn gọi là nhận thức cảm tính
+ Tư duy chiều tượng còn gọi là nhận thức lý tính
a) Giai đoạn từ nhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính
* Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Đó là giai đoạn con người
sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật nhầm nắm bắt sự vật ấy.
-Nhận thức cảm tính gồm ba hình thức: cảm giác, tri giác, biểu trước.
+ Cảm giác là sự phản ánh từng mặt, từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng khi chúng
đang tác động trực tiếp vào các giác quan của con người.
+ Tri giác là sự tổng hợp của nhiều cảm giác
+ Biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính và là khâu trung
gian chuyển từ nhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính
- Nhận xét về nhận thức cảm tính
Từ ba hình thức nhận thức cảm tính chúng ta thấy trong nhận thức cảm tính đã tồn tại cả cái
bản chất, hiện tượng, các cái tất yếu, ngẫu nhiên các cái bên trong lẫn bên ngoài của sự vật.
Nhưng ở đây con người chưa phân biệt được cái gì là bản chất và không bản chất, đâu là tất
nhiên đâu là ngẫu nhiên vậy đâu là bên trong bên ngoài nên chưa nắm bắt được cái bản chất, cái tất
yếu, cái bên trong của sự vật.
Muốn nắm bắt được bản chất của sự vật thì nhận thức của con người, phát triển lên một trình
độ mới cao hơn về chất. Đó là trình độ nhận thức lý tính ( giai đoạn tư duy trừu tượng )
* Nhận thức lý tính là giai đoạn cao hơn của quá trình nhận thức. Thông qua tư duy chiều
tượng con người phản ánh được bản chất sự vật một cách trực tiếp, khách quan, chiều tượng và đầy đủ hơn.
+ Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng phản ánh những đặc tính bản chất của
sự vật. Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm,
thuộc tính của sự vật hay một lớp sự vật.
+ Phán đoán là hình thức tư duy liên kết các khái niệm lại với nhau để phản ánh mối liên hệ
của các sự vật, hiện tượng nhầm khẳng định hay phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng.
+ Suy luận là hình thức cao nhất của nhận thức lý tính, phản ánh những mối liên hệ phức tạp
giữa các sự vật hiện tượng. Suy luận là sự liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra phán đoán mới.
* Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và lý tính.
- Là hai giai đoạn của quá trình nhận thức, giữa chúng có sự tác động qua lại, không thể tách rời.
Chúng đều phản ánh thế giới vật chất, đều có cùng một cơ sở sinh lý duy nhất là hệ thần kinh của
con người và đều cùng chịu sự chi phối của thực tiễn lịch sử - xã hội.
- Nhận thức cảm tính cung cấp những hình ảnh chân thực, bề ngoài của sự vật hiện tượng là cơ
sở của nhận thức lý tính. Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính. Có nhận thức
cảm tính mà không có nhận thức lý tính thì không thể nắm bắt được bản chất và quy luật của sự vật.
- Những thức lý tính cung cấp cơ sở lý luận và các phương pháp nhận thức cho nhận thức cảm
tính nhanh và chính xác hơn.
- Tránh tuyệt đối hóa nhận thức cảm tính vì sẽ rơi vào chủ nghĩa duy cảm hoặc phủ nhận vai trò
của nhận thức cảm tính sẽ rơi vào chủ nghĩa duy lý cực đoan.
b) Giai đoạn giữa nhận thức cảm tính đến thực tiễn ( sự thống nhất giữa trực quan sinh
động ,tư duy trừu tượng và thực tiễn )
- Quá trình nhận thức được bắt đầu từ thực tiễn và trở về thực tiễn để kiểm tra, khẳng định chân lý và sai lầm.
- Quay trở về thực tiễn chứng tỏ nhận thức đã hình thành một chu trình biến chứng của nó. Từ
thực tiễn mới, một chu trình nhận thức mới lại được bắt đầu làm quá trình nhận thức của con người
không ngừng vận động và phát triển.
- Vòng khâu của nhận thức được lặp đi lặp lại nhưng sâu hơn về bản chất, là quá trình giải
quyết mâu thuẫn nảy sinh trong nhận thức, giữa chưa biết và biết, giữa biết ít và biết nhiều, giữa chân lý và sai lầm.
6. HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI
Câu hỏi 1: Trình bày sự biện chứng giữa LLSX-QHSX (Thi)
a) Khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
- Phương thức sản xuất bao gồm: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
- Phương thức sản xuất là phạm trù dùng để chỉ cách thức con người sử dụng để sản xuất ra của
cải vật chất trong giai đoạn lịch sử nhất định.
- Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định với
quan hệ sản xuất tương ứng.
- Vai trò của phương thức sản xuất: quyết định sự chuyển biến của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử.
- Lực lượng sản xuất là toàn bộ các nhân tố vật chất, kĩ thuật của quá trình sản xuất, chúng tồn
tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, tạo ra năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật
chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội.
b) Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện chứng,
trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất.
* Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất. Trong đó
lực lượng sản xuất là nội dung của phương thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức của phương thức sản xuất.
=> Lực lượng sản xuất nào thì quan hệ sản xuất ấy
Khi lực lượng sản xuất có sự thay đổi => quan hệ sản xuất cũng phải thay đổi theo
- Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất
Lực lượng sản xuất thường xuyên biến đổi còn quan hệ sản xuất lại mang tính ổn định tương đối. Vì
vậy, khi lực lượng sản xuất biến đổi buộc quan hệ sản xuất biến đổi theo.
- Yêu cầu khách quan của phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến việc xóa bỏ quan hệ sản xuất
cũ, thay thế bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, để mở đường và thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển.
- Trong xã hội có giai cấp đối kháng, màu thuận giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất lỗi
thời là cơ sở khách quan của các cuộc đấu tranh giai cấp, đồng thời cũng là tiền đề tất yếu của các cuộc cách mạng xã hội.
* Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất.
- Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ hình thành hệ
thống động lực thúc đẩy sản xuất phát triển; đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền sản xuất.
- Sự tác động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất có thể diễn ra theo hai chiều hướng là
phù hợp ( thúc đẩy ) hoặc không phù hợp ( kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất) .
- Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất làm cho lịch sử xã hội loài
người là lịch sự kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất từ thấp lên cao.
* Ý nghĩa phương pháp luận.
- Phát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sản xuất, trước hết là phát triển lực lượng lao
động và công cuộc lao động.
- Muốn xóa bỏ một quan hệ sản xuất cũ, thiết lập một quan hệ sản xuất mới phải xuất phát từ tính tất
yếu kinh tế, yêu cầu khách quan của quy luật kinh tế, chống tùy tiện, chủ quan, duy tâm, duy ý chí.
Câu hỏi 2 : Trình bày sự biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. (Thi)
a) Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội.
- Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất của một xã hội trong sự vận động hiện thực của
chúng hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội đó.
- Cấu trúc của cơ sở hạ tầng.
+ Quan hệ sản xuất thống trị
+ Quan hệ sản xuất tàn dư
+ Quan hệ sản xuất mầm mống.
- Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng xã hội ( chính trị, pháp quyền, triết học,
đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật…) Cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như (nhà nước, đảng phái,
giáo hội, các đoàn thể xã hội…) được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
b) Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
* Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
- Theo quan điểm duy vật lịch sử, quan hệ vật chất quyết định quan hệ tinh thần. Kinh tế xét đến cùng
quyết định chính trị - xã hội.
- Cơ sở hạ tầng là nguồn gốc để hình thành kiến trúc thượng tầng
- Cơ sở hạ tầng quyết định đến cơ cấu, tính chất và sự vận động, phát triển của kiến trúc thượng tầng.
- Sự thay đổi của cơ sở hạ tầng sẽ dẫn tới sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng.
* Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
-Vai trò kiến trúc thượng tầng là bảo vệ, duy trì, củng cố lợi ích kinh tế của giai cấp thống trị xã hội
( nhà nước); đảm bảo sự thống trị về chính trị và tư tưởng của giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế.
- Trong các bộ phận của kiến trúc thượng tầng thì nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có tác
dụng to lớn đối với cơ sở hạ tầng
- Các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng cũng có tác động mạng mẽ đến cơ sở hạ tầng.
- Tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực.
* Ý nghĩa của phương pháp luận
- Là cơ sở khoa học cho việc nhận thức 1 cách đúng đắn Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong
đó kinh tế quyết định chính trị, chính trị tác động trở lại to lớn mạnh mẽ đối với kinh tế.
- Trong nhận thức và thực tiễn, nếu tách rời hoặc tuyệt đối hóa một yếu tố nào giữa kinh tế và chính
trị đều là sai lầm.
- Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đổi mới toàn diện cả kinh tế và chính trị, trong đó đổi mới kinh
tế là trung tâm đồng thời đổi mới chính trị.
Câu hỏi 3: Trình bày sự biện chứng giữa Tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Câu hỏi 4: Trình bày phạm trù hình thái kinh tế - xã hội và quá trình lịch sử - tự nhiên.(Thi)
+ K/n: Hình thái kinh tế – xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã
hội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, với những quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội
đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương
ứng được xây dựng lên trên những quan hệ sản xuất đó. *Cấu trúc
+ Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh, có cấu trúc phức tạp, trong đó có các
mặt cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Mỗi mặt của hình thái
kinh tế - xã hội có vị trí riêng và tác động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau.
+ Lực lượng sản xuất là nhân tố quan trọng, cơ bản nhất, yếu tố tạo thành nội dung vật chất
kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế sản xuất. Mỗi hình thái kinh tế sản xuất khác nhau thì có lực
lượng sản xuất khác nhau. Sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành phát triển
và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội.
+ Quan hệ sản xuất là quan hệ khách quan, cơ bản, chi phối và quyết định mọi quan hệ xã
hội, đồng thời là tiêu chuẩn quan trọng nhất để phân biệt bản chất các chế độ xã hội khác nhau.
+ Những QHSX của một xã hội cụ thể hợp thành CSHT, trên đó hình thành lên một KTTT xã
hội, mà chức năng XH của nó là bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó.
- Tiến trình lịch sử - tự nhiên của xã hội loài người
+ Sự vận động thay đổi của các hình thái kinh tế – xã hội trong lịch sử không tuân theo ý chí

chủ quan của con người mà tuân theo quy luật khách quan. Đó chính là do sự tác động của quy luật
quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất – quy luật cơ sở hạ
tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và các quy luật xã hội khác.
+ Nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại, của mọi lĩnh
vực kinh tế xã hội suy cho đến cùng đều do nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển
của lực lượng sản xuất xã hội.
Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất - kỹ thuật, quyết định sự hình thành, phát triển và thay
thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế - xã hội, trong đó “Quan hệ sản xuất là những quan hệ cơ bản
ban đầu và quyết định tất cả mọi mối quan hệ xã hội khác”19 .
Sự vận động phát triển của xã hội bắt đầu từ sự phát triển của lực lượng sản xuất mà trước hết
là sự biến đổi, phát triển của công cụ sản xuất và sự phát, triển về tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của
người lao động. Mỗi sự phát triển của lực lượng sản xuất đều tạo khả năng, điều kiện và đặt ra yêu
cầu khách quan cho sự biến đổi của quan hệ sản xuất. Sự phù hợp biện chứng giữa quan hệ sản xuất
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là yêu cầu khách quan của nền sản xuất xã hội. Khi lực
lượng sản xuất phát triển về chất, đòi hỏi phải xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất
mới về chất. Sự phát triển về chất của quan hệ sản xuất, tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chất của cơ sở
hạ tầng xã hội. Khi cơ sở hạ tầng xã hội biến đổi về chất dẫn đến sự biến đổi, phát triển căn bản
(nhanh hay chậm, ít hoặc nhiều) của kiến trúc thượng tầng xã hội. Hình thái kinh tế - xã hội cũ mất
đi, hình thái kinh tế - xã hội mới, tiến bộ hơn ra đời. Cứ như vậy lịch sử xã hội loài người là một tiến
trình nối tiếp nhau từ thấp đến cao của các hình thải kinh tế - xã hội:
Tiến trình lịch sử xã hội loài người là kết quả của sự thống nhất giữa lôgíc và lịch sử. Xu hướng cơ
bản, xu hướng chung của sự vận động, phát triển lịch sử loài người là do sự chi phối của quy luật
khách quan (thống nhất giữa cái chung với cái đặc thù và cái riêng) xét đến cùng là sự phát triển của
lực lượng sản xuất Lôgic của toàn bộ tiên trinh lịch sư loài ngươi la sự ke tiếp nhau của các hình
thái kinh tể I xã hội từ thấp đến cao.
Sự thống nhất giữa logic và lịch sử trong tiến trình lịch sử - tự nhiên của xã hội loài người bao
hàm cả sự phát triển tuần tự đối với lịch sử phát triển toàn thế giới và sự phát triển “bỏ quá” một hay vài
hình thái kinh tê - xã hội đối với một số quốc gia, dân tộc cụ thể.
+ Quá trình phát triển của hình thái kinh tế xã hội là quá trình thay thế nhau của hình thái
kinh tế - xã hội trong lịch sử nhân loại, và đó cũng là quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài
người, có thể là do nhiều sự tác động của nhân tố chủ quan, nhưng nhân tố giữ vai trò quyết định
là sự tác động của các quy luật khách quan.
Hình thải kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa ra đời là tất yếu khách quan của lịch sử xã hội. Phát
triển là xu hướng tất yếu, cơ bản của lịch sử xã hội loài người. Chủ nghĩa tư bản không phải là nấc
thang phát triển cuối cùng của xã hội loài người. Chính những mâu thuẫn cơ bản trong lòng xã hội
tư bản đã quyết đinh sự vận động phát triển của xã hội loài người.
- Giá trị khoa học của học thuyết hình thái kinh tế –xã hội: 19 LN, nxb Mcv 1974,t1,tr159