CÂU HỎI VÀ GỢI Ý TRẢ LỜI CHƯƠNG 3
MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC- LÊNIN
1. Phân tích đặc trưng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Sản xuất hàng hóa ra đời từ rất lâu nhưng phải đến giai đoạn phát triển của CNTB,
sản xuất hàng hóa mới trở thành thống trị thúc đẩy hội loài người phát triển vượt
trội. Như vậy, phương thức sản xuất TBCN lấy sản xuất hàng hóa làm nền tảng. Nhưng
không phải sản xuất hàng hóa phương thức sản xuất bản chủ nghĩa. Sản xuất hàng
hóa trở thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa khi thỏa mãn hai điều kiện:
- Sản phẩm với tư cách là hàng hóa và hàng hóa với tư cách là sản phẩm của tư bản.
- Sản xuất ra giá trị thặng mục đích trực tiếp động quyết định của việc
sản xuất.
Từ 2 điều trên sẽ dẫn đến: liệu sản xuất giờ đây dưới hình thái bản lao động
nói chung dưới hình thái lao động làm thuê. Do đó liệu sản xuất sức lao động trở
thành hai nhân tố cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
2. Nguồn gốc, các hình thức biểu hiện và mục đích nghiên cứuluận giá trị thặng
dư của Karl Marx.
-Nguồn gốc GTTD: có sự tranh luận giữa các trường phái 2 vấn đề:
+ Vấn đề thứ nhất: giá trị thặng được tạo ra từ sản xuất hay lưu thông (chủ nghĩa
trọng thương, chủ nghĩa trọng nông, trường phái tư sản cổ điển).
+ Vấn đề thứ 2: yếu tố nào tạo ra giá trị thặng dư: nhà bản, lao động làm thuê, máy
móc thiết bị, khoa học kỹ thuật, vốn nhà tư bản bỏ ra…
Karl Marx kết luận: giá trị thặng TBCN được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất
nhưng phải có lưu thông thì giá trị thặng mới thực hiện được. K. Marx cũng chỉ ra
rằng, lao động làm thuê của công nhân nguồn gốc duy nhất tạo ra giá trị thặng
TBCN.
-Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư TBCN: lợi nhuận, lợi tức, địa tô.
- Mục đích nghiên cứu giá trị thặng dư TBCN:
+ Giai cấp công nhân là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư nhưng nhà tư bản là người
hưởng thành quả đó do họ chiếm hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, đó là sự
bất công.
+ Giai cấp công nhân phải liên kết lại, tổ chức chính đảng của mình Đảng cộng
sản để lật đổ giai cấp tư sản, đưa xã hội tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
3. Phân tích tư bản là gì và mâu thuẫn công thức chung của tư bản.
-Tư bản là sự vận động của giá trị nhằm mang lại giá trị thặng dư. Sự vận động
này theo công thức (T-H-T’, với T’ = T + T).
Giá trị ở đây là hàng hóa, giá trị ở đây là tiền, nhưng hàng hóa (H) và tiền (T) ở đây
nhằm mang lại giá trị thặng dư ( T). : Mác nói rằng “Nếu không mang hình thái hàng
hóa, tiền không thể trở thành bản được”. [Tư bản, tập thứ nhất, quyển 1, phần 1,
trang 202, NXB Sự thật, Hà Nội, 1984].
Như vậy, hàng hóa (H), tiền (T) có chức năng sinh ta giá trị thặng dư. H, T làm chức
năng này gọi là tư bản.
-Công thức chung của tư bản: T-H-T’ (với T’=T+T).
Các nhà bản bất cứ ngành nghề, lĩnh vực nào đều vận động chung công thức (T-
H-T’), bắt đầu bằng số tiền bỏ ra, sau đó mục đích T’ (T’=T+ T). K. Marx gọi đó
công thức chung của tư bản.
-Mâu thuẫn công thức chung: tranh cãi về nguồn gốc T mâu thuẫn công thức
chung của tư bản.
+ Trường phái Trọng thương cho rằng lưu thông tạo ra T.
+ Trường phái Trọng nông cho rằng chỉ có sản xuất nông nghiệp mới tạo ra T.
+ Trường phái tư sản cổ điển cho rằng T tạo ra trong lĩnh vực sản xuất.
+ Karl Marx: T tạo ra trong lĩnh vực sản xuất nhưng cần phải có lưu thông mới thực
hiện được.
4. Phân tích điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa. Tại sao hàng hóa sức lao
động lại đặc biệt?
-Sức lao động hay năng lực lao động toàn bộ thể chất tinh thần tồn tại trong
một thể, trong một con người đang sống, được người đó đem ra vận dụng mỗi khi
sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [Tư bản, tập thứ nhất, quyển 1, phần 1, trang
218, NXB Sự thật, Hà Nội, 1984].
Năng lực lao động chưa phảilao động, năng lực lao động chỉ mớikhả năng lao
động mà thôi.
- Điều kiện sức lao động trở thành hàng hóa:
+ Người lao động phải được tự do: Nhà tư bản (chủ tiền) tìm trên thị trường mua hàng
hóa sức lao động. Người sở hữu sức lao động (người lao động) muốn bán phải chi phối
được sức lao động của mình nên phải là người tự do. Thế kỷ 19 (thời Karl Marx), nô lệ là
mặt hàng mua bán nhộn nhịp trên thế giới, cho nên người lao động phải được tự do mới
có quyền bán sức lao động của mình cho nhà tư bản.
+ Người lao động bị buộc phải tự nguyện bán sức lao động: do họ không để
sống ngoài bán sức lao động. Muốn sống họ buộc phải tự nguyện. Buộc là không có gì để
sống phải bán, tự nguyện vì họ là người tự do nên bán trên tinh thần tự nguyện, không
yếu tố bên ngoài ép buộc.
- Sức lao động là hàng hóa đặc biệt, bởi vì:
+ Hàng hóa người tồn tại trong cơ thể con người, không nhìn thấy được. Hàng hóa này
thể hiện khi bước ra khỏi quá trình lao động với tư cách là sản phẩm.
+ Hàng hóa này chỉ bán trong một thời gian nhất định trong ngày mà thôi.
+ Khi bán sức lao động, người bán vẫn không từ bỏ quyền sở hữu sức lao động ấy
+ Hàng hóa có giá trị tinh thần, lịch sử.
5. Tại sao nghiên cứu hàng hóa sức lao động chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn
công thức chung của tư bản.
Mâu thuẫn công thức chung của bản tranh luận T tạo ra trong sản xuất hay
lưu thông. Vì công thức T-H-T’ nhầm tưởng chỉ phản ánh trong lưu thông.
Karl Marx kết luận rằng, nguồn gốc giá trị thặng được tạo ra trong quá trình sản
xuất nhưng cần phải lưu thông thì giá trị thặng mới thực hiện được. Công thức
chung của tư bản ẩn chứa cả sản xuất và lưu thông, gồm 3 giai đoạn: lưu thông mua hàng,
sản xuất và lưu thông bán hàng.
TLSX
T - H ……SX…… H’ – T’
SLĐ
Lưu thông mua hàng sản xuất lưu thông bán hàng
Marx chỉ ra rằng: nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động công nhân làm thuê
tạo ra trong lĩnh vực sản xuất.phảilưu thông thì mới thực hiện được sản xuất giá
trị thặng dư. Nghiên cứu hàng hóa sức lao động tính chất đặc biệt khi sử dụng nó,
nó tạo ra một giá trị mới, lớn hơn giá trị bản thân nó. Đâynguồn gốc của giá trị thặng
dư.
vậy, nghiên cứu hàng hóa sức lao động chìa khóa giải quyết mâu thuẫn
công thức chung của tư bản.
6. Giải thích: “Vậy bản không thể xuất hiện từ lưu thông cũng không thể
xuất hiện bên ngoài lưu thông. phải xuất hiện trong lưu thông đồng thời
không phải trong lưu thông [Tư bản, tập thứ nhất, quyển 1, phần 1, trang 218, NXB
Sự thật, Hà Nội, 1984].
bản xuất hiện trong sản xuất nhưng phải lưu thông mới thực hiện được. Mác
giải thích: Toàn bộ quá trình ấy, việc chuyển hóa tiền của hắn thành bản, diễn ra
trong lĩnh vực lưu thông và cũng không diễn ra trong lĩnh vực đó. Nhờ lưu thông – vì quá
trình đó được quyết định bởi việc mua sức lao động trên thị trường hàng hóa. Không
diễn ra trong lưu thông – vì lưu thông chỉ chuẩn bị cho quá trình làm tăng giá trị, nhưng
việc tăng giá trị thì lại diễn ra trong quá trình sản xuất” [Tư bản, tập thứ nhất, quyển 1,
phần 1, trang 252, NXB Sự thật, Hà Nội, 1984].
7. Nhà bản sử dụng hàng hóa sức lao động tạo ra giá trị mới thuộc về nhà
bản. Điều này có tạo ra sự bất công cho người lao động hay không?
Nhà tư bản người chủ sức lao động thực hiện mua bán hàng hóa sức lao động với
thỏa thuận về thời gian làm việc, điều kiện làm việc và mức tiền công... Hai bên làm đúng
những thỏa thuận như đã cam kết. Nhà bản thu được giá trị thặng hợp
không có bất công gì với người bán sức lao động. Marx viết: “…giá trị do việc tiêu dùng
sức lao động trong một ngày tạo ra sẽ gấp đôi giá trị hằng ngày của bản thân sức lao
động đó, - tình hình ấy chỉ là một điều may mắn đặc biệt cho người mua, chứ không phải
một sự bất công gì đối với người bán [Tư bản, tập thứ nhất, quyển 1, phần 1, trang 251,
NXB Sự thật, Hà Nội, 1984].
8. Phân tích tại sao nhàbản mua hàng hóa sức lao động đúng giá trị (nguyên tắc
ngang giá), không sbất công cho người bán vẫn được cho bóc lột sức
lao động làm thuê?
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng phải dựa trên nguyên tắc mua bán, trao
đổi ngang giá. Marx viết: “Tất cả những điều kiện của bài tính được tôn trọng, và những
quy luật của trao đổi hàng hóa không hề vi phạm, vật ngang giá được trao đổi lấy vật
ngang giá. Với tư cách là người mua, nhà bản đã mua từng hàng hóa – bông, cọc sợi,
sức lao động theo đúng giá trị của nó” [Tư bản, tập thứ nhất, quyển 1, phần 1, trang
251, NXB Sự thật, Nội, 1984]. Mặt khác, nhà bản sử dụng hàng hóa sức lao động
tạo ra giá trị mới lớn n giá trị bản thân thuộc về nhà bản, điều này không bất
công cho người bán người lao động, nhưng điều kiện làm việc gọi hợp pháp đến
giữa thế kỷ 19 đồng nghĩa với sự bóc lột sức lao động.
- Trẻ em 9 tuổi đã vào công xưởng làm việc thay vì đến trường.
- Ngày lao động: Luật công xưởng nước Anh 1833 (15h/ngày), 1847-1848 (12h/ngày),
1850 (10h/ngày). Đến 1886 mới áp dụng ngày làm việc 8h đầu tiên tại Hoa Kỳ.
- Tiền công rẻ mạt, giai cấp công nhân trở thành giai cấp vô sản.
Cho nên: việc sản xuất giá trị thặng dư TBCN sự bóc lột sức lao động giai cấp
công nhân.
9. Thế nào nhà bản. nên khuyến khích các nhà bản phát triển Việt
Nam hiện nay?
-Nhà tư bản là:
+ Người chủ tiền công thức T-H-T’. Người chủ tiền khác với người dùng tiền của
mình. Tiền trong công thức T-H-T’ có thể là tiền huy động cổ phần, tiền vay hoặc bất cứ
khoản nào mà nhà tư bản làm chủ công thức đó.
+ quy đủ lớn để không trực tiếp vào quá trình sản xuất. Nhà bản trở thành
kẻ tập hợp, chỉ huy lao động, tức là chỉ huy sức lao động đang hoạt động để sản xuất giá
trị thặng dư.
Khi người chủ tiền công thức T-H-T’ nhưng quy chưa đủ lớn thì để không tham
gia trực tiếp vào quá trình sản xuất gọi là tiểu tư sản.
- Có nên khuyến khích các nhà tư bản phát triển ở Việt Nam hiện nay hay không?
+ Trước đổi mới (12/1986), Việt Nam áp dụng hình kinh tế kế hoạch hóa tập
trung bao cấp, xóa bỏ triệt để sự tồn tại của các nhà bản, tiểu chủ. Việt Nam rơi vào
khủng hoảng kinh tế xã hội do quan hệ sản xuất không thích hợp với tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất.
+ Từ Đại hội VI (12/1986): Việt Nam tiến hành đổi mới đất nước, phát triển kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần. Đến đại hội IX (2001), Đảng đã xác định hình kinh tế
Việt Nam trong thời kỳ quá độ Kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam, thành phần kinh tế nhân được khuyến
khích phát triển không giới hạn.
Đặc biệt, Nghị quyết 11-NQ/TW ngày 03/06/2017, Đảng đã xác định Phát triển kinh
tế nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam.
Kết luận: từ khi “đổi mới”, Việt Nam từ chỗ xóa bỏ, cấm đoán các nhà bản, tiểu
sản tồn tại thành thừa nhận, phát triển một số ngành, một số lĩnh vực nhất định. Đến
nay, Đảng đã xác định kinh tế nhân một động lực quan trọng trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Các nhà bản được khuyến khích phát triển không hạn chế
miễn là tuân thủ chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước Việt Nam.
10. Tại sao nói tiền công bị nhầm tưởng giá cả của lao động. Người lao động
cần phải làm gì để cải thiện tiền công?
- Phân biệt người lao động, sức lao động và lao động.
+ Sức lao động hay năng lực lao động toàn bộ thể chất tinh thần tồn tại trong
một cơ thể, trong một con người đang sống. Sức lao động tồn tại ở trạng thái loãng trong
người lao động.
+ Sức lao động tồn tại trong người lao động.
+ Lao động là tiêu dùng sức lao động
+ Người lao động vận dụng sức lao động để sản xuất ra sản phẩm ích gọi lao
động.
- Tại sao nói tiền công bị nhầm tưởng là giá cả của lao động.
Nhà tư bản (chủ tiền) đi mua hàng hóa sức lao động trên thị trường, nhưng họ không
gặp sức lao động họ gặp người lao động (chủ sức lao động). Để thực hiện việc mua
bán này, nhà tư bản bắt người lao động phải lao động trong thời gian đã thỏa thuận, nghĩa
bắt người lao động phải tiêu dùng sức lao động hay người lao động phải lao động.
vậy, người ta nhầm tưởng tiền công là giá cả của lao động.
Marx viết: “Tiền công xóa bỏ mọi vết tích phân chia ngày lao động thành lao động
cần thiết lao động thặng dư, thành lao động được trả công lao động không công.
Toàn bộ lao động thể hiện ra như lao động được trả công [Tư bản, tập thứ nhất,
quyển 1, phần 2, trang 45, NXB Sự thật, Hà Nội, 1984].
- Người lao động cần phải làm gì để cải thiện tiền công.
Tiền công giá cả của hàng hóa sức lao động. Giá cả hàng hóa sức lao động phụ
thuộc vào 2 yếu tố: (1). Giá trị hàng hóa sức lao động (2) Cung cầu hàng hóa sức lao
động trên thị trường.
Cung cầu xu hướng cân bằng nhau cho nên giá cả hàng hóa sức lao động phản
ánh giá trị hàng hóa sức lao động.
Để nâng cao được giá trị hàng hóa sức lao động của mình, người lao động phải nâng
cao giá trị sử dụng. Một số biện pháp nâng cao giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động: (1)
Kiến thức. (2) Kỹ năng. (3) Thái độ.
11.Phân tích các cặp bản bất biến, bản khả biến; bản cố định, bản lưu
động. Mối quan hệ giữa các cặp tư bản đó và ý nghĩa rút ra.
-bản sự vận động của giá trị nhằm mang lại giá trị thặng dư. Giá trị
đây là hàng (H), giá trị ở đây là tiền (T) vận động theo công thức (T-H-T’). Khi nhắc
tới các cặp tư bản: tư bản bất biến tư bản khả biến; tư bản cố địnhbản lưu động
thì tư bản ở hình thái hàng hóa (H).
Tư bản bất biến (C): bộ phận biến thành tư liệu sản xuất, tức là thành nguyên liệu,
vật liệu phụ và liệu lao động, không thay đổi đại lượng giá trị của nó.bản bất biến
tuy không thay đổi về giá trị nhưng lại thay đổi về giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng cũ biến
đi để rồi lại xuất hiện dưới một hình thái giá trị sử dụng mới.
Tư bản khả biến (V): bộ phận tư bản biến thành sức lao động lại thay đổi giá trị của
nó trong quá trình sản xuất. Nó tái sản xuất ra vật ngang giá với bản thân ngoài ra
còn sản xuất ra một số dư, tức là giá trị thặng dư.
bản cố định (C1): bộ phận bản tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà
xưởng…về hiện vật tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của nó chuyển
dần vào sản phẩm mới thông qua khấu hao.
bản lưu động (C2): bộ phận bản sản xuất tồn tại dưới dạng nguyên liệu,
nhiên liệu, vật liệu phụ, sức lao động…giá trị của nó được chuyển toàn bộ vào sản phẩm
mới.
- Mối quan hệ giữa các cặp tư bản:
-Ý nghĩa của việc nghiên cứu:
+ Phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến: nhằm tìm ra nguồn
gốc của giá trị thặng dư. Tư bản khả biến (v) là nguồn gốc duy nhất của giá trị thặng dư.
Vai trò của bản bất biến tiêu dùng sức lao động để tạo ra giá trị thặng dư. “Tư bản
bất biến chỉ tồn tại để thu hút lao động, với mỗi giọt lao động thì thu hút được một
lượng giá trị thặng tương ứng [Tư bản, tập thứ nhất, quyển 1, phần 1, trang 327,
NXB Sự thật, Hà Nội, 1984].
+ Phân chia bản thành bản cố định bản lưu động: phục vụ cho việc
quản trong sản xuất kinh doanh. bản cố định bị hao mòn hình hao mòn hữu
hình. Khoa học công nghệ ngày càng phát triển, máy móc ra đời với chất lượng, năng
suất ngày càng cao nhưng giá lại ngày càng rẻ. Việc lựa chọn phương pháp khấu hao phù
hợp sẽ giúp nhà tư bản tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
T – H – T’
Tư bản bất biến (C=C1+C2) Tư bản khả biến (V)
Tư bản cố định (C1) Tư bản lưu động (C2 + V)
12.Tỷ suất giá trị thặng dư và ý nghĩa rút ra?
Tỷ suất giá trị thặng tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng bản khả biến
tương ứng để sản xuất ra giá trị thặng dư đó, ký hiệu là m’. Công thức tính tỷ suất giá trị
thặng dư là:
Ý nghĩa: tỷ suất giá trị thặng phản ánh chính xác mức độ bản bóc lột sức lao
động, hay mức độ nhà tư bản bóc lột người công nhân.
Khối lượng giá trị thặng dư:tích số giữa giá trị thặng dư tổng bản khả biến
đã được sử dụng. Ký hiệu M.
Hoặc M = m’ x V
v: giá trị tư bản khả biến cho 1 giá trị sức lao động
V: Tổng tư bản khả biến.
13.Tuần hoàn, chu chuyển bản gì?. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tuần
hoàn và chu chuyển tư bản?
-Tuần hoàn tư bản: là sự vận động của tư bản trải qua ba giai đoạn, lần lượt mang
ba hình thái khác nhau, thực hiện ba chức năm khác nhau rồi quay lại với hình thái ban
đầu có kèm theo giá trị thặng dư.
TLSX
T - H ……SX…… H’ – T’
SLĐ
GĐ1: Lưu thông GĐ2: Sản xuất
GĐ3: lưu thông
Tư bản tiền tệ
Tư bản sản xuất
Tư bản hàng hóa
M V
-Chu chuyển tư bản: là quá trình tuần hòa tư bản lặp đi lặp lại không ngừng.
+ Thời gian chu chuyển = thời gian sản xuất + Thời gian lưu thông.
+ Tốc độ chu chuyển: là số vòng (lần) chu chuyển tư bản trong 1 năm.
CH
n =
ch
n: số vòng chu chuyển
CH: thời gian trong năm
ch: thời gian cho 1 vòng chu chuyển.
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu tuần hoàn và chu chuyển tư bản.
Tuần hoàn bản chu chuyển bản 2 mặt chất lượng trong sự vận động
của bản. Tuần hoàn bản nghiên cứu mặt chất, chu chuyển bản nghiên cứu mặt
lượng trong sự vận động của tư bản.
14. Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư. Tại sao giá trị thặng siêu ngạch
là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. Cho ví dụ về giá trị thặng
dư siêu ngạch? Ý nghĩa của việc nghiên cứu.
- Có hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư: phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
+ phương pháp được thựcPhương pháp sản xuất giá trị thặng tuyệt đối:
hiện trên sở kéo dài tuyệt đối ngày lao động của công nhân trong điều kiện thời gian
lao động cần thiết không đổi.
Ngày lao động trong lịch sử đơn vị không cố định. Ngày lao động theo Luật công
xưởng nước Anh (1833) là 15h (từ 5h30 – 20h30). Giai đoạn 1844-1847 ngày lao động là
12h. Từ 01/1848 ngày lao động còn 11h. Năm 1886, ngày lao động còn 8h tại Hoa Kỳ.
Như vậy trong thời gian đầu, luật pháp quy định ngày lao động quá dài để tìm cách
thu được nhiều giá trị thặng dư nhất có thể. Khi phong trào công nhân đấu tranh thì ngày
lao động mới rút xuống dần dần và cố định còn 8h như ngày nay.
Thời gian lao động cần thiết (6h) Thời gian lao động thặng dư (6h)
Ngày lao động 12h
+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng tương đối: được thực hiện bằng cách rút
ngắn thời gian cần thiết lại để kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng trên sở
tăng năng suất lao động xã hội trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi.
Giá trị thặng dư siêu ngạch: là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao
động biệt, làm cho giá trị biệt của hàng hóa thấp hơn giá thị trường của nó. Marx
gọi giá trị thặng siêu ngạch hình thức biến tướng của giá trị thặng tương đối,
cùng dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, tuy nhiên có một số điểm khác biệt.
Giá trị thặng dư siêu ngạch Giá trị thặng dư tương đối
Do tăng NSLĐ biệt, do khai phá 1
ngành kinh doanh mới
Do tăng năng suất lao động xã hội
Nhà tư bản cá biệt thu được Toàn bộ giai cấp tư bản thu được
Quan hệ nhà tư bản với công nhân Quan hệ giai cấp bản với giai cấp công
nhân
- Ví dụ về giá trị thặng dư siêu ngạch: Facebook
+ Khai phá 1 ngành kinh doanh mới: Facebook ra đời 2004. Tháng 5/2005 gây quỹ
đầu tư được 13,7 triệu USD. Cuối năm 2010 có hơn 1 tỷ lượt truy cập mỗi tháng và vượt
mốc 2 tỷ người dùng 5 năm sau đó. Đến 20192,45 tỷ người dùng hàng tháng. Tháng
5/2012 phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng thu được 5 tỷ USD. Đến cuối năm
2019, vốn hóa của Facebook lên đến 587 tỷ USD.
+ Lợi nhuận của facebook (2018) là 22,111 tỷ USD.
Thời gian lao động cần thiết (6h) Thời gian LĐTD (2h) Ngày 8h
Thời gian lao động cần thiết (4h) Thời gian LĐTD (4h) Ngày 8h
+ Mức lương trung bình: facebook trả trung bình cho nhân viên hơn 200.000
USD/người/năm.
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu:
+ Luật lao động các quốc giaxu hướng giảm thời gian làm việc (hiện nayquốc
gia chỉ còn 35 giờ/tuần). Nhà bản muốn thu được nhiều giá trị thặng thì phải tìm
cách tăng năng suất lao động. Năng suất lao động tăng dẫn đến giá cả hàng hóa giảm,
người tiêu dùng được lợi. Nhà nước cần những chính sách khuyến khích, ưu đãi các
doanh nghiệp trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo.
+ Khuyến khích phát triển các ngành kinh doanh mới vừa đáp ứng nhu cầu hội,
vừa đạt được giá trị thặng dư siêu ngạch.
15. Tích lũy tư bản là gì? Phân biệt giữa tích tụ và tập trung tư bản.
-Tích lũy tư bản: là sự chuyển hóa một phần giá trị thặng dư thành tư bản (tư bản phụ
thêm) – hay tư bản đẻ ra tư bản.
-Tích lũy tư bản bao gồm: tích tụ và tập trung tư bản.
+ là tích lũy tư bản làm tăng quy mô tư bản cá biệt.Tích tụ tư bản:
+ sự tăng thêm quy của bản biệt bằng cách hợp nhấtTập trung bản:
những tư bản cá biệt có sẵn thành một tư bản cá biệt lớn hơn.
-So sánh tích tụ và tập trung tư bản.
Tích tụ tư bản Tập trung tư bản
Giống nhau: cùng làm tăng quy mô của tư bản
Khác nhau: giữa tích tụ tư bản và tập trung tư bản:
Làm tăng quy của bản biệt
đồng thời làm tăng quy mô tư bản xã hội
Chỉ làm tăng quy của bản biệt
(thay đổi sự sắp xếp về lượng của các bộ
phận cấu thành của tư bản xã hội)
Thông qua quá trình tái sản xuất, kinh
doanh mở rộng.
Thông qua cạnh tranh, thông qua góp
vốn, thông qua sáp nhập…
Tư bản lớn lên chậm Tư bản lớn lên nhanh
Phục vụ mục đích ra đời các ngành
lượng bản lớn hoặc các công ty cổ
phần
16. Cấu tạo hữu bản gì? Sự khác nhau giữa cấu tạo kỹ thuật cấu tạo giá
trị của bản. Tại sao cấu tạo hữu ngày càng tăng nhưng không xảy ra thất
nghiệp tràn lan.
- Để hiểu về cấu tạo hữucủa tư bản, trước tiên tìm hiểu về cấu tạo kỹ thuật
và cấu tạo giá trị của tư bản.
+ (c/v) là tỷ lệ được tính bằng số lượng nhân công đảmCấu tạo kỹ thuật của tư bản
nhận khối lượng máy móc.
+ (c/v) tỷ lệ được tính bằng tiền (tiền mua liệu sảnCấu tạo giá trị của bản
xuất và tiền trả lương cho nhân công)
+ (c/v) cấu tạo giá trị của bản, do cấu tạo kỹ thuậtCấu tạo hữu của bản
quyết định và phản ánh sự thay đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản.
-Sự khác nhau giữa cấu tạo giá trị và cấu tạo kỹ thuật của tư bản: cùng cấu tạo kỹ
thuật nhưng cấu tạo giá trị khác nhau và ngược lại.
- Tại sao cấu tạo hữu cơ ngày càng tăng nhưng không xảy ra thất nghiệp tràn lan.
Karl Marx phân tích chủ nghĩa bản giai đoạn đại công nghiệp giữa thế kỷ 19.
Thời kỳ này chỉ một vài quốc gia công nghiệp hóa dưới tác động của cuộc CMCN lần thứ
nhất. Marx đã chỉ ra xu hướng vận động vận động ngày càng tăng trong cấu tạo hữu
của tư bản.
CMCN lần thứ 2 bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, với sự ra đời của điện động đốt
trong, các ngành sản xuất được mở rộng gấp nhiều lần lao động thu hút vào những
ngành mới, vấn đề thất nghiệp đã được giải quyết ổn.
CMCN lần 3 từ cuối thế kỷ với sự phát triển công nghệ thông tin internet, sản
xuất đi vào tự động hóa, cấu tạo hữucủa tư bản ngày càng tăng. Xã hội bước vào giai
đoạn hậu công nghiệp, ngành dịch vụ phát triển và chiếm tỷ trọng cao nhất trong nền kinh
tế. Lao động việc làm dịch chuyển từ ngành công nghiệp sang ngành dịch vụ, vấn đề
thất nghiệp vẫn giải quyết được.
CMCN lần 4 bắt đầu diễn ra từ đầu thế kỷ 21, hứa hẹn quá trình tự động hóa sẽ đi
vào ngành dịch vụ, thay thế lao động, và đây là một thách thức hiện nay ở các quốc gia.
17.Chi phí sản xuất TBCN khác chi phí thực tế hội như ra sao. Mối quan hệ
giữa T, m, p, z và r.
- Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa khác với chi phí thực tế xã hội ra sao:
Chi phí sản xuất TBCN (k) là chi phí mà nhà tư bản bỏ ra để sản xuất hàng hóa. Chi
phí sản xuất bao gồm chi phí mua tư liệu sản xuất (c) và mua sức lao động (v). (k=c+v).
Chi phí thực tế hội chi phí lao động hội để sản xuất ra hàng hóa. Adam
Smith nói rằng hàng hóa là một lượng lao động nhất định được cất giữ lại để sử dụng khi
cần thiết vào một dịp khác. Như vậy, chi phí thực tế gồm chi phí lao động quá khứ, tức là
lao động đã được vật hóa, tức giá trị của liệu sản xuất (c) lao động hiện tại (lao
động sống), tức là lao động tạo ra giá trị mới (v + m). Cho nên chi phí lao động là chi phí
thực tế xã hội, chi phí này tạo ra giá trị hàng hóa (c+v+m).
Chi phí sản xuất TBCN Chi phí thực tế xã hội
k = c+v G = c+v+m
Chi phí SX TBCN < giá trị hàng hóa Chi phí thực tế = giá trị hàng hóa
Nhà bản chỉ bỏ chi phí SX ra, không
tham gia vào quá trình sản xuất GTTD, nhà
bản chỉ quan tâm bỏ bao nhiêu bản
(c+v) chứ không quan tâm hao phí hết bao
nhiêu lao động xã hội.
v là nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư, nên
đứng về mặt hội mà xét phải quan tâm
đến nguồn gốc sản sinh ra nó, tức lao
động của người SX, từ đó chính sách
phân phối kết quả lao động hợp lý.
Chi phí sản xuất (k=c+v) là nguồn gốc sinh
ra lợi nhuận.
v là nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư.
- Mối quan hệ giữa T, m, p, z, r.
18.Tỷ suất lợi nhuận là gì?. Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận?
T – H – T’, T’ = T + T
T gọi là Giá trị thặng
Giá trị thặng dư (T m = p)
Lợi nhuận bình
quân ( )
Độc quyền tư hữu ruộng
đất tạo ra lợi nhuận siêu
ngạch. Phần lợi nhuận siêu
ngạch này nhà tư bản phải
trả cho địa chủ dưới hình
thức địa tô (r)
Lợi nhuận công nghiệp Lợi nhuận thương
nghiệp (
Lợi tức (z)
Lợi tức (z) là một phần lợi nhuận bình quân
mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư
bản cho vay
-Tỷ suất lợi nhuận tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận toàn bộ giá trị bản ứng
trước (ký hiệu là p’).
Tỷ suất lợi nhuận được tính theo công thức:
Tỷ suất lợi nhuận phản ánh mức doanh lợi của nhà tư bản.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận.
+ Tỷ suất giá trị thặng dư. Tỷ suất giá trị thặng dư tác động cùng chiều với tỷ suất lợi
nhuận.
+ Tốc độ chu chuyển của bản. Tốc độ chu chuyển của bản càng cao thì tỷ suất
lợi nhuận càng tăng.
+ Tiết kiệm tư bản bất biến. Tiết kiệm tư bản bất biến làm tăng tỷ suất lợi nhuận.
19. Nguyên nhân hình thành lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất.
- Cạnh tranh giữa các ngành san bằng tỷ suất lợi nhuận biệt, hình thành tỷ suất lợi
nhuận bình quân. Cạnh tranh giữa các ngành cạnh tranh giữa các ngành sản xuất
khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu lợi hơn, tức nơi tỷ suất lợi nhuận
cao hơn. Khi một ngành kinh doanh nào đó tỷ suất lợi nhuận cao thì sẽ thu hút
nhiều bản đầu tư vào những ngành kinh doanh tỷ suất lợi nhuận thấp bản
có xu hướng dịch chuyển sang ngành khác. Sau một thời gian sẽ hình thành tỷ suất lợi
nhuận bình quân.
- Tỷ suất lợi nhuận bình quântỷ số tính theo phần trăm giữa tổng giá trị thặng dư
tổng tư bản xã hội đã đầu tư vào các ngành của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, ký hiệu
là p’.
x100 (%)
- Lợi nhuận bình quân là lợi nhuận thu được theo tỷ suất lợi nhuận bình quân, ký hiệu
là p.
Nếu ký hiệu giá trị tư bản ứng trước là K thì lợi nhuận bình quân được tính:
- Cùng với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân thì giá trị
hàng hóa chuyển thành giá cả sản xuất.
20.Lợi nhuận thương nghiệp TBCN gì? Nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp
TBCN. Sự khác nhau của lợi nhuận thương nghiệp TBCN với lợi nhuận thương
nghiệp trước TBCN.
Lợi nhuận thương nghiệp TBCN một phần lợi nhuận được sáng tạo ra trong sản
xuất do nhà bản công nghiệp nhượng lại cho bản thương nghiệp để bản thương
nghiệp thực hiện chức năng tiêu thụ hàng hóa cho nhà tư bản công nghiệp.
Nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp một phần giá trị thặng sáng tạo ra
trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp trả cho nhà tư bản thương nghiệp.
Sự khác nhau giữa lợi nhuận thương nghiệp TBCN và lợi nhuận thương nhân.
Tư bản thương nhân (tư bản thương nghiệp trước TBCN) là hình thức tồn tại lâu đời
nhất của tư bản. Tư bản thương nhân bị cột chặt vào lĩnh vực lưu thông vì chức năng của
chỉ làm “môi giới” cho việc trao đổi hàng hóa, nên sự tồn tại của chỉ cần lưu
thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ. Sự phát triển của tư bản thương nhân độc lập với với
tư bản sản xuất và sự phát triển này tỷ lệ nghịch với sự phát triển chung của xã hội. Quy
luật của lợi nhuận thương nghiệp là mua rẻ bán đắt chứ không dựa trên nguyên tắc ngang
giá. Tư bản thương nhân chiếm hữu tuyệt đại bộ phận của giá trị thặng dư.
bản thương nghiệp TBCN, (1) lưu thông chi phối được sản xuất nghĩa quá
trình sản xuất hoàn toàn dựa trên lưu thông, còn lưu thông chỉ một yếu tố, một giai
x k
Giá cả sản xuất
doạn quá độ của sản xuất và (2) quá trình sản xuất đã sáp nhập với lưu thông, lưu thông
chỉ là sự thực hiện sản phẩm đã được sản xuất ra với tư cách là hàng hóa. Ở đây, hình thái
tư bản do lưu thông trực tiếp sinh ra chỉmột trong các hình thái tư bản trong quá trình
tái sản xuất của nó. Lợi nhuận thương nghiệp TBCN được tạo ra dựa trên nguyên tắc
ngang giá.
giai đoạn đầu của hội bản chủ nghĩa, thương nghiệp thống trị công nghiệp;
trong xã hội hiện đại thì ngược lại. Thương nghiệp TBCN ra đời theo 3 cách: (1) Thương
nhân trực tiếp trở thành nhà công nghiệp, điều đó diễn ra trong ngành thủ công nghiệp
dựa trên thương nghiệp, đặc biệt trong ngành sản xuất xa xỉ phẩm. (2) Thương nhân biến
các tiểu chủ thành những người trung gian của mình. (3) Nhà công nghiệp trở thành
thương nhân trực tiếp.
21.Lợi tức tỷ suất lợi tức TBCN gì? Tại sao lợi tức TBCN một phần lợi
nhuận bình quân. Lợi tức TBCN khác với lợi tức trước TBCN như thế nào?.
- Lợi tức TBCN là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản hoạt động (đi vay) phải
trả cho nhà nhà tư bản cho vay trong một thời gian nhất định. Nhà tư bản đi vay có thể
là tư bản công nghiệp hay bản thương nghiệp. Sự biến đổi của lợi tức tỷ lệ nghịch
với lợi nhuận bình quân.
Lợi tức TBCN thấp thường tương ứng với thời kỳ hưng thịnh hoặc thời kỳ lợi
nhuận siêu ngạch; lợi tức cao tương ứng với thời kỳ quá độ từ hưng thịnh đến giai
đoạn chu kỳ tiếp theo sau của nó, sau hết mức tối đa của lợi tức đạt tới việc tối đa
tương ứng với giai đoạn khủng hoảng. Mặt khác, lợi tức thấp lại trùng với trạng thái
đình trệ của kinh doanh.
- Tỷ suất lợi tức tỷ lệ % giữa tổng số lợi tức số bản tiền tệ cho vay (tính theo
tháng, quý, năm…) ký hiệu là z’. Tỷ suất lợi tức cao nhất trong thời kỳ khủng hoảng.
- Lợi tức phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quân thì nhà tư bản với vay vốn để sản xuất kinh
doanh. Nếu lợi tức lớn hơn lợi nhuận bình quân thì nhà tư bản đi vay sẽ không thể vay
do mức lợi tức cao hơn lợi nhuận bình quân. Mác viết:sao thì cũng phải coi tỷ
suất lợi nhuận trung bình là giới hạn tối đa cuối cùng của lợi tức”.
- Lợi tức TBCN thúc đẩy sản xuất kinh doanh do tỷ suất lợi tức phải thấp hơn tỷ suất
lợi nhuận bình quân. Còn lợi tức trước TBCN chủ yếu cho vay nặng lãi, mức tỷ suất
lợi tức cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân từ đó triệt tiêu sản xuất phát triển. Nên chủ
ngân hàng được trọng vọng còn những kẻ cho vay nặng lãi bị nguyền rủa.
22.Địa bản chủ nghĩa gì? Địa bản chủ nghĩa gồm những loại nào.
Nguyên nhân hình thành địa tô tuyệt đối và địa tô chênh lệch. Nguồn gốc của địa
tô TBCN.
-Địa TBCN phần tiền thuê đất đai, hầm mỏ…mà nhà bản phải trả cho địa
chủ.
-Địa bản chủ nghĩa nhiều loại: (1) Địa ruộng đất TBCN. (2) Địa hầm
mỏ. (3). Địa tô xây dựng.
- Địa tô ruộng đất TBCN bao gồm: địa tô tuyệt đối và địa tô chênh lệch.
+ : kết quả của hiệu suất khác nhau giữa các bản ngang nhauĐịa tô chênh lệch
đầu vào ruộng đất nhưng độ phì nhiêu khác nhau. sự chênh lệch kết quả
giữa các ruộng đất từ loại đất xấu nhất đến loại đất tốt nhất.
+ địa tô mà nhà tư bản kinh doanh đất đai phải trả cho địa chủĐịa tô tuyệt đối (r):
dù kinh doanh trên ruộng đất nào. Nguyên nhân hình thành địa tuyệt đốido độc
quyền hữu ruộng đất. Độc quyền hữu ruộng đất làm cho giá cả nông phẩm cao
hơn giá cả sản xuất. Chênh lệch giữa giá cả nông phẩm với giá cả sản xuất chính
địa tuyệt đối. Do đó, kinh doanh trên ruộng đất xấu nhất, nhà bản vẫn thu
được địa tô để trả cho địa chủ.
-Nguồn gốc của địa TBCN: phần lợi nhuận siêu ngạch nhà bản kinh
doanh ruộng đất, hầm mỏ…phải trả cho địa chủ. Địa do lao động công nhân sáng
tạo ra.
23.So sánh giữa địa tô tư bản chủ nghĩa và địa tô trước tư bản chủ nghĩa.
Địa tô trước TBCN Địa tô TBCN
- Phản ánh quan hệ sản xuất giữa 2 giai
cấp: địa chủ và lĩnh canh (nông nô)
-Phản ánh quan hệ sản xuất 3 giai cấp: địa
chủ, lĩnh canh (nhà bản kinh doanh
nông nghiệp, hầm mỏ…) giai cấp công
nhân.
- Tín dụng TBCN chưa phát triển, chủ
yếu cho vay nặng lãi, sản xuất nhỏ, manh
- Tín dụng TBCN phát triển, lợi tức thấp
hơn lợi nhuận bình quân thúc đẩy tích tụ,
mún. tập trung sản xuất nông nghiệp quy mô lớn
-Địa toàn bộ phần giá trị thặng
được tạo ra người lĩnh canh (nông
nô) phải trả cho chủ đất. (Địa hình
thái của giá trị thặng trong nông
nghiệp).
- Địa tô TBCN là một phần của của toàn bộ
giá trị thặng sau khi đã khấu trừ lợi
nhuận bình quân. (Địa TBCN chỉ 1
chi nhánh của giá trị thặng dư)
- Tồn tại với nhiều hình thức: địa lao
dịch – địa tô sản phẩm – địa tô tiền tệ.
- Tồn tại chủ yếu dưới hình thái địa tiền
tệ.
- Giá cả nông phẩm thấp hơn. - Giá cả nông phẩm cao hơn.
24. Tại sao luận giá trị thặng của Karl Marx sở của cách mạng
sản
Nghiên cứu luận giá trị thặng dư, Karl Marx chỉ ra rằng: nguồn gốc của giá trị
thặng dư của hội TBCN do giai cấp công nhân làm thuê tạo ra nhưng giai cấpsản
lại chiếm đoạt nó, việc khai thác thời gian lao động thặng sự bóc lột sức lao động.
Đây chính là sự bất công trong xã hội.
Giai cấp sư sản giai cấp những nhà bản, những người sở hữu TLSX hội sử
dụng lao động làm thuê. Giai cấp vô sản là giai cấp những người công nhân làm thuê, vì
mất các tư liệu sản xuất của bản thân nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống.
Giai cấp tư sản lật đổ chế độ phong kiến thông qua cuộc cách mạng dân chủ tư sản.
Giai cấpsản cũng làm phá sản tầng lớp tiểusản thông qua cạnh tranh trong thời kỳ
đại công nghiệp.
Tầng lớp quý tộc cũng muốn lật đổ giai cấp tư sản để ra đời cái gọi chủ nghĩa
hội phong kiến. “Đó một mớ hỗn độn những lời ai oán những lời mỉa mai, âm
của dĩ vãng và tiếng đe dọa của tương lai. Tuy đôi khi lời công kích chua chát sâu cay và
hóm hỉnh của nó đập trúng tim gan của giai cấp tư sản, những việc của nó hoàn toàn bất
lực không thể hiểu được tiến trình của lịch sử hiện đại, luôn luôn làm người ta cảm thấy
buồn cười [C. Mác Ph. Ăng ghen, Tuyên ngôn Đảng cộng sản, trang 115, NXB
Chính trị quốc gia sự thật, 2018].

Preview text:

CÂU HỎI VÀ GỢI Ý TRẢ LỜI CHƯƠNG 3
MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC- LÊNIN
1. Phân tích đặc trưng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Sản xuất hàng hóa ra đời từ rất lâu nhưng phải đến giai đoạn phát triển của CNTB,
sản xuất hàng hóa mới trở thành thống trị và thúc đẩy xã hội loài người phát triển vượt
trội. Như vậy, phương thức sản xuất TBCN lấy sản xuất hàng hóa làm nền tảng. Nhưng
không phải sản xuất hàng hóa là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sản xuất hàng
hóa trở thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa khi thỏa mãn hai điều kiện:
- Sản phẩm với tư cách là hàng hóa và hàng hóa với tư cách là sản phẩm của tư bản.
- Sản xuất ra giá trị thặng dư là mục đích trực tiếp và là động cơ quyết định của việc sản xuất.
Từ 2 điều trên sẽ dẫn đến: tư liệu sản xuất giờ đây dưới hình thái tư bản và lao động
nói chung dưới hình thái lao động làm thuê. Do đó tư liệu sản xuất và sức lao động trở
thành hai nhân tố cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
2. Nguồn gốc, các hình thức biểu hiện và mục đích nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư của Karl Marx.
-Nguồn gốc GTTD: có sự tranh luận giữa các trường phái 2 vấn đề:
+ Vấn đề thứ nhất: giá trị thặng dư được tạo ra từ sản xuất hay lưu thông (chủ nghĩa
trọng thương, chủ nghĩa trọng nông, trường phái tư sản cổ điển).
+ Vấn đề thứ 2: yếu tố nào tạo ra giá trị thặng dư: nhà tư bản, lao động làm thuê, máy
móc thiết bị, khoa học kỹ thuật, vốn nhà tư bản bỏ ra…
Karl Marx kết luận: giá trị thặng dư TBCN được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất
nhưng phải có lưu thông thì giá trị thặng dư mới thực hiện được. K. Marx cũng chỉ ra
rằng, lao động làm thuê của công nhân là nguồn gốc duy nhất tạo ra giá trị thặng dư TBCN.

-Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư TBCN: lợi nhuận, lợi tức, địa tô.
- Mục đích nghiên cứu giá trị thặng dư TBCN:
+ Giai cấp công nhân là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư nhưng nhà tư bản là người
hưởng thành quả đó do họ chiếm hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, đó là sự bất công.
+ Giai cấp công nhân phải liên kết lại, tổ chức chính đảng của mình – Đảng cộng
sản để lật đổ giai cấp tư sản, đưa xã hội tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
3. Phân tích tư bản là gì và mâu thuẫn công thức chung của tư bản.
-Tư bản là sự vận động của giá trị nhằm mang lại giá trị thặng dư. Sự vận động
này theo công thức (T-H-T’, với T’ = T + T).
Giá trị ở đây là hàng hóa, giá trị ở đây là tiền, nhưng hàng hóa (H) và tiền (T) ở đây
nhằm mang lại giá trị thặng dư (T). Mác nói :
rằng “Nếu không mang hình thái hàng
hóa, tiền không thể trở thành tư bản được”. [Tư bản, tập thứ nhất, quyển 1, phần 1,
trang 202, NXB Sự thật, Hà Nội, 1984].
Như vậy, hàng hóa (H), tiền (T) có chức năng sinh ta giá trị thặng dư. H, T làm chức
năng này gọi là tư bản.
-Công thức chung của tư bản: T-H-T’ (với T’=T+T).
Các nhà tư bản bất cứ ngành nghề, lĩnh vực nào đều vận động chung công thức (T-
H-T’), bắt đầu bằng số tiền bỏ ra, sau đó mục đích là T’ (T’=T+T). K. Marx gọi đó là
công thức chung của tư bản.
-Mâu thuẫn công thức chung: tranh cãi về nguồn gốc T là mâu thuẫn công thức chung của tư bản.
+ Trường phái Trọng thương cho rằng lưu thông tạo ra T.
+ Trường phái Trọng nông cho rằng chỉ có sản xuất nông nghiệp mới tạo ra T.
+ Trường phái tư sản cổ điển cho rằng T tạo ra trong lĩnh vực sản xuất.
+ Karl Marx: T tạo ra trong lĩnh vực sản xuất nhưng cần phải có lưu thông mới thực hiện được.
4. Phân tích điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa. Tại sao hàng hóa sức lao
động lại đặc biệt?
-Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ thể chất và tinh thần tồn tại trong
một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi

sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [Tư bản, tập thứ nhất, quyển 1, phần 1, trang
218, NXB Sự thật, Hà Nội, 1984].
Năng lực lao động chưa phải là lao động, năng lực lao động chỉ mới là khả năng lao động mà thôi.
- Điều kiện sức lao động trở thành hàng hóa:
+ Người lao động phải được tự do: Nhà tư bản (chủ tiền) tìm trên thị trường mua hàng
hóa sức lao động. Người sở hữu sức lao động (người lao động) muốn bán phải chi phối
được sức lao động của mình nên phải là người tự do. Thế kỷ 19 (thời Karl Marx), nô lệ là
mặt hàng mua bán nhộn nhịp trên thế giới, cho nên người lao động phải được tự do mới
có quyền bán sức lao động của mình cho nhà tư bản.
+ Người lao động bị buộc phải tự nguyện bán sức lao động: do họ không có gì để
sống ngoài bán sức lao động. Muốn sống họ buộc phải tự nguyện. Buộc là không có gì để
sống phải bán, tự nguyện vì họ là người tự do nên bán trên tinh thần tự nguyện, không có
yếu tố bên ngoài ép buộc.
- Sức lao động là hàng hóa đặc biệt, bởi vì:
+ Hàng hóa người tồn tại trong cơ thể con người, không nhìn thấy được. Hàng hóa này
thể hiện khi bước ra khỏi quá trình lao động với tư cách là sản phẩm.
+ Hàng hóa này chỉ bán trong một thời gian nhất định trong ngày mà thôi.
+ Khi bán sức lao động, người bán vẫn không từ bỏ quyền sở hữu sức lao động ấy
+ Hàng hóa có giá trị tinh thần, lịch sử.
5. Tại sao nghiên cứu hàng hóa sức lao động là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn
công thức chung của tư bản.

Mâu thuẫn công thức chung của tư bản là tranh luận T tạo ra trong sản xuất hay
lưu thông. Vì công thức T-H-T’ nhầm tưởng chỉ phản ánh trong lưu thông.
Karl Marx kết luận rằng, nguồn gốc giá trị thặng dư được tạo ra trong quá trình sản
xuất nhưng cần phải có lưu thông thì giá trị thặng dư mới thực hiện được. Công thức
chung của tư bản ẩn chứa cả sản xuất và lưu thông, gồm 3 giai đoạn: lưu thông mua hàng,
sản xuất và lưu thông bán hàng. TLSX
T - H ……SX…… H’ – T’ SLĐ
Lưu thông mua hàng sản xuất lưu thông bán hàng
Marx chỉ ra rằng: nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động công nhân làm thuê
tạo ra trong lĩnh vực sản xuất. Và phải có lưu thông thì mới thực hiện được sản xuất giá
trị thặng dư. Nghiên cứu hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt là khi sử dụng nó,
nó tạo ra một giá trị mới, lớn hơn giá trị bản thân nó. Đây là nguồn gốc của giá trị thặng dư.
Vì vậy, nghiên cứu hàng hóa sức lao động là chìa khóa giải quyết mâu thuẫn
công thức chung của tư bản.
6. Giải thích: “Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể
xuất hiện ở bên ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời
không phải trong lưu thông
[Tư bản, tập thứ nhất, quyển 1, phần 1, trang 218, NXB Sự thật, Hà Nội, 1984].
Tư bản xuất hiện trong sản xuất nhưng phải có lưu thông mới thực hiện được. Mác
giải thích: “Toàn bộ quá trình ấy, việc chuyển hóa tiền của hắn thành tư bản, diễn ra
trong lĩnh vực lưu thông và cũng không diễn ra trong lĩnh vực đó. Nhờ lưu thông – vì quá
trình đó được quyết định bởi việc mua sức lao động trên thị trường hàng hóa. Không
diễn ra trong lưu thông – vì lưu thông chỉ chuẩn bị cho quá trình làm tăng giá trị, nhưng
việc tăng giá trị thì lại diễn ra trong quá trình sản xuất
” [Tư bản, tập thứ nhất, quyển 1,
phần 1, trang 252, NXB Sự thật, Hà Nội, 1984].
7. Nhà tư bản sử dụng hàng hóa sức lao động tạo ra giá trị mới và thuộc về nhà tư
bản. Điều này có tạo ra sự bất công cho người lao động hay không?

Nhà tư bản và người chủ sức lao động thực hiện mua bán hàng hóa sức lao động với
thỏa thuận về thời gian làm việc, điều kiện làm việc và mức tiền công... Hai bên làm đúng
những thỏa thuận như đã cam kết. Nhà tư bản thu được giá trị thặng dư là hợp lý và
không có bất công gì với người bán sức lao động. Marx viết: “…giá trị do việc tiêu dùng
sức lao động trong một ngày tạo ra sẽ gấp đôi giá trị hằng ngày của bản thân sức lao

động đó, - tình hình ấy chỉ là một điều may mắn đặc biệt cho người mua, chứ không phải
một sự bất công gì đối với người bán
[Tư bản, tập thứ nhất, quyển 1, phần 1, trang 251,
NXB Sự thật, Hà Nội, 1984].
8. Phân tích tại sao nhà tư bản mua hàng hóa sức lao động đúng giá trị (nguyên tắc
ngang giá), và không có sự bất công cho người bán mà vẫn được cho là bóc lột sức lao động làm thuê?

Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư phải dựa trên nguyên tắc mua bán, trao
đổi ngang giá. Marx viết: “Tất cả những điều kiện của bài tính được tôn trọng, và những
quy luật của trao đổi hàng hóa không hề vi phạm, vật ngang giá được trao đổi lấy vật
ngang giá. Với tư cách là người mua, nhà tư bản đã mua từng hàng hóa – bông, cọc sợi,
sức lao động – theo đúng giá trị của nó”
[Tư bản, tập thứ nhất, quyển 1, phần 1, trang
251, NXB Sự thật, Hà Nội, 1984]. Mặt khác, nhà tư bản sử dụng hàng hóa sức lao động
tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó và thuộc về nhà tư bản, điều này không bất
công gì cho người bán – người lao động, nhưng điều kiện làm việc gọi là hợp pháp đến
giữa thế kỷ 19 đồng nghĩa với sự bóc lột sức lao động.
- Trẻ em 9 tuổi đã vào công xưởng làm việc thay vì đến trường.
- Ngày lao động: Luật công xưởng nước Anh 1833 (15h/ngày), 1847-1848 (12h/ngày),
1850 (10h/ngày). Đến 1886 mới áp dụng ngày làm việc 8h đầu tiên tại Hoa Kỳ.
- Tiền công rẻ mạt, giai cấp công nhân trở thành giai cấp vô sản.
Cho nên: việc sản xuất giá trị thặng dư TBCN là sự bóc lột sức lao động giai cấp công nhân.
9. Thế nào là nhà tư bản. Có nên khuyến khích các nhà tư bản phát triển ở Việt Nam hiện nay? -Nhà tư bản là:
+ Người chủ tiền công thức T-H-T’. Người chủ tiền khác với người dùng tiền của
mình. Tiền trong công thức T-H-T’ có thể là tiền huy động cổ phần, tiền vay hoặc bất cứ
khoản nào mà nhà tư bản làm chủ công thức đó.
+ Có quy mô đủ lớn để không trực tiếp vào quá trình sản xuất. Nhà tư bản trở thành
kẻ tập hợp, chỉ huy lao động, tức là chỉ huy sức lao động đang hoạt động để sản xuất giá trị thặng dư.
Khi người chủ tiền công thức T-H-T’ nhưng quy mô chưa đủ lớn thì để không tham
gia trực tiếp vào quá trình sản xuất gọi là tiểu tư sản.
- Có nên khuyến khích các nhà tư bản phát triển ở Việt Nam hiện nay hay không?
+ Trước đổi mới (12/1986), Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập
trung bao cấp, xóa bỏ triệt để sự tồn tại của các nhà tư bản, tiểu chủ. Việt Nam rơi vào
khủng hoảng kinh tế xã hội do quan hệ sản xuất không thích hợp với tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất.
+ Từ Đại hội VI (12/1986): Việt Nam tiến hành đổi mới đất nước, phát triển kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần. Đến đại hội IX (2001), Đảng đã xác định mô hình kinh tế
Việt Nam trong thời kỳ quá độ là Kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, thành phần kinh tế tư nhân được khuyến
khích phát triển không giới hạn.
Đặc biệt, Nghị quyết 11-NQ/TW ngày 03/06/2017, Đảng đã xác định Phát triển kinh
tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Kết luận: từ khi “đổi mới”, Việt Nam từ chỗ xóa bỏ, cấm đoán các nhà tư bản, tiểu
tư sản tồn tại thành thừa nhận, phát triển một số ngành, một số lĩnh vực nhất định. Đến
nay, Đảng đã xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Các nhà tư bản được khuyến khích phát triển không hạn chế
miễn là tuân thủ chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước Việt Nam. 10.
Tại sao nói tiền công bị nhầm tưởng là giá cả của lao động. Người lao động
cần phải làm gì để cải thiện tiền công?
- Phân biệt người lao động, sức lao động và lao động.
+ Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ thể chất và tinh thần tồn tại trong
một cơ thể, trong một con người đang sống. Sức lao động tồn tại ở trạng thái loãng trong người lao động.
+ Sức lao động tồn tại trong người lao động.
+ Lao động là tiêu dùng sức lao động
+ Người lao động vận dụng sức lao động để sản xuất ra sản phẩm có ích gọi là lao động.
- Tại sao nói tiền công bị nhầm tưởng là giá cả của lao động.
Nhà tư bản (chủ tiền) đi mua hàng hóa sức lao động trên thị trường, nhưng họ không
gặp sức lao động mà họ gặp người lao động (chủ sức lao động). Để thực hiện việc mua
bán này, nhà tư bản bắt người lao động phải lao động trong thời gian đã thỏa thuận, nghĩa
là bắt người lao động phải tiêu dùng sức lao động hay người lao động phải lao động. Vì
vậy, người ta nhầm tưởng tiền công là giá cả của lao động.
Marx viết: “Tiền công xóa bỏ mọi vết tích phân chia ngày lao động thành lao động
cần thiết và lao động thặng dư, thành lao động được trả công và lao động không công.
Toàn bộ lao động thể hiện ra như là lao động được trả công
” [Tư bản, tập thứ nhất,
quyển 1, phần 2, trang 45, NXB Sự thật, Hà Nội, 1984].
- Người lao động cần phải làm gì để cải thiện tiền công.
Tiền công là giá cả của hàng hóa sức lao động. Giá cả hàng hóa sức lao động phụ
thuộc vào 2 yếu tố: (1). Giá trị hàng hóa sức lao động và (2) Cung cầu hàng hóa sức lao động trên thị trường.
Cung cầu có xu hướng cân bằng nhau cho nên giá cả hàng hóa sức lao động phản
ánh giá trị hàng hóa sức lao động.
Để nâng cao được giá trị hàng hóa sức lao động của mình, người lao động phải nâng
cao giá trị sử dụng. Một số biện pháp nâng cao giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động: (1)
Kiến thức. (2) Kỹ năng. (3) Thái độ.
11. Phân tích các cặp tư bản bất biến, tư bản khả biến; tư bản cố định, tư bản lưu
động. Mối quan hệ giữa các cặp tư bản đó và ý nghĩa rút ra.
-Tư bản là sự vận động của giá trị nhằm mang lại giá trị thặng dư. Giá trị ở
đây là hàng (H), giá trị ở đây là tiền (T) vận động theo công thức (T-H-T’). Khi nhắc
tới các cặp tư bản: tư bản bất biến và tư bản khả biến; tư bản cố định và tư bản lưu động
thì tư bản ở hình thái hàng hóa (H).
Tư bản bất biến (C): là bộ phận biến thành tư liệu sản xuất, tức là thành nguyên liệu,
vật liệu phụ và tư liệu lao động, không thay đổi đại lượng giá trị của nó. Tư bản bất biến
tuy không thay đổi về giá trị nhưng lại thay đổi về giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng cũ biến
đi để rồi lại xuất hiện dưới một hình thái giá trị sử dụng mới.
Tư bản khả biến (V): bộ phận tư bản biến thành sức lao động lại thay đổi giá trị của
nó trong quá trình sản xuất. Nó tái sản xuất ra vật ngang giá với bản thân nó và ngoài ra
còn sản xuất ra một số dư, tức là giá trị thặng dư.
Tư bản cố định (C1): là bộ phận tư bản tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà
xưởng…về hiện vật tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của nó chuyển
dần vào sản phẩm mới thông qua khấu hao.
Tư bản lưu động (C2): là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng nguyên liệu,
nhiên liệu, vật liệu phụ, sức lao động…giá trị của nó được chuyển toàn bộ vào sản phẩm mới.
- Mối quan hệ giữa các cặp tư bản: T – H – T’
Tư bản bất biến (C=C1+C2) Tư bản khả biến (V) Tư bản cố định (C1)
Tư bản lưu động (C2 + V)
-Ý nghĩa của việc nghiên cứu:
+ Phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến: nhằm tìm ra nguồn
gốc của giá trị thặng dư. Tư bản khả biến (v) là nguồn gốc duy nhất của giá trị thặng dư.
Vai trò của tư bản bất biến là tiêu dùng sức lao động để tạo ra giá trị thặng dư. “Tư bản
bất biến chỉ tồn tại để thu hút lao động, và với mỗi giọt lao động thì thu hút được một
lượng giá trị thặng dư tương ứng
” [Tư bản, tập thứ nhất, quyển 1, phần 1, trang 327,
NXB Sự thật, Hà Nội, 1984].
+ Phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động: phục vụ cho việc
quản lý trong sản xuất kinh doanh. Tư bản cố định bị hao mòn vô hình và hao mòn hữu
hình. Khoa học công nghệ ngày càng phát triển, máy móc ra đời với chất lượng, năng
suất ngày càng cao nhưng giá lại ngày càng rẻ. Việc lựa chọn phương pháp khấu hao phù
hợp sẽ giúp nhà tư bản tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
12. Tỷ suất giá trị thặng dư và ý nghĩa rút ra?
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến
tương ứng để sản xuất ra giá trị thặng dư đó, ký hiệu là m’. Công thức tính tỷ suất giá trị thặng dư là:
Ý nghĩa: tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh chính xác mức độ tư bản bóc lột sức lao
động, hay mức độ nhà tư bản bóc lột người công nhân.
Khối lượng giá trị thặng dư: là tích số giữa giá trị thặng dư và tổng tư bản khả biến
đã được sử dụng. Ký hiệu M. M V Hoặc M = m’ x V
v: giá trị tư bản khả biến cho 1 giá trị sức lao động
V: Tổng tư bản khả biến.
13. Tuần hoàn, chu chuyển tư bản là gì?. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tuần
hoàn và chu chuyển tư bản?
-Tuần hoàn tư bản: là sự vận động của tư bản trải qua ba giai đoạn, lần lượt mang
ba hình thái khác nhau, thực hiện ba chức năm khác nhau rồi quay lại với hình thái ban
đầu có kèm theo giá trị thặng dư. TLSX
T - H ……SX…… H’ – T’ SLĐ GĐ1: Lưu thông GĐ2: Sản xuất GĐ3: lưu thông Tư bản tiền tệ Tư bản sản xuất Tư bản hàng hóa
-Chu chuyển tư bản: là quá trình tuần hòa tư bản lặp đi lặp lại không ngừng.
+ Thời gian chu chuyển = thời gian sản xuất + Thời gian lưu thông.
+ Tốc độ chu chuyển: là số vòng (lần) chu chuyển tư bản trong 1 năm. CH n = ch n: số vòng chu chuyển CH: thời gian trong năm
ch: thời gian cho 1 vòng chu chuyển.
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu tuần hoàn và chu chuyển tư bản.
Tuần hoàn tư bản và chu chuyển tư bản là 2 mặt chất và lượng trong sự vận động
của tư bản. Tuần hoàn tư bản nghiên cứu mặt chất, chu chuyển tư bản nghiên cứu mặt
lượng trong sự vận động của tư bản.
14. Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư. Tại sao giá trị thặng dư siêu ngạch
là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. Cho ví dụ về giá trị thặng
dư siêu ngạch? Ý nghĩa của việc nghiên cứu.

- Có hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư: phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: là phương pháp được thực
hiện trên cơ sở kéo dài tuyệt đối ngày lao động của công nhân trong điều kiện thời gian
lao động cần thiết không đổi.
Ngày lao động trong lịch sử là đơn vị không cố định. Ngày lao động theo Luật công
xưởng nước Anh (1833) là 15h (từ 5h30 – 20h30). Giai đoạn 1844-1847 ngày lao động là
12h. Từ 01/1848 ngày lao động còn 11h. Năm 1886, ngày lao động còn 8h tại Hoa Kỳ.
Như vậy trong thời gian đầu, luật pháp quy định ngày lao động quá dài để tìm cách
thu được nhiều giá trị thặng dư nhất có thể. Khi phong trào công nhân đấu tranh thì ngày
lao động mới rút xuống dần dần và cố định còn 8h như ngày nay.
Thời gian lao động cần thiết (6h) Thời gian lao động thặng dư (6h) Ngày lao động 12h
+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: được thực hiện bằng cách rút
ngắn thời gian cần thiết lại để kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng dư trên cơ sở
tăng năng suất lao động xã hội trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi.
Thời gian lao động cần thiết (6h) Thời gian LĐTD (2h) Ngày 8h
Thời gian lao động cần thiết (4h) Thời gian LĐTD (4h) Ngày 8h
Giá trị thặng dư siêu ngạch: là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao
động cá biệt, làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá thị trường của nó. Marx
gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối,
cùng dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, tuy nhiên có một số điểm khác biệt.
Giá trị thặng dư siêu ngạch
Giá trị thặng dư tương đối
Do tăng NSLĐ cá biệt, do khai phá 1 Do tăng năng suất lao động xã hội ngành kinh doanh mới
Nhà tư bản cá biệt thu được
Toàn bộ giai cấp tư bản thu được
Quan hệ nhà tư bản với công nhân
Quan hệ giai cấp tư bản với giai cấp công nhân
- Ví dụ về giá trị thặng dư siêu ngạch: Facebook
+ Khai phá 1 ngành kinh doanh mới: Facebook ra đời 2004. Tháng 5/2005 gây quỹ
đầu tư được 13,7 triệu USD. Cuối năm 2010 có hơn 1 tỷ lượt truy cập mỗi tháng và vượt
mốc 2 tỷ người dùng 5 năm sau đó. Đến 2019 có 2,45 tỷ người dùng hàng tháng. Tháng
5/2012 phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng thu được 5 tỷ USD. Đến cuối năm
2019, vốn hóa của Facebook lên đến 587 tỷ USD.
+ Lợi nhuận của facebook (2018) là 22,111 tỷ USD.
+ Mức lương trung bình: facebook trả trung bình cho nhân viên hơn 200.000 USD/người/năm.
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu:
+ Luật lao động các quốc gia có xu hướng giảm thời gian làm việc (hiện nay có quốc
gia chỉ còn 35 giờ/tuần). Nhà tư bản muốn thu được nhiều giá trị thặng dư thì phải tìm
cách tăng năng suất lao động. Năng suất lao động tăng dẫn đến giá cả hàng hóa giảm,
người tiêu dùng được lợi. Nhà nước cần có những chính sách khuyến khích, ưu đãi các
doanh nghiệp trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo.
+ Khuyến khích phát triển các ngành kinh doanh mới vừa đáp ứng nhu cầu xã hội,
vừa đạt được giá trị thặng dư siêu ngạch.
15. Tích lũy tư bản là gì? Phân biệt giữa tích tụ và tập trung tư bản.
-Tích lũy tư bản: là sự chuyển hóa một phần giá trị thặng dư thành tư bản (tư bản phụ
thêm) – hay tư bản đẻ ra tư bản.
-Tích lũy tư bản bao gồm: tích tụ và tập trung tư bản.
+ Tích tụ tư bản: là tích lũy tư bản làm tăng quy mô tư bản cá biệt.
+ Tập trung tư bản: là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất
những tư bản cá biệt có sẵn thành một tư bản cá biệt lớn hơn.
-So sánh tích tụ và tập trung tư bản. Tích tụ tư bản Tập trung tư bản
Giống nhau: cùng làm tăng quy mô của tư bản
Khác nhau: giữa tích tụ tư bản và tập trung tư bản:
Làm tăng quy mô của tư bản cá biệt Chỉ làm tăng quy mô của tư bản cá biệt
đồng thời làm tăng quy mô tư bản xã hội (thay đổi sự sắp xếp về lượng của các bộ

phận cấu thành của tư bản xã hội)
Thông qua quá trình tái sản xuất, kinh Thông qua cạnh tranh, thông qua góp doanh mở rộng.
vốn, thông qua sáp nhập…
Tư bản lớn lên chậm
Tư bản lớn lên nhanh
Phục vụ mục đích ra đời các ngành có
lượng tư bản lớn hoặc các công ty cổ phần
16. Cấu tạo hữu cơ tư bản là gì? Sự khác nhau giữa cấu tạo kỹ thuật và cấu tạo giá
trị của tư bản. Tại sao cấu tạo hữu cơ ngày càng tăng nhưng không xảy ra thất nghiệp tràn lan.
- Để hiểu về cấu tạo hữu cơ của tư bản, trước tiên tìm hiểu về cấu tạo kỹ thuật
và cấu tạo giá trị của tư bản.
+ Cấu tạo kỹ thuật của tư bản (c/v) là tỷ lệ được tính bằng số lượng nhân công đảm
nhận khối lượng máy móc.
+ Cấu tạo giá trị của tư bản (c/v) là tỷ lệ được tính bằng tiền (tiền mua tư liệu sản
xuất và tiền trả lương cho nhân công)
+ Cấu tạo hữu cơ của tư bản (c/v) là cấu tạo giá trị của tư bản, do cấu tạo kỹ thuật
quyết định và phản ánh sự thay đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản.
-Sự khác nhau giữa cấu tạo giá trị và cấu tạo kỹ thuật của tư bản: cùng cấu tạo kỹ
thuật nhưng cấu tạo giá trị khác nhau và ngược lại.
- Tại sao cấu tạo hữu cơ ngày càng tăng nhưng không xảy ra thất nghiệp tràn lan.
Karl Marx phân tích chủ nghĩa tư bản giai đoạn đại công nghiệp giữa thế kỷ 19.
Thời kỳ này chỉ một vài quốc gia công nghiệp hóa dưới tác động của cuộc CMCN lần thứ
nhất. Marx đã chỉ ra xu hướng vận động vận động ngày càng tăng trong cấu tạo hữu cơ của tư bản.
CMCN lần thứ 2 bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, với sự ra đời của điện và động cơ đốt
trong, các ngành sản xuất được mở rộng gấp nhiều lần và lao động thu hút vào những
ngành mới, vấn đề thất nghiệp đã được giải quyết ổn.
CMCN lần 3 từ cuối thế kỷ với sự phát triển công nghệ thông tin và internet, sản
xuất đi vào tự động hóa, cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng tăng. Xã hội bước vào giai
đoạn hậu công nghiệp, ngành dịch vụ phát triển và chiếm tỷ trọng cao nhất trong nền kinh
tế. Lao động và việc làm dịch chuyển từ ngành công nghiệp sang ngành dịch vụ, vấn đề
thất nghiệp vẫn giải quyết được.
CMCN lần 4 bắt đầu diễn ra từ đầu thế kỷ 21, hứa hẹn quá trình tự động hóa sẽ đi
vào ngành dịch vụ, thay thế lao động, và đây là một thách thức hiện nay ở các quốc gia.
17. Chi phí sản xuất TBCN khác chi phí thực tế xã hội như ra sao. Mối quan hệ
giữa T, m, p, z và r.
- Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa khác với chi phí thực tế xã hội ra sao:
Chi phí sản xuất TBCN (k) là chi phí mà nhà tư bản bỏ ra để sản xuất hàng hóa. Chi
phí sản xuất bao gồm chi phí mua tư liệu sản xuất (c) và mua sức lao động (v). (k=c+v).
Chi phí thực tế xã hội là chi phí lao động xã hội để sản xuất ra hàng hóa. Adam
Smith nói rằng hàng hóa là một lượng lao động nhất định được cất giữ lại để sử dụng khi
cần thiết vào một dịp khác.
Như vậy, chi phí thực tế gồm chi phí lao động quá khứ, tức là
lao động đã được vật hóa, tức là giá trị của tư liệu sản xuất (c) và lao động hiện tại (lao
động sống), tức là lao động tạo ra giá trị mới (v + m). Cho nên chi phí lao động là chi phí
thực tế xã hội, chi phí này tạo ra giá trị hàng hóa (c+v+m).
Chi phí sản xuất TBCN
Chi phí thực tế xã hội k = c+v G = c+v+m
Chi phí SX TBCN < giá trị hàng hóa
Chi phí thực tế = giá trị hàng hóa
Nhà tư bản chỉ bỏ chi phí SX ra, không v là nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư, nên
tham gia vào quá trình sản xuất GTTD, nhà đứng về mặt xã hội mà xét phải quan tâm
tư bản chỉ quan tâm bỏ bao nhiêu tư bản đến nguồn gốc sản sinh ra nó, tức là lao
(c+v) chứ không quan tâm hao phí hết bao động của người SX, từ đó có chính sách nhiêu lao động xã hội.
phân phối kết quả lao động hợp lý.
Chi phí sản xuất (k=c+v) là nguồn gốc sinh v là nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư. ra lợi nhuận.
- Mối quan hệ giữa T, m, p, z, r.
T – H – T’, T’ = T + T
T gọi là Giá trị thặng
Giá trị thặng dư (T m = p) Lợi nhuận bình
Độc quyền tư hữu ruộng
đất tạo ra lợi nhuận siêu
quân ( )
ngạch. Phần lợi nhuận siêu
ngạch này nhà tư bản phải

trả cho địa chủ dưới hình thức địa tô (r) Lợi nhuận công nghiệp Lợi nhuận thương nghiệp (
Lợi tức (z) là một phần lợi nhuận bình quân Lợi tức (z)
mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay
18. Tỷ suất lợi nhuận là gì?. Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận?
-Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận và toàn bộ giá trị tư bản ứng
trước (ký hiệu là p’).
Tỷ suất lợi nhuận được tính theo công thức:
Tỷ suất lợi nhuận phản ánh mức doanh lợi của nhà tư bản.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận.
+ Tỷ suất giá trị thặng dư. Tỷ suất giá trị thặng dư tác động cùng chiều với tỷ suất lợi nhuận.
+ Tốc độ chu chuyển của tư bản. Tốc độ chu chuyển của tư bản càng cao thì tỷ suất lợi nhuận càng tăng.
+ Tiết kiệm tư bản bất biến. Tiết kiệm tư bản bất biến làm tăng tỷ suất lợi nhuận.
19. Nguyên nhân hình thành lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất.
- Cạnh tranh giữa các ngành san bằng tỷ suất lợi nhuận cá biệt, hình thành tỷ suất lợi
nhuận bình quân. Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các ngành sản xuất
khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn, tức là nơi có tỷ suất lợi nhuận
cao hơn. Khi một ngành kinh doanh nào đó có tỷ suất lợi nhuận cao thì sẽ thu hút
nhiều tư bản đầu tư vào và những ngành kinh doanh có tỷ suất lợi nhuận thấp tư bản
có xu hướng dịch chuyển sang ngành khác. Sau một thời gian sẽ hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
- Tỷ suất lợi nhuận bình quân là tỷ số tính theo phần trăm giữa tổng giá trị thặng dư và
tổng tư bản xã hội đã đầu tư vào các ngành của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, ký hiệu là p’. x100 (%)
- Lợi nhuận bình quân là lợi nhuận thu được theo tỷ suất lợi nhuận bình quân, ký hiệu là p.
Nếu ký hiệu giá trị tư bản ứng trước là K thì lợi nhuận bình quân được tính: x k
- Cùng với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân thì giá trị
hàng hóa chuyển thành giá cả sản xuất. Giá cả sản xuất
20. Lợi nhuận thương nghiệp TBCN là gì? Nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp
TBCN. Sự khác nhau của lợi nhuận thương nghiệp TBCN với lợi nhuận thương nghiệp trước TBCN.
Lợi nhuận thương nghiệp TBCN là một phần lợi nhuận được sáng tạo ra trong sản
xuất do nhà tư bản công nghiệp nhượng lại cho tư bản thương nghiệp để tư bản thương
nghiệp thực hiện chức năng tiêu thụ hàng hóa cho nhà tư bản công nghiệp.
Nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư sáng tạo ra
trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp trả cho nhà tư bản thương nghiệp.
Sự khác nhau giữa lợi nhuận thương nghiệp TBCN và lợi nhuận thương nhân.
Tư bản thương nhân (tư bản thương nghiệp trước TBCN) là hình thức tồn tại lâu đời
nhất của tư bản. Tư bản thương nhân bị cột chặt vào lĩnh vực lưu thông vì chức năng của
nó chỉ làm “môi giới” cho việc trao đổi hàng hóa, nên sự tồn tại của nó chỉ cần có lưu
thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ. Sự phát triển của tư bản thương nhân độc lập với với
tư bản sản xuất và sự phát triển này tỷ lệ nghịch với sự phát triển chung của xã hội. Quy
luật của lợi nhuận thương nghiệp là mua rẻ bán đắt chứ không dựa trên nguyên tắc ngang
giá. Tư bản thương nhân chiếm hữu tuyệt đại bộ phận của giá trị thặng dư.
Tư bản thương nghiệp TBCN, (1) lưu thông chi phối được sản xuất nghĩa là quá
trình sản xuất hoàn toàn dựa trên lưu thông, còn lưu thông chỉ là một yếu tố, một giai
doạn quá độ của sản xuất và (2) quá trình sản xuất đã sáp nhập với lưu thông, lưu thông
chỉ là sự thực hiện sản phẩm đã được sản xuất ra với tư cách là hàng hóa. Ở đây, hình thái
tư bản do lưu thông trực tiếp sinh ra chỉ là một trong các hình thái tư bản trong quá trình
tái sản xuất của nó. Lợi nhuận thương nghiệp TBCN được tạo ra dựa trên nguyên tắc ngang giá.
Ở giai đoạn đầu của xã hội tư bản chủ nghĩa, thương nghiệp thống trị công nghiệp;
trong xã hội hiện đại thì ngược lại. Thương nghiệp TBCN ra đời theo 3 cách: (1) Thương
nhân trực tiếp trở thành nhà công nghiệp, điều đó diễn ra trong ngành thủ công nghiệp
dựa trên thương nghiệp, đặc biệt trong ngành sản xuất xa xỉ phẩm. (2) Thương nhân biến
các tiểu chủ thành những người trung gian của mình. (3) Nhà công nghiệp trở thành thương nhân trực tiếp.
21. Lợi tức và tỷ suất lợi tức TBCN là gì? Tại sao lợi tức TBCN là một phần lợi
nhuận bình quân. Lợi tức TBCN khác với lợi tức trước TBCN như thế nào?.
- Lợi tức TBCN là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản hoạt động (đi vay) phải
trả cho nhà nhà tư bản cho vay trong một thời gian nhất định. Nhà tư bản đi vay có thể
là tư bản công nghiệp hay tư bản thương nghiệp. Sự biến đổi của lợi tức tỷ lệ nghịch
với lợi nhuận bình quân.
Lợi tức TBCN thấp thường tương ứng với thời kỳ hưng thịnh hoặc là thời kỳ lợi
nhuận siêu ngạch; lợi tức cao tương ứng với thời kỳ quá độ từ hưng thịnh đến giai
đoạn chu kỳ tiếp theo sau của nó, và sau hết mức tối đa của lợi tức đạt tới việc tối đa
tương ứng với giai đoạn khủng hoảng. Mặt khác, lợi tức thấp lại trùng với trạng thái đình trệ của kinh doanh.
- Tỷ suất lợi tức là tỷ lệ % giữa tổng số lợi tức và số tư bản tiền tệ cho vay (tính theo
tháng, quý, năm…) ký hiệu là z’. Tỷ suất lợi tức cao nhất trong thời kỳ khủng hoảng.
- Lợi tức phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quân thì nhà tư bản với vay vốn để sản xuất kinh
doanh. Nếu lợi tức lớn hơn lợi nhuận bình quân thì nhà tư bản đi vay sẽ không thể vay
do mức lợi tức cao hơn lợi nhuận bình quân. Mác viết: “dù sao thì cũng phải coi tỷ
suất lợi nhuận trung bình là giới hạn tối đa cuối cùng của lợi tức
”.
- Lợi tức TBCN thúc đẩy sản xuất kinh doanh do tỷ suất lợi tức phải thấp hơn tỷ suất
lợi nhuận bình quân. Còn lợi tức trước TBCN chủ yếu cho vay nặng lãi, mức tỷ suất
lợi tức cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân từ đó triệt tiêu sản xuất phát triển. Nên chủ
ngân hàng được trọng vọng còn những kẻ cho vay nặng lãi bị nguyền rủa.
22. Địa tô tư bản chủ nghĩa là gì? Địa tô tư bản chủ nghĩa gồm những loại nào.
Nguyên nhân hình thành địa tô tuyệt đối và địa tô chênh lệch. Nguồn gốc của địa tô TBCN.
-Địa tô TBCN là phần tiền thuê đất đai, hầm mỏ…mà nhà tư bản phải trả cho địa chủ.
-Địa tô tư bản chủ nghĩa có nhiều loại: (1) Địa tô ruộng đất TBCN. (2) Địa tô hầm
mỏ. (3). Địa tô xây dựng.
- Địa tô ruộng đất TBCN bao gồm: địa tô tuyệt đối và địa tô chênh lệch.
+ Địa tô chênh lệch: là kết quả của hiệu suất khác nhau giữa các tư bản ngang nhau
đầu tư vào ruộng đất nhưng có độ phì nhiêu khác nhau. Nó là sự chênh lệch kết quả
giữa các ruộng đất từ loại đất xấu nhất đến loại đất tốt nhất.
+ Địa tô tuyệt đối (r): là địa tô mà nhà tư bản kinh doanh đất đai phải trả cho địa chủ
dù kinh doanh trên ruộng đất nào. Nguyên nhân hình thành địa tô tuyệt đối là do độc
quyền tư hữu ruộng đất. Độc quyền tư hữu ruộng đất làm cho giá cả nông phẩm cao
hơn giá cả sản xuất. Chênh lệch giữa giá cả nông phẩm với giá cả sản xuất chính là
địa tô tuyệt đối. Do đó, dù kinh doanh trên ruộng đất xấu nhất, nhà tư bản vẫn thu
được địa tô để trả cho địa chủ.
-Nguồn gốc của địa tô TBCN: nó là phần lợi nhuận siêu ngạch mà nhà tư bản kinh
doanh ruộng đất, hầm mỏ…phải trả cho địa chủ. Địa tô do lao động công nhân sáng tạo ra.
23. So sánh giữa địa tô tư bản chủ nghĩa và địa tô trước tư bản chủ nghĩa.
Địa tô trước TBCN Địa tô TBCN
- Phản ánh quan hệ sản xuất giữa 2 giai -Phản ánh quan hệ sản xuất 3 giai cấp: địa
cấp: địa chủ và lĩnh canh (nông nô)
chủ, lĩnh canh (nhà tư bản kinh doanh
nông nghiệp, hầm mỏ…) và giai cấp công nhân.
- Tín dụng TBCN chưa phát triển, chủ
- Tín dụng TBCN phát triển, lợi tức thấp
yếu cho vay nặng lãi, sản xuất nhỏ, manh hơn lợi nhuận bình quân thúc đẩy tích tụ, mún.
tập trung sản xuất nông nghiệp quy mô lớn
-Địa tô là toàn bộ phần giá trị thặng dư - Địa tô TBCN là một phần của của toàn bộ
được tạo ra mà người lĩnh canh (nông
giá trị thặng dư sau khi đã khấu trừ lợi
nô) phải trả cho chủ đất. (Địa tô là hình
nhuận bình quân. (Địa tô TBCN chỉ là 1
thái của giá trị thặng dư trong nông
chi nhánh của giá trị thặng dư) nghiệp).
- Tồn tại với nhiều hình thức: địa tô lao - Tồn tại chủ yếu dưới hình thái địa tô tiền
dịch – địa tô sản phẩm – địa tô tiền tệ. tệ.
- Giá cả nông phẩm thấp hơn.
- Giá cả nông phẩm cao hơn.
24. Tại sao lý luận giá trị thặng dư của Karl Marx là cơ sở của cách mạng vô sản
Nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư, Karl Marx chỉ ra rằng: nguồn gốc của giá trị
thặng dư của xã hội TBCN do giai cấp công nhân làm thuê tạo ra nhưng giai cấp tư sản
lại chiếm đoạt nó, việc khai thác thời gian lao động thặng dư là sự bóc lột sức lao động.
Đây chính là sự bất công trong xã hội.
Giai cấp sư sản là giai cấp những nhà tư bản, những người sở hữu TLSX xã hội sử
dụng lao động làm thuê. Giai cấp vô sản là giai cấp những người công nhân làm thuê, vì
mất các tư liệu sản xuất của bản thân nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống.
Giai cấp tư sản lật đổ chế độ phong kiến thông qua cuộc cách mạng dân chủ tư sản.
Giai cấp tư sản cũng làm phá sản tầng lớp tiểu tư sản thông qua cạnh tranh trong thời kỳ đại công nghiệp.
Tầng lớp quý tộc cũng muốn lật đổ giai cấp tư sản để ra đời cái gọi là chủ nghĩa xã
hội phong kiến. “Đó là một mớ hỗn độn những lời ai oán và những lời mỉa mai, dư âm
của dĩ vãng và tiếng đe dọa của tương lai. Tuy đôi khi lời công kích chua chát sâu cay và
hóm hỉnh của nó đập trúng tim gan của giai cấp tư sản, những việc của nó hoàn toàn bất
lực không thể hiểu được tiến trình của lịch sử hiện đại, luôn luôn làm người ta cảm thấy
buồn cười
” [C. Mác và Ph. Ăng – ghen, Tuyên ngôn Đảng cộng sản, trang 115, NXB
Chính trị quốc gia sự thật, 2018].