



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 58797173
MÔN LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM
(NGÀNH LUẬT, NGÀNH LUẬT CHẤT LƯỢNG CAO,
HỆ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO – 04 TÍN CHỈ)
NĂM HỌC 2023 – 2024
1. Phân tích đối tượng điều chỉnh của ngành luật hiến pháp Việt Nam.
Lấy ví dụ minh họa.
Đối tượng điều chỉnh của ngành Luật hiến pháp là những quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất,
mang tính nền tảng của một quốc gia. Đối tượng điều chỉnh của có 3 đặc điểm nổi bật:
- Thứ nhất: đối tượng của ngành Luật hiến pháp hiện diện ở hầu hết trong khắp các lĩnh vực đời sống xã hội
- Thứ 2: Đối tượng điều chỉnh của ngành Luật hiến pháp chỉ bao gồm các QHXH nền tảng cơ
bản và quan trọng nhất trong từng lĩnh vực
- Thứ 3: Đối tượng điều chỉnh của ngành Luật hiến pháp có thể được liệt kê thành các nhóm
QHXH nền tảng cơ bản và quan trọng nhất trong từng lĩnh vực song sự liệt kê đó không mang
tính tuyệt đối.Do đó, phạm vi điều chỉnh của ngành luật hiến pháp có thể thay đổi theo từng thời kỳ.
Đối tượng điều chỉnh của ngành luật Hiến pháp được chia thành 3 nhóm:
+ Thứ nhất: Các quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong các lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hóa,giáo dục, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, chính sách đối ngoại. Trong
lĩnh vực chính trị, ngành Luật Hiến pháp điều chỉnh các mối quan hệ nền tảng, cơ bản và quan trọng
nhất liên quan tới quốc gia, lãnh thổ, quyền lực nhà nước và tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước.
Trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng và chính sách
đối ngoại, ngành Luật Hiến pháp điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan tới định hướng phát triển
lớn của từng lĩnh vực, ví dụ mô hình phát triển kinh tế, định hướng giá trị phát triển nền văn hoá, khoa
học,công nghệ …Qua việc điều chỉnh các quan hệ xã hội đó, ngành Luật Hiến pháp hình thành các
chính sách cơ bản nhất, quan trọng nhất định hướng hoạt động của các cơ quan nhà nước trong từng lĩnh vực.
+ Thứ hai: Các quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong lĩnh vực quan hệ giữa
nhà nước và người dân, hay nói cách khác là các quan hệ xã hội xác định quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân.
Trong đời sống xã hội, các ngành luật của hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về quyền và nghĩa vụ
của công dân. Những quyền cơ bản này là nền tảng hình thành các quyền cụ thể của người dân trong
từng lĩnh vực, ví dụ như quyền được đăng ký kinh doanh, quyền được khởi kiện, quyền được yêu cầu
bồi thường dân sự ngoài hợp đồng.
+ Thứ ba: Các quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong lĩnh vực tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước.
Đây là các quan hệ xã hội liên quan tới việc xác định các nguyên tắc tổng thể của bộ máy nhà nước Việt
Nam, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và hoạt
động của các cơ quan trọng bộ máy nhà nước Việt Nam từ trung ương đến địa phương. Đây là nhóm
đối tượng điều chỉnh lớn nhất của ngành Luật Hiến pháp. lOMoAR cPSD| 58797173
Ví dụ: Trong lĩnh vực dân sự, quan hệ sở hữu là một quan hệ nền tảng, nếu không xác định được quan
hệ sở hữu thì không thể thiết lập được các giao dịch dân sự có liên quan. Từ đây, có thể hiểu, quan hệ
sở hữu chính là đối tượng điều chỉnh của Luật Hiến pháp
2. Nêu định nghĩa và phân tích đặc điểm của hiến pháp.
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của một quốc gia, là hệ thống các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí
cao nhất quy định những vấn đề cơ bản nhất về chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách kinh
tế, văn hóa, xã hội, tổ chức quyền lực nhà nước, địa vị pháp lí của con người và công dân.
- Hiến pháp có bốn đặc trưng cơ bản sau:
+ Thứ nhất, hiến pháp là luật cơ bản (basic law), là “luật mẹ”, luật gốc. Nó là nền tảng, là cơ sở
để xây dựng và phát triển toàn bộ hệ thống pháp luật quốc gia. Mọi đạo luật và văn bản QPPL khác dù
trực tiếp hay gián tiếp đều phải căn cứ vào hiến pháp để ban hành.
+ Thứ hai, hiến pháp là luật tổ chức (organic law), là luật quy định các nguyên tắc tổ chức bộ
máy, là luật xác định cách thức tổ chức và xác lập các mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành
pháp và tư pháp; quy định cấu trúc các đơn vị hành chính lãnh thổ và cách thức tổ chức chính quyền địa phương.
+ Thứ ba, hiến pháp là luật bảo vệ (protective law). Các quyền con người và công dân bao giờ
cũng là một phần quan trọng của hiến pháp. Do hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước nên các quy định
về quyền con người và công dân trong hiến pháp là cơ sở pháp lý chủ yếu để nhà nước và xã hội tôn
trọng và bảo đảm thực hiện các quyền con người và công dân.
+ Thứ tư, hiến pháp là luật có hiệu lực pháp lý tối cao (highest law), tất cả các văn bản pháp
luật khác không được trái với hiến pháp. Bất kì văn bản pháp luật nào trái với hiến pháp đều phải bị
hủy bỏ.3. Tại sao nói hiến pháp là công cụ
3. Tại sao nói hiến pháp là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước?
Tại sao nói hiến pháp là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước?- Hiến pháp là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước tại vì:
+ Hiến pháp là phương tiện bảo vệ quyền con người quyền công dân Hiến pháp là văn bản có
vị trí cao nhất trong thang bậc hiệu lực pháp lý, đóng vai trò là đạo luật gốc, làm cơ sở cho các văn bản
khác trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của mỗi quốc gia. Những nội dung không thể thiếu
trong hầu hết các bản hiến pháp, đó là những quy định về cách thức tổ chức quyền lực nhà nước và ghi
nhận quyền con người, quyền công dân đã làm cho hiến pháp đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nhân quyền.
+ Hiến pháp là công cụ phòng chống tham nhũng Một trong những vai trò quan trọng bậc nhất
của Hiến pháp là phòng, chống tham nhũng, hay nói một cách khác, Hiến pháp là một trong những công
cụ để phòng, chống tham nhũng của quốc gia. Muốn cho Hiến pháp là công cụ của việc phòng, chống
tham nhũng, cũng là việc hiểu Hiến pháp như là công cụ kiểm soát, quyền lực. Nếu quyền lực không
kiểm soát được, cũng là quyền lực đã góp phần gia tăng cho tệ nạn tham nhũng.
+ Hiến pháp là công cụ để đánh giá một nền dân chủ ‘’Hiến pháp không phải là một công cụ
của chính phủ để đàn áp nhân dân, mà là một công cụ để nhân dân kiềm chế chính phủ “ Câu nói này lOMoAR cPSD| 58797173
phản ánh một cách khái quát mối quan hệ giữa hiến pháp và dân chủ. Nó cũng có nghĩa là thông qua
hiến pháp có thế bước đầu đánh giá được một nền dân chủ Dân Chủ có nghĩa là một hệ thống chính phủ
được thành lập và mang tính chính danh thông qua bầu cử. Tuy nhiên, không phải ai cũng được ứng cử
trong các cuộc bầu cử; chỉ có những người tham gia mới được lựa chọn để ứng cử. Thêm vào đó,không
phải ai cũng được đi bầu. Bản chất của hiến pháp là dân chủ, vì nó thể hiện quyền lực của nhân dân và
phải được thông qua với sự đồng ý của nhân dân. Như vậy, hiến pháp phản ánh một nền dân chủ trước
hết qua cách thức làm ra nó.Về khía cạnh này, khả năng, mức độ tham gia (thực chất) của người dân
vào việc xây dựng và thông qua hiến pháp tỷ lệ thuận với tính dân chủ của một nhà nước. Ở một quốc
gia càng dân chủ, nhà nước càng áp dụng nhiều biện pháp để người dân có thế tự do và thuận lợi đóng
góp ý kiến vào việc xây dựng hiến pháp, cũng như vào việc bỏ phiếu trong các cuộc trưng cầu ý dân về
hiến pháp. Thêm vào đó, ở một quốc gia dân chủ, quá trình trưng cầu ý dân và xin ý kiến nhân dân được
thực hiện một cách trân trọng, minh bạch, dưới sự giám sát chặt chẽ của báo chí và các tổ chức xã hội
dân sự. Điều này rất quan trọng vì hầu hết các nước thực hiện trưng cầu ý dân hoặc các hình thức xin ý
kiến nhân dân về dự thảo hiến pháp, nhưng ở nhiều quốc gia quá trình này được tiến hành một cách
hình thức, thiếu minh bạch hoặc đi kèm với sự đe dọa (công khai hay ngấm ngầm) của chính quyền
khiến người dân không dám thể hiện quan điểm thật sự của mình.
4. Tại sao nói hiến pháp là luật tổ chức?
Hiến pháp là luật tổ chức (organic law), là luật quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, là
luật xác định cách thức tổ chức và xác lập các mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư
pháp; quy định cấu trúc các đơn vị hành chính lãnh thổ và cách thức tổ chức chính quyền địa phương.
Hiến pháp là luật tổ chức là luật quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước là luật xác định
cách thức tổ chức và xác lập các mối qh giữa các cơ quan lập pháp. Hành pháp và tư pháp quy định cấu
trúc các đơn vị hành chính lãnh thổ và cách thức tổ chức chính quyền địa phương. điểm đặc trưng này
dựa vào nội dung của Hiến pháp. Về cơ bản hiến pháp của mỗi quốc gia nào cũng đều quy định nguyên
tắc tổ chức bộ máy Nhà nước quy định vị trí tính chất chức năng và một số nội dung cơ bản về nguyên
tắc hoạt động nhiệm vụ quyền hạn cơ cấu tổ chức của những cơ quan nhà nước nắm giữ các nhánh
quyền lực quan trọng trong bộ máy nhà nước như quốc hội, nghị viện chính phủ nguyên thủ quốc gia
toà án chính quyền địa phương cơ quan hiến định độc lập. ddaay những nd mang tính kinh điển của
Hiến pháp vì những bản Hiến pháp đầu tiên trên thế giới ra đời thì nội dung chỉ xoay quanh về vấn đề
tổ chức quyền lực nhà nước, thể hiện chủ yếu qua cách thức tổ chức bộ máy nhà nước. Chẳng hạn như
Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787, tại thời điểm thông qua lần đầu tiên, bản Hiến pháp này chỉ vẻn vẹn có
7 Điều và 7 Điều khoản đó chỉ tập trung vào quy định tổ chức bộ máy nhà nước. Hiến pháp ngày nay
đã mở rộng phạm vi nội dung hiến định, tuy nhiên, vấn đề tổ chức bộ máy nhà nước vẫn được xem là
một nội dung cơ bản không thể thiếu để cấu thành nên một bản hiến pháp.
5. Tại sao nói hiến pháp là luật bảo vệ?
Hiến pháp là luật bảo vệ (protective law). Các quyền con người và công dân bao giờ cũng là một phần
quan trọng của hiến pháp. Do hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước nên các quy định về quyền con
người và công dân trong hiến pháp là cơ sở pháp lí chủ yếu để nhà nước và xã hội tôn trọng và bảo đảm
thực hiện các quyền con người và công dân.
Thông qua Hiến pháp, người dân xác định những quyền gì của mình mà Nhà nước phải tôn trọng và
đảm bảo thực hiện, cùng những cách thức để bảo đảm thực thi những quyền đó. lOMoAR cPSD| 58797173
Với tính chất là văn bản pháp lý có hiệu lực tối cao, hiến pháp là bức tường chắn quan trọng nhất để
ngăn ngừa những hành vi lạm dụng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, cũng như là nguồn
tham chiếu đầu tiên mà người dân thường nghĩ đến khi các quyền của mình bị vi phạm.
Hiệu lực bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp còn được phát huy thông qua hệ thống
chế quyền bảo vệ, cụ thể như thông qua hệ thống tòa án tư pháp, các cơ quan nhân quyền quốc gia, cơ
quan thanh tra Quốc hội hay Tòa án hiến pháp.
6. Tại sao nói hiến pháp là luật có hiệu lực pháp lý tối cao?
Hiến pháp là luật có hiệu lực pháp lý tối cao (highest law),tất cả các văn bản pháp luật khác không được
trái với hiến pháp. Bất kì văn bản pháp luật nào trái với hiến pháp đều phải bị hủy bỏ.
Về nội dung: đối tượng điều chỉnh của ngành luật Hiến pháp rất rộng, bao quát hầu hết tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Đó là những quan hệ xã hội cơ bản liên quan đến các lợi ích cơ bản của mọi
giai cấp, mọi tầng lớp, mọi công dân trong xã hội, như: chế độ chính trị; quyền, nghĩa vụ cơ bản của
con người, quyền con người; chế độ kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ và môi
trường; tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Về mặt pháp lý: Hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao nhất, nó phản ánh giữa mối quan hệ giữa Nhà nước
với Nhân dân. Hiến pháp là nguồn, là căn cứ để ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết và các văn bản
khác thuộc hệ thống pháp luật. Tất cả các văn bản khác không được trái với quy định Hiến pháp mà
phải phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến pháp, hay còn được gọi là hợp hiến; được ban hành
trên cơ sở quy định của Hiến pháp và để thi hành Hiến pháp. Các điều ước quốc tế mà Nhà nước tham
gia không được mâu thuẫn, đối lập với quy định của Hiến pháp; khi có mâu thuẫn, đối lập với Hiến
pháp thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền không được tham gia ký kết, không phê chuẩn hoặc bản lưu
đối với từng điều luật.
Ngoài ra, tất cả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
của mình theo quy định của Hiến pháp; sử dụng đầy đủ các quyền hạn, làm tròn các nghĩa vụ của mình.
7. Phân tích quy trình lập hiến theo Hiến pháp năm 2013.
*Cơ sở pháp lí: Điều 120 Hiến pháp 2013 *Khoản 1
- Đề xuất xây dựng, sửa đổi Hiến pháp
Hiến pháp 2013 không có quy định về sáng quyền làm hay sửa đổi hiến pháp. Thực tế, nhiều chủ thể
tham gia vào việc đề xuất sửa đổi hiến pháp.
Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc
hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp.
-Quyết định việc làm, sửa đổi Hiến pháp
Sau khi các chủ thể đề xuất việc sửa đổi Hiến pháp, Quốc hội sẽ đưa vấn đề sửa đổi Hiến pháp ra thảo
luận để quyết định việc sửa đổi Hiến pháp. lOMoAR cPSD| 58797173
Theo quy định của các Hiến pháp Việt Nam, việc làm, sửa đổi phải được ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội tán thành. *Khoản 2
- Xây dựng dự thảo
Chủ yếu do cơ quan dự thảo thực hiện, gọi chung là Ủy ban dự thảo, do Quốc hội thành lập và có nhiệm
vụ giúp Quốc hội trong việc xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
Ủy ban dự thảo có số lượng khoảng vài chục thành viên. Thông thường ở Việt Nam, mỗi lần sửa đổi
Hiến pháp sẽ chỉ có một Ủy ban dự thảo được thành lập và được giao chức năng xây dựng dự thảo Hiến
pháp. Ủy ban dự thảo thường thành lập thêm thường trực ủy ban và cơ quan chuyên môn giúp việc.
*Khoản 3
-Tham vấn nhân dân Việc tham vấn nhân dân chủ yếu được thực hiện trong giai đoạn lấy ý kiến nhân
dân về dự thảo Hiến pháp. Thực tế, các cơ quan soạn thảo cũng tổ chức tổng kết việc thi hành Hiến
pháp, nhưng hoạt động này chủ yếu được thực hiện trong hệ thống chính trị, mà chưa thực sự mở rộng trong xã hội.
-Trình dự thảo
Trong phiên họp toàn thể, Ủy ban dự thảo sẽ trình dự tháo ra trước Quốc hội. Sau đó các đại biểu Quốc
hội sẽ thảo luận về các nội dung được trình bày cũng như các vấn đề khác có liên quan. Việc thảo luận
tại Quốc hội thường phải được tiến hành ở nhiều kỳ họp, Ủy ban dự thảo sẽ tiếp thu, chỉnh lý dự thảo
theo ý kiến đóng góp của các đại biểu Quốc hội. *Khoản 4
● Thông qua
Quốc hội thực hiện chức năng lập hiến tập trung nhất thông qua quyền biểu quyết dự thảo Hiến pháp.
Tại một phiên họp toàn thể, Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua Dự thảo. Theo quy định của Hiến pháp,
việc thông qua Hiến pháp phải được ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội tán thành. Điều này thể hiện
tính trội của Hiến pháp so với các đạo luật thông thường.
*Khoản 5
- Công bố Chủ tịch nước có trách nhiệm công bố các Luật, Nghị quyết của Quốc hội. Điều đó có nghĩa
là Chủ tịch nước phải công bố Hiến pháp sửa đổi hoặc nghị quyết sửa đổi Hiến pháp. Thời hạn công
bố, thời điểm có hiệu lực do Quốc hội quyết định.
8. Tại sao quy trình làm hiến pháp được thiết kế với sự tham gia rộng rãi của người dân?
Làm hiến pháp (hay còn gọi là lập hiến) gồm các hoạt động xây dựng và ban hành Hiến pháp, bổ sung, sửa đổi Hiến pháp. lOMoAR cPSD| 58797173
Nhìn chung, hiến pháp của các quốc gia đều được xem là sản phẩm của nhân dân nước đó, một bản khế
ước xã hội do nhân dân lập ra để trao quyền và kiểm soát quyền lực của bộ máy nhà nước => do đó,
nhân dân phải được tham gia vào quá trình xây dựng, sửa đổi Hiến pháp.
*) Các cách thức để người dân tham gia vào quy trình lập hiến
Tất cả mọi công dân đều có quyền tham gia vào quy trình xây dựng, sửa đổi hiến pháp mặc dù mức độ
tham gia trong thực tế là khác nhau, phụ thuộc vào các ý tổ như năng lực hành vi, điều kiện, hoàn cảnh
của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Hiện nay có 2 cách chính để nhân dân tham gia vào các tiến trình
xây dựng, sửa đổi Hiến pháp ở một quốc gia đó là:
● Gián tiếp, thông qua các địa biểu và cơ quan đại diện dân cử, các đảng pháo chính trị, các
tổ chức chính xã hội dân sự hay các nhóm cộng đồng
● Trực tiếp, thông qua việc tham dự các hội nghị, cuộc họp, các cuộc khảo sát ý kiến, trưng cầu ý dân,
Giải thích về quy trình lập hiến được thiết kế với sự tham gia rộng rãi của người dân
Sự tham gia của nhân dân trong quá trình lập hiến trở thành thước đo đánh giá tính chất dân chủ, tiến
bộ và sự hợp thức các quy trình xây dựng và sửa đổi Hiến pháp ở các quốc gia. Sự tham gia rộng rãi
của người dân trong quá trình lập hiến bắt nguồn từ hai yếu tố cơ bản là (i) sự mở rộng quan niệm về
chủ quyền nhân dân trong mối liên hệ với hiến pháp và (ii) sự pháp điển hóa các quyền dân chủ, đặc
biệt là quyền tham gia của công chúng vào hoạt động chính trị của các quốc gia.
*) Lợi ích của sự tham gia rộng rãi của người dân trong quy trình lập hiến
● Bảo đảm chủ quyền nhân dân, bảo đảm hiến pháp phân ảnh ý chí, nguyện vọng của nhân
dân, ngăn chặn sự tùy tiện của các lực lượng chính trị ở quốc gia
● Giúp tăng cường sự thống nhất của quốc gia, thông qua việc mở ra khả năng hòa giải, hàn
gắn những mâu thuẫn, xung đột giữa các tầng lớp trong xã hội – Thúc đẩy mối quan hệ tốt
giữa nhân dân và bộ máy nhà nước, làm tăng tính chính danh và trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước
- Làm tăng sự hiểu biết của nhân dân về dân chủ nói chung, về hiến pháp nói riêng, qua đó giúp họ có
thể đưa ra các quyết định phù hợp với cuộc trưng cầu ý dân cũng như trong việc thực thi bản hiến pháp đã được thông quan
-Thúc đẩy sự hiểu biết và việc thực thi các nguyên tắc pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến
9. Phân tích ý nghĩa của vấn đề bảo vệ hiến pháp.
*Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 119 Hiến pháp 2013
Trước hết, tại sao cần phải bảo vệ Hiến pháp? Các nước đều nhận thấy cần phải bảo vệ Hiến pháp vì 2 lý do: lOMoAR cPSD| 58797173
- một là, xuất phát từ vai trò của Hiến pháp đối với Nhà nước và xã hội;
- hai là, xuất phát từ thực tế là có hành vi vi hiến, do đó, nếu không có cơ chế bảo vệ Hiến pháp
thì sẽ không có cách thức để ngăn chặn hay xử lý những hành vi vi hiến đó.
Vậy, bản chất của bảo vệ Hiến pháp là gì? Nếu hiểu về mặt thuật ngữ, bảo vệ Hiến pháp là đặt ra những
biện pháp ngăn chặn nguy cơ xâm phạm Hiến pháp và xử lý hành vi vi phạm các quy định của Hiến
pháp nhằm đảm bảo các quy định của Hiến pháp được thực thi 1 cách đầy đủ, nghiêm túc trên thực tế.
Tuy nhiên, cần phải hiểu sâu sắc hơn vấn đề bảo vệ Hiến pháp, nắm được bản chất của bảo vệ Hiến pháp 1 cách hiệu quả.
Từ các đặc trưng của Hiến pháp, có thể thấy, Hiến pháp có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối
với hệ thống pháp luật quốc gia mà còn mang ý nghĩa về mặt chính trị,hay nói cách khác, Hiến pháp là
minh chứng cho 1 Nhà nước dân chủ, tại nhiều nước, Hiến pháp ra đời đánh dấu bước ngoặt lịch sử của
một dân tộc, là căn cứ pháp lý nền tảng để định hướng xây dựng chế độ XHCN ở một quốc gia. Do
đó,bảo vệ Hiến pháp thực chất là bảo vệ “thành quả” của sự thoả thuận giữa một bên là người dân và
một bên là chính quyền. Những thoả thuận về quyền lực Nhà nước thuộc về ai, quyền lực Nhà nước
giới hạn đến đâu, được tổ chức ntn,
Nhà nước sẽ có trách nhiệm bảo vệ những quyền cơ bản nào của con người, của công dân và công dân
có nghĩa vụ nào đối với Nhà nước..được ghi nhận trong Hiến pháp cần phải được tôn trọng. Trong vấn
đề thực hiện thỏa thuận đó,rõ ràng bên nắm quyền lực Nhà nước thường sẽ là bên dễ vi phạm “Khế
ước’’ bởi lẽ bản khế ước đó phần lớn là để kiểm soát quyền lực của họ, để tiết chế họ nhưng một khi họ
nắm giữ quyền lực thì sự ràng buộc đó khiến họ không muốn tuân thủ hiến pháp. Trong khi đó, với
người dân thì Hiến pháp chính là cơ sở quan trọng để họ yên tâm về sự vận hành của chính quyền, giúp
họ có thể bảo vệ các quyền lợi chính đáng của mình.
Từ đây, chúng ta có thể lý giải tại sao thực tế hành vi vi hiến lại chủ yếu được thực hiện bởi Nhà nước,
và bản chất của bảo vệ hiến pháp chính là ngăn chặn và xử lý các cơ quan nhà nước, quan chức nhà
nước không thực hiện hoặc thực hiện không đúng cam kết với người dân đã được hiến định.
10.Phân tích quy định về bảo vệ hiến pháp theo Hiến pháp năm 2013.
*Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 119 Hiến pháp 2013
Việc bảo vệ Hiến pháp là trách nhiệm của toàn bộ các cơ quan nhà nước và toàn thể Nhân dân. Còn cơ
chế bảo vệ Hiến pháp sẽ do luật định. Như vậy, cơ chế bảo vệ Hiến pháp cụ thể như thế nào sẽ phải có
luật quy định chi tiết. Hiện nay, Quốc hội vẫn chưa ban hành một đạo luật quy định cơ chế bảo hiến cụ thể mà việc
Bảo vệ Hiến pháp mới chỉ được thể hiện thông qua những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ
quan nhà nước trong đó có đề cập đến trách nhiệm của các cơ quan nhà nước khi ban hành hay phát
hiện văn bản pháp luật vi phạm hiến pháp và cách thức xử lý các văn bản pháp luật đó. Theo các quy
định này thì nguyên tắc bảo vệ hiến pháp ở nước ta chủ yếu dựa trên cơ chế kiểm tra, giám sát việc ban
hành văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên đồi với cơ quan nhà nước cấp dưới, giữa cơ quan
quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) với cơ quan chấp hành cùng cấp (Chính phủ, Ủy
ban nhân dân). Ví dụ: Quốc hội có quyền xem xét văn bản pháp luật của Chính phủ, nếu phát hiện
Chính phủ ban hành văn bản pháp luật trái với Hiến pháp thì có quyền bãi bỏ văn bản đó hay Chính
phủ có quyền bãi bỏ văn bản pháp luật trái với hiến pháp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh... lOMoAR cPSD| 58797173
Có thể thấy, dưới góc độ Hiến định chúng ta đề cao tinh thần bảo vệ Hiến pháp khi xác định đó là trách
nhiệm của cả Nhà nước và Nhân dân. Nhưng muốn bảo vệ Hiến pháp hiệu quả thì cần phải sớm có cơ
chế bảo hiến cụ thể.
11. Tại sao nói Hiến pháp năm 2013 là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam?
Hiến pháp 2013 ra đời xuất phát từ nhu cầu hoàn thiện thêm 1 bước nữa Hiến pháp 1992. Mắc dù Hiến
pháp 1992 ra đời với tư tưởng “Đổi mới” đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng đưa VN thoát khỏi thời
kỳ khủng hoảng, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Tuy Nhiên, trước bối cảnh quốc tế mới, Hiến pháp
1992 đã bộc lộ nhiều điểm chưa đáp ứng được nhu cầu làm căn cứ pháp lý nền tảng cho việc phát triển
đất nước. Do vậy, trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ( bổ sung,
phát triển 2011) việc sửa đổi Hiến pháp 1992 đã được đặt ra. Kết quả của sự sửa đổi này đã mang lại
cho chúng ta 1 bản Hiến pháp mới với nhiều nội dung có sự thay đổi căn bản so với Hiến pháp 1992.
Có thể nói, Hiến pháp 2013 ra đời có ý nghĩa đáp ứng kịp thời nhu cầu xây dựng đất nước trong thời kỳ
mới. Là bản Hiến pháp cơ bản nhất, đặc trưng nhất.
Đối với xã hội, Hiến pháp 2013 tiếp tục củng cố và đề cao hơn nữa nguyên tắc chủ quyền nhân dân,
khẳng định quyền làm chủ của người dân đối với quyền lực nhà nước. Bên cạnh đó, Hiến pháp 2013
còn đề cao hơn nữa trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân;
Đối với Nhà nước, Hiến pháp 2013 là cơ sở pháp lý quan trọng để đổi mới và hoàn thiện tổ chức và
hoạt động của Bộ máy Nhà nước theo hướng tăng cường vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, hạn chế
vấn đề tham ô, tham nhũng, hướng tới 1 Nhà nước phục vụ cho lợi ích của Nhân dân
12.Nêu khái niệm và phân tích các đặc trưng cơ bản của quyền con người.
*Khái niệm Quyền con người
- Theo định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên Hợp Quốc thì: “Quyền con người là những bảo đảm
pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ
mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được cho phép và sự tự do cơ bản của con người”.
Quyền con người có các đặc trưng cơ bản là tính phổ biến, tính không thể chuyển nhượng, tính không
thể phân chia và tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau:
1.3.1. Tính phổ biến của quyền con người (universal rights)
Tính phổ biến thể hiện ở chỗ quyền con người là những quyền thiên bẩm, vốn có của con người và được
thừa nhận cho tất cả mọi người trên trái đất, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch,
địa vị xã hội, giới tính.
1.3.2. Tính không thể chuyển nhượng (inalienable rights)
Các quyền con người được quan niệm là các quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm như
quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc. Các quyền này gắn liền với cá nhân mỗi một con người
và không thể chuyển nhượng cho bất kì người nào khác. lOMoAR cPSD| 58797173
1.3.3. Tính không thể phân chia (indivisible rights)
Các quyền con người gắn kết chặt chẽ với nhau, tương hỗ lẫn nhau, việc tách biệt, tước bỏ hay hạn chế
bất kì quyền nào đều tác động tiêu cực đến giá trị nhân phẩm và sự phát triển của con người.
1.3.4. Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated. Interdependent rights)
Các quyền con người dù là các quyền dân sự, chính trị hay các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cũng đều
có mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau.
13. Nêu khái niệm quyền con người. Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm gì
đối với quyền con người?
Quyền con người, quyền công dân gắn liền với bản chất quyền lực của Nhà nước ta là Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Do đó, trách nhiệm của
Nhà nước là phải bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, công nhận, tôn
trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong mọi hoàn cảnh phù hợp với mục tiêu
xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và xu hướng toàn cầu hoá hội nhập quốc tế toàn diện
với cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân của các quốc gia.
Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm đối với quyền con người:
- Công nhận quyền con người
+ Ghi nhận những quyền cơ bản nhất của mỗi cá nhân, của mỗi con người vào trong Hiến pháp hay
chính là đạo luật cơ bản, quyền lực và quan trọng nhất của mỗi một quốc gia
+ Nhà nước công nhận quyền bình đẳng của mọi người trên các lĩnh vực như chính trị, pháp luật, văn hoá, xã hội . . .
+ Nhà nước còn thừa nhận những quyền con người bằng cách tham gia vào các công ước quốc tế và
các nghị định thư về quyền con người.
+ Khác với Nhà nước phong kiến hay chủ nô thì Nhà nước việt nam ở hiện tại thì đã công nhận tính
mạng, sự sống, sự tự do trong công việc hay đời sống của các cá nhân điều đó giúp cho mọi người có
thể tin tưởng Nhà nước sẽ hỗ trợ và là chỗ dựa cho mọi người sinh sống và phát triển
+ Nhà nước ghi nhận các quyền con người trong Hiến pháp để làm tiền đề, cơ sở để quy định các quyền
hay nghĩa vụ khác của các ngành luật.
- Tôn trọng quyền con người
+ Nhà nước đã tôn trọng quyền con người không chỉ qua việc ghi nhận trong Hiến pháp mà còn để nó
ở trong chương 2 của Hiến pháp năm 2013, đó là thể hiện sự tôn trọng rất lớn đối với quyền con người của mỗi cá nhân.
+ Nhà nước tôn trọng quyền con người bằng nhiều cách thức như tôn trọng tính mạng của mỗi cá nhân,
tôn trọng quyền tự do trong đời sống, trong công việc và cả trong tín ngưỡng tôn giáo. Không chỉ vậy,
Nhà nước còn tôn trọng quyền riêng tư của mỗi con người.
+ Nhà nước không chỉ dựa trên lời trích dẫn của Chủ tịch HCM mà còn tích cực tham gia các công ước quốc tế lOMoAR cPSD| 58797173
- Bảo vệ quyền con người
+ Nhà nước bảo vệ quyền con người bằng cách quy định các quyền con người trong Hiến pháp và nó
sẽ làm tiền đề cho các quyền khác được quy định trong pháp luật từ đó sẽ có các biện pháp khác nhau
để bảo vệ các quyền con người
+ Nhà nước không chỉ bảo vệ cho tính mạng của mỗi con người mà còn bảo vệ các công dân khi sinh
sống trong nước hay ngoài nước.
+ Nhà nước còn bảo vệ các quyền tự do và sự riêng tư của mỗi cá nhân, mỗi con người. ngoài ra Nhà
nước còn bảo vệ sức khoẻ về cả thể chất lẫn tinh thần của mỗi con người.
+ Nhà nước còn dựa trên quyền con người để làm điểm xuyên suốt mọi đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước ta, vậy nên sẽ hạn chế được việc các đường lối, chủ trương của nước ta sẽ làm ảnh hưởng tới quyền con người
+ Nhà nước để tòa án là cơ quan bảo vệ các quyền con người, đảm bảo tính độc lập của toà án để có thể
giúp bảo vệ quyền con người một cách độc lập mà không phải dựa vào bất kỳ một cơ quan nào khác
- Bảo đảm quyền con người
+ Nhà nước đảm bảo quyền con người được thực thi và hiện hành bằng cách đưa các quyền con người
cơ bản đó vào trong pháp luật ở các lĩnh vực khác nhau để nó luôn được hiện hữu trong mọi vấn đề
quan trọng trong đời sống của nhân dân
+ Nhà nước còn đảm bảo quyền con người bằng việc luôn tham gia đầy đủ các kì họp và tham gia vào
hầu hết các điều ước quốc tế về quyền con người của LHQ
→ Tất nhiên Nhà nước vẫn sẽ đưa quyền con người vào Hiến pháp để đảm bảo cho quyền con người
luôn hiện diện trong cuộc sống và trong mọi lĩnh vực của đất nước. Hiến pháp chính là cái gốc của mọi
ngành luật, bộ luật và các luật khác, chính vì vậy để giúp cho quyền con người luôn được công nhận,
tôn trọng, đảm bảo và bảo vệ bởi nhà nước
14.Nêu khái niệm quyền cơ bản của công dân. Mối quan hệ giữa quyền cơ
bản của công dân với quyền cụ thể của công dân?
*) “Quyền công dân là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng đối với những
người có quốc tịch của nước mình. Nhờ sự xác định này con người được hưởng chủ quyền của nhà
nước và được nhà nước bảo hộ quyền lợi khi ở trong nước cũng như ở nước ngoài; đồng thời công dân
cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ với nhà nước”.
*) “Quyền cơ bản của công dân là các quyền được xác định trong Hiến pháp trên các lĩnh vực chính trị,
dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, là cơ sở để thực hiện các quyền cụ thể khác của công dân và cơ sở chủ
yếu để xác định nghĩa vụ pháp lý của công dân”.
*) Mối quan hệ cơ bản giữa quyền cơ bản của công dân và quyền cụ thể của công dân: - Quyền cơ bản
của công dân thường được xuất phát từ các quyền tự nhiên thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con
người như quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do mưu cầu hạnh phúc. Quyền cơ bản của công dân
được quy định cụ thể trong hiến pháp – văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất. lOMoAR cPSD| 58797173
- Quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp, thể hiện tỉnh dân chủ, nhân văn, tiến bộ
của Nhà nước, là cơ sở đầu tiên cho mọi quyền khác của công dân được các ngành luật khác trong hệ
thống pháp luật ghi nhận.
Tất cả mọi quyền cụ thể đều bắt nguồn từ quyền cơ bản của công dân. Ví dụ: Các quyền về lao động
của công dân do luật lao động quy định đều dựa trên cơ sở quyền làm việc của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp
15.Phân tích nguyên tắc tôn trọng quyền con người được quy định trong
khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
Khoản 1, Điều 14 ghi nhận: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền
công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo
Hiến pháp và pháp luật. ”. •
Các quyền con người, quyền công dân được Nhà nước khẳng định và thừa nhận trong Hiến
pháp và các văn bản pháp luật khác, không phải là sự ban tặng hay cho phép của Nhà nước hay bất kỳ
tổ chức, cá nhân nào khác. •
Các quyền con người, quyền công dân được Nhà nước tôn trọng, không xâm phạm, không hạn
chế trái pháp luật, không phân biệt đối xử, không kì thị, không bắt buộc, không ép buộc, không cưỡng
chế, không bạo lực, không tra tấn, không nhục hình, không xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người thực hiện quyền. •
Các quyền con người, quyền công dân được Nhà nước bảo vệ, bảo đảm bằng các biện pháp lí,
chính sách, tài chính, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, tuyên truyền, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xét
xử, xử lý vi phạm, bồi thường thiệt hại, đảm bảo cho người thực hiện quyền không bị xâm hại, cản trở,
làm khó, gây thiệt hại, mất mát, bất công, bất lợi.
Ví dụ : Quyền tự do ngôn luận được quy định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự
do ngôn luận, tự do báo chí, tự do truy cập thông tin, tự do lập tổ chức, tự do tham gia tổ chức, tự do
biểu tình. Việc thực hiện các quyền này được quy định bởi pháp luật”. Điều này có nghĩa là Nhà nước
công nhận và tôn trọng quyền tự do ngôn luận của công dân, không cấm đoán, kiểm duyệt, hạn chế trái
pháp luật các hình thức bày tỏ ý kiến, phê bình, đề xuất, phản biện, tố cáo, báo cáo, phổ biến, truyền bá
thông tin, kiến thức, văn hóa, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, giáo dục, tuyên truyền, biểu tình, lập tổ
chức, tham gia tổ chức của công dân
16.Phân tích nguyên tắc công nhận quyền con người được quy định trong
khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
Khoản 1, Điều 14 ghi nhận: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền
công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo
Hiến pháp và pháp luật. ”.
Nghĩa vụ công nhận : xuất phát từ quan điểm cho rằng quyền con người là các quyền tự nhiên , có
nguồn gốc từ bản chất vốn có của con người và không phụ thuộc vào yếu tố xã hội khác . Vì vậy, quyền
con người không phải do nhà nước ban phát mà trái lại nhà nước phải chấp nhận sự tồn tại khách quan lOMoAR cPSD| 58797173
của quyền này. Nghĩa vụ công nhận theo Hiến pháp 2013 chính là chỗ Nhà nước phải ghi nhận khách
quan quyền con người. Để thực hiện tốt nghĩa vụ này, cần có sự tham chiếu tới các chuẩn mực pháp lý
quốc tế để ghi nhận vào hiến pháp.
Nhà nước CHXHCN Việt Nam coi quyền con người , quyền công dân là thiêng liêng và không thể tách
khỏi con người công nhận quyền con người là giá trị chung của nhân loại và được bảo vệ trên phạm vi
Toàn cầu. Nhà nước tham gia tối đa các điều ước quốc tế trên cơ sở phù hợp với điều kiện hoàn cảnh
của mình đồng thời thể chế hóa quyền con người thành quyền công dân quy định trong hiến pháp và pháp luật
17.Phân tích nguyên tắc bảo đảm quyền con người được quy định trong
khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
Quyền con người là những quyền đã có mà con người sinh ra trong xã hội.
Trong khoản 1 điều 14 hiến pháp 2013 quy định: “ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các
quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn
trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.”
Việc đảm bảo quyền con người được hiểu là một nghĩa vụ mà ở đó nhà nước cung cấp các điều kiện về
kinh tế, hạ tầng xã hội, văn hóa … Cho thấy được quyền con người được nhà nước đảm bảo theo hiến
pháp và pháp luật như trong điều 3 hiến pháp 2013 quy đinh: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền
làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân;
thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển Toàn diện.” Để người dân có thể thực hiện quyền của mình
một cách hiệu quả nhất . Nghĩa vụ đảm bảo được coi là nghĩa vụ chủ động nhất bởi nhà nước phải liên
tục đáp ứng những nhu cầu của người dân trong việc đảm bảo thực hiện quyền con người. Ví dụ như
việc mọi người đều được hưởng việc khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế đảm bảo chất lượng. Những
điều kiện này không phải người dân có t được hưởng mà đòi hỏi điều kiện cơ sở của nhà nước đảm bảo cho người dân.
18.Phân tích nguyên tắc bảo vệ quyền con người được quy định trong khoản
1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
Theo Hiến pháp 2013: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công
dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.”
Nhà nước được thành lập nhằm bảo vệ quyền con người . Đây là nghĩa vụ mang tính chất chủ động mà
nhà nước phải tuân thủ và thực hiện . Bất cứ sự xâm phạm quyền con người nào trong xã hội đều phải
được ngăn chặn và bị trừng phạt .Bảo vệ quyền con người thông qua nhiều cơ chế , bao gồm cả lập ,
hành , tư pháp lẫn các loại hình cơ quan hiến định độc lập
Thấy được sự thể hiện tôn trọng, công nhận của nhà nước đối với quyền con người được quy định trong
Hiến pháp. Bảo vệ quyền con người là bảo vệ nhân phẩm, sự tự do cơ bản của con người trước các hành
vi xâm phạm từ bên ngoài, bên trong Nhà nước. lOMoAR cPSD| 58797173
Tạo điều kiện cho con người thực hiện quá trình xây dựng, thực hiện giám sát pháp luật, đóng góp cho
sự phát triển của đất nước (kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh...).
Ví dụ: Nhà nước đã tham gia ký kết với LHQ về quyền con người: Công ước quốc tế xóa bỏ mọi hình
thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước quyền trẻ em.
19. Phân tích nguyên tắc “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” được
quy định tại khoản 1 Điều 16 Hiến pháp 2013
Nguyên tắc “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” có thể hiểu là pháp luật được áp dụng với tất
cả mọi người từ, tất cả đều phải tuân thủ theo pháp luật không được trái pháp luật.
Thực hiện đảm bảo sự công bằng, tôn trọn và bảo vệ quyền con người và công dân. Thể hiện sự tôn
trọng của nhà nước đối với các quyền cơ bản của con người và công dân bao gồm các quyền về chính
trị, văn hóa, kinh tế,…
Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ là mọi công dân đều được hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ của
mình. Quyền và nghĩa vụ không tách rời nhau... Ví dụ như quyền bầu cử, ứng … Nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước...
Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý là mọi công dân nếu bị vi phạm pháp luật thì đều được xử lý theo chế
tài quy định của pháp luật. Ví dụ, anh A và anh B đều bị bắt quả tang về hành vi cướp giật tài sản người
đi đường. Cả 2 đều thực hiện hành vi đó, cùng mục đích nhằm cướp giật tài sản nên sẽ chịu mức án như nhau.
20.Theo khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, trách nhiệm của Nhà nước
đối với quyền con người, quyền công dân được thể hiện như thế nào? Về nội dung:
Nhấn mạnh tới không chỉ đảm bảo quyền con người và quyền công dân, nguyên tắc cho ta thấy được
quyền con người và công dân sẽ bị hạn chế vì một số trường hợp nhất định ảnh hưởng tới các vấn đề
quốc phòng, an ninh, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng nhằm đảm bảo những lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhà nước. Về mặt ý nghĩa:
Đảm bảo sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ con người với những lợi ích của cộng đồng. Vì lợi ích
chung trong một số trường hợp cần thiết quyền con người, quyền công dân bị giới hạn. Thứ nhất là
tránh sự tùy tiện của nhà nước sử dụng các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật để vô hiệu hóa hoặc
hạn chế quyền con người. Thứ hai, là bảo đảm tính hiện thực của quyền vì sự giới hạn đới với quyền
con người và công dân. Với phương châm “tôn trọng và bảo vệ quyền con người với quyền và lợi ích
của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” được thể hiện đầy đủ hơn về những nội dung
liên quan quyền con người và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
21. Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc “Quyền con người, quyền
công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp
cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, lOMoAR cPSD| 58797173
đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013).
Cơ sở pháp lý : Khoản 2 Điều 14 -
Đầu tiên là “theo quy định của luật”. “Luật” là tên một văn bản trong hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật của Việt Nam, do Quốc hội ban hành. Khi Hiến pháp dùng từ “theo quy định của luật”
thì không có nghĩa là mọi sự hạn chế quyền đều chỉ được ban ra bằng văn bản luật. Vấn đề là nó có thể
nằm ở mọi loại hình thức văn bản, thậm chí là văn bản áp dụng pháp luật. Điều quan trọng là tất cả đều
phải “theo quy định của luật”, tức là có sự cho phép của luật, nằm trong phạm vi mà luật quy định, theo
đúng quy trình mà luật đã lập nên. Việc này rất có ý nghĩa bởi luật là văn bản do Quốc hội ban hành và
có thể coi là đại diện cho ý chí của xã hội một cách cao nhất sau Hiến pháp. Vì thế nó sẽ đảm bảo được
tính dân chủ và hợp ý nguyện của người dân. -
Thứ hai là “trong trường hợp cần thiết vì lý do”. Ở đây, chữ “cần thiết vì lý do” đã hàm nghĩa
rằng Nhà nước phải giải thích được tại sao lại có sự hạn chế quyền và sự hạn chế đó liệu có thực sự là
không thể thay thế hay không. -
Thứ ba là “quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”. Ví dụ:
+ Khi có cháy nhà, cả khu phố bị phong tỏa không được tự do đi lại để đảm bảo việc chữa cháy
an toàn. Đó là hạn chế quyền với lý do trật tự, an toàn xã hội.
+ Khi có dịch bệnh, quyền tự do hội họp có thể bị hạn chế khi số người tụ lại quá đông vì nguy
cơ lây lan. Đó là hạn chế quyền với lý do sức khỏe cộng đồng.
*) Phân tích ý nghĩa của nguyên tắc hạn chế quyền con người
- Thứ nhất, nguyên tắc hạn chế quyền củng cố định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền tại
Việt Nam. Quy định về giới hạn quyền năm 2013 đòi hỏi Nhà nước phải giải trình thỏa đáng
về điều kiện và các trường hợp giới hạn quyền con người, quyền công dân. Đây là yếu tố quan
trọng của nền pháp quyền hiện đại: mình bạch và giải trình. Nhà nước pháp quyền là nhà nước
đề cao tính thượng tôn của pháp luật, vì vậy nguyên tắc giới hạn quyền phải đảm bảo yêu cầu
chung của tinh thần thượng tôn pháp luật là: công lý, lẽ công bằng, lẽ phải và tính hợp lý.
- Thứ hai, nguyên tắc giới hạn quyền là công cụ mạnh mẽ để kiểm soát quyền lực nhà nước.
Muốn hạn chế quyền thì phải có pháp luật, chính là nhằm đến việc hạn chế quyền lập pháp. Vì
vậy, nguyên tắc giới hạn quyền đòi hỏi cơ quan thực hiện quyền lập pháp không được ban hành
văn bản giới hạn quyền một cách bất hợp lý (vi hiến). Mọi sự giới hạn quyền phải bằng luật (do Quốc hội ban hành).
Do đó, nội dung nguyên tắc giới hạn quyền trong Hiến pháp năm 2013 chính là nền tảng cho sự giới
hạn quyền lực của cơ quan lập pháp, đồng thời cũng giới hạn quyền lực của cơ quan hành pháp khi thực
hiện ủy quyền lập pháp. Hơn nữa, trong chừng mực nhất định, nguyên tắc hạn chế quyền cũng mang
lại ý nghĩa kiểm soát quyền tư pháp .
- Thứ ba, nguyên tắc hạn chế quyền là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền con người, quyền công
dân Giới hạn quyền là để đảm bảo lợi ích hợp pháp của nhà nước nhưng không thể lấy đi quyền
của cá nhân. Với cách ghi nhận quyền con người trong Hiến pháp năm 2013, quyền con người lOMoAR cPSD| 58797173
là thuộc về mỗi cá nhân và là quyền tự nhiên, không phải do Nhà nước trao cho. Do đó, cơ
quan lập pháp không thể lấy đi những gì không thuộc thẩm quyền của mình mà không có quy định của Hiến pháp.
22.Trước tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng và nghiêm trọng,
đặc biệt là ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn và tắc đường, thành phố
H ban hành quy định cấm xe máy lưu thông ở các quận nội thành. Dựa
trên nguyên tắc hạn chế quyền, hãy bình luận về quy định trên.
Cơ sở pháp lý: Khoản 2 điều 14 hiến pháp 2013
Phản đối *Làm hạn chế một số quyền cơ bản của công dân trong khi quyền con người, quyền công dân
chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh
quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng.. -
Quyền tự do đi lại
Nhà nước chưa đáp ứng được hệ thống giao thông công cộng để có thể thay thế phương tiện cá nhân.
Thói quen của người dân Việt Nam: người Việt Nam thường xuyên sử dụng phương tiện cá nhân vì sự
tiện lợi của nó và còn chưa thực sự quan tâm đến việc chung tay làm giảm ô nhiễm và các vấn đề khác.
Nếu muốn thay đổi thói quen này thì căn bản đầu tiên là phải giáo dục tư tưởng, ý thức người dân. Tuy
nhiên, không thể phủ nhận trong những năm vừa qua, TP Hà Nội liên tục chú trọng đầu tư nhằm hoàn
thiện mạng lưới hạ tầng giao thông và diện mạo Hà Nội ngày càng thay đổi theo hướng khang trang, hiện đại.
Nhưng để có thể đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của người dân trong vòng 5 hay 10 năm tới về chất lượng và
hiệu quả thì là một bài toán khó đối với ngân sách hạn hẹp của nhà nước, nền kinh tế của đất nước ta. -
Quyền mưu cầu hạnh phúc: là một trong những mục tiêu cơ bản của cả xã hội, của mỗi con
người, ở khía cạnh chủ quan, việc cấm xe ảnh hưởng đến quyền tự do đi lại, hơn nữa là việc
con người mưu cầu hạnh phúc sẽ bị cản trở nếu Nhà nước cho phép đề án này đi vào thực sự
+ Đặc biệt, Hà Nội là nơi tập trung chủ yếu của các các trường đại học, bệnh viện lớn, trung tâm hàng
hóa, với chất lượng tốt hơn hầu hết các vùng lân cận, do đó khi cần thiết phải di chuyển, người dân sẽ
bị giới hạn phương tiện. Từ đó, ảnh hưởng tới quyền của họ trong việc tiếp cận mức sống, an sinh tốt hơn. -
Ảnh hưởng đến quyền bình đẳng của người dân
Vấn đề ô nhiễm môi trường và ùn tắc giao thông không hoàn toàn đến từ các xe cơ giới ra vào nội đô,
nên không phải chỉ cấm các phương tiện này là có thể giải quyết được vấn đề nan giải trên, ngược lại
còn gây ra những bất công khác cho người dân nội và ngoại thành, đồng thời gây bất bình đẳng đối với
những người đi xe máy là những người điều khiển phương tiện khác -
Ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân: Nhiều người dân lựa chọn xe máy để kiếm tiền như
là grab, be,... nếu việc cấm xe máy trong nội thành được ban hành thì nhiều người dân kiếm
sống nhờ việc chạy xe đó sẽ mất công việc. lOMoAR cPSD| 58797173
23.Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, quyền con người, quyền công
dân có thể bị hạn chế trong những trường hợp nào? Tại sao?
*Cơ sở pháp lý: Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp 2013 -
Đầu tiên là “theo quy định của luật”. “Luật” là tên một văn bản trong hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật của Việt Nam, do Quốc hội ban hành. Khi Hiến pháp dùng từ “theo quy định của luật”
thì không có nghĩa là mọi sự hạn chế quyền đều chỉ được ban ra bằng văn bản luật. Vấn đề là nó có thể
nằm ở mọi loại hình thức văn bản, thậm chí là văn bản áp dụng pháp luật. Điều quan trọng là tất cả đều
phải “theo quy định của luật”, tức là có sự cho phép của luật, nằm trong phạm vi mà luật quy định, theo
đúng quy trình mà luật đã lập nên. Việc này rất có ý nghĩa bởi luật là văn bản do Quốc hội ban hành và
có thể coi là đại diện cho ý chí của xã hội một cách cao nhất sau Hiến pháp. Vì thế nó sẽ đảm bảo được
tính dân chủ và hợp ý nguyện của người dân. -
Thứ hai là “trong trường hợp cần thiết vì lý do”. Hiến pháp dường như đã để mở ra một nguy
cơ của sự tùy tiện khi không làm rõ thế nào là “vì lý do” hay nói cách khác là trong trường hợp nào thì
cơ quan nhà nước có thể viện dẫn những yếu tố khách quan thuộc về quốc phòng, an ninh quốc gia
v.v... để làm “lý do” cho việc hạn chế quyền. Và theo đà của quy định đó, thì bất kể là hình thức văn
bản có là “luật” hay “pháp luật” thì một lý do an ninh, quốc phòng vv... vẫn có thể được viện dẫn một
cách tùy tiện để hạn chế quyền con người. Vậy chúng ta vẫn cần phải tìm một cách giải quyết căn cơ,
đi thẳng vào nội dung của hành vi giới hạn quyền để xem hành vi đó có đúng đắn hay không. Ở đây,
chữ “cần thiết vì lý do” đã hàm nghĩa rằng Nhà nước phải giải thích được tại sao lại có sự hạn chế
quyền và sự hạn chế đó liệu có thực sự là không thể thay thế hay không. -
Thứ ba là “quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe
cộng đồng”. Ví dụ:
+ Khi có chiến tranh, quyền sở hữu có thể bị hạn chế khi Nhà nước lấy một tòa nhà làm nơi đặt tên
lửa. Đó là hạn chế quyền với lý do quốc phòng, an ninh quốc gia.
+ Khi có cháy nhà, cả khu phố bị phong tỏa không được tự do đi lại để đảm bảo việc chữa cháy an
toàn. Đó là hạn chế quyền với lý do trật tự, an toàn xã hội.
+ Khi có dịch bệnh, quyền tự do hội họp có thể bị hạn chế khi số người tụ lại quá đông vì nguy cơ
lây lan. Đó là hạn chế quyền với lý do sức khỏe cộng đồng.
24. Trình bày vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống
chính trị theo pháp luật hiện hành.
Vị trí: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính
trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã
hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Vai trò: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây
dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. lOMoAR cPSD| 58797173
25.Phân tích chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam theo pháp luật hiện hành.
CSPL: Điều 9 Hiến pháp 2013
- Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: 1.
Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo
dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán
bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật. 2.
Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội; đại diện, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai
phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những
nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của Nhân
dân, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh. 3.
Hoạt động giám sát được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm phát huy dân chủ,
sự tham gia của Nhân dân, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; xuất phát từ yêu cầu,
nguyện vọng của Nhân dân; thực hiện công khai, minh bạch,không chồng chéo; không làm cản
trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát.
- Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: 1.
Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản pháp luật, quy
hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án (sau đây gọi chung là dự thảo văn bản) của cơ quan nhà nước. 2.
Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội, khách quan,
khoa học, xây dựng, góp phần đảm đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội
và tính hiệu quả của văn bản; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân;
phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội. 3.
Hoạt động phản biện xã hội được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, công
khai, minh bạch, bảo đảm sự tham gia của thành viên, hội viên, đoàn viên và Nhân dân; tôn
trọng các ý kiến khác nhau nhưng không trái với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
Nhân dân, lợi ích quốc gia, dân tộc.(Luật Mặt trận)
26.Phân tích những biểu hiện của nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về Nhân dân” trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
theo pháp luật hiện hành.
*Cơ sở pháp lý: Khoản 2, Điều 2 Hiến pháp 2013
- Thứ nhất, nguyên tắc này được Nhà nước ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 – văn bản có
hiệu lực pháp lý cao nhất quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước là phục vụ Nhân dân bảo đảm
và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con lOMoAR cPSD| 58797173
người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
- Thứ hai, Nhân dân hình thành cơ quan đại diện (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) theo nguyên
tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín để tham gia hoạt động nhà nước, giám sát
hoạt động của cơ quan nhà nước.
- Thứ ba, Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện
thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Chính
vì vậy, khi ban hành các quyết sách, thực thi công vụ, các cơ quan nhà nước đều không được
làm trái lợi ích của Nhân dân mà phải thực hiện một cách tận tụy nhất, trung thành nhất
với lợi ích của Nhân dân. Vì vậy, cần phải bảo đảm sự thiết lập một cơ chế bầu cử thực chất,
phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của Nhân dân khi bầu ra thành viên các cơ quan dân cử.
Người đại biểu dân cử phải trung thành với lợi ích của Nhân dân và khi không còn xứng đáng
với sự tín nhiệm của Nhân dân thì sẽ bị bãi nhiệm.
- Thứ tư, các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy
phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của
Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch.
27.Phân tích những biểu hiện của nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống
nhất” trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo pháp luật hiện hành.
*Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp 2013
Đây là nguyên tắc thể hiện rõ rệt sự phát triển về mặt quan niệm trong cách thức tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam.
- Trước hết, với bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp vẫn tiếp tục ghi nhận quyền lực
nhà nước là thống nhất. Tuy nhiên, xu hướng tập quyền xã hội chủ nghĩa ở mức cao độ không
còn tiếp tục duy trì. Hơn thế, quy định trên đã tiếp thu một cách chọn lọc và hợp lý thuyết phân
quyền. Đầu tiên là ở việc thừa nhận sự tồn tại và phân định rạch ròi giữa các quyền lực lập
pháp, hành pháp, tư pháp.
- Thứ hai, mặc dù không thiết lập xu hướng kiềm chế đối trọng như các nhà nước tư sản phân
quyền, Hiến pháp 2013 quy định việc các nhánh quyền phải được kiểm soát. Đây là điều kiện
thiết yếu để ngăn ngừa sự lạm quyền của các cf quan nhà nước.
Nguyên tắc trên được thể hiện trong một số quy định về tổ chức bộ máy nhà nước như sau:
- Trước hết, cần phải thấy Quốc hội là biểu tượng của sự thống nhất quyền lực nhà nước. Điều
đó thể hiện ở chỗ chỉ duy nhất Quốc hội là cơ quan được toàn bộ cử tri trong cả nước trực tiếp
bầu. Các cơ quan nhà nước khác ở Trung ương đều do Quốc hội thành lập.
- Thứ hai, các cơ quan nhà nước được phân công rõ ràng về quyền lực, đặc biệt là quy định về
Quốc hội (Điều 69), Chính phủ (Điều 94), Tòa án (Điều 102) đã khẳng định rõ đây là các cơ
quan gắn với quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. lOMoAR cPSD| 58797173
- Thứ ba, trong quy định về thẩm quyền, các cơ quan có sự phối hợp với nhau rất rõ ràng. Chẳng
hạn trong quy trình làm luật, các cơ quan khác đều có thể có vai trò nhất định trong việc sáng
kiến lập pháp cũng như soạn thảo, góp ý.
- Thứ tư, giữa các cơ quan nhà nước đã có sự kiểm soát quyền lực nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng
quyền lực nhà nước. Điều này thể hiện trong mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước.
28.Phân tích biểu hiện của nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước trong
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo pháp luật hiện hành.
Nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước được hiểu là các nhánh quyền của nhà nước được phân công
để tránh việc lạm dụng quyền lực xảy ra
- Thứ nhất, Quốc hội là biểu tượng của sự thống nhất quyền lực nhà nước. Được cử tri cả nước
bầu ra. Các cơ quan nhà nước khác đều do quốc hội bầu ra, thành lập
- Thứ hai, Các cơ quan nhà nước được phân công quyền lực như Quốc hội (lập pháp), Chính phủ
(hành pháp), Tòa án (tư pháp).
- Thứ ba, Quy định về thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, có sự phối hợp với nhau rất rõ
ràng. VD: trong quy trình làm luật các cơ quan đều có vai trò nhất định
- Thứ tư, Giữa các cơ quan đều có sự kiểm soát lẫn nhau tránh việc lạm dụng quyền lực.
29.Phân tích nội dung, yêu cầu của nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo pháp luật hiện hành.
*Cơ sở pháp lý: Điều 2 Hiến pháp 2013
- Thứ nhất, pháp luật ở vị trí thượng tôn. Điều này có nghĩa là, tất cả các chủ thể trong xã hội
đều phải đứng dưới pháp luật, tuân thủ pháp luật; kể cả đó là Nhà nước. Bản thân Nhà nước
không được tùy tiện đặt ra các quy định pháp luật mà phải cân nhắc tới các giá trị chung về
công lý, bình đẳng (nghĩa là pháp luật thực định phải phù hợp với luật tự nhiên).
- Thứ hai, phải có cơ chế để người dân bảo vệ các quyền của mình trên cơ sở tính thiêng liêng
của hiến pháp. Điều này có nghĩa là, khi người dân nhận thấy Nhà nước có xu hướng lạm quyền.
Người dân phải được quyền sử dụng cơ chế tư pháp (thông qua Tòa án) để bảo vệ quyền lợi
của mình. Khi người dân đưa một hành vi của Nhà nước (có thể là luật, quyết định hành chính
v.v...) ra tòa, họ sẽ có thể đứng với vị thế bình đẳng với Nhà nước để được phán xử một cách công bằng.
Để cụ thể hóa nguyên tắc này, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung một quyền rất quan trọng đó là: người
bị buộc tội phải được Tòa án xét xử công bằng, công khai” (Khoản 2 Điều 31). Quy định trên phản ánh
phần nào tinh thần Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, nói về quyền
được xét xử công bằng. Ngoài ra, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm theo Điều 103 Hiến
pháp năm 2013 là điều kiện tốt nhất để Tòa án phát huy vai trò bảo vệ công lý của mình. lOMoAR cPSD| 58797173
Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 lần đầu quy định về “cơ chế bảo vệ hiến pháp” tại Khoản 2 Điều
119, và mặc dù còn nhiều bỏ ngỏ nhưng đây được trông đợi là hướng đi cho việc bảo vệ quyền con người.
30.Phân tích nguyên tắc bầu cử phổ thông theo pháp luật hiện hành.
Cơ sở pháp lý: Khoản 1, Điều 7 Hiến pháp Năm 2013.
Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015.
Nội dung: Bầu cử phổ thông tức là đảm bảo sự tham gia phổ biến, rộng rãi của công dân vào bầu cử
không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, địa vị xã hội, trình độ văn hóa... Đảm bảo
nguyên tắc bầu cử phổ thông là đảm bảo cho tính dân chủ trong bầu cử được thể hiện rõ nét. Cuộc bầu
cử phải là một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, đảm bảo tính công khai, minh bạch, dân chủ cho đông
đảo người dân tham gia.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, công dân từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và công dân từ
đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử.
Ý nghĩa: Cuộc bầu cử càng có sự tham gia đông đảo, rộng rãi của Nhân dân càng thể hiện được tính
dân chủ bởi điều đó thể hiện người dân thực sự quan tâm đến bầu cử và họ tin tưởng vào sự lựa chọn
của mình khi được nhà nước tạo điều kiện thuận lợi nhất để họ tham gia vào bầu cử, để họ có thể trực
tiếp lựa chọn ra những người đại diện mình thực hiện quyền lực nhà nước, thể hiện bản chất nhà nước
của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
31.Phân tích nguyên tắc bầu cử bình đẳng theo pháp luật hiện hành.
Cơ sở pháp lý: Khoản 1, Điều 7 Hiến pháp năm 2013.
Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015. Nội dung:
Bầu cử bình đẳng được thể hiện ở hai nội dung chính, đó là: bình đẳng giữa các cử tri và bình đẳng giữa
những người ứng cử. Đây là nguyên tắc nhằm đảm bảo để mọi công dân có cơ hội ngang nhau khi tham
gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất kì hình thức nào.
Thứ nhất, mỗi cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị mỗi lá phiếu trong cùng một
đơn vị bầu cử là như nhau không phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, dân tộc, tôn giáo, trình độ văn
hóa... Mỗi cử tri được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú và mỗi ứng cử viên chỉ được ghi
tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử. Nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có sự phân bổ cơ cấu, thành
phần, số lượng đại biểu một cách hợp lý, cân đối dựa trên tỉ lệ đại biểu là người dân tộc thiểu số, đại
biểu là nữ, là người dân tộc thiểu số hay đại biểu không phải là đảng viên... để đảm bảo tính đại diện cao nhất cho người dân.
Thứ hai, bầu cử bình đẳng thể hiện trong sự bình đẳng giữa những người ứng cử. Sự bình đẳng này thể
hiện ở chỗ cơ hội của những người được giới thiệu ứng cử tự ứng cử là như nhau (đáp ứng theo các tiêu
chuẩn theo quy định của pháp luật) và những người này được cư xử như nhau, có quyền và nghĩa vụ
như nhau, không phân biệt giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội, trình độ văn hóa danh.