



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61265515
1, Đánh giá tác động của nguồn vốn FDI đến tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Việt Nam. (Đề2)
Năm 2022, tổng vốn FDI đăng kí vào Việt Nam đạt gần 27,72 tỉ USD, mức vốn FDI thực hiện đạt kỉ lục
22,4 tỉ USD, tăng 13,5% so với cùng kì năm 2021. Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất trong 5 năm
(2017 - 2022). Tính lũy kế trong giai đoạn 1986 - 2022, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỉ USD vốn
FDI; trong đó, 274 tỉ USD đã được giải ngân, chiếm 62,5% tổng vốn đầu tư đăng kí còn hiệu lực.
Một số dự án được khởi công mới với số vốn lớn như Nhà máy bia Heineken được khánh thành tháng
9/2022 tại Vũng Tàu. Với tổng đầu tư sau khi tăng vốn là 9.151 tỉ đồng, công suất 1,1 tỉ lít/năm, cao gấp
36 lần so với trước. Là nhà máy bia lớn nhất Đông Nam Á, Heineken có dây chuyền đóng lon nhanh
nhất trong các nhà máy bia Heineken trên toàn thế giới. Dự án Nhà máy Điện khí LNG Quảng Ninh của
Nhật Bản được cấp mới giấy chứng nhận đăng kí đầu tư, với tổng vốn đầu tư gần 2 tỉ USD, được khởi động tháng 10/2022.
Quy mô đầu tư: Năm 2022, nhiều dự án được tăng vốn đầu tư từ đầu năm như dự án sản xuất, chế tạo
các sản phẩm điện tử, công nghệ cao được tăng vốn với quy mô lớn; Dự án Samsung Electromechanics
Việt Nam (Thái Nguyên) tăng vốn hai lần: Tăng 920 triệu USD (lần 1) và tăng 267 triệu USD (lần 2);
Dự án Công ty TNHH Điện tử Samsung HCMC CE Complex tăng vốn trên 841 triệu USD; Dự án nhà
máy chế tạo điện tử, phương tiện thiết bị mạng và sản phẩm âm thanh đa phương tiện tại Bắc Ninh (tăng
306 triệu USD), tại Nghệ An (tăng 260 triệu USD) và tại Hải Phòng (tăng 127 triệu USD).
Đối tác đầu tư: Năm 2022, có 108 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam; trong đó, Singapore
dẫn đầu với tổng vốn đầu tư gần 6,46 tỉ USD, Hàn Quốc đứng thứ hai với gần 4,88 tỉ USD, Nhật Bản
đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng kí hơn 4,78 tỉ USD, tiếp theo là Trung Quốc (2,52 tỉ USD), Hồng Kông (2,22 tỉ USD).
Lĩnh vực đầu tư: Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành kinh tế, trong đó: Ngành công
nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt hơn 16,8 tỉ USD, chiếm 60,6% tổng vốn đầu tư
đăng kí năm 2022; ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư hơn 4,45 tỉ USD,
chiếm 16,1% tổng vốn đầu tư đăng kí; tiếp theo lần lượt là các ngành sản xuất, phân phối điện (với vốn
đầu tư đăng kí 2,26 tỉ USD), hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ với vốn đăng ký đạt gần 1,29 tỉ
USD; còn lại là các ngành khác. Năm 2021
1.2. Tình hình đăng ký đầu tư
Tính đến 20/12/2021, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và GVMCP của nhà ĐTNN đạt trên 31,15
tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2020. Cả vốn đăng ký mới và vốn điều chỉnh đều tăng so với
cùng kỳ. GVMCP tuy vẫn giảm song mức giảm đã cải thiện rất nhiều so với các tháng trước. Cụ thể:
Vốn đăng ký mới: Có 1.738 dự án mới được cấp GCNĐKĐT (giảm 31,1%), tổng vốn đăng ký đạt trên
15,2 tỷ USD (tăng 4,1% so với cùng kỳ).
Vốn điều chỉnh: Có 985 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 13,6%), tổng vốn đăng ký tăng
thêm đạt trên 9 tỷ USD (tăng 40,5% so với cùng kỳ).
Góp vốn, mua cổ phần: Có 3.797 lượt GVMCP của nhà ĐTNN (giảm 38,2%), tổng giá trị vốn góp đạt
gần 6,9 tỷ USD (giảm 7,7% so với cùng kỳ). lOMoAR cPSD| 61265515 Theo ngành:
Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó,
ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 18,1 tỷ USD, chiếm 58,2%
tổng vốn đầu tư đăng ký. Ngành sản xuất, phân phối điện mặc dù thu hút được số lượng dự án mới, điều
chỉnh cũng như GVMCP không nhiều, song có dự án có quy mô vốn lớn nên đứng thứ 2 với tổng vốn
đầu tư trên 5,7 tỷ USD, chiếm 18,3% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo lần lượt là các ngành kinh doanh
bất động sản; bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đăng ký đạt lần lượt là trên 2,6 tỷ USD và trên 1,4 tỷ USD.
Còn lại là các ngành khác. Theo đối tác:
Đã có 106 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong năm 2021. Trong đó, Singapore dẫn
đầu với tổng vốn đầu tư trên 10,7 tỷ USD, chiếm 34,4% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, tăng 19,1% so
với cùng kỳ 2020; Hàn Quốc đứng thứ hai với gần 5 tỷ USD[2], chiếm 15,9% tổng vốn đầu tư, tăng
25,4% so với cùng kỳ. Nhật Bản đứng thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 3,9 tỷ USD[3], chiếm
12,5% tổng vốn đầu tư, tăng 64,6% so với cùng kỳ. Tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan,…
Trong năm 2021, vốn đầu tư của Singapore gấp gần 2,2 lần vốn đầu tư của Hàn Quốc và gấp hơn 2,7 lần
vốn đầu tư của Nhật Bản do Singapore có 01 dự án đầu tư mới và 01 trường hợp GVMCP có vốn đầu tư
lớn[4]. Riêng hai dự án này đã chiếm trên 49% tổng vốn đầu tư của Singapore. Hàn Quốc mặc dù chỉ
xếp thứ 2 về vốn đầu tư, song lại là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới, số lượt dự án điều chỉnh vốn
cũng như số lượt GVMCP[5]. Như vậy, nếu xét về số lượng dự án, Hàn Quốc là đối tác có nhiều nhà đầu
tư quan tâm và đưa ra các quyết định đầu tư mới cũng như mở rộng dự án đầu tư nhất trong năm 2021. Theo địa bàn:
Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 59 tỉnh, thành phố trên cả nước trong năm 2021. Hải Phòng vượt qua Long
An vươn lên dẫn đầu trong cả năm với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 5,26 tỷ USD, chiếm 16,9% tổng vốn
đầu tư đăng ký và gấp gần 3,5 lần so với cùng kỳ năm 2020[6]. Long An xếp thứ hai với trên 3,84 tỷ
USD, chiếm 12,3% tổng vốn đầu tư cả nước[7]. TP Hồ Chí Minh đứng vị trí thứ ba với gần 3,74 tỷ USD,
chiếm gần 12% tổng vốn đầu tư, giảm 14,2% so với cùng kỳ. Tiếp theo lần lượt là Bình Dương, Bắc Ninh, Hà Nội,…
Nếu xét về số dự án, các nhà ĐTNN vẫn tập trung đầu tư nhiều tại các thành phố lớn, có cơ sở hạ tầng
thuận lợi như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bắc Ninh. Trong đó, TP Hồ Chí Minh dẫn đầu cả về số dự án
mới (29,2%), số lượt dự án điều chỉnh (18,1%) và GVMCP (60,3%). Hà Nội tuy không thuộc top 5 địa
phương thu hút ĐTNN trong năm, song xếp thứ 2 về số dự án mới (16,7%) và số lượt GVMCP (12,2%).
Một số dự án ĐTNN lớn trong năm 2021: (1)
Dự án Nhà máy điện LNG Long An I và II (Singapore), tổng vốn đăng ký trên 3,1 tỷ USD với
mụctiêu truyền tải và phân phối điện, sản xuất điện tại Long An (cấp GCNĐKĐT ngày 19/3/2021). (2)
Dự án LG Display Hải Phòng (Hàn Quốc), điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 2,15 tỷ USD (trong
đóđiều chỉnh tăng 1,4 tỷ USD ngày 30/8/2021 và tăng 750 triệu USD ngày 04/02/2021). (3)
Dự án Nhà máy nhiệt điện Ô Môn II (Nhật Bản), tổng vốn đăng ký trên 1,31 tỷ USD với mục
tiêuxây dựng một nhà máy nhiệt điện nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp điện cho lưới điện khu vực và hệ
thống điện quốc gia tại Cần Thơ (cấp GCNĐKĐT ngày 22/01/2021). lOMoAR cPSD| 61265515 (4)
Dự án nhà máy sản xuất giấy Kraft Vina công suất 800.000 tấn/năm (Nhật Bản), tổng vốn đầu
tư611,4 triệu USD với mục tiêu sản xuất giấy kraft, giấy lót và giấy bao bì tại Vĩnh Phúc (cấp GCNĐKĐT ngày 23/7/2021). (5)
Dự án Nhà máy Công ty TNHH Polytex Far Eastern Việt Nam (Đài Loan), điều chỉnh tăng vốn
đầutư thêm 610 triệu USD (GCNĐT điều chỉnh cấp ngày 13/5/2021). Năm 2020 Vốn thực hiện:
Tính tới 20/12/2020, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 19,98 tỷ USD,
bằng 98% so với cùng kỳ năm 2019.
1.2. Tình hình đăng ký đầu tư
Tính đến 20/12/2020, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà ĐTNN đạt
28,53 tỷ USD, bằng 75% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó:
Vốn đăng ký mới: Có 2.523 dự án mới được cấp GCNĐKĐT (giảm 35% so với cùng kỳ), tổng vốn đăng
ký đạt 14,65 tỷ USD (giảm 12,5% so với cùng kỳ năm 2019).
Vốn điều chỉnh: Có 1.140 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 17,5% so với cùng kỳ), tổng
vốn đăng ký tăng thêm đạt trên 6,4 tỷ USD (tăng 10,6% so với cùng kỳ).
Góp vốn, mua cổ phần: Có 6.141 lượt GVMCP của nhà ĐTNN (giảm 37,6% so với cùng kỳ), tổng giá
trị vốn góp 7,47 tỷ USD (giảm 51,7% so với cùng kỳ). Cơ cấu giá trị góp vốn, mua cổ phần trong tổng
vốn đầu tư cũng giảm so với cùng kỳ năm 2019 (từ 40,7% trong năm 2019 xuống 26,2% trong năm 2020).
Theo lĩnh vực đầu tư:
Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế
tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt 13,6 tỷ USD, chiếm 47,7% tổng vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực sản
xuất, phân phối điện đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư trên 5,1 tỷ USD, chiếm 18% tổng vốn đầu tư đăng
ký. Tiếp theo lần lượt là các lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản, bán buôn bán lẻ với tổng vốn
đăng ký gần 4,2 tỷ USD và trên 1,6 tỷ USD. Còn lại là các lĩnh vực khác.
Theo đối tác đầu tư:
Đã có 112 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong năm 2020. Singapore dẫn đầu với tổng
vốn đầu tư gần 9 tỷ USD, chiếm 31,5% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng
vốn đầu tư trên 3,9 tỷ USD, chiếm 13,8% tổng vốn đầu tư. Trung Quốc đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn
đầu tư đăng ký 2,46 tỷ USD, chiếm 8,6% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông,…
Nếu xét theo số lượng dự án mới thì Hàn Quốc đứng vị trí thứ nhất (609 dự án); Trung Quốc đứng vị trí
thứ hai (342 dự án); Nhật Bản đứng thứ ba (272 dự án); Hồng Kông đứng thứ tư (211 dự án);… Theo địa bàn đầu tư: lOMoAR cPSD| 61265515
Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 60 tỉnh, thành phố trên cả nước trong năm 2020. TP Hồ Chí Minh vươn
lên dẫn đầu với tổng vốn đăng ký đạt 4,36 tỷ USD, chiếm 15,3% tổng vốn đầu tư (trong đó đầu tư theo
phương thức GVMCP chiếm tỷ trọng lớn, chiếm 72,9% tổng vốn đầu tư của Thành Phố). Bạc Liêu đứng
thứ hai với 1 dự án lớn có vốn đầu tư 4 tỷ USD, chiếm 14% tổng vốn đầu tư đăng ký. Hà Nội đứng thứ
3 với gần 3,6 tỷ USD, chiếm 12,6% tổng vốn đầu tư (trong đó vốn đầu tư tập trung nhiều vào phương
thức mở rộng dự án hiện có và GVMCP, chiếm lần lượt 35,2% và 45% tổng vốn đầu tư đăng ký của Hà
Nội). Tiếp theo lần lượt là Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Hải Phòng,…
Nếu xét theo số lượng dự án mới thì TP Hồ Chí Minh vẫn dẫn đầu (950 dự án); Hà Nội đứng thứ hai (496
dự án); Bắc Ninh đứng thứ ba (153 dự án),….
Một số dự án lớn trong năm 2020: (1)
Dự án Nhà máy điện khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) Bạc Liêu thuộc Trung tâm nhiệt điện LNG
BạcLiêu (Singapore), vốn đầu tư đăng ký 4 tỷ USD với mục tiêu sản xuất điện từ khí tự nhiên hóa lỏng
LNG (cấp GCNĐKĐT ngày 16/1/2020). (2)
Dự án Tổ hợp hoá dầu miền Nam Việt Nam (Thái Lan) tại Bà Rịa – Vũng Tàu, điều chỉnh tăng
vốnđầu tư 1,386 tỷ (GCNĐT điều chỉnh cấp ngày 18/4/2020). (3)
Dự án Khu trung tâm đô thị Tây hồ Tây (Hàn Quốc) tại Hà Nội, điều chỉnh tăng vốn đầu tư
thêmhơn 774 triệu USD (GCNĐT điều chỉnh cấp ngày 29/6/2020). (4)
Dự án Pegatron Việt Nam (Đài Loan), vốn đầu tư 481 triệu USD với mục tiêu sản xuất thiết bị
chơigame, phụ kiện điện thoại, loa thông minh, bộ điều khiển game; các loại máy tính tại Hải Phòng (cấp GCNĐKĐT ngày 30/10/2020). (5)
Dự án Nhà máy sản xuất lốp xe Radian Jinyu (Việt Nam), tổng vốn đầu tư 300 triệu USD với
mụctiêu sản xuất lốp xe toàn thép TBR do nhà đầu tư Trung Quốc đầu tư tại Tây Ninh (cấp GCNĐKĐT ngày 21/1/2020).
Một số giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư FDI:
Thứ nhất, để thu hút được đầu tư từ các tập đoàn xuyên quốc gia, nhất là từ những nước phát triển như:
Mỹ và khối EU, ngoài những vấn đề liên quan đến môi trường đầu tư nói chung, Việt Nam cần chú trọng
quan tâm đến đòi hỏi của những nhà đầu tư về một số khía cạnh như: Tính công khai, minh bạch, ổn
định, dễ dự báo về thể chế, chính sách và luật pháp; thực thi pháp luật nghiêm minh, thống nhất, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; thủ tục hành chính đơn giản, bảo đảm thời gian đã quy định.
Thứ hai, đối với các địa phương đã phát triển đang cần thu hút dự án công nghệ cao, công nghệ tương
lai, dịch vụ hiện đại; Chú trọng đến việc đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia về thời gian
đàm phán, ký thỏa thuận và triển khai thực hiện.
Thứ ba, các doanh nghiệp trong nước phải nỗ lực nâng cao năng lực về tất cả các mặt, từ công nghệ đến
năng lực, trình độ của đội ngũ người lao động, quản lý. Chỉ khi đó, các doanh nghiệp FDI mới tìm đến
đặt hàng và hỗ trợ hoàn thiện quy trình sản xuất đáp ứng yêu cầu của họ.
Thứ tư, rà soát lại việc sử dụng FDI hiện tại để có kế hoạch điều chỉnh, cơ cấu lại hợp lý; Ưu tiên các
nhà đầu tư chiến lược; tạo lập chuỗi sản xuất toàn cầu; ưu tiên doanh nghiệp công nghệ cao và chuyển
giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam. lOMoAR cPSD| 61265515
Thứ năm, kiểm soát chặt chẽ những dự án đầu tư không phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam
hoặc những lĩnh vực mà doanh nghiệp trong nước đủ năng lực về công nghệ.
Tuy nhiên, để tận dụng lợi thế này thì trước mắt Việt Nam cần giải quyết các vấn đề lớn còn tồn đọng,
triển khai các biện pháp để tạo môi trường kinh doanh lành mạnh; sở hữu trí tuệ được đảm bảo, bản
quyền, thương quyền cải cách hành chính tạo điều kiện cho các doanh nghiệp châu Âu nói riêng và các
doanh nghiệp có vốn FDI nói chung được cấp phép đầu tư.
2, Trình bày đặc điểm của nguồn vốn ngân sách nhà nước. (Đề1)
Ngày 29/12/2022 của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn đầu tư của khu vực Nhà nước,
vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước năm 2022 ước đạt 511,6 nghìn tỷ đồng, bằng 85,2% kế
hoạch năm và tăng 18,8% so với năm trước. Cụ thể, vốn trung ương quản lý đạt 91,7 nghìn tỷ đồng, bằng
78,9% kế hoạch năm và tăng 23,4% so với năm trước; vốn địa phương quản lý đạt 419,9 nghìn tỷ đồng,
bằng 86,7% và tăng 17,9%. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 277,6 nghìn tỷ đồng, bằng
82,5% và tăng 16,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 122,1 nghìn tỷ đồng, bằng 94,4% và tăng
22,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 20,2 nghìn tỷ đồng, bằng 108,7% và tăng 9,4%.
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam: Tính đến ngày 20/12/2022 bao gồm vốn đăng ký
cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài ước đạt gần
27,72 tỷ USD, giảm 11% so với năm trước.
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài năm 2022 có 109 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với
tổng số vốn của phía Việt Nam là 426,6 triệu USD, tăng 4,3% so với năm trước; có 26 lượt dự án điều
chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 107,4 triệu USD (năm 2021 điều chỉnh giảm 776 triệu USD).
Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt gần 534 triệu
USD (năm 2021 điều chỉnh giảm 367 triệu USD) so với năm trước. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế
biến, chế tạo đạt 251,9 triệu USD, chiếm 47,2% tổng vốn đầu tư; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt
76,8 triệu USD, chiếm 14,4%; bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt
46,3 triệu USD, chiếm 8,7%.
Về thu, chi ngân sách nhà nước, thu ngân sách Nhà nước năm 2022 ước tăng 13,8% so với năm trước.
Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 8,1% so với năm 2021, đảm bảo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn, hỗ trợ người dân gặp khó
khăn do dịch Covid-19 và khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh. Tổng thu ngân
sách Nhà nước tháng 12/2022 ước đạt 125,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước năm
2022 đạt 1.784,8 nghìn tỷ đồng, bằng 126,4% dự toán năm và tăng 13,8% so với năm trước. Trong đó:
Thu nội địa tháng 12/2022 ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế năm 2022 đạt 1.421,8 nghìn tỷ đồng,
bằng 120,8% dự toán năm và tăng 9% so với năm trước; Thu từ dầu thô tháng 12/2022 ước đạt 6,3 nghìn
tỷ đồng; lũy kế năm 2022 đạt 77 nghìn tỷ đồng, bằng 273% dự toán năm và tăng 72,5% so với năm trước;
Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu tháng 12/2022 ước đạt 13,5 nghìn tỷ đồng; lũy kế
năm 2022 đạt 280 nghìn tỷ đồng, bằng 140,7% dự toán năm và tăng 29,7% so với năm trước.
Tổng chi ngân sách Nhà nướctháng 12/2022 ước đạt 203,3 nghìn tỷ đồng; lũy kế năm 2022 ước đạt
1.562,3 nghìn tỷ đồng, bằng 87,5%dự toán năm và tăng 8,1% so với năm trước. Trong đó, chi thường
xuyên năm 2022 đạt 1.026,2 nghìn tỷ đồng, bằng 92,4% dự toán năm và tăng 5,6% so với năm trước; chi lOMoAR cPSD| 61265515
đầu tư phát triển đạt 435,7 nghìn tỷ đồng, bằng 82,8% và tăng 22,2%; chi trả nợ lãi 97,5 nghìn tỷ đồng, bằng 94% và giảm 7,9%./.
3, Thực trạng tác động của FDI tới môi trường sinh thái
1.1. Tác động tích cực
Hiện nay, FDI cùng với việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường (FDI xanh) đang là một xu hướng đầu tư tất
yếu, đồng thời các quốc gia nhận đầu tư ngày càng chú trọng đến việc tăng cường các chính sách bảo vệ
môi trường. Vì vậy, khi một nước nhận được các dự án đầu tư FDI sạch, sẽ có cơ hội đón nhận các công
nghệ xử lý, thân thiện với môi trường hiện đại, vừa tăng được các lợi ích về kinh tế, vừa đảm bảo môi trường.
FDI có tác động tích cực tới môi trường thông qua việc ra đời những sản phẩm mới tiết kiệm năng lượng,
giảm bớt sự phụ thuộc vào những nguyên liệu, hoặc nguồn năng lượng truyền thống và các giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất hoặc các kinh nghiệm tốt về bảo vệ môi trường. Ngoài ra, sự có
mặt của các công ty đa quốc gia cũng có tác động lan tỏa đối với các công ty trong nước thông qua việc
chuyển giao công nghệ tiên tiến, kỹ năng chuyên môn và những yêu cầu áp dụng tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt.
Nhìn chung, FDI sẽ góp phần giúp tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam. Những lợi ích kinh tế này sẽ được
sử dụng một phần giúp giải quyết các vấn đề về môi trường theo các phương cách khác nhau.
Chính vì vậy, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt
Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050. Những mô hình kinh tế
cụ thể có tính thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó có kinh tế tuần hoàn, cũng đang được nghiên cứu,
tạo thuận lợi, hướng tới thúc đẩy chuyển đổi xanh ngay trong quá trình phục hồi kinh tế.
Sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài đối với kinh tế xanh, sản xuất xanh ít nhiều tạo được những tác
động lan tỏa tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam. Một mặt, mô hình khu công nghiệp sinh thái đã được
quan tâm nhiều hơn, đi kèm với hoàn thiện chính sách liên quan, cũng như sự gia tăng đầu tư của các
doanh nghiệp phát triển bất động sản công nghiệp (ví dụ như khu công nghiệp sinh thái Nam Cầu Kiền,
hay các khu công nghiệp được chọn làm khu công nghiệp sinh thái trong khuôn khổ Dự án “Triển khai
khu công nghiệp sinh thái tại Việt Nam theo hướng tiếp cận từ Chương trình khu công nghiệp sinh thái toàn cầu”…)
Mặt khác, Ban quản lý các khu công nghiệp cũng nhìn nhận tích cực hơn về vai trò của việc bảo vệ môi
trường như là một yếu tố tiên quyết để thu hút FDI. Trước đây, bảo vệ môi trường thường được nhìn
nhận với tác động làm tăng chi phí, do đó không đồng nhất với lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, các khu công
nghiệp hiện đã quan tâm hơn đến sàng lọc, đánh giá tác động môi trường nhằm bảo đảm các dự án đầu
tư sẽ thân thiện với môi trường.
Như vậy, khu vực FDI đã và đang tích cực tham gia vào quá trình chuyển giao công nghệ xanh, thực hiện
đầy đủ trách nhiệm xã hội, xây dựng và nâng cao nhận thức về nền kinh tế xanh cho người lao động và
người tiêu dùng. Một số dự án có công nghệ tiêu biểu như: Dự án hệ thống xử lý nước thải y tế tại Bệnh
viện Chợ Rẫy; Công ty Điện lực Phú Mỹ 3 với việc cài đặt hệ thống phát hiện rò rỉ tự động và trồng
4.000 cây xanh xung quanh công ty…; Tập đoàn SCG (Top 50 doanh nghiệp FDI tiêu biểu hàng đầu tại
Việt Nam về tăng trưởng xanh), xây dựng chiến lược ESG 4 Plus với 4 lộ trình chính, gồm: “Hướng đến lOMoAR cPSD| 61265515
phát thải ròng bằng không (Set Net Zero) - Phát triển xanh (Go Green) - Giảm bất bình đẳng (Reduce
Inequality) - Thúc đẩy sự hợp tác (Embrace Collaboration) đồng thời chú trọng quản trị minh bạch
(Harnessing Good Governance), giúp loại bỏ các nguy cơ khủng hoảng, duy trì sự ổn định xã hội và giúp
doanh nghiệp đạt được các mục tiêu phát triển xanh và bền vững, tiếp tục đóng góp cho các cộng đồng
địa phương tại Việt Nam.
Quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế nâu sang nền kinh tế xanh khó có thể đạt hiệu quả cao nếu thiếu sự
đồng thuận, chủ động thực hiện của cộng đồng doanh nghiệp. Thực tế, các dự án FDI bắt đầu có sự
chuyển hướng rõ nét. Chẳng hạn, một số dự án năng lượng sạch đã được cấp phép trong thời gian gần
đây, như Dự án Nhà máy Điện khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) Bạc Liêu thuộc Trung tâm Nhiệt điện LNG
Bạc Liêu (Singapore), vốn đầu tư đăng ký 4 tỷ USD (năm 2020), hay dự án Nhà máy Điện LNG Long
An I và II (Singapore), tổng vốn đăng ký trên 3,1 tỷ USD với mục tiêu truyền tải và phân phối điện, sản
xuất điện tại Long An (năm 2021).
1.2. Tác động tiêu cực
Bên cạnh những kết quả đáng kể đạt được, đà tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao cũng đã gây áp lực lớn
lên môi trường sinh thái, do tác động từ các loại chất thải phát sinh từ hoạt động công nghiệp hóa, đô thị
hóa, phát triển kinh tế, đặc biệt phải kể tới những ảnh hưởng từ hoạt động đầu tư nước ngoài.
Trước thực trạng về số lượng lớn nguồn vốn FDI đổ vào các khu công nghiệp, CCN, khu chế xuất, nguy
cơ gia tăng ô nhiễm môi trường rất lớn khi tình trạng xử lý chất thải cụm công nghiệp còn nhiều bất cập,
yếu kém. Đa số các khu công nghiệp tại Việt Nam còn vi phạm về quy định xử lý chất thải, mặc dù có
xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. Tuy nhiên, hiệu quả xử lý không cao, hoặc còn tồn tại tình
trạng chất thải doanh nghiệp xả trực tiếp ra môi trường không qua xử lí dẫn đến tình trạng ô nhiễm, dẫn
tới những chất thải công nghiệp độc hại ngấm vào lòng đất, nguồn nước, gây ra hệ lụy lâu dài không chỉ
cho môi trường, mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe cư dân sinh sống quanh khu vực này. Theo Phòng
nghiên cứu Chính sách PanNature, một nghiên cứu mới đây cho thấy, có tới 80% khu công nghiệp vi
phạm quy định về môi trường; 23% doanh nghiệp FDI xả thải vượt quy chuẩn cho phép từ 512 lần. Đặc
biệt, DN FDI chiếm 60% tổng số các DN xả thải vượt quy chuẩn.
Về ô nhiễm do nước thải công nghiệp kết hợp với nước thải đô thị đã gây ô nhiễm nghiêm trọng cho
nhiều kênh rạch ở vùng ven TP. Hồ Chí Minh như Tham Lương, Ba Bò, Thầy Cai, An Hạ,… Nhiều doanh
nghiệp dùng các thủ đoạn xây dựng hệ thống ngầm kiên cố xả thẳng ra sông, rạch, hoặc lợi dụng thủy
triều lên xuống để pha loãng nước thải chưa qua xử lý đưa ra môi trường như Công ty cổ phần Sonadezi Long Thành - Đồng Nai.
Tiêu biểu phải kể tới một trường hợp gây ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng là Công ty Vedan. Cách đây
10 năm, sông Thị Vải (Đồng Nai) đã bị ô nhiễm 80-90% khi Công ty TNHH Vedan Việt Nam (Đài Loan)
bơm xả trực tiếp một lượng lớn dịch thải sau lên men với nồng độ các chất ô nhiễm rất cao ra môi trường.
Năm 2014, Công ty TNHH Miwon Việt Nam tại Phú Thọ cũng đã bị xử phạt 515 triệu đồng vì hành vi
xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 10 lần trở lên ra môi trường. Đặc biệt, đầu năm 2016 đã xảy ra
thảm họa môi trường biển tại 4 tỉnh miền Trung sau khi Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa
Hà Tĩnh (Đài Loan) đã tống một lượng lớn nước thải chưa qua xử lý ra biển trong quá trình vận hành thử.
Ô nhiễm khí thải là một vấn đề “nóng” tại Việt Nam hiện nay. Theo bảng xếp hạng quốc gia về mức độ
ô nhiễm không khí của IQAir, Việt Nam hiện xếp thứ 36/118 quốc gia trên toàn thế giới, riêng Thủ đô lOMoAR cPSD| 61265515
Hà Nội có mức độ ô nhiễm thứ 3 trên thế giới. Tương tự như ở các đô thị lớn ở nước ta, nồng độ bụi TSP
ở phần lớn các KCN, CCN đều vượt ngưỡng cho phép theo QCVN 05: 2013/BTNMT. Ô nhiễm bụi ở
các KCN, CCN ở các tỉnh thành phía Bắc thường lớn hơn so với các KCN, CCN ở phía Nam. Nhìn
chung, chất lượng không khí tại nước ta bị ảnh hưởng lớn một phần bởi lượng khí thải đến từ KCN chưa
qua xử lý hoặc quy trình xử lý chưa đạt chất lượng. Một số ví dụ điển hình về vi phạm xử lý khí thải
công nghiệp của các doanh nghiệp FDI như vụ vi phạm gây ảnh hưởng rất lớn tới đời sống nhân dân của
Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2…
2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả FDI trên góc độ bảo tồn môi trường sinh thái Để
thu hút FDI và bảo tồn môi trường sinh thái, cần thực hiện một số giải pháp sau:
2.1. Hoàn thiện bổ sung hệ thống chính sách, quy định pháp luật về đầu tư nước ngoài
- Hoàn thiện cơ chế phân cấp trong quản lý đầu tư nước ngoài là một yêu cầu bức thiết nhằm nâng
caohiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài tại nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Xây dựng và hoàn thiện các chính sách đầu tư, chính sách thuế để bảo vệ kinh tế đất nước. Đồng
thời,tránh sự lợi dụng trong việc ưu đãi khuyến khích thu hút đầu tư.
- Điều chỉnh các chính sách ưu đãi nhằm phù hợp với định hướng thu hút FDI thân thiện môi trường.
2.2. Lọc dự án FDI dùng công nghệ không phù hợp luật, khai thác tài nguyên môi trường quá mức
Thành lập các tiêu chí chọn lọc đầu tư FDI, đặc biệt là yếu tố bảo vệ môi trường.
Cần một bộ tiêu chí chọn lọc tốt để các dự án FDI đầu tư vào Việt Nam sử dụng ít tài nguyên đất đai, ít
năng lượng hơn nhưng hiệu quả đầu tư cao hơn.
Cần quy định giới hạn lượng phát thải; doanh nghiệp phải công bố công khai thông tin về môi trường và
giải pháp xử lý lượng phát thải. Đặc biệt phải đẩy mạnh việc hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra doanh nghiệp
trong việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường; xây dựng cơ chế, chính sách thu hút đầu tư vào
lĩnh vực xử lý khí thải, nước thải, chất thải rắn và vệ sinh môi trường đô thị... Hoàn thiện các quy định
về chế tài xử phạt vi phạm pháp luật đủ sức răn đe trong lĩnh vực môi trường. Nghiên cứu bổ sung chế
tài xử phạt theo mức xả thải thực tế thay cho mức xử phạt theo khung tối đa, tối thiểu như hiện nay. 2.3. Thu hút FDI xanh
Nhằm thúc đẩy việc thu hút FDI xanh trong thời gian tới, đề xuất một số giải pháp như sau:
Thứ nhất, ưu tiên thu hút FDI vào các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, tiên tiến, công nghệ thân thiện với
môi trường, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp
thông minh; phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là các ngành nghề mới trên nền tảng công nghiệp 4.0.
Thứ hai, xây dựng và ban hành tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn về khai thác, sử dụng tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi trường trong thu hút và sử dụng FDI. Các yêu cầu về môi trường và đánh giá tác
động về môi trường cần được ưu tiên hàng đầu. Nâng cấp tiêu chuẩn về môi trường để làm căn cứ không
tiếp nhận các dự án không khuyến khích đầu tư (như: dệt nhuộm sử dụng công nghệ cũ...). Luôn đảm
bảo nguyên tắc không thu hút FDI bằng mọi giá; không thu hút các dự án có nguy cơ hủy hoại tài nguyên
thiên nhiên và môi trường. lOMoAR cPSD| 61265515
Thứ ba, rà soát, sửa đổi pháp luật về đăng ký chuyển giao công nghệ; nhập khẩu máy móc, thiết bị của
doanh nghiệp FDI nhằm kiểm soát, thúc đẩy công nghệ và chuyển giao công nghệ; ngăn ngừa, hạn chế
tình trạng gian lận và tiếp nhận công nghệ không thân thiện với môi trường.
Thứ tư, xây dựng thể chế, chính sách ưu đãi vượt trội, cạnh tranh, tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi thu
hút các dự án lớn, trọng điểm quốc gia, dự án công nghệ cao... thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập
đoàn đa quốc gia đầu tư, đặt trụ sở và thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam.
Thứ năm, xây dựng cơ chế khuyến khích, ưu đãi thỏa đáng để tăng liên kết giữa FDI và đầu tư trong
nước, các lĩnh vực cần ưu tiên thu hút; phát triển cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, góp phần nâng cao
giá trị gia tăng nội địa, sức cạnh tranh của sản phẩm và vị trí quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu. Khuyến
khích chuyển giao công nghệ và quản trị cho doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ sáu, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra gắn với nâng cao trách nhiệm của chính quyền
địa phương và người đứng đầu đối với việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước liên quan tới đầu tư nước ngoài; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các vi
phạm về bảo vệ môi trường.
Thứ bảy, không gia hạn, mở rộng hoạt động đối với các dự án sử dụng công nghệ thấp, không đáp ứng
được tiêu chuẩn công nghệ, môi trường.
Thứ tám, đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ cho đội ngũ làm công tác quản lý liên quan đến FDI, chú
trọng cập nhật kiến thức về xu hướng vốn FDI xanh; các tiêu chí FDI xanh trên thế giới; kinh nghiệm
quản lý dự án FDI xanh; kinh nghiệm xử lý các rủi ro môi trường kể cả từ các dự án FDI đã được cam kết “xanh”,...
2.4. Tăng cường quản lý, giám sát với dự án FDI
Hoạt động của doanh nghiệp FDI trong một số ngành sẽ làm gia tăng lượng chất thải rắn và lỏng làm ô
nhiễm môi trường. Do vậy, cần có những quy định cụ thể đối với các ngành khi doanh nghiệp đăng ký
kinh doanh, cần có sự kiểm tra và giám sát thường xuyên của cơ quan chức năng, chính quyền địa phương.
Đẩy mạnh công tác thanh kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp FDI. Vai trò của lực lượng thanh tra trong
công tác quản lý môi trường các doanh nghiệp FDI luôn được đánh giá cao, bản thân các doanh nghiệp
cũng coi thanh tra là một áp lực để tuân thủ quy định bảo vệ môi trường. Vì vậy, Chính phủ cần nâng cao
vai trò và đẩy mạnh hoạt động thanh kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền, gia tăng số lượng lần thanh
tra định kỳ, tích cực tổ chức thanh tra đột xuất doanh nghiệp trong khu vực FDI; đồng thời phát triển lực
lượng cán bộ quản lý môi trường.
4, Mặt trái của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến Việt Nam hiện nay
1. Mặt trái của việc thu hút đầu tư FDI * Chuyển giao công nghệ
Chuyển giao kỹ thuật thông qua kênh đầu tư trực tiếp nước ngoài, tức là chúng ta đã đề cập đến một nguy
cơ là sẽ nhận nhiều kỹ thuật không thích hợp và chỉ ở mức trung bình. Các công ty nước ngoài thường lOMoAR cPSD| 61265515
chuyển giao những công nghệ kỹ thuật lạc hậu và máy móc thiết bị cũ. Dưới sự tác động của cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật cho nên máy móc công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu. Vì vậy, họ thường
chuyển giao những máy móc đã lạc hậu cho các nước nhận đầu tư để đổi mới công nghệ, đổi mới sản
phẩm, nâng cao chất lượng của sản phẩm của chính nước họ. Hầu hết các nước đều sử dụng công nghệ,
sử dụng lao động. Tuy nhiên sau một thời gian phát triển, giá của lao động sẽ tăng, kết quả là giá thành
sản phẩm cao. Chính vì việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây thiệt hại cho các nước nhận đầu tư như là:
- Tính giá trị thực của những máy móc chuyển giao rất khó làm cho nước đầu tư thường bị thiệt hạitrong
việc tính tỷ lệ góp trong các doanh nghiệp liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận.
- Gây tổn hại môi trường sinh thái.
- Chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất cao và do đó sản phẩm của các nước nhận đầu tư khó có thểcạnh
tranh trên thị trường thế giới.
Trong Bảng xếp hạng về Năng lực cạnh tranh công nghiệp của UNIDO năm 2016, Việt Nam đứng thứ
50 trên tổng số 141 nước được xếp hạng, tăng 44 bậc so năm 1990. Trong khu vực ASEAN, Việt Nam
chỉ đứng trên Philippines (hạng 53) và Campuchia (hạng 90). Chỉ số giá trị gia tăng công nghiệp chế
biến/người (MVA), Việt Nam tăng từ 173,6 USD năm 2009 lên 235,6 USD năm 2013, đứng thứ 101
trong tổng số 143 nước (Singapore thứ 1, Malaysia thứ 41, Thái Lan thứ 49).
* Phụ thuộc về kinh tế đối với các nước nhận đầu tư
Các công ty đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTTTNN) sẽ tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế của nước nhận
đầu tư vào vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của các công ty xuyên quốc gia. ĐTTTNN có
đóng góp phần vốn bổ sung quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện chuyển giao công
nghệ cho các nước nhận đầu tư. Thông qua các công ty xuyên quốc gia là những bên đối tác nước ngoài
để chúng ta có thể tiêu thụ hàng hóa vì các công ty này nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa từ nước
này sang nước khác. Vậy nếu càng dựa nhiều vào ĐTTTNN, thì sự phụ thuộc của nền kinh tế vào các
nước công nghiệp phát triển càng lớn thì sự phát triển của nó chỉ là một phồn vinh giả tạo.
* Chi phí cho việc thu hút FDI và sản xuất không thích hợp -
Chi phí của việc thu hút FDI: Các nước tiếp nhận đầu tư phải áp dụng một số ưu đãi cho các nhà
đầutư như là giảm thuế, miễn thuế trong một thời gian khá dài cho phần lớn các dự án đầu tư nước ngoài.
Giảm tiền thuê đất, nhà xưởng và một số các dịch vụ trong nước là rất thấp so với các nhà đầu tư trong
nước. Được Nhà nước bảo hộ thuế quan... Làm cho lợi ích của nhà đầu tư có thể vượt lợi ích mà nước
chủ nhà nhận được. Các nhà đầu tư tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các yếu tố đầu vào, như:
nguyên vật liệu, bán thành phẩm, máy móc thiết bị mà họ nhập vào để thực hiện đầu tư. Việc làm này
mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư, chẳng hạn như trốn được thuế, hoặc giấu được một số lợi
nhuận thực tế mà họ kiếm được. Từ đó, hạn chế cạnh tranh của các nhà đầu tư khác xâm nhập vào thị
trường. Ngược lại, gây chi phí sản xuất cao ở nước chủ nhà và nước chủ nhà phải mua hàng hóa do các
nhà đầu tư nước ngoài sản xuất với giá cao hơn. -
Sản xuất hàng hóa không thích hợp: Các nhà đầu tư sản xuất và bán hàng hóa không thích hợp
chocác nước kém phát triển, hàng hóa có hại cho sức khỏe con người và gây ô nhiễm môi trường như:
khuyến khích không dùng thuốc lá, thuốc trừ sâu, nước ngọt có gas thay thế nước hoa quả tươi, chất tẩy thay thế xà phòng... lOMoAR cPSD| 61265515
* Tổn hại đến môi trường
Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa có báo cáo tổng hợp tại Hội nghị toàn quốc bảo vệ môi trường
hàng năm như sau: Cả nước tiêu thụ hơn 100.000 tấn hóa chất bảo vệ thực vật; hơn 23 triệu tấn rác thải
sinh hoạt, hơn 7 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp, hơn 630.000 tấn chất thải nguy hại trong khi việc xử
lý chất thải, nước thải còn rất hạn chế.
Tác hại hơn, trên cả nước hiện có 283 khu công nghiệp (KCN) với hơn 550.000m3 nước thải/ngày đêm;
615 cụm công nghiệp nhưng trong đó chỉ khoảng hơn 5% có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Hơn
500.000 cơ sở sản xuất trong đó có nhiều loại hình sản xuất ô nhiễm môi trường, công nghệ sản xuất lạc
hậu. Đây là những con số thống kê cho thấy nguy cơ và hiện tượng ô nhiễm đến môi trường đất, nước
và không khí đang ở mức báo động.
Tính đến tháng 6/2012, ô nhiễm môi trường nước do nước thải từ KCN trong những năm gần đây là rất
lớn, có khoảng 62% các KCN đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng hiệu quả không cao,
dẫn đến tình trạng 75% nước thải KCN thải ra ngoài với lượng ô nhiễm cao. Điển hình là Khu vực kinh
tế trọng điểm phía Nam gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương được xem là khu vực
tập trung nhiều KCN và dự án FDI lớn nhất cả nước, mặc dù tỷ lệ xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập
trung ở khu vực này khá cao, nhưng tình trạng vi phạm các qui định về môi trường vẫn thường xuyên
xảy ra. Đa số các doanh nghiệp hiện nay đều dùng các thủ đoạn tương tự nhau, xây dựng hệ thống ngầm
kiên cố xả thẳng ra sông, rạch, hoặc lợi dụng thủy triều lên xuống để pha loãng nước thải chưa qua xử lý
đưa ra môi trường mà gần đây nhất chính là sự kiện của Công ty Cổ phần Sonadezi Long Thành - Đồng Nai.
Ô nhiễm môi trường, không khí, thường chủ yếu tập trung tại các KCN cũ, do các KCN này đang sử
dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải trước khi thải ra môi
trường. Ô nhiễm không khí tại các KCN chủ yếu là bụi, một số KCN có biểu hiện ô nhiễm CO2, SO2 và
tiếng ồn. Trong khi đó tại các KCN mới, do được đầu tư công nghệ hiện đại, hệ thống xử lý khí thải đồng
bộ trước khi xả thải ra môi trường, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường không khí tại các KCN này
đã được cải thiện một cách rõ rệt. Thống kê cho thấy, năm 2011, mỗi ngày, các KCN nước ta thải ra
khoảng 8.000 tấn chất thải rắn (CTR), tương đương khoảng 3 triệu tấn/năm.
* Những ảnh hưởng tiêu cực khác
Có thể thông qua việc đầu tư để thực hiện hoạt động tình báo, gây rối an ninh chính trị. Thông qua nhiều
thủ đoạn khác nhau theo kiểu “diễn biến hòa bình”. Có thể nói rằng sự tấn công của các thế lực thù địch
nhằm phá hoại ổn định về chính trị của nước nhận đầu tư luôn diễn ra dưới mọi hình thức tinh vi và xảo
quyệt. Mục đích của các nhà đầu tư là kiếm lời, nên họ chỉ đầu tư vào những nơi có lợi nhất sẽ làm tăng
thêm sự mất cân đối giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị. Sự mất cân đối này có thể gây ra mất
ổn định về chính trị, hoặc FDI cũng có thể gây ảnh hưởng xấu về mặt xã hội. 2. Kết luận
Trong tầm nhìn trung và dài hạn, thu hút FDI vẫn là nhiệm vụ trọng tâm để tăng trưởng kinh tế, bù đắp
sự thiếu hụt về vốn ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là đối với các nước kém phát triển.
Tuy nhiên, Nhà nước cần chủ động nhận diện một cách tường tận các mặt trái của việc thu hút đầu tư
FDI đến kinh tế, chính trị, xã hội, đặc biệt là chú ý đến môi trường, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp
và xây dựng các kế hoạch cụ thể nhằm khắc phục các bất cập, thách thức đang gặp phải. Định hướng thu lOMoAR cPSD| 61265515
hút FDI đến năm 2020; Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính và phòng chống tham nhũng trong hoạt động
FDI; Xác định đối tác chiến lược trong thu hút FDI và cách tiếp cận hiệu quả. 3. Khuyến nghị
Chọn lọc các lĩnh vực cho phép đầu tư và ưu tiên chọn các nhà đầu tư có công nghệ cao, hiện đại thân thiện với môi trường.
Xây dựng và hoàn thiện các chính sách đầu tư, chính sách thuế để bảo vệ kinh tế đất nước. Đồng thời,
trách sự lợi dụng trong việc ưu đãi khuyến khích thu hút đầu tư, hiện tượng chuyển giá của các nhà đầu tư nước ngoài.
Tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường tại các KCN, xử lý nghiêm các
doanh nghiệp vi phạm, đình chỉ hoạt động theo quy định của pháp luật.
Nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động đánh giá môi trường, chỉ cho phép xây dựng các nhà máy, dự
án trong KCN sau khi đã hoàn thành cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình bảo vệ môi trường.
5, Tác động tiêu cực của đầu tư
Thời gian qua, lượng lớn đầu tư của Trung Quốc đổ về tỉnh duyên hải Sihanoukville của Campuchia do
vị trí thuận tiện của địa phương này và do chính sách cởi mở của chính quyền đối với đầu tư, đặc biệt là
trong lĩnh vực bất động sản và sòng bạc (casino).
Hiện trong khu vực này có hơn 80 sòng bạc. Điều này đến lượt nó lại thúc đẩy thêm du khách Trung
Quốc đổ xô tới Sihanoukville để chơi cờ bạc, biến thành phố này thành một thỏi nam châm thu hút các nhà đầu tư Trung Quốc.
Theo Bộ Du lịch Campuchia, năm 2018, khoảng 2 triệu du khách Trung Quốc thăm Campuchia, tăng
70% so với năm trước đó. Dự kiến con số du khách này sẽ tăng lên mức 3 triệu vào năm 2020.
Theo một báo cáo gần đây của giới chức tỉnh Sihanoukville, các công dân Trung Quốc hiện nay sở hữu
tới hơn 90% doanh nghiệp ở Sihanoukville, bao gồm các cơ sở như khách sạn, sòng bạc, nhà hàng và
tiệm mát-xa, điều này khiến người bản xứ lo ngại về việc Trung Quốc ngự trị nền kinh tế địa phương.
Báo chí địa phương và quốc tế đã vẽ ra những “bức tranh” ảm đạm về việc Sihanoukville chuyển hóa từ
một thị trấn vùng biển ngủ quên thành một trung tâm đánh bạc rẻ tiền kiểu Macau. Nhiều nhà phê bình
cho rằng thành phố đang đánh mất nét duyên dáng vốn có trong lúc không gian văn hóa Trung Quốc mở rộng mạnh.
Tin tức về các vụ quấy rối tình dục, bắt cóc và tai nạn giao thông liên quan đến các công dân Trung Quốc
càng làm tâm lý bài Hoa ở Campuchia thêm mạnh.
Thực tế nhiều người Campuchia có xu hướng tránh tới Sihanoukville – vốn từng là điểm đến phổ biến
của du khách địa phương, do họ đều nhìn nhận nơi đây đã trở thành một cộng đồng của người Trung Quốc.
Cũng theo số lượng của Bộ Du lịch Campuchia, số người Campuchia thăm Sihanoukville năm 2018 đã giảm 13,5%. lOMoAR cPSD| 61265515
6, Mối liên hệ giữa ODA với FDI
Nguồn vốn ODA đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút
và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI
Trong những năm qua 1 tỷ trọng lớn 4 ODA khoảng hơn 50% đã được ưu tiên đầu tư cho xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế. hàng loạt các công trình kết cấu hạ tầng quan trọng như mạng lưới giao thông sản
xuất và truyền tải điện thông tin liên lạc cấp thoát nước… nhờ vốn ODA đã phục hồi mở rộng và nâng
cấp tạo một bước mới về chất. từ đó chúng không những góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế xã hội
Việt Nam phát triển mà còn trực tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho Thu hút nguồn vốn FDI.
Năng lượng điện giao thông vận tải và bưu chính viễn thông là hai ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
tổng nguồn 4 ODA giao thông vận tải với rất nhiều công trình được xây dựng nâng cao bằng nguồn vốn
này như quốc lộ 5, 10, 18 Đường hầm Đèo Hải Vân Cầu Thanh Trì Bãi Cháy hệ thống thông tin liên lạc ven biển
Năng lượng điện với sự cải tạo nâng cấp phát triển mới nhiều công trình như các nhà máy nhiệt điện Phú
Mỹ Ô Môn các nhà máy thủy điện Đại Ninh cải tạo phát triển mạng truyền tải và phân phối điện quốc gia…
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo chiếm tỷ trọng lớn thứ tư với các
chương trình dự án như giảm nghèo các tỉnh vùng núi phía Bắc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn dựa
vào cộng đồng phát triển kinh tế miền Trung cấp nước giao thông và Điện khí hóa nông thôn Thủy Lợi
đồng bằng sông Cửu Long nhiều dự án phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo khác…
Vốn ODA đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực tạo ra đội ngũ lao động có trình độ cao cho khu vực kinh tế FDI
Ngoài xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế vốn ODA cũng được ưu tiên sử dụng trong lĩnh vực giáo dục đào
tạo y tế. Các dự án sử dụng vốn ODA trong lĩnh vực này góp phần đào tạo đội ngũ lao động trong tương
lai có năng lực trình độ và sức khỏe tốt phục vụ cho phát triển kinh tế một cách bền vững và là một yếu
tố vô cùng quan trọng trong khu vực kinh tế FDI với các dự án đòi hỏi lao động có trình độ cao đây cũng
là kinh nghiệm sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA mà một số nước đã làm
Nguồn vốn ODA đóng vai trò định hướng cho nguồn vốn FDI đầu tư vào những ngành những vùng cần thiết
Một nền Kinh tế có những giai đoạn phát triển khác nhau. Với mỗi giai đoạn phát triển sẽ đặt ra những
mục tiêu trọng tâm ưu tiên phát triển những ngành kinh tế phù hợp. Muốn xây dựng một đất nước phát
triển về mọi mặt thì các ngành các vùng của chúng ta đều phải phát triển với một cơ cấu hợp lý. Mục
tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam là hạn chế sự phát triển mất cân đối giữa các vùng
miền Chính vì thế trong công tác thu hút vốn FDI Chính phủ đã có chủ trương hướng các nhà đầu tư
quốc tế đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp vào các vùng nông thôn vùng sâu vùng xa. Tuy nhiên các lĩnh
vực các vùng này thu hút được rất ít vốn FDI do điều kiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội còn nhiều khó
khăn dẫn đến chi phí lớn không đảm bảo lợi nhuận cho các nhà đầu tư. Do đó nguồn vốn ODA cần được
ưu tiên đầu tư cho những vùng miền này để cải thiện môi trường đầu tư tạo điều kiện thuận lợi cho thu
hút vốn FDI giảm chênh lệch sự phát triển giữa các vùng miền trong nước lOMoAR cPSD| 61265515
Các dự án FDI hoạt động có hiệu quả hoạt động xuất khẩu được thúc đẩy sẽ là nguồn cung ngoại
tệ chủ yếu trang trải những khoản ODA dài hạn
Khu FDI có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng lớn hơn so với tốc độ tăng trưởng trung bình của nền kinh
tế trong giai đoạn đầu khu vực kinh tế này sẽ chủ yếu thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu với các
sản phẩm sản xuất ra phục vụ nhu cầu tiêu dùng của thị trường nội địa Nhưng những năm gần đây có sự
chuyển hướng khá tốt sang xuất khẩu tỷ lệ xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI trong tổng giá trị tài sản
tăng nhanh đến nay đã chiếm gần 54%, Đồng thời các doanh nghiệp FDI góp phần tích cực thúc đẩy hoạt
động xuất khẩu trong nước đây là dấu hiệu tốt đúng hướng của khu vực kinh tế FDI cũng là nguồn đảm
bảo cho việc thanh toán và trả góp khoản nợ nước ngoài của quốc gia khi đáo hạn trong đó có vốn ODA
Quản lý và sử dụng vốn ODA có hiệu quả tạo dựng được lòng tin của các nhà đầu tư quốc tế về
khả năng phát triển của kinh tế Việt Nam Ngược lại nền kinh tế Việt Nam phát triển ổn định sẽ
tăng thêm lòng tin của các nhà tài trợ khi cho vay cộng đồng quốc tế đã có nhiều đánh giá khá tích
cực về công tác quản lý và sử dụng vốn ODA của chính phủ Việt Nam triển vọng vốn ODA của Việt
Nam trong thời gian tới là khá thuận lợi.
7, ODA “ con dao 2 lưỡi” Ưu điểm của ODA
Nguồn ODA giúp ta phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển giáo dục, giúp cho kinh tế phát triển.
Lãi suất thấp (dưới 3%, trung bình từ 1-2%/năm)
Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 810 năm)
Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA. Nhược điểm của ODA
Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường mở
rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị…
Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có lợi thế ( Những
mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế- chính trị- xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới)
Ví dụ: về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành
công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hóa của nước tài trợ
Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng
hóa mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho
phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, khả năng sinh lời cao
Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua trang
thiết bị hoặc trả phí dịch vụ từ các nước này mà đôi khi không phù hợp, thậm chí là không cần thiết với các nước nghèo lOMoAR cPSD| 61265515
Để hiểu rõ hơn ODA là gì, theo dõi ví dụ sau: Ví dụ:
Trong các dự án ODA thì phần trả cho các thiết bị và chuyên gia nước tài trợ chiếm hơn 90% nguồn vốn
Nguồn vốn ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đã các sảm phẩm của
họ. Cụ thế là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hóa,
dịch vụ do họ sản xuất
Nước nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án
ODA cũng phải có sự thỏa thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng
họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia
Tác động của tỷ giá hối đoái sẽ làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên rất cao (ODA tính bằng
ngoại tệ mạnh, nhưng đồng tiền nước nhận viện trợ thường mất giá mạnh, nhưng đồng tiền nước nhận
viện trợ thường mất gí rất lớn vì vậy đến khi trả nợ, giá trị phải trả cũng rất lớn)
Ngoài ra tình trạng tham nhũng, thất thoát, lãng phí xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng
vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp
nhận cũng như xử lý, điều hành dự án….là nguy hại rất lớn cho các nước nghèo. Tính hai mặt, con dao
hai lưỡi của ODA, ODA sẽ là cứu cánh cho quốc gia nghèo nếu sử dụng hiệu quả, nhưng sẽ vô cùng tai
hại nếu sử dụng không hiệu quả hoặc để tình trạng tham nhũng lãng phí xảy ra. 8, Giải pháp ODA
Cần xây dựng quy chế phối hợp giữa lực lượng công an làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh kinh tế các bộ, ban,
ngành liên quan theo hướng vừa quản lý an ninh trật tự, vừa tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
tài trợ, kết hợp chặt chẽ giữa đảm bảo an ninh quốc gia với phát triển kinh tế.
Để làm tốt công tác quản lý, sử dụng, phòng ngừa và đấu tranh với những mặt trái của nguồn ODA, hạn
chế các rủi ro có thể xuất hiện trong tài trợ, sử dụng ODA, dưới góc độ quản lý nhà nước về an ninh kinh
tế, cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản như sau:
Một là, xem xét, đánh giá toàn diện cả về kinh tế - chính trị - xã hội và an ninh quốc phòng đối với các
điều kiện ràng buộc đi kèm hoạt động tài trợ ODA. Phải cân nhắc và xem xét toàn diện các ràng buộc cả
trước mắt và lâu dài, cả về kinh tế và an ninh quốc phòng. Trên cơ sở đó, chủ động trong đàm phán, đạt
được lợi ích cao nhất về kinh tế, giảm thiểu những rủi ro về tài chính và loại trừ nguy cơ đe dọa đến an
ninh kinh tế, an ninh quốc gia.
Khi xem xét các điều kiện tài trợ, nguyên tắc lợi ích quốc gia phải được đặt lên cao nhất. Cần quán triệt
đầy đủ nguyên tắc này trong mọi hoạt động, từ cấp hoạch định chính sách đến các cấp tổ chức thực hiện.
Phân tích cụ thể các điều kiện vay và các điều kiện ràng buộc để bố trí sử dụng vốn vay hiệu quả trên cơ
sở đã chủ động lựa chọn danh mục các dự án.
Hai là, nâng cao nhận thức cho cán bộ Việt Nam trong các dự án ODA về bản chất ODA, về công tác
phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tài trợ ODA để gây thiệt hại về kinh tế. ODA là một
nguồn vốn quan trọng của nền kinh tế, song cũng là đối tượng đảm bảo an ninh để phát triển của Việt
Nam. Cần tuyên truyền giáo dục cho các cán bộ quản lý nhà nước trong lĩnh vực này nhận thức sâu sắc
rằng, chúng ta vận động tài trợ ODA để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng có nhiều đối
tượng sử dụng ODA để phá hoại ta về kinh tế - chính trị - xã hội thông qua các biện pháp kinh tế, thông lOMoAR cPSD| 61265515
qua các hoạt động tài trợ về tiền vốn, công nghệ, thậm chí cả về chuyên gia kinh tế để thực hiện diễn
biến hòa bình, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đặc thù của ODA là nguồn vốn bên ngoài gắn với các mục tiêu có liên quan đến hoạt động tài trợ, nên
cần đặc biệt chú ý tìm hiểu những âm mưu mang tính chiến lược, lâu dài của các thế lực thù địch sử dụng
hoạt động này để xâm hại an ninh kinh tế, an ninh quốc gia. Từ đó, xây dựng kế hoạch, chương trình
nâng cao nhận thức cho cán bộ chủ chốt Việt Nam về công tác phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động
lợi dụng tài trợ ODA để xâm hại ta về kinh tế.
Cùng với các hoạt động trên, cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục các cấp tham gia sử dụng
ODA để tạo ra sự thống nhất về nhận thức đối với vốn vay ODA; thấy được những nguy cơ tiềm ẩn của
vốn ODA đối với an ninh kinh tế. Phải quán triệt để mỗi cấp sử dụng ODA nhận thức đầy đủ rằng, ODA
là khoản vay nước ngoài và phải trả cả gốc lẫn lãi. Đây là nguồn vốn có khả năng gây nợ và cái giá phải
trả nguồn vốn này là rất lớn nếu sử dụng chúng không hiệu quả.
Ba là, chủ động đấu tranh với những hoạt động đang có dấu hiệu vi phạm về an ninh kinh tế, hoặc các
hoạt động lợi dụng tài trợ ODA để vi phạm pháp luật, xâm hại an ninh quốc gia. Lực lượng an ninh các
cấp cần tập trung đổi mới, làm tốt công tác điều tra cơ bản đối với các nhà tài trợ ODA quan trọng. Kết
hợp các biện pháp kinh tế với các biện pháp nghiệp vụ cơ bản để chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời
âm mưu của các thế lực thù địch, các cơ quan lợi dụng triển khai các dự án ODA để tiến hành hoạt động
phá hoại về kinh tế, phá hoại chính sách của Nhà nước, thu thập tin tình báo, kích động phản động trong
nước hoạt động chống phá chính quyền.
Để làm tốt công tác này, cần tăng cường lực lượng, phương tiện và biện pháp nắm bắt tình hình từ xa để
kịp thời phát hiện sự điều chỉnh chính sách của các nước lớn, các nhà tài trợ lớn ở Việt Nam. Cần tập
trung các biện pháp, công tác để nắm chắc được ý đồ của các nhà tài trợ lớn ở Việt Nam. Xác định sớm
những dự án có nghi vấn liên quan đến an ninh quốc gia để từ đó tham mưu cho Chính phủ, các ngành,
địa phương có biện pháp ứng xử thích hợp.
Để chủ động phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả các hoạt động chuyển hóa kinh tế, từ kinh tế chuyển hóa
chính trị trong hoạt động tài trợ ODA, lực lượng an ninh kinh tế cần chủ động phối hợp với các ban,
ngành, lực lượng hữu quan tiến hành rà soát, đánh giá một cách toàn diện các dự án ODA đã và đang
được triển khai ở Việt Nam. Bên cạnh đó, phải tổ chức thực hiện và theo dõi quy hoạch một cách có hiệu
quả, lựa chọn các chương trình, dự án sử dụng vốn không chỉ có hiệu quả về mặt kinh tế, tài chính, mà
còn phải xét tới các khía cạnh tác động đến nghĩa vụ trả nợ, đến mục tiêu phát triển ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
Bốn là, xây dựng và hoàn thiện quy chế, quy trình phối hợp giữa các cơ quan chức năng có liên quan để
đánh giá, giám sát và quản lý tốt các hoạt động tài trợ ODA. Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo công tác
đảm bảo an ninh kinh tế phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cần xây dựng quy chế
phối hợp giữa lực lượng công an làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh kinh tế các bộ, ban, ngành liên quan theo
hướng vừa quản lý an ninh trật tự, vừa tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tài trợ, kết hợp chặt
chẽ giữa đảm bảo an ninh quốc gia với phát triển kinh tế, đối ngoại./. lOMoAR cPSD| 61265515
9, Giải pháp đầu tư công
Hiện nay, hiệu quả đầu tư công của Việt Nam được đánh giá vẫn còn hạn chế như: hiệu quả sử dụng vốn
đầu tư chưa cao; tái cơ cấu đầu tư công còn chậm; các dự án đầu tư công còn dàn trải,… Qua những phân
tích về kinh nghiệm đầu tư công của các nước Singapore, Australia, Việt Nam có thể nghiên cứu kinh
nghiệm của những nước này để đưa ra các biện pháp quản lý, tăng cường hiệu quả đầu tư công. Sau đây
là một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
Một là, cần phải đánh giá, phân tích cụ thể yếu kém hiệu quả đầu tư ở ngành nào, yếu kém ở lĩnh vực
nào, qua đó điều chỉnh cơ cấu đầu tư bảo đảm những ngành có hiệu quả phải có hướng ưu tiên đầu tư
phát triển lâu dài và ngược lại.
Hai là, tạo cơ hội và thúc đẩy đầu tư tư nhân, hỗ trợ khu vực này trong quá trình kinh doanh và đóng góp
vào tăng trưởng kinh tế.
Ba là, đầu tư công là rất cần thiết trong việc tạo động lực cho nền kinh tế. Tuy nhiên, khi ở mức thu nhập
tốt hơn, hoạt động đầu tư công cũng cần hướng nhiều hơn vào các ngành hạ tầng xã hội như giáo dục, y
tế, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và vốn con người.
Bốn là, cần phải có một loạt các thể chế và chính sách để có thể quản lý đầu tư công một cách hiệu quả.
Năm là, cần cung cấp vốn cho các dự án theo thứ tự ưu tiên những dự án cấp thiết, trong đó ưu tiên đối
với những lĩnh vực mà tư nhân không làm được.
Sáu là, tình trạng đầu tư công của Việt Nam còn dàn trải, chưa có trọng điểm, năng ṿ ề cơ chế xin - cho.
Trong khi đó, nợ công và bội chi ngân sách của Việt Nam những năm gần đây khá cao, vì vậy cần phải
lựa chọn tập trung, không đầu tư dàn trải.
Bảy là, hiện nay, vốn đầu tư công của nước ta dành cho phát triển cơ sở hạ tầng cơ bản chiếm trên 50%
tổng vốn đầu tư công, trong đó hạ tầng giao thông chiếm nguồn vốn rất lớn. Nhưng những năm gần đây
các dự án đầu tư hạ tầng giao thông của Việt Nam đang có vấn đề như đội vốn lên quá cao so với đấu
thầu đã phê duyệt, nguồn vốn chậm giải ngân, chất lượng công trình không đạt theo yêu cầu hoặc xuống
cấp nhanh chóng, tham nhũng trong quản lý vốn đầu tư công. Vì vậy, đối với đầu tư công về cơ sở hạ
tầng, dịch vụ thì Việt Nam có thể học hỏi trong vấn đề quản lý chi phí đầu tư và chất lượng công trình
của Singapore như sau: (1) Huy động vốn đầu tư công trình, hạ tầng giao thông từ khu vực tư nhân, triển
khai đầu tư dự án theo hình thức hợp tác công tư; (2) Cần bố trí kinh phí để duy tu, bảo dưỡng hạ tầng
giao thông; (3) đấu thầu công khai minh bạch.
10, Đầu tư phát triển khoa học công nghệ
Đầu tư cho khoa học và công nghệ
Thời gian qua, để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước đã rất
chú trọng đến phát triển khoa học và công nghệ, cụ thể là đã dành một lượng vốn lớn đầu tư cho phát
triển khoa học và công nghệ. Thống kê cho thấy, đầu tư cho khoa học và công nghệ trong vài năm trở lại
đây đã chiếm 2% tổng chi ngân sách, tức là khoảng 0,5% GDP của cả nước. Nhờ nguồn lực đầu tư nói
trên, tiềm lực khoa học và công nghệ đã được tăng cường, từ xây dựng hạ tầng cơ sở (cơ quan làm việc,
xưởng và trại thực nghiệm, phòng thí nghiệm) cho đến sửa chữa nhỏ, tăng cường máy móc thiết bị hiện
đại. Công tác nghiên cứu khoa học đã được cải thiện một bước. Cán bộ khoa học và công nghệ đã được lOMoAR cPSD| 61265515
tham gia các khóa đào tạo, nâng cao trình độ trong và ngoài nước, từ đó, đã có được những đề tài khoa
học và sản phẩm công nghệ có giá trị, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, đến nay hoạt động khoa học và công nghệ của nước ta còn rất hạn chế.
Trong đó, vấn đề đầu tư cho khoa học và công nghệ chưa thật sự được chú trọng, nhất là đầu tư cho các
dự án khoa học có điều kiện nghiên cứu và ứng dụng; Gắn kết với nhu cầu thực tiễn của các ngành kinh
tế quốc dân; Công tác nâng cao năng lực công nghệ nội sinh còn nhiều bất cập. Điều này đã khiến cho
khoa học và công nghệ vẫn chưa thực sự gắn kết với nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế - xã
hội; những kết quả đã nghiên cứu được chậm được đưa vào ứng dụng trong thực tiễn; trình độ công nghệ
còn thấp hơn rất nhiều so với các nước; năng lực tạo ra công nghệ mới còn hạn chế, chưa đáp ứng được
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra hạn chế này là nguồn vốn đầu tư cho hoạt động khoa
học và công nghệ hiện còn rất thấp. Các con số thống kê chỉ ra rằng, đầu tư cho khoa học và công nghệ
của Việt Nam vào loại thấp nhất trong khu vực. Cụ thể, tỷ lệ vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ nếu
tính cả đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước mới chỉ ở mức khiêm tốn 0,6% GDP. Trong khi đó, năm 2011
con số này của các nước EU đã là 1,95% GDP, Nhật Bản là 3,15% GDP, Trung Quốc là 1,31% GDP, Hoa
Kỳ là 2,59% GDP, Hàn Quốc là gần 5% GDP. Nếu tính mức đầu tư cho khoa học và công nghệ trên đầu
người, thì Việt Nam mới đạt khoảng 8 USD (năm 2013), trong khi của Trung Quốc khoảng 25 USD (năm
2013) và đặc biệt là Hàn Quốc khoảng 1.500 USD (năm 2013)…
Những giải pháp trọng tâm
Nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt việc tham gia các Hiệp định
thương mại tự do, Cộng đồng Kinh tế ASEAN đang mở ra nhiều cơ hội cho nền khoa học – công nghệ
nước nhà tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Những cơ hội và thách thức của hội nhập đòi hỏi cơ chế và
phương thức quản lý Nhà nước phải có sự thay đổi phù hợp với thông lệ quốc tế. Điều này tất yếu dẫn
đến phải hoàn thiện hơn nữa cơ chế tài chính cho khoa học – công nghệ, khắc phục những nhược điểm
nói trên để giải phóng sức sáng tạo của giới khoa học - công nghệ cũng như tăng cường năng lực cạnh
tranh của các tổ chức khoa học – công nghệ Việt Nam. Chỉ có như vậy mới có thể rút ngắn khoảng cách
tụt hậu của khoa học – công nghệ Việt Nam so với các nước trong khu vực ASEAN.
Nhằm thực hiện một trong những mục tiêu quan trọng được đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế xã
hội Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, trong đó coi khoa học và công nghệ là giải pháp chủ yếu cho đổi
mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và khắc phục được những hạn chế, nút thắt ảnh hưởng
đến sự phát triển của khoa học và công nghệ nước nhà, tới đây cần chú trọng triển khai một số giải pháp sau:
Một là, tạo ra được động lực cho sự phát triển của khoa học và công nghệ. Động lực phát triển khoa học
và công nghệ luôn luôn vận động từ 2 phía: Khoa học và sản xuất. Do vậy, cần phải khuyến khích doanh
nghiệp sản xuất tự tìm đến khoa học, coi khoa học và công nghệ là yếu tố sống còn và phát triển của
doanh nghiệp. Như vậy, mới có thể thúc đẩy nhu cầu về khoa học và công nghệ, các nhà khoa học mới
có cơ hội để phát huy triệt để năng lực của mình.
Hai là, tạo nguồn lực tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ. Vốn là nguồn lực tiên quyết để
phát triển khoa học và công nghệ. Thực tế tại nhiều nước cho thấy, nguồn lực tài chính phát triển khoa
học và công nghệ thường được huy động từ 2 phía Nhà nước và khu vực doanh nghiệp. Năm 2013, Quốc
hội đã thông qua Luật Khoa học và Công nghệ, nhờ đó, những quy định về cơ chế tài chính và đầu tư lOMoAR cPSD| 61265515
cho khoa học và công nghệ cũng đã có bước thay đổi cơ bản. Về đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa
học và công nghệ, Luật Khoa học và Công nghệ khẳng định rõ mức chi ngân sách hàng năm cho khoa
học và công nghệ từ 2% trở lên và tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp khoa học và công nghệ.
Do vậy, trong thời gian tới, một phần vốn từ các chương trình kinh tế - xã hội và dự án cần được dành
để đầu tư cho khoa học và công nghệ nhằm đẩy mạnh việc nghiên cứu, triển khai và đảm bảo hiệu quả
của dự án. Bên cạnh đó, tăng dần tỷ lệ chi ngân sách nhà nước hàng năm cho khoa học và công nghệ đạt
không dưới 2% tổng chi ngân sách nhà nước.
Ba là, đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, tài chính với mục tiêu là cho phép các tổ
chức và các nhà khoa học có quyền tự chủ cao hơn trong thu hút vốn trong xã hội và sử dụng kinh phí
vào hoạt động khoa học - công nghệ. Vốn đầu tư từ ngân sách của Nhà nước không nên quyết toán theo
năm tài chính mà theo thời gian nghiên cứu. Cho phép các nhà khoa học được linh hoạt chuyển đổi thuận
lợi nội dung nghiên cứu, tạo điều kiện được tham gia trao đổi khoa học ở nước ngoài cũng như mời
chuyên gia nước ngoài vào hợp tác nghiên cứu trong nước. Xóa bỏ cơ chế cấp phát tài chính theo kiểu
“xin - cho” theo đầu biên chế trong hoạt động khoa học - công nghệ. Triệt để thực hiện cấp kinh phí theo
nhiệm vụ khoa học - công nghệ và tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho các tổ
chức khoa học - công nghệ theo quy định của pháp luật…
Bốn là, tận dụng xu hướng hội nhập ngày càng sâu rộng của đất nước nhằm mở rộng quan hệ quốc tế về
khoa học và công nghệ. Nếu không thực hiện có hiệu quả quan hệ hợp tác và trao đổi quốc tế về nghiên
cứu - triển khai... không thể tiếp nhận được khoa học và công nghệ tiên tiến của nhân loại; không thể
tranh thủ nhân tố ngoại sinh hết sức cần thiết, để làm biến đổi các nhân tố nội sinh, thúc đẩy năng lực
khoa học và công nghệ quốc gia. Việt Nam cần coi trọng hợp tác nhằm phát triển các ngành công nghệ
cao; ưu tiên hợp tác đầu tư nước ngoài vào phát triển khoa học và công nghệ; chỉ nhập khẩu và tiếp nhận
chuyển giao những công nghệ tiên tiến phù hợp với khả năng của nước ta.
Năm là, có chiến lược đào tạo dài hạn nhằm tăng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ. Cần đẩy nhanh
việc đào tạo các cán bộ khoa học và công nghệ, nhất là cho các ngành kinh tế trọng yếu và các ngành
công nghệ cao, trẻ hoá đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ trong các cơ sở nghiên cứu, các trường
học và các cơ sở kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ phát triển thị trường nhân lực khoa học và công nghệ.
Có thể nói, những giải pháp này luôn có mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Do vậy, việc
thực hiện đồng bộ sẽ mang lại hiệu quả cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
11, Vốn trong nước giữ vai trò quyết định, vốn ngoài nước giữ vai trò quan trọng. Liên hệ VN
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân
cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản
xuất của xã hội. Vốn trong nước có vai trò quyết định, bởi lẽ nó chi phối mọi hoạt động đầu tư phát triển
trong nước. Trong lịch sq phát triển các nước và trên phương diện lý luận chung, bất kỳ nước nào cũng
phải sử dụng lực lượng nội bộ là chính. Sự chi viện bổ sung từ bên ngoài chỉ là tạm thời, chỉ bằng cách
sq drng nguồn vốn đầu tư trong nước có hiệu quả mới nâng cao được vai trò của nó và thực hiện được
các mrc tiêu quan trọng đề ra của quốc gia. Tính quyết định của nguồn vốn trong nước được thể hiện ở nhiều khía cạnh:
• Nguồn vốn trong nước là nguồn đóng góp lớn vào GDP toàn xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởngphát triển kinh tế lOMoAR cPSD| 61265515
• Nguồn vốn đầu tư trong nước đóng vai trò định hướng cho việc thay đổi cơ cấu kinh tế, cân bằng
thịtrường hàng êhóa, giúp cho nền kinh tế quốc gia tăng trưởng, phát triển toàn diện, đồng đềuNguồn
vốn đầu tư trong nước có vai trò đảm bảo sự phát triển toàn diện, không lệch lạc giữa các vùng miền
của nền kinh tế, góp phần giúp nền kinh tế tăng trưởng, phát triển một cách bền vững
• Nguồn vốn trong nước góp phần kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế, đẩy nhanh tiến trình cổ phầnhóa
nhiều doanh nghiệp nhà nước, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
• Nguồn vốn trong nước xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đạt một trình độ nhất định, tạo điều kiệnthuận
lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như tăng tính hiệu quả, nhanh chóng của việc sq drng vốn
đầu tư nước ngoài, tạo nền tảng vững chãi cho sự tăng trưởng của nền kinh tế
• Sự lớn mạnh, ổn định nguồn lực vốn trong nước giúp hạn chế những mặt tiêu cực của nguồn lực
nướcngoài tới nền kinh tế, đồng thời tạo dựng một khung xương vững chắc cho nền kinh tế, chống lại
những biến động từ thị trường kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.Nguồn vốn
đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế
và chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại.
Ở nước ta, bên cạnh nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định, vốn đầu tư nước ngoài là một trong
những nguồn vốn quan trọng. Điều này được thể nghiệm trên các vai trò cơ bản sau:
• Một là: Bổ sung nguồn vốn cho đầu tư khi mà tích luỹ nội bộ nền kinh tế còn thấp. Đối với các
nướcnghèo và kém phát triển, nguồn vốn trong nước huy động được chỉ đáp ứng hơn 50% tổng số vốn
yêu cầu. Vì thế gần 50% số vốn còn lại phải được huy động từ bên ngoài. Đó là lý do chúng ta phải tích
cực thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài ( bao gồm vốn hỗ trợ phát triển chính thức - ODA, đầu tư trực
tiếp nước ngoài - FDI…)
• Hai là: Đảm bảo trình độ công nghệ cao phù hợp với xu thế phát triển chung trên toàn thế giới. Điềunày
giúp đẩy nhanh sự phát triển của các dịch vr cung cấp có chất lượng và cho phép sản xuất các sản phẩm
đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế- là cơ sở tạo nên sự bứt phá trong khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
trong nước trên thị trương quốc tế
• Ba là: Con đường ngắn nhất đưa nền kinh tế nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực,cũng
như bảo đảm các nghĩa vr vay và trả nợ nhờ vào việc tăng cường được năng lực xuất khẩu
• Bốn là: Có vai trò tích cực trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chuyển giao côngnghệ.
Liên hệ thực tiễn Việt Nam
Theo Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội của Tổng crc Thống kê:
Cụ thể: Vốn khu vực Nhà nước đạt 824,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,6% tổng vốn và tăng 14,6% so với
năm 2021; khu vực ngoài Nhà nước đạt 1.873,2 nghìn tỷ đồng, bằng 58,2% và tăng 8,9%; khu vực có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 521,9 nghìn tỷ đồng, bằng 16,2% và tăng 13,9%.(2022)
- Hoạt động đầu tư: Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành năm 2021 tăng 3,2% so với năm
trước, tuy đây là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua13 nhưng là kết quả khả quan trong bối cảnh
dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trong nước và trên thế giới. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) phục hồi, vốn đăng ký mới và vốn đăng ký tăng thêm tăng trở lại cho thấy nhà đầu tư nước ngoài
tiếp tục tin tưởng vào môi trường đầu tư Việt Nam.