BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
------***------
TIỂU LUẬN
CHỦ ĐỀ: VẬN DỤNG SÁU CẶP PHẠM TRÙ BIỆN CHỨNG
TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN BẢN THÂN
Họ tên: Uông Thùy Dương
sinh viên: 11243516
Lớp chuyên ngành: Quản dự án 66
Giảng viên: Thị Hồng Hạnh
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
------***------
TIỂU LUẬN
CHỦ ĐỀ: VẬN DỤNG SÁU CẶP PHẠM TRÙ BIỆN CHỨNG
TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN BẢN THÂN
Họ tên: Uông Thùy Dương
sinh viên: 11243516
Lớp chuyên ngành: Quản dự án 66
Giảng viên: Thị Hồng Hạnh
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................................3
PHẦN 1. SỞ LUẬN.........................................................................................4
1.1. Giới thiệu về phép biện chứng duy vật.................................................................4
1.2. Khái niệm đặc điểm của phạm trù triết học.....................................................4
1.3. Các cặp phạm trù cơ bản trong phép biện chứng duy vật.....................................5
1.4. Mối liên hệ giữa triết học sự phát triển bản thân.............................................5
PHẦN 2. VẬN DỤNG CÁC CẶP PHẠM TRÙ BIỆN CHỨNG TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN BẢN THÂN..........................................................................................6
2.1. Cặp phạm trù cái chung cái riêng....................................................................6
2.1.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng...............6
2.1.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân.............................................6
2.2. Cặp phạm trù nguyên nhân kết quả.................................................................7
2.2.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng...............7
2.2.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân.............................................8
2.3. Cặp phạm trù tất nhiên ngẫu nhiên..................................................................9
2.3.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng...............9
2.3.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân.............................................9
2.4. Cặp phạm trù nội dung hình thức..................................................................10
2.4.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng.............10
2.4.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân...........................................11
2.5. Cặp phạm trù bản chất và hiện tượng.................................................................12
2.5.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng.............12
2.5.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân...........................................13
2.6. Cặp phạm trù khả năng và hiện thực..................................................................13
2.6.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng.............13
2.6.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân...........................................14
PHẦN 3. KẾT LUẬN.................................................................................................16
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................17
2
MỞ ĐẦU
1. do chọn đề tài
Trong thời đại toàn cầu hóa chuyển đổi số, việc phát triển bản thân trở thành
yêu cầu cấp thiết đối với mỗi nhân, đặc biệt sinh viên, những người đang chuẩn bị
bước vào môi trường làm việc cạnh tranh. Tuy nhiên, phát triển bản thân không đơn
thuần quá trình tích lũy kiến thức, kỹ năng, còn cần một hệ thống duy khoa
học để định hướng nhận thức hành động. Triết học Mác Lênin, với phép biện
chứng duy vật, cung cấp cho con người công cụ duy hữu hiệu để nhận thức đúng
đắn hiện thực điều chỉnh hành vi. Trong đó, sáu cặp phạm trù biện chứng giữ vai trò
quan trọng trong việc giải các mối quan hệ trong đời sống, từ đó vận dụng vào việc
phát triển con người một ch toàn diện.
2. Mục tiêu nhiệm vụ của tiểu luận
Mục tiêu của tiểu luận làm sáng tỏ nội dung bản của sáu cặp phạm trù
trong phép biện chứng duy vật, đồng thời phân tích mối quan hệ chuyển hóa biện
chứng giữa các cặp phạm trù đó
Nhiệm vụ phân tích từng cặp phạm trù biện chứng, từ đó rút ra những bài học
ứng dụng thiết thực trong việc nâng cao ng lực học tập, phát triển kỹ năng, duy
định hướng giá trị sống một cách khoa học hiệu quả.
3. Phạm vi nghiên cứu phương pháp tiếp cận
Phạm vi nghiên cứu của tiểu luận tập trung vào lĩnh vực phát triển nhân, bao
gồm các khía cạnh: học tập, kỹ năng, duy định hướng giá trị sống.
Phương pháp được sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, dựa trên sở
luận của triết học Mác Lênin để làm nội dung từng cặp phạm trù mối quan hệ
biện chứng giữa chúng. Trên nền tảng đó, tiến hành liên hệ thực tiễn, vận dụng các cặp
phạm trù vào những tình huống trong quá trình phát triển bản thân, nhằm chỉ ra tính
ứng dụng giá trị chỉ dẫn của triết học trong đời sống con người hiện đại.
3
PHẦN 1. SỞ LUẬN
1.1. Giới thiệu về phép biện chứng duy vật
Triết học Mác Lênin không chỉ hệ thống tri thức luận về thế giới con
người, còn kim chỉ nam giúp con người nhận thức, định hướng cải tạo thực
tiễn một cách khoa học. Trong đó, phép biện chứng duy vật hạt nhân luận của triết
học Mác Lênin, cung cấp một thế giới quan phương pháp luận biện chứng, cho
rằng thế giới vật chất tồn tại khách quan, luôn vận động phát triển thông qua sự tác
động qua lại giữa các mặt đối lập. Phép biện chứng duy vật không nhìn nhận sự vật,
hiện tượng như những thực thể lập, bất biến, nhấn mạnh sự phát triển kết quả
của những mâu thuẫn nội tại, của sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập, diễn ra
không ngừng.
1.2. Khái niệm đặc điểm của phạm trù triết học
Trong phép biện chứng duy vật, việc xem xét các cặp phạm trù trong mối quan
hệ tác động biện chứng giữa chúng không chỉ giúp làm ng tỏ quy luật vận động của
sự vật, còn cung cấp sở phương pháp luận để nhận thức định hướng sự phát
triển trong thực tiễn.
Phạm trù triết học những khái niệm rộng nhất, trừu tượng nhất phản ánh
những mối liên hệ khuynh hướng vận động bản, phổ biến nhất của hiện thực
khách quan. Phạm trù triết học hình thức hoạt động trí óc phổ biến của con người,
kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn khoa học nhằm phản ánh những mặt chung,
những mối quan hệ lặp đi lặp lại tất cả các sự vật hiện tượng. Các phạm trù kết
quả của quá trình tích lũy qua việc giúp con người suy ngẫm những chất liệu đã tiếp
thu được, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn tri thức khoa học. Thông qua việc suy
ngẫm các phạm trù, con người thể nhận diện bản chất sự vật, xác định hướng vận
động của nó, từ đó nâng cao hiệu quả hành động khả năng cải biến thế giới.
Các phạm trù triết học mang những đặc điểm bản sau:
Tính khách quan: Phạm trù sở khách quan về nguồn gốc, nội dung bản
chất, còn hình thức biểu đạt sử dụng kết quả của quá trình phản ánh mang
tính chủ quan.
Tính biện chứng: Do các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan luôn
vận động phát triển không ngừng, nên các phạm trù triết học cũng không bất
biến luôn thay đổi, chuyển hóa linh hoạt trong mối quan hệ biện chứng với
nhau. Một phạm trù thể biến thành phạm trù khác trong điều kiện cụ thể.
4
1.3. Các cặp phạm trù bản trong phép biện chứng duy vật
Các mối liên hệ phổ biến giữa sự vật, hiện tượng được phép biện chứng duy vật
khái quát thành các cặp phạm trù bản. Điểm đặc trưng của hệ thống phạm trù trong
phép biện chứng duy vật tính cặp đôi mỗi cặp phạm trù phản ánh một mặt đối lập
trong chỉnh thể thống nhất của thế giới khách quan. Trong hệ thống các phạm trù triết
học sáu cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật, gồm:
Cặp phạm trù cái chung cái riêng: Phản ánh mối liên hệ giữa những yếu tố
riêng biệt những thuộc tính chung trong nhiều sự vật.
Cặp phạm trù nguyên nhân kết quả: Phản ánh mối liên hệ nhân quả tất yếu
giữa các sự vật, hiện tượng.
Cặp phạm trù tất nhiên ngẫu nhiên: Phản ánh sự thống nhất giữa tính quy luật
của hiện tượng yếu tố bất ngờ.
Cặp phạm trù nội dung hình thức: Phản ánh sự thống nhất giữa cấu trúc bên
trong phương thức thể hiện của sự vật.
Cặp phạm trù bản chất hiện tượng: Phản ánh mối quan hệ giữa cái ẩn sâu
cái biểu hiện ra bên ngoài của sự vật.
Cặp phạm trù khả năng hiện thực: Phản ánh sự chuyển hóa giữa cái chưa xảy
ra cái đang tồn tại.
1.4. Mối liên hệ giữa triết học sự phát triển bản thân
Sáu cặp phạm trù bản không chỉ giúp con người thêm kiến thức về mối
liên hệ phổ biến quy luật vận động của sự vật, hiện tượng trong đời sống, còn
phương tiện sắc bén giúp điều chỉnh nâng cao thái độ, hành vi, từ đó giúp phát triển
bản thân một cách sở, khoa học bền vững. Việc nắm vững các phạm trù còn
tạo nền tảng cho khả năng tự đánh giá, phản thích ứng hiệu quả trong môi trường
sống học tập luôn biến động.
5
PHẦN 2. VẬN DỤNG CÁC CẶP PHẠM TRÙ BIỆN CHỨNG TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN BẢN THÂN
2.1. Cặp phạm trù cái chung cái riêng
2.1.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Trong cuộc sống hằng ngày, con người không ngừng tiếp xúc tương tác với
số sự vật, hiện tượng quá trình cụ thể như cái bàn, cái ghế, các loại trái cây, hay
các bộ phận trên thể con người. mỗi sự vật hình thức, công dụng đặc điểm
khác nhau, song nếu quan sát dưới góc nhìn triết học hệ thống, giữa chúng luôn
tồn tại những điểm tương đồng, lặp đi lặp lại. Chính những đặc điểm giống nhau được
lặp lại nhiều sự vật như màu sắc, hình dạng, mục đích sử dụng, theo quan điểm của
triết học Mác Lênin, được gọi cái chung. Đây phạm trù dùng để chỉ những mặt,
những thuộc tính được lặp đi lặp lại trong những hiện tượng, sự vật khác.
Bên cạnh đó, triết học Mác Lênin còn chỉ ra một phạm trù mang tính đặc thù
cao hơn cái đơn nhất, dùng để chỉ những đặc điểm, yếu tố duy nhất, độc đáo, không
lặp lại bất kỳ sự vật, hiện tượng nào khác. dụ điển hình như dấu vân tay hay cấu
trúc ADN của mỗi người, những yếu tố này không sự trùng lặp giữa những nhân,
kể cả những cặp song sinh cùng trứng, đó những biểu hiện của cái đơn nhất.
Mối quan hệ giữa cái chung, cái riêng cái đơn nhất mối quan hệ biện
chứng, không tách rời tồn tại trong sự gắn tác động qua lại. Cái chung không
tồn tại độc lập chỉ biểu hiện thông qua cái riêng, ngược lại, cái riêng luôn chứa
đựng những yếu tố chung, đồng thời mang bản sắc biệt của cái đơn nhất. Cái riêng
thế hình thức tồn tại thực tế, cụ thể nhất của cái chung cái đơn nhất, nơi hai
phạm trù kia thể hiện sự thống nhất trong đa dạng. Đặc biệt, triết học nhấn mạnh rằng:
cái riêng toàn diện phong phú hơn cái chung, nhưng cái chung lại phản ánh bản
chất sâu sắc mang tính khái quát cao hơn cái riêng.
2.1.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân
Trong bối cảnh phát triển nhân, việc hiểu mối quan hệ này giúp mỗi người
vừa thể học hỏi, kế thừa các giá trị phổ quát từ những người đi trước, vừa giữ gìn
phát huy những yếu tố biệt làm nên bản sắc của chính mình. Chẳng hạn, ngày nay,
trên các nền tảng mạng hội hay những kênh phát triển bản thân, số lời khuyên
được lan truyền rộng rãi được cho hiệu quả, như lối sống lành mạnh bắt đầu bằng
thói quen dậy sớm vào lúc 5 giờ, đọc sách, tập các bài thể dục, lập thời gian biểu cố
gắng hoàn thành hết các mục trong danh sách, đó biểu hiện của cái chung: những
yếu tố được rút ra từ kinh nghiệm của nhiều người thành công hay những người sức
ảnh hưởng trên các trang mạng hội. Tuy nhiên, không phải ai cũng thực sự phù hợp
6
với cách phát triển bản thân như vậy. Nếu chỉ áp dụng một cách máy móc không
xét đến cái riêng, cái đơn nhất của mỗi chủ thể như điều kiện thực tiễn như tình trạng
sức khỏe, tính cách, lịch trình công việc, thói quen sinh hoạt, điều kiện kinh tế hay các
yếu tố khác, thì hiệu qu thể không như mong đợi, hoặc tệ hơn phản tác dụng.
Để vận dụng hiệu quả cặp phạm trù này, mỗi nhân trước hết cần học cách tiếp
cận các hình, lời khuyên công thức thành công một cách chủ động, chọn lọc.
Việc kế thừa những giá trị phổ quát từ người đi trước cần thiết, nhưng không đồng
nghĩa với việc sao chép rập khuôn, lâu dần dẫn đến đánh mất cái riêng biệt, độc lập của
mình. nhân cần biết điều chỉnh nhân hóa cái chung, nghĩa chọn lọc các
phương pháp phù hợp, linh hoạt điều chỉnh theo hoàn cảnh đặc điểm riêng của bản
thân. dụ, nếu không thể dậy sớm lúc 5 giờ sáng, thể chọn khung giờ làm việc
hiệu quả nhất trong ngày của mình để tập trung phát triển; nếu không điều kiện đọc
sách giấy, thể học qua podcast hoặc video. Việc áp dụng linh hoạt này giúp cái
chung phát huy được giá trị trong cái riêng, đồng thời giúp cái riêng phát triển không
tách rời khỏi những nguyên tắc phổ quát của cái chung.
Như Jim Rohn từng nói: “Hãy học từ người khác, nhưng đừng đánh mất chính
mình.” Câu nói ấy phản ánh tinh thần biện chứng giữa cái chung cái riêng, vừa học
hỏi, kế thừa, vừa sáng tạo điều chỉnh phù hợp với chính mình. Phát triển bản thân
hiệu quả không phải quá trình sao chép tưởng của người khác, hành trình
tìm ra cách tốt nhất để áp dụng những nguyên phổ quát vào thực tế nhân. Chỉ khi
giữ được sự cân bằng này, con người mới tránh được thái độ cực đoan, hoặc nhân
hóa một cách biệt lập, hoặc đánh mất mình trong các khuôn mẫu chung, đạt được sự
phát triển toàn diện, bền vững trong hội hiện đại đầy biến động.
2.2. Cặp phạm trù nguyên nhân kết quả
2.2.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Nguyên nhân kết quả cặp phạm trù phản ánh sự vận động, biến đổi phát
triển không ngừng của các sự vật, hiện tượng trong t nhiên, hội duy. Nguyên
nhân khái niệm chỉ sự tác động qua lại giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các
sự vật với nhau, tạo ra sự biến đổi nhất định. Trong khi đó, kết quả sự biến đổi đã
diễn ra, sản phẩm của c yếu tố mang tính nguyên nhân.
Khác với quan điểm siêu hình coi quan hệ nguyên nhân kết quả một chiều,
cứng nhắc tách rời, phép biện chứng duy vật khẳng định rằng mối quan hệ giữa
nguyên nhân kết quả mang tính biện chứng, nghĩa chúng không chỉ gắn mật
thiết luôn vận động khả năng chuyển hóa qua lại. Theo nguyên biện chứng,
nguyên nhân sinh ra kết quả,nhưng khi kết quả xuất hiện, không nằm yên một cách
7
thụ động còn thể tác động trở lại nguyên nhân, làm biến đổi, điều chỉnh hoặc
thậm chí triệt tiêu nguyên nhân ban đầu. Tức là, kết quả không chỉ hệ quả còn
thể trở thành nguyên nhân mới trong một chuỗi liên hệ tiếp theo, tạo nên quá trình vận
động liên tục phức tạp của thực tiễn. Như vậy, một hiện tượng thể vừa nguyên
nhân trong mối quan hệ này, vừa lại kết quả trong một mối quan hệ khác.
2.2.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân
Trong bối cảnh phát triển nhân, hiểu đúng vận dụng linh hoạt mối quan hệ
giữa nguyên nhân kết quả sẽ giúp nhân chủ động nhận thức, điều chỉnh nh vi
hoạch định hướng đi phù hợp cho bản thân. Mỗi trạng thái tinh thần, mỗi thành công
hay thất bại đều bắt nguồn từ một chuỗi nguyên nhân, thể khách quan từ môi
trường sống, hoặc chủ quan từ thói quen lựa chọn nhân. tưởng này được học
giả Công S nhấn mạnh: “Trong quá trình phát triển, con người không chỉ chịu tác
động của các nguyên nhân bên ngoài còn phải chủ động tạo ra các nguyên nhân bên
trong để thúc đẩy sự tiến bộ của bản thân. Việc nhận thức vận dụng đúng đắn mối
quan hệ giữa nguyên nhân kết quả chìa khóa để đạt được sự phát triển nhân
bền vững” .2
Trong thực tiễn, không ít người, đặc biệt giới trẻ, rơi vào trạng thái trì trệ,
chán nản khi theo đuổi mục tiêu nhân, nhưng lại không hiểu nguyên nhân cốt lõi
gây ra tình trạng đó. Nhiều người chỉ tập trung vào “kết quả không như ý” không
quay lại phân tích những nguyên nhân sâu xa: thiếu động lực do mục tiêu không
ràng, lối sống thiếu khoa học, thói quen trì hoãn hoặc ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường
số như mạng hội. dụ, một sinh viên liên tục đạt kết quả học tập không tốt thể
do các nguyên nhân: thiếu phương pháp học phù hợp, mất cân bằng thời gian, không
kế hoạch ràng hoặc bị phân tán bởi điện thoại. Khi nguyên nhân thực sự chưa được
nhìn nhận đúng đắn, mọi nỗ lực cải thiện chỉ nhất thời, thậm chí thể phản tác
dụng. Chỉ khi nhận thức đúng được nguyên nhân, nhân mới thể xây dựng các
biện pháp khắc phục phù hợp như thay đổi thói quen, điều chỉnh môi trường học tập,
cải thiện kỹ năng tự quản lý, giảm thời gian sử dụng thiết bị điện tử, từ đó tạo ra một
chuỗi kết quả tích cực mới. Kết quả tích cực này khi đã xuất hiện sẽ không đứng yên,
thể đóng vai trò như một nguyên nhân mới. Tính đa chiều phụ thuộc vào hệ
quy chiếu này cho thấy, mọi hiện tượng đều tồn tại trong những hệ thống quan hệ
nguyên nhân kết quả chồng chéo, đan xen luôn biến đổi.
Đặc biệt, triết học nhấn mạnh rằng kết quả không hoàn toàn bị động khả
năng tác động ngược lại nguyên nhân, làm thay đổi hành vi ban đầu. Khi một nhân
thấy được kết quả cải thiện rõ rệt sau khi thay đổi phương pháp học tập, cảm giác thành
công đó thể củng cố niềm tin, từ đó tạo ra động lực mạnh mẽ để tiếp tục thay đổi,
8
tức chính kết quả trở thành động lực (một nguyên nhân mới) cho chu kỳ phát triển
tiếp theo. Đây s chuyển hóa biện chứng giữa nguyên nhân kết quả trong đời
sống con người. Việc không ngừng phân tích, đánh giá nguyên nhân kết quả trong
từng tình huống cụ thể sẽ giúp mỗi người tự điều chỉnh chính mình một cách hiệu quả,
từ đó tiến gần hơn đến mục tiêu phát triển toàn diện, bền vững ý nghĩa.
2.3. Cặp phạm trù tất nhiên ngẫu nhiên
2.3.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Tất nhiên phạm trù chỉ những mối liên hệ bên trong tính bản chất, quyết
định, mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng. cái chắc chắn xảy ra khi hội đủ
điều kiện. dụ, trong toán học, 1 + 1 tất yếu bằng 2, không phụ thuộc vào điều kiện
chủ quan hay hoàn cảnh. Trái lại, ngẫu nhiên phạm trù phản ánh những mối liên hệ
không mang tính quy luật, phụ thuộc vào những yếu tố tình cờ, những điều kiện, hoàn
cảnh bên ngoài tác động, vậy chúng thể xuất hiện hoặc không xuất hiện. dụ
như việc giảng viên chọn một sinh viên bất kỳ để trả lời câu hỏi hoàn toàn ngẫu
nhiên, không do bản chất nội tại của sinh viên ấy quy định.
Theo mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên ngẫu nhiên, chúng không tồn tại
lập hay đối lập tuyệt đối cùng tồn tại trong một chỉnh thể, tác động chuyển
hóa lẫn nhau. Trong quá trình phát triển, tất nhiên luôn vạch đường đi của mình qua
vàn yếu tố ngẫu nhiên, còn ngẫu nhiên hình thức biểu hiện cụ thể của tất nhiên. Tất
nhiên quy định xu hướng chính, chiều hướng phát triển chủ đạo, nhưng ngẫu nhiên lại
thể khiến sự phát triển ấy diễn ra nhanh hơn hoặc chậm lại, thậm chí thay đổi hướng
đi trong những hoàn cảnh nhất định. Do đó, trong nhận thức hành động, con người
cần dựa vào cái tất nhiên làm nền tảng, nhưng không được xem nhẹ hoặc loại bỏ vai trò
của cái ngẫu nhiên. Quan điểm này đã được Ph. Ăngghen tổng kết sâu sắc khi ông viết:
“Cái người ta quả quyết cho tất yếu lại hoàn toàn do những ngẫu nhiên thuần túy
cấu thành, cái được coi ngẫu nhiên, lại hình thức, dưới đó ẩn nấp cái tất yếu”3.
Câu nói này nhấn mạnh bản chất thống nhất chuyển hóa lẫn nhau giữa hai phạm trù:
đằng sau mọi cái ngẫu nhiên đều xu hướng tất yếu đang vận động, cái tất yếu
luôn được thể hiện qua vàn hình thức ngẫu nhiên khác nhau.
2.3.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân
tưởng này ý nghĩa đặc biệt khi áp dụng vào quá trình phát triển bản thân.
Mỗi nhân đều thể chủ động thiết lập các yếu tố tất nhiên như: mục tiêu ràng,
kế hoạch rèn luyện cụ thể, thói quen học tập làm việc khoa học. Tuy nhiên, bên cạnh
phần tất yếu đó, cuộc sống luôn chứa đựng những yếu tố ngẫu nhiên ta không thể
dự báo trước, thể một sự cố về sức khỏe, một cuộc gặp gỡ tình cờ với người
truyền cảm hứng, một quyển sách xuất hiện đúng thời điểm. Chẳng hạn, việc một sinh
9
viên chăm chỉ học tập tất nhiên dẫn đến kết quả tốt, nhưng nếu đúng vào ngày thi
người đó bị ốm làm bài không tốt thì yếu tố ấy ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên này tuy
không quyết định bản chất quá trình học tập, nhưng lại thể ảnh hưởng đến biểu hiện
cụ thể của kết quả. Trong một dụ ngược lại, một người đang mất phương hướng
trong cuộc sống thể tình cờ đọc được một cuốn sách hay, điều đó trở thành bước
ngoặt giúp họ thay đổi toàn bộ duy, lối sống cách hành xử. Điều này cho thấy: khi
nhân sẵn nội lực tinh thần sẵn sàng, thì cái ngẫu nhiên thể được chuyển hóa
thành cái tất nhiên, tức tr thành một phần trong quá trình phát triển lâu dài.
Tuy nhiên, sự chuyển hóa đó chỉ thể diễn ra nếu nhân nền tảng nội lực
vững chắc tinh thần chủ động tiếp nhận. Như vậy nghĩa, nếu nhân muốn hoàn
thiện bản thân mình, trước hết cần sự chuẩn bị từ trước bằng việc chăm chỉ học tập để
nâng cao kiến thức, kinh nghiệm, rèn luyện đạo đức. Nếu không sự chuẩn đó, tức
không tất nhiên, thì ngẫu nhiên xuất hiện cũng không thể phát huy giá trị tích
cực. Đồng thời, hãy giữ một tâm thế cởi mở, chủ động nắm bắt chuyển hóa những
tình huống bất ngờ, những mối quan hệ mới, những thay đổi tưởng chừng rủi ro,
đó thể cái ngẫu nhiên giúp đẩy nhanh, hoàn thiện hơn cái tất nhiên. Ngược lại,
nếu chỉ tuân thủ một cách máy móc những khuôn mẫu cứng nhắc không linh hoạt
với các biến số của cuộc sống, thì con người cũng dễ bị gãy đổ khi gặp phải những
ngẫu nhiên tiêu cực.
Trong phát triển nhân, nhận thức đúng mối quan hệ này giúp mỗi người chủ
động xây dựng nền tảng tất yếu, nhưng cũng luôn trạng thái mở, để đón nhận, nắm
bắt chuyển hóa cái ngẫu nhiên thành hội phát triển. Đó biểu hiện của duy
biện chứng: linh hoạt, sâu sắc chủ động trong mọi hoàn cảnh.
2.4. Cặp phạm trù nội dung hình thức
2.4.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Nội dung phạm trù chỉ toàn bộ những yếu tố, mặt, quá trình, mối liên hệ bên
trong tạo nên sự vật, hiện tượng, tức phần phản ánh bản chất, quy định xu hướng vận
động phát triển khách quan của sự vật đó. Trong khi đó, hình thức phạm trù chỉ
phương thức tồn tại biểu hiện của nội dung ấy, không chỉ cái bề ngoài dễ nhận
thấy còn cấu trúc tương đối ổn định thể hiện mối liên hệ giữa các yếu tố bên
trong. Để hiểu đơn giản, một món ăn, nguyên liệu, gia vị, chất lượng từng thành phần
nội dung, còn cách chế biến trình bày món ăn hình thức.
Trong mối quan hệ biện chứng, nội dung hình thức không tồn tại tách rời,
gắn mật thiết tác động qua lại lẫn nhau. Tuy nhiên, nội dung giữ vai trò quyết
định phản ánh bản chất xu thế vận động khách quan của sự vật. Mỗi nội dung
10
đều cần một hình thức tương ứng để tồn tại biểu hiện, không hình thức nào lại
không chứa đựng nội dung, cũng như không một nội dung nào lại tồn tại bên ngoài một
hình thức cụ thể nào đó. Hình thức, tuy không quyết định bản chất sự vật, nhưng thể
tạo điều kiện thuận lợi hoặc kìm hãm sự phát triển của nội dung. Khi hình thức phù
hợp với nội dung, thúc đẩy sự phát triển tự nhiên. Ngược lại, khi hình thức trở nên
lỗi thời, lạc hậu hoặc rập khuôn, sẽ trở thành lực cản, thậm chí kìm hãm hoặc làm
biến dạng nội dung. Trong những trường hợp như vậy, nội dung mới phát triển đến
mức nhất định sẽ phá bỏ hình thức cũ, xây dựng hình thức mới phù hợp, đây một quá
trình vận động tất yếu trong mọi sự biến đổi.
Tiếp tục dùng dụ về món ăn trên để phân tích mối quan hệ chuyển hóa biện
chứng này. Một món ăn, chẳng hạn, không chỉ được đánh giá qua nguyên liệu chất
lượng (nội dung), còn qua cách chế biến trình bày (hình thức). Một món ăn ngon
sẽ trở n hấp dẫn giá trị hơn khi được trình bày tinh tế, sạch sẽ, trong khi đó, một
món ăn nguyên liệu quý giá, bổ dưỡng nhưng được bày biện sài, thiếu thẩm mỹ
thể khiến người dùng không mấy mặn mà. Trong trường hợp này, hình thức không
quyết định nội dung, nhưng lại ảnh hưởng mạnh m đến việc tiếp nhận nội dung đó.
2.4.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân
Trong phát triển nhân, mối quan hệ này phản ánh qua quá trình phát triển
năng lực bên trong (nội dung) kỹ năng thể hiện bản thân ra bên ngoài (hình thức).
Nhà tâm học Amy Cuddy đã khẳng định rằng: “Cách bạn thể hiện bản thân cũng
quan trọng không kém những bạn biết” . Câu nói này không chỉ phản ánh yêu cầu 1
hội hiện đại, còn biểu hiện sinh động của mối quan hệ biện chứng giữa nội dung
hình thức: không thể chỉ chú trọng một mặt bỏ qua mặt kia. Một người kiến
thức sâu sắc, kỹ năng chuyên môn tốt, tư duy phân tích ràng, nhưng lại thiếu khả
năng giao tiếp, thuyết trình, ăn mặc lôi cuốn hay phong thái chuyên nghiệp, sẽ rất khó
được công nhận tiếp cận hội trong môi trường học tập, làm việc hiện đại. Ngược
lại, nếu một người chăm chút cho hình thức, nói năng trôi chảy, ăn mặc bắt mắt, nhưng
thiếu thực chất bên trong, thì sớm muộn cũng bộc lộ sự sáo rỗng bị đào thải.
Thêm một dẫn chứng từ chính quá trình phát triển tâm để minh họa hơn
điều này. Khi còn nhỏ, con người chưa nhiều tri thức kinh nghiệm, nên hình
thức thể hiện còn ngây ngô, vụng về, điều đó không ảnh hưởng nhiều đến khả năng học
hỏi. Tuy nhiên, khi trưởng thành, năng lực bên trong tăng lên, học thêm nhiều kỹ năng,
mở rộng hiểu biết, thì việc duy trì hình thức thể khiến nội dung bị hẹp. Trong
trường hợp đó, nội dung mới, tức năng lực, tri thức tích lũy, buộc phải tìm kiếm hình
thức thể hiện mới tương ứng để phát huy giá trị thực sự. Sự phát triển nội dung bên
trong tất yếu sẽ dẫn đến yêu cầu thay đổi hình thức cho phù hợp: học cách ăn mặc
11
chuyên nghiệp, ng cao kỹ năng giao tiếp, trình bày ý tưởng mạch lạc hơn. Từ đó, nội
dung tiếp tục được phát triển mạnh hơn nữa thông qua sự hỗ trợ của hình thức mới phù
hợp hơn.
Tổng kết lại, để vận dụng hiệu quả cặp phạm trù này vào phát triển bản thân,
nhân cần đồng thời quan tâm đến hai mặt: trau dồi nội dung, tức không ngừng học
hỏi, rèn luyện năng lực, làm giàu tri thức, phẩm chất; vừa chú ý cải thiện hình thức, tức
nâng cao khả năng diễn đạt, giao tiếp, tác phong phong cách thể hiện phù hợp với
hoàn cảnh hội. Một cách cụ thể, nếu bạn giỏi chuyên môn, hãy học thêm kỹ năng
thuyết trình để chia sẻ hiệu quả trong lớp học hoặc nơi làm việc. Nếu bạn duy
phản biện tốt, hãy luyện cách đặt câu hỏi, thể hiện ý tưởng bằng ngôn ngữ ràng, súc
tích. Nếu bạn đã định hướng nghề nghiệp ràng, hãy học cách xây dựng hình ảnh
nhân để gây ấn tượng chuyên nghiệp trên mạng hội khi phỏng vấn xin việc.
Mỗi điều chỉnh hình thức phù hợp sẽ góp phần giúp nội dung bên trong được nhận diện
đúng phát huy tối đa giá trị. Chính sự đồng bộ, tương thích giữa nội dung hình
thức sẽ tạo nên một nhân toàn diện, phẩm chất bên trong vững chắc, cách
thể hiện thuyết phục, thích nghi tốt với yêu cầu của hội hiện đại.
2.5. Cặp phạm trù bản chất hiện tượng
2.5.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Bản chất phạm trù dùng để chỉ tổng thể các mối liên hệ tất yếu, khách quan
tương đối ổn định nằm bên trong sự vật, hiện tượng, quy định sự vận động phát triển
của nó. Bản chất không hiện diện một cách trực quan, chỉ thể được nhận thức
thông qua quá trình phân tích, nghiên cứu khái quát hóa các hiện tượng bề ngoài.
Ngược lại, hiện tượng phạm trù chỉ những biểu hiện bên ngoài, dễ thấy dễ biến
đổi, hình thức biểu hiện của bản chất trong điều kiện nhất định. Một dụ đơn giản
để phân biệt: một ngôi nhà thể mang nhiều hình thức khác nhau, to, nhỏ, đẹp, cũ, đó
hiện tượng; nhưng biểu hiện ra sao, bản chất của ngôi nhà vẫn để ở, để che
nắng che mưa phục vụ sinh hoạt con người.
Mối quan hệ giữa bản chất hiện tượng mối quan hệ biện chứng, thể hiện sự
thống nhất giữa cái bên trong cái biểu hiện ra bên ngoài. Bản chất luôn tồn tại thông
qua hiện tượng, còn hiện tượng sự thể hiện của một bản chất nào đó. Bản chất quyết
định hiện tượng, nhưng không phải lúc nào hiện tượng cũng phản ánh một cách đầy đủ,
chính xác bản chất. Trong nhiều trường hợp, hiện tượng thể che giấu hoặc làm sai
lệch nhận thức về bản chất, đặc biệt khi hiện tượng bị tác động bởi các yếu tố ngoại
cảnh hoặc do trình độ nhận thức còn hạn chế. Tuy nhiên, nhìn chung, giữa bản chất
hiện tượng luôn xu hướng phù hợp sự vật một chỉnh thể thống nhất; sự mâu
12
thuẫn giữa chúng chỉ tạm thời sẽ được giải quyết trong quá trình vận động phát
triển của sự vật.
2.5.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân
Trong quá trình phát triển bản thân, việc nhận thức đúng mối quan hệ giữa bản
chất hiện tượng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhiều người trong hội hiện nay
dễ bị cuốn theo những hiện tượng bề ngoài, như hình ảnh của sự bận rộn, thành đạt, sự
nổi bật trên mạng hội, không đủ thời gian chiều sâu để phân tích bản chất thật
sự ẩn sau những biểu hiện đó. Một người vẻ như rất năng động, tham gia nhiều hoạt
động thể trong thực tế thiếu chiều sâu, thiếu hiệu quả thực chất. Ngược lại, một
người trầm lặng, ít thể hiện lại nội lực mạnh mẽ, khả năng duy chiến lược hoặc
phẩm chất đạo đức tốt đẹp.
Do đó, mỗi nhân cần hình thành thói quen suy nghĩ phản biện, không vội
vàng đánh giá mọi thứ chỉ qua vẻ bề ngoài. Trước hết, hãy tập trung vào việc xây dựng
nội lực: học tập nghiêm túc, rèn luyện kỹ năng bền vững, bồi dưỡng phẩm chất đạo
đức, phát triển duy độc lập. Đây những yếu tố cốt lõi làm nên bản chất của một
con người trưởng thành. Tiếp theo, cần học cách quan sát hiện tượng một cách phân
tích, thử đặt câu một số câu hỏi như: "Những trước mắt phản ánh đúng thực chất
không?", "Người y thành công thật s hay chỉ đang tạo ra hình ảnh thành công?".
Việc thường xuyên phản biện như vậy giúp ta điều chỉnh kỳ vọng, cách tiếp nhận thông
tin định hướng hành vi một cách trí hơn.
Không những thế, duy này còn giúp nhân t nhận thức chính mình một
cách trung thực, kiểm soát được tình trạng “nói nhiều làm ít”, “hình thức cao hơn nội
dung”. Diễn giả Stephen R. Covey từng khuyên các thính giả của mình rằng: “Hãy học
cách nhìn đằng sau bề mặt, bạn s thấy những thực sự quan trọng” . tưởng này1
hoàn toàn tương thích với quan điểm của triết học Mác Lênin, khi khẳng định rằng
muốn nhận thức đúng sự vật, không chỉ dừng lại hiện tượng phải đi sâu vào bản
chất thông qua duy, phân tích, so nh tổng hợp.
2.6. Cặp phạm trù khả năng hiện thực
2.6.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Cặp phạm trù khả năng hiện thực phản ánh mối quan hệ giữa cái chưa xảy ra
nhưng thể xảy ra cái đã tồn tại khách quan trong thực tế. Khả năng phạm trù
biểu hiện giai đoạn hình thành ban đầu của sự vật, hiện tượng, khi mới chỉ tồn tại
dưới dạng tiền đề, như một xu hướng vận động thể xảy ra. Khả năng không phải
cái chắc chắn xuất hiện, dựa trên tổng thể các tiền đề, điều kiện, mối liên hệ chín
muồi để thể dẫn đến sự hình thành một hiện thực mới. Ngược lại, hiện thực cái
13
đang tồn tại, kết quả của những khả năng đã được hiện thực hóa, đồng thời lại nền
tảng để sinh ra những khả năng mới. Trong dụ đơn giản, một hạt thóc hiện tượng
chứa đựng trong khả năng trở thành cây lúa, nhưng điều đó chỉ xảy ra nếu có đủ
điều kiện chín muồi: đất, nước, ánh sáng, thời gian, cả sự chăm sóc con người.
Mối quan hệ giữa khả năng hiện thực mối quan hệ biện chứng, gắn
chuyển hóa lẫn nhau, thể hiện chỗ: khả năng, khi điều kiện phù hợp, sẽ trở thành
hiện thực. Đồng thời, mọi hiện thực đều kết quả phát triển từ khả năng trước đó
nền tảng để sinh ra những khả năng khác nhau. Tuy nhiên, không phải khả năng nào
cũng được hiện thực hóa, ngoài các yếu tố khách quan còn phụ thuộc vào ý chí chủ
quan hành động thực tiễn của con người. Triết học chỉ ra rằng: hiện thực bao hàm
nhiều khả năng khác nhau, nhưng chỉ những khả năng được chủ động thúc đẩy
điều kiện thuận lợi mới trở thành hiện thực. Do vậy, để khả năng phát triển, con người
không thể thụ động chờ đợi, phải hành động để biến khả năng thành thực tế sống
động. tưởng này được nhà phát triển nhân John C. Maxwell thể hiện rất khi
ông khẳng định: “Talent is never enough. It’s what you do with it makes it different” .4
Câu nói cho thấy khả năng không tự nhiên chuyển hóa thành hiện thực chỉ khi được
kích hoạt bởi hành động, kỷ luật, ý chí, môi trường phù hợp thì mới thể phát triển
bền vững.
2.6.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân
Trong quá trình phát triển bản thân, cặp phạm trù khả năng hiện thực mang ý
nghĩa chỉ đạo quan trọng, giúp mỗi người định hướng hành động một cách chủ động
sở. Mỗi nhân đều sở hữu những tiềm năng phong phú, đó thể duy
logic, năng khiếu nghệ thuật, khả năng giao tiếp, duy chiến lược, hay sức sáng tạo.
Những tiềm năng ấy chính khả năng theo quan điểm triết học Mác Lênin, những
yếu tố chưa được hiện thực hóa nhưng có thể trở thành hiện thực nếu gặp đúng điều
kiện phát triển. Tuy nhiên, khả năng không tự động biến thành hiện thực, chỉ thể
được phát triển khi nhân nhận thức đúng đắn, hành động quyết liệt kiên trì
trong một môi trường thuận lợi.
Chẳng hạn, một người năng khiếu mỹ thuật từ nhỏ, khả năng cảm thụ
thể hiện cái đẹp tốt hơn người khác, chỉ thực sự biến khả năng đó thành hiện thực khi
người ấy được rèn luyện đúng phương pháp, thầy giỏi hướng dẫn, được làm việc
trong môi trường sáng tạo không ngừng thực hành. Nếu thiếu những yếu tố đó, năng
khiếu nghệ thuật ấy sẽ mãi chỉ tiềm năng chưa được đánh thức, không thể hình thành
năng lực thực tế càng không thể trở thành hiện thực một nghệ sĩ, nhà thiết kế hay
người sáng tạo ảnh hưởng. Ngược lại, khi nhân biết tận dụng mọi nguồn lực, thời
14
gian, kiến thức, sự hỗ trợ từ người khác, thì năng khiếu ấy thể từng bước trở thành
hiện thực, góp phần hình thành một sự nghiệp bền vững.
Để vận dụng hiệu quả cặp phạm trù này vào phát triển bản thân, trước hết, mỗi
nhân cần chủ động khám phá nhận diện những khả năng tiềm ẩn của chính mình,
thông qua trải nghiệm, phản hồi từ người khác, hoặc tự đánh giá qua các hoạt động
thực tế. Việc này giúp xác định điểm mạnh, năng lực đặc biệt cũng như các yếu tố
cần phát triển. Tiếp theo, nhân cần đặt ra các mục tiêu phù hợp với khả năng ấy,
không viển vông nhưng cũng không tự giới hạn. Đồng thời, xây dựng lộ trình hành
động cụ thể: học tập kế hoạch, tìm kiếm hội thực hành, rèn luyện thói quen kiên
trì theo dõi sự tiến bộ định kỳ. Quan trọng hơn, cần tạo hoặc tìm kiếm môi trường
điều kiện thuận lợi như kết nối với người cùng chí hướng, tham gia các tổ chức,
cộng đồng học tập, hoặc chủ động vượt qua giới hạn bản thân bằng việc thử sức
những lĩnh vực mới.
Cuối cùng, nhân cần ghi nhớ rằng quá trình chuyển hóa khả năng thành hiện
thực một tiến trình lâu dài, không thể diễn ra trong thời gian ngắn. những khả
năng chỉ được bộc lộ phát triển khi gặp đúng hoàn cảnh, nên việc chuẩn bị tâm thế
kiên nhẫn, bền bỉ yếu tố then chốt. Mỗi hành động cụ thể, nhỏ, như viết một bài
luận, thử một buổi thuyết trình, đăng một khóa học ngắn hạn, đều bước đi chuyển
hóa cái khả năng thành cái hiện thực. Chính sự chủ động, kiên trì biết tự tạo điều
kiện phù hợp sẽ cầu nối đưa khả năng tiến gần đến hiện thực, từ đó, mở ra những
giá trị mới trong hành trình phát triển bản thân toàn diện.
15
PHẦN 3. KẾT LUẬN
Sáu cặp phạm trù bản của phép biện chứng duy vật gồm: nguyên nhân kết
quả, tất nhiên ngẫu nhiên, khả năng hiện thực, nội dung hình thức, cái riêng
cái chung, bản chất hiện tượng không chỉ mang giá trị luận sâu sắc còn
tính ứng dụng thiết thực trong quá trình phát triển bản thân.
Cặp phạm trù nguyên nhân kết quả khẳng định rằng mọi kết quả đều
nguồn gốc từ những nguyên nhân cụ thể, khách quan. Việc phân tích đúng nguyên nhân
giúp con người điều chỉnh hành vi, giúp thúc đẩy duy phản biện tinh thần tự chịu
trách nhiệm, thay quy kết quả cho yếu tố may rủi. Cặp phạm trù tất nhiên ngẫu
nhiên cho thấy rằng những yếu tố bất ngờ trong cuộc sống, vẻ như đến tình cờ,
thực chất vẫn nằm trong dòng vận động chung của cái tất yếu. Chuẩn bị kỹ lưỡng
phát triển nội lực chính điều kiện để biến các yếu tố ngẫu nhiên thành bước ngoặt
quan trọng. Cặp phạm trù khả năng hiện thực phản ánh quy luật chuyển hóa từ tiềm
năng thành kết quả. Mỗi nhân đều sở hữu những năng lực riêng, nhưng chỉ thông
qua hành động cụ thể, sự kiên trì rèn luyện điều kiện thích hợp, những khả năng ấy
mới được hiện thực hóa. Cặp phạm trù nội dung hình thức đặt ra yêu cầu phát triển
toàn diện giữa giá trị bên trong cách thể hiện ra bên ngoài. Mối quan hệ này đòi hỏi
nhân vừa bồi dưỡng tri thức, kỹ năng, phẩm chất, vừa rèn luyện cách giao tiếp, ứng
xử phù hợp với môi trường thực tiễn. Với cặp phạm trù cái riêng cái chung, phép
biện chứng gợi mở duy linh hoạt trong việc dung hòa giữa tính nhân tinh
thần hợp tác tập thể. Việc học hỏi từ người khác, nhưng vẫn giữ được nguyên tắc
bản lĩnh nhân, biểu hiện của sự phát triển hài hòa bền vững. Cuối cùng, cặp
phạm trù bản chất hiện tượng nhấn mạnh vai trò của duy chiều sâu trong nhận
thức. Thay đánh giá sự vật hiện tượng qua biểu hiện bên ngoài, cần phân tích
khám phá bản chất bên trong mới thể đưa ra nhận định chính xác khách quan.
Từ đó thể thấy, sáu cặp phạm trù không chỉ giúp con người nhận thức đúng
đắn về thế giới khách quan, còn đóng vai trò như kim chỉ nam cho việc điều chỉnh
duy, hành vi thái độ trong quá trình hoàn thiện phát triển bản thân. Việc vận
dụng linh hoạt các cặp phạm trù này góp phần hình thành nền tảng triết học thực hành,
giúp nhân thích ứng tốt n với những biến đổi của cuộc sống, đồng thời từng bước
vươn tới sự phát triển toàn diện bền vững.
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu tham khảo khác liên quan đến biện chứng phát triển nhân.
2. Công Sự, Vấn đề phạm trù trong lịch sử triết học.
3. C. Mác & Ph. Ăngghen: Toàn tập
4. John C. Maxwell, Talent is never enough: Discover the choices that will take
you beyond your talent,
17

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ------***------ TIỂU LUẬN
CHỦ ĐỀ: VẬN DỤNG SÁU CẶP PHẠM TRÙ BIỆN CHỨNG
TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN BẢN THÂN
Họ tên: Uông Thùy Dương
sinh viên: 11243516
Lớp chuyên ngành: Quản dự án 66
Giảng viên: Thị Hồng Hạnh
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ------***------ TIỂU LUẬN
CHỦ ĐỀ: VẬN DỤNG SÁU CẶP PHẠM TRÙ BIỆN CHỨNG
TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN BẢN THÂN
Họ tên: Uông Thùy Dương
sinh viên: 11243516
Lớp chuyên ngành: Quản dự án 66
Giảng viên: Thị Hồng Hạnh 1 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................................3
PHẦN 1. SỞ LUẬN.........................................................................................4
1.1. Giới thiệu về phép biện chứng duy vật.................................................................4
1.2. Khái niệm và đặc điểm của phạm trù triết học.....................................................4
1.3. Các cặp phạm trù cơ bản trong phép biện chứng duy vật.....................................5
1.4. Mối liên hệ giữa triết học và sự phát triển bản thân.............................................5
PHẦN 2. VẬN DỤNG CÁC CẶP PHẠM TRÙ BIỆN CHỨNG TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN BẢN THÂN..........................................................................................6
2.1. Cặp phạm trù cái chung và cái riêng....................................................................6
2.1.1. Khái quát về cặp phạm trù và mối quan hệ biện chứng giữa chúng...............6
2.1.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân.............................................6
2.2. Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả.................................................................7
2.2.1. Khái quát về cặp phạm trù và mối quan hệ biện chứng giữa chúng...............7
2.2.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân.............................................8
2.3. Cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên..................................................................9
2.3.1. Khái quát về cặp phạm trù và mối quan hệ biện chứng giữa chúng...............9
2.3.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân.............................................9
2.4. Cặp phạm trù nội dung và hình thức..................................................................10
2.4.1. Khái quát về cặp phạm trù và mối quan hệ biện chứng giữa chúng.............10
2.4.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân...........................................11
2.5. Cặp phạm trù bản chất và hiện tượng.................................................................12
2.5.1. Khái quát về cặp phạm trù và mối quan hệ biện chứng giữa chúng.............12
2.5.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân...........................................13
2.6. Cặp phạm trù khả năng và hiện thực..................................................................13
2.6.1. Khái quát về cặp phạm trù và mối quan hệ biện chứng giữa chúng.............13
2.6.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân...........................................14
PHẦN 3. KẾT LUẬN.................................................................................................16
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................17 2 MỞ ĐẦU
1. do chọn đề tài
Trong thời đại toàn cầu hóa và chuyển đổi số, việc phát triển bản thân trở thành
yêu cầu cấp thiết đối với mỗi cá nhân, đặc biệt là sinh viên, những người đang chuẩn bị
bước vào môi trường làm việc cạnh tranh. Tuy nhiên, phát triển bản thân không đơn
thuần là quá trình tích lũy kiến thức, kỹ năng, mà còn cần một hệ thống tư duy khoa
học để định hướng nhận thức và hành động. Triết học Mác – Lênin, với phép biện
chứng duy vật, cung cấp cho con người công cụ tư duy hữu hiệu để nhận thức đúng
đắn hiện thực và điều chỉnh hành vi. Trong đó, sáu cặp phạm trù biện chứng giữ vai trò
quan trọng trong việc lý giải các mối quan hệ trong đời sống, từ đó vận dụng vào việc
phát triển con người một cách toàn diện.
2. Mục tiêu nhiệm vụ của tiểu luận
Mục tiêu của tiểu luận là làm sáng tỏ nội dung cơ bản của sáu cặp phạm trù
trong phép biện chứng duy vật, đồng thời phân tích mối quan hệ chuyển hóa biện
chứng giữa các cặp phạm trù đó
Nhiệm vụ là phân tích từng cặp phạm trù biện chứng, từ đó rút ra những bài học
ứng dụng thiết thực trong việc nâng cao năng lực học tập, phát triển kỹ năng, tư duy và
định hướng giá trị sống một cách khoa học và hiệu quả.
3. Phạm vi nghiên cứu phương pháp tiếp cận
Phạm vi nghiên cứu của tiểu luận tập trung vào lĩnh vực phát triển cá nhân, bao
gồm các khía cạnh: học tập, kỹ năng, tư duy và định hướng giá trị sống.
Phương pháp được sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, dựa trên cơ sở lý
luận của triết học Mác – Lênin để làm rõ nội dung từng cặp phạm trù và mối quan hệ
biện chứng giữa chúng. Trên nền tảng đó, tiến hành liên hệ thực tiễn, vận dụng các cặp
phạm trù vào những tình huống trong quá trình phát triển bản thân, nhằm chỉ ra tính
ứng dụng và giá trị chỉ dẫn của triết học trong đời sống con người hiện đại. 3
PHẦN 1. SỞ LUẬN
1.1. Giới thiệu về phép biện chứng duy vật
Triết học Mác – Lênin không chỉ là hệ thống tri thức lý luận về thế giới và con
người, mà còn là kim chỉ nam giúp con người nhận thức, định hướng và cải tạo thực
tiễn một cách khoa học. Trong đó, phép biện chứng duy vật – hạt nhân lý luận của triết
học Mác – Lênin, cung cấp một thế giới quan và phương pháp luận biện chứng, cho
rằng thế giới vật chất tồn tại khách quan, luôn vận động và phát triển thông qua sự tác
động qua lại giữa các mặt đối lập. Phép biện chứng duy vật không nhìn nhận sự vật,
hiện tượng như những thực thể cô lập, bất biến, mà nhấn mạnh sự phát triển là kết quả
của những mâu thuẫn nội tại, của sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập, diễn ra không ngừng.
1.2. Khái niệm đặc điểm của phạm trù triết học
Trong phép biện chứng duy vật, việc xem xét các cặp phạm trù trong mối quan
hệ tác động biện chứng giữa chúng không chỉ giúp làm sáng tỏ quy luật vận động của
sự vật, mà còn cung cấp cơ sở phương pháp luận để nhận thức và định hướng sự phát triển trong thực tiễn.
Phạm trù triết học là những khái niệm rộng nhất, trừu tượng nhất phản ánh
những mối liên hệ và khuynh hướng vận động cơ bản, phổ biến nhất của hiện thực
khách quan. Phạm trù triết học là hình thức hoạt động trí óc phổ biến của con người, là
kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn và khoa học nhằm phản ánh những mặt chung,
những mối quan hệ lặp đi lặp lại ở tất cả các sự vật và hiện tượng. Các phạm trù là kết
quả của quá trình tích lũy qua việc giúp con người suy ngẫm những chất liệu đã tiếp
thu được, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức khoa học. Thông qua việc suy
ngẫm các phạm trù, con người có thể nhận diện rõ bản chất sự vật, xác định hướng vận
động của nó, từ đó nâng cao hiệu quả hành động và khả năng cải biến thế giới.
Các phạm trù triết học mang những đặc điểm cơ bản sau:
Tính khách quan: Phạm trù có cơ sở khách quan về nguồn gốc, nội dung và bản
chất, còn hình thức biểu đạt và sử dụng là kết quả của quá trình phản ánh mang tính chủ quan.
Tính biện chứng: Do các sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan luôn
vận động và phát triển không ngừng, nên các phạm trù triết học cũng không bất
biến mà luôn thay đổi, chuyển hóa linh hoạt trong mối quan hệ biện chứng với
nhau. Một phạm trù có thể biến thành phạm trù khác trong điều kiện cụ thể. 4
1.3. Các cặp phạm trù bản trong phép biện chứng duy vật
Các mối liên hệ phổ biến giữa sự vật, hiện tượng được phép biện chứng duy vật
khái quát thành các cặp phạm trù cơ bản. Điểm đặc trưng của hệ thống phạm trù trong
phép biện chứng duy vật là tính cặp đôi – mỗi cặp phạm trù phản ánh một mặt đối lập
trong chỉnh thể thống nhất của thế giới khách quan. Trong hệ thống các phạm trù triết
học có sáu cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật, gồm:
Cặp phạm trù cái chung – cái riêng: Phản ánh mối liên hệ giữa những yếu tố
riêng biệt và những thuộc tính chung trong nhiều sự vật.
Cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả: Phản ánh mối liên hệ nhân – quả tất yếu
giữa các sự vật, hiện tượng.
Cặp phạm trù tất nhiên – ngẫu nhiên: Phản ánh sự thống nhất giữa tính quy luật
của hiện tượng và yếu tố bất ngờ.
Cặp phạm trù nội dung – hình thức: Phản ánh sự thống nhất giữa cấu trúc bên
trong và phương thức thể hiện của sự vật.
Cặp phạm trù bản chất – hiện tượng: Phản ánh mối quan hệ giữa cái ẩn sâu và
cái biểu hiện ra bên ngoài của sự vật.
Cặp phạm trù khả năng – hiện thực: Phản ánh sự chuyển hóa giữa cái chưa xảy ra và cái đang tồn tại.
1.4. Mối liên hệ giữa triết học sự phát triển bản thân
Sáu cặp phạm trù cơ bản không chỉ giúp con người có thêm kiến thức về mối
liên hệ phổ biến và quy luật vận động của sự vật, hiện tượng trong đời sống, mà còn là
phương tiện sắc bén giúp điều chỉnh và nâng cao thái độ, hành vi, từ đó giúp phát triển
bản thân một cách có cơ sở, khoa học và bền vững. Việc nắm vững các phạm trù còn
tạo nền tảng cho khả năng tự đánh giá, phản tư và thích ứng hiệu quả trong môi trường
sống và học tập luôn biến động. 5
PHẦN 2. VẬN DỤNG CÁC CẶP PHẠM TRÙ BIỆN CHỨNG TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN BẢN THÂN
2.1. Cặp phạm trù cái chung cái riêng
2.1.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Trong cuộc sống hằng ngày, con người không ngừng tiếp xúc và tương tác với
vô số sự vật, hiện tượng và quá trình cụ thể như cái bàn, cái ghế, các loại trái cây, hay
các bộ phận trên cơ thể con người. Dù mỗi sự vật có hình thức, công dụng và đặc điểm
khác nhau, song nếu quan sát dưới góc nhìn triết học và có hệ thống, giữa chúng luôn
tồn tại những điểm tương đồng, lặp đi lặp lại. Chính những đặc điểm giống nhau được
lặp lại ở nhiều sự vật như màu sắc, hình dạng, mục đích sử dụng, theo quan điểm của
triết học Mác – Lênin, được gọi là cái chung. Đây là phạm trù dùng để chỉ những mặt,
những thuộc tính được lặp đi lặp lại trong những hiện tượng, sự vật khác.
Bên cạnh đó, triết học Mác – Lênin còn chỉ ra một phạm trù mang tính đặc thù
cao hơn là cái đơn nhất, dùng để chỉ những đặc điểm, yếu tố duy nhất, độc đáo, không
lặp lại ở bất kỳ sự vật, hiện tượng nào khác. Ví dụ điển hình như dấu vân tay hay cấu
trúc ADN của mỗi người, những yếu tố này không có sự trùng lặp giữa những cá nhân,
kể cả ở những cặp song sinh cùng trứng, đó là những biểu hiện của cái đơn nhất.
Mối quan hệ giữa cái chung, cái riêng và cái đơn nhất là mối quan hệ biện
chứng, không tách rời mà tồn tại trong sự gắn bó và tác động qua lại. Cái chung không
tồn tại độc lập mà chỉ biểu hiện thông qua cái riêng, và ngược lại, cái riêng luôn chứa
đựng những yếu tố chung, đồng thời mang bản sắc cá biệt của cái đơn nhất. Cái riêng
vì thế là hình thức tồn tại thực tế, cụ thể nhất của cái chung và cái đơn nhất, là nơi hai
phạm trù kia thể hiện sự thống nhất trong đa dạng. Đặc biệt, triết học nhấn mạnh rằng:
cái riêng là toàn diện và phong phú hơn cái chung, nhưng cái chung lại phản ánh bản
chất sâu sắc và mang tính khái quát cao hơn cái riêng.
2.1.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân
Trong bối cảnh phát triển cá nhân, việc hiểu rõ mối quan hệ này giúp mỗi người
vừa có thể học hỏi, kế thừa các giá trị phổ quát từ những người đi trước, vừa giữ gìn và
phát huy những yếu tố cá biệt làm nên bản sắc của chính mình. Chẳng hạn, ngày nay,
trên các nền tảng mạng xã hội hay những kênh phát triển bản thân, có vô số lời khuyên
được lan truyền rộng rãi và được cho là hiệu quả, như lối sống lành mạnh bắt đầu bằng
thói quen dậy sớm vào lúc 5 giờ, đọc sách, tập các bài thể dục, lập thời gian biểu và cố
gắng hoàn thành hết các mục trong danh sách, đó là biểu hiện của cái chung: những
yếu tố được rút ra từ kinh nghiệm của nhiều người thành công hay những người có sức
ảnh hưởng trên các trang mạng xã hội. Tuy nhiên, không phải ai cũng thực sự phù hợp 6
với cách phát triển bản thân như vậy. Nếu chỉ áp dụng một cách máy móc mà không
xét đến cái riêng, cái đơn nhất của mỗi chủ thể như điều kiện thực tiễn như tình trạng
sức khỏe, tính cách, lịch trình công việc, thói quen sinh hoạt, điều kiện kinh tế hay các
yếu tố khác, thì hiệu quả có thể không như mong đợi, hoặc tệ hơn là phản tác dụng.
Để vận dụng hiệu quả cặp phạm trù này, mỗi cá nhân trước hết cần học cách tiếp
cận các mô hình, lời khuyên và công thức thành công một cách chủ động, có chọn lọc.
Việc kế thừa những giá trị phổ quát từ người đi trước là cần thiết, nhưng không đồng
nghĩa với việc sao chép rập khuôn, lâu dần dẫn đến đánh mất cái riêng biệt, độc lập của
mình. Cá nhân cần biết điều chỉnh và cá nhân hóa cái chung, nghĩa là chọn lọc các
phương pháp phù hợp, linh hoạt điều chỉnh theo hoàn cảnh và đặc điểm riêng của bản
thân. Ví dụ, nếu không thể dậy sớm lúc 5 giờ sáng, có thể chọn khung giờ làm việc
hiệu quả nhất trong ngày của mình để tập trung phát triển; nếu không có điều kiện đọc
sách giấy, có thể học qua podcast hoặc video. Việc áp dụng linh hoạt này giúp cái
chung phát huy được giá trị trong cái riêng, đồng thời giúp cái riêng phát triển không
tách rời khỏi những nguyên tắc phổ quát của cái chung.
Như Jim Rohn từng nói: “Hãy học từ người khác, nhưng đừng đánh mất chính
mình.” Câu nói ấy phản ánh tinh thần biện chứng giữa cái chung và cái riêng, vừa học
hỏi, kế thừa, vừa sáng tạo và điều chỉnh phù hợp với chính mình. Phát triển bản thân
hiệu quả không phải là quá trình sao chép lý tưởng của người khác, mà là hành trình
tìm ra cách tốt nhất để áp dụng những nguyên lý phổ quát vào thực tế cá nhân. Chỉ khi
giữ được sự cân bằng này, con người mới tránh được thái độ cực đoan, hoặc cá nhân
hóa một cách biệt lập, hoặc đánh mất mình trong các khuôn mẫu chung, và đạt được sự
phát triển toàn diện, bền vững trong xã hội hiện đại đầy biến động.
2.2. Cặp phạm trù nguyên nhân kết quả
2.2.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Nguyên nhân và kết quả là cặp phạm trù phản ánh sự vận động, biến đổi và phát
triển không ngừng của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Nguyên
nhân là khái niệm chỉ sự tác động qua lại giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các
sự vật với nhau, tạo ra sự biến đổi nhất định. Trong khi đó, kết quả là sự biến đổi đã
diễn ra, là sản phẩm của các yếu tố mang tính nguyên nhân.
Khác với quan điểm siêu hình coi quan hệ nguyên nhân và kết quả là một chiều,
cứng nhắc và tách rời, phép biện chứng duy vật khẳng định rằng mối quan hệ giữa
nguyên nhân và kết quả mang tính biện chứng, nghĩa là chúng không chỉ gắn bó mật
thiết mà luôn vận động và có khả năng chuyển hóa qua lại. Theo nguyên lý biện chứng,
nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng khi kết quả xuất hiện, nó không nằm yên một cách 7
thụ động mà còn có thể tác động trở lại nguyên nhân, làm biến đổi, điều chỉnh hoặc
thậm chí triệt tiêu nguyên nhân ban đầu. Tức là, kết quả không chỉ là hệ quả mà còn có
thể trở thành nguyên nhân mới trong một chuỗi liên hệ tiếp theo, tạo nên quá trình vận
động liên tục và phức tạp của thực tiễn. Như vậy, một hiện tượng có thể vừa là nguyên
nhân trong mối quan hệ này, vừa lại là kết quả trong một mối quan hệ khác.
2.2.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân
Trong bối cảnh phát triển cá nhân, hiểu đúng và vận dụng linh hoạt mối quan hệ
giữa nguyên nhân và kết quả sẽ giúp cá nhân chủ động nhận thức, điều chỉnh hành vi
và hoạch định hướng đi phù hợp cho bản thân. Mỗi trạng thái tinh thần, mỗi thành công
hay thất bại đều bắt nguồn từ một chuỗi nguyên nhân, có thể là khách quan từ môi
trường sống, hoặc chủ quan từ thói quen và lựa chọn cá nhân. Tư tưởng này được học
giả Lê Công Sự nhấn mạnh: “Trong quá trình phát triển, con người không chỉ chịu tác
động của các nguyên nhân bên ngoài mà còn phải chủ động tạo ra các nguyên nhân bên
trong để thúc đẩy sự tiến bộ của bản thân. Việc nhận thức và vận dụng đúng đắn mối
quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là chìa khóa để đạt được sự phát triển cá nhân bền vững”2.
Trong thực tiễn, không ít người, đặc biệt là giới trẻ, rơi vào trạng thái trì trệ,
chán nản khi theo đuổi mục tiêu cá nhân, nhưng lại không hiểu rõ nguyên nhân cốt lõi
gây ra tình trạng đó. Nhiều người chỉ tập trung vào “kết quả không như ý” mà không
quay lại phân tích những nguyên nhân sâu xa: thiếu động lực do mục tiêu không rõ
ràng, lối sống thiếu khoa học, thói quen trì hoãn hoặc ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường
số như mạng xã hội. Ví dụ, một sinh viên liên tục đạt kết quả học tập không tốt có thể
do các nguyên nhân: thiếu phương pháp học phù hợp, mất cân bằng thời gian, không có
kế hoạch rõ ràng hoặc bị phân tán bởi điện thoại. Khi nguyên nhân thực sự chưa được
nhìn nhận đúng đắn, mọi nỗ lực cải thiện chỉ là nhất thời, thậm chí có thể phản tác
dụng. Chỉ khi nhận thức đúng được nguyên nhân, cá nhân mới có thể xây dựng các
biện pháp khắc phục phù hợp như thay đổi thói quen, điều chỉnh môi trường học tập,
cải thiện kỹ năng tự quản lý, giảm thời gian sử dụng thiết bị điện tử, và từ đó tạo ra một
chuỗi kết quả tích cực mới. Kết quả tích cực này khi đã xuất hiện sẽ không đứng yên,
mà có thể đóng vai trò như một nguyên nhân mới. Tính đa chiều và phụ thuộc vào hệ
quy chiếu này cho thấy, mọi hiện tượng đều tồn tại trong những hệ thống quan hệ
nguyên nhân và kết quả chồng chéo, đan xen và luôn biến đổi.
Đặc biệt, triết học nhấn mạnh rằng kết quả không hoàn toàn bị động mà có khả
năng tác động ngược lại nguyên nhân, làm thay đổi hành vi ban đầu. Khi một cá nhân
thấy được kết quả cải thiện rõ rệt sau khi thay đổi phương pháp học tập, cảm giác thành
công đó có thể củng cố niềm tin, từ đó tạo ra động lực mạnh mẽ để tiếp tục thay đổi, 8
tức là chính kết quả trở thành động lực (một nguyên nhân mới) cho chu kỳ phát triển
tiếp theo. Đây là sự chuyển hóa biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả trong đời
sống con người. Việc không ngừng phân tích, đánh giá nguyên nhân và kết quả trong
từng tình huống cụ thể sẽ giúp mỗi người tự điều chỉnh chính mình một cách hiệu quả,
từ đó tiến gần hơn đến mục tiêu phát triển toàn diện, bền vững và có ý nghĩa.
2.3. Cặp phạm trù tất nhiên ngẫu nhiên
2.3.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Tất nhiên là phạm trù chỉ những mối liên hệ bên trong có tính bản chất, quyết
định, mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng. Nó là cái chắc chắn xảy ra khi hội đủ
điều kiện. Ví dụ, trong toán học, 1 + 1 tất yếu bằng 2, không phụ thuộc vào điều kiện
chủ quan hay hoàn cảnh. Trái lại, ngẫu nhiên là phạm trù phản ánh những mối liên hệ
không mang tính quy luật, phụ thuộc vào những yếu tố tình cờ, những điều kiện, hoàn
cảnh bên ngoài tác động, vì vậy chúng có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện. Ví dụ
như việc giảng viên chọn một sinh viên bất kỳ để trả lời câu hỏi là hoàn toàn ngẫu
nhiên, không do bản chất nội tại của sinh viên ấy quy định.
Theo mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên, chúng không tồn tại
cô lập hay đối lập tuyệt đối mà cùng tồn tại trong một chỉnh thể, tác động và chuyển
hóa lẫn nhau. Trong quá trình phát triển, tất nhiên luôn vạch đường đi của mình qua vô
vàn yếu tố ngẫu nhiên, còn ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện cụ thể của tất nhiên. Tất
nhiên quy định xu hướng chính, chiều hướng phát triển chủ đạo, nhưng ngẫu nhiên lại
có thể khiến sự phát triển ấy diễn ra nhanh hơn hoặc chậm lại, thậm chí thay đổi hướng
đi trong những hoàn cảnh nhất định. Do đó, trong nhận thức và hành động, con người
cần dựa vào cái tất nhiên làm nền tảng, nhưng không được xem nhẹ hoặc loại bỏ vai trò
của cái ngẫu nhiên. Quan điểm này đã được Ph. Ăngghen tổng kết sâu sắc khi ông viết:
“Cái mà người ta quả quyết cho là tất yếu lại hoàn toàn do những ngẫu nhiên thuần túy
cấu thành, và cái được coi là ngẫu nhiên, lại có hình thức, dưới đó ẩn nấp cái tất yếu”3.
Câu nói này nhấn mạnh bản chất thống nhất và chuyển hóa lẫn nhau giữa hai phạm trù:
đằng sau mọi cái ngẫu nhiên đều có xu hướng tất yếu đang vận động, và cái tất yếu
luôn được thể hiện qua vô vàn hình thức ngẫu nhiên khác nhau.
2.3.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân
Tư tưởng này có ý nghĩa đặc biệt khi áp dụng vào quá trình phát triển bản thân.
Mỗi cá nhân đều có thể chủ động thiết lập các yếu tố tất nhiên như: mục tiêu rõ ràng,
kế hoạch rèn luyện cụ thể, thói quen học tập và làm việc khoa học. Tuy nhiên, bên cạnh
phần tất yếu đó, cuộc sống luôn chứa đựng những yếu tố ngẫu nhiên mà ta không thể
dự báo trước, có thể là một sự cố về sức khỏe, một cuộc gặp gỡ tình cờ với người
truyền cảm hứng, một quyển sách xuất hiện đúng thời điểm. Chẳng hạn, việc một sinh 9
viên chăm chỉ học tập là tất nhiên dẫn đến kết quả tốt, nhưng nếu đúng vào ngày thi
người đó bị ốm và làm bài không tốt thì yếu tố ấy là ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên này tuy
không quyết định bản chất quá trình học tập, nhưng lại có thể ảnh hưởng đến biểu hiện
cụ thể của kết quả. Trong một ví dụ ngược lại, một người đang mất phương hướng
trong cuộc sống có thể tình cờ đọc được một cuốn sách hay, và điều đó trở thành bước
ngoặt giúp họ thay đổi toàn bộ tư duy, lối sống và cách hành xử. Điều này cho thấy: khi
cá nhân có sẵn nội lực và tinh thần sẵn sàng, thì cái ngẫu nhiên có thể được chuyển hóa
thành cái tất nhiên, tức là trở thành một phần trong quá trình phát triển lâu dài.
Tuy nhiên, sự chuyển hóa đó chỉ có thể diễn ra nếu cá nhân có nền tảng nội lực
vững chắc và tinh thần chủ động tiếp nhận. Như vậy có nghĩa, nếu cá nhân muốn hoàn
thiện bản thân mình, trước hết cần sự chuẩn bị từ trước bằng việc chăm chỉ học tập để
nâng cao kiến thức, kinh nghiệm, rèn luyện đạo đức. Nếu không có sự chuẩn đó, tức là
không có tất nhiên, thì ngẫu nhiên dù xuất hiện cũng không thể phát huy giá trị tích
cực. Đồng thời, hãy giữ một tâm thế cởi mở, chủ động nắm bắt và chuyển hóa những
tình huống bất ngờ, những mối quan hệ mới, những thay đổi tưởng chừng là rủi ro, vì
đó có thể là cái ngẫu nhiên giúp đẩy nhanh, hoàn thiện hơn cái tất nhiên. Ngược lại,
nếu chỉ tuân thủ một cách máy móc những khuôn mẫu cứng nhắc mà không linh hoạt
với các biến số của cuộc sống, thì con người cũng dễ bị gãy đổ khi gặp phải những ngẫu nhiên tiêu cực.
Trong phát triển cá nhân, nhận thức đúng mối quan hệ này giúp mỗi người chủ
động xây dựng nền tảng tất yếu, nhưng cũng luôn ở trạng thái mở, để đón nhận, nắm
bắt và chuyển hóa cái ngẫu nhiên thành cơ hội phát triển. Đó là biểu hiện của tư duy
biện chứng: linh hoạt, sâu sắc và chủ động trong mọi hoàn cảnh.
2.4. Cặp phạm trù nội dung hình thức
2.4.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Nội dung là phạm trù chỉ toàn bộ những yếu tố, mặt, quá trình, mối liên hệ bên
trong tạo nên sự vật, hiện tượng, tức là phần phản ánh bản chất, quy định xu hướng vận
động và phát triển khách quan của sự vật đó. Trong khi đó, hình thức là phạm trù chỉ
phương thức tồn tại và biểu hiện của nội dung ấy, không chỉ là cái bề ngoài dễ nhận
thấy mà còn là cấu trúc tương đối ổn định thể hiện mối liên hệ giữa các yếu tố bên
trong. Để hiểu đơn giản, ở một món ăn, nguyên liệu, gia vị, chất lượng từng thành phần
là nội dung, còn cách chế biến và trình bày món ăn là hình thức.
Trong mối quan hệ biện chứng, nội dung và hình thức không tồn tại tách rời, mà
gắn bó mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Tuy nhiên, nội dung giữ vai trò quyết
định vì nó phản ánh bản chất và xu thế vận động khách quan của sự vật. Mỗi nội dung 10
đều cần một hình thức tương ứng để tồn tại và biểu hiện, không có hình thức nào lại
không chứa đựng nội dung, cũng như không một nội dung nào lại tồn tại bên ngoài một
hình thức cụ thể nào đó. Hình thức, tuy không quyết định bản chất sự vật, nhưng có thể
tạo điều kiện thuận lợi hoặc kìm hãm sự phát triển của nội dung. Khi hình thức phù
hợp với nội dung, nó thúc đẩy sự phát triển tự nhiên. Ngược lại, khi hình thức trở nên
lỗi thời, lạc hậu hoặc rập khuôn, nó sẽ trở thành lực cản, thậm chí kìm hãm hoặc làm
biến dạng nội dung. Trong những trường hợp như vậy, nội dung mới phát triển đến
mức nhất định sẽ phá bỏ hình thức cũ, xây dựng hình thức mới phù hợp, đây là một quá
trình vận động tất yếu trong mọi sự biến đổi.
Tiếp tục dùng ví dụ về món ăn ở trên để phân tích mối quan hệ chuyển hóa biện
chứng này. Một món ăn, chẳng hạn, không chỉ được đánh giá qua nguyên liệu và chất
lượng (nội dung), mà còn qua cách chế biến và trình bày (hình thức). Một món ăn ngon
sẽ trở nên hấp dẫn và giá trị hơn khi được trình bày tinh tế, sạch sẽ, trong khi đó, một
món ăn dù nguyên liệu quý giá, bổ dưỡng nhưng được bày biện sơ sài, thiếu thẩm mỹ
có thể khiến người dùng không mấy mặn mà. Trong trường hợp này, hình thức không
quyết định nội dung, nhưng lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc tiếp nhận nội dung đó.
2.4.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân
Trong phát triển cá nhân, mối quan hệ này phản ánh rõ qua quá trình phát triển
năng lực bên trong (nội dung) và kỹ năng thể hiện bản thân ra bên ngoài (hình thức).
Nhà tâm lý học Amy Cuddy đã khẳng định rằng: “Cách bạn thể hiện bản thân cũng
quan trọng không kém những gì bạn biết”1. Câu nói này không chỉ phản ánh yêu cầu xã
hội hiện đại, mà còn là biểu hiện sinh động của mối quan hệ biện chứng giữa nội dung
và hình thức: không thể chỉ chú trọng một mặt mà bỏ qua mặt kia. Một người có kiến
thức sâu sắc, kỹ năng chuyên môn tốt, tư duy phân tích rõ ràng, nhưng lại thiếu khả
năng giao tiếp, thuyết trình, ăn mặc lôi cuốn hay phong thái chuyên nghiệp, sẽ rất khó
được công nhận và tiếp cận cơ hội trong môi trường học tập, làm việc hiện đại. Ngược
lại, nếu một người chăm chút cho hình thức, nói năng trôi chảy, ăn mặc bắt mắt, nhưng
thiếu thực chất bên trong, thì sớm muộn cũng bộc lộ sự sáo rỗng và bị đào thải.
Thêm một dẫn chứng từ chính quá trình phát triển tâm lý để minh họa rõ hơn
điều này. Khi còn nhỏ, con người chưa có nhiều tri thức và kinh nghiệm, nên dù hình
thức thể hiện còn ngây ngô, vụng về, điều đó không ảnh hưởng nhiều đến khả năng học
hỏi. Tuy nhiên, khi trưởng thành, năng lực bên trong tăng lên, học thêm nhiều kỹ năng,
mở rộng hiểu biết, thì việc duy trì hình thức cũ có thể khiến nội dung bị bó hẹp. Trong
trường hợp đó, nội dung mới, tức là năng lực, tri thức tích lũy, buộc phải tìm kiếm hình
thức thể hiện mới tương ứng để phát huy giá trị thực sự. Sự phát triển nội dung bên
trong tất yếu sẽ dẫn đến yêu cầu thay đổi hình thức cho phù hợp: học cách ăn mặc 11
chuyên nghiệp, nâng cao kỹ năng giao tiếp, trình bày ý tưởng mạch lạc hơn. Từ đó, nội
dung tiếp tục được phát triển mạnh hơn nữa thông qua sự hỗ trợ của hình thức mới phù hợp hơn.
Tổng kết lại, để vận dụng hiệu quả cặp phạm trù này vào phát triển bản thân, cá
nhân cần đồng thời quan tâm đến hai mặt: trau dồi nội dung, tức là không ngừng học
hỏi, rèn luyện năng lực, làm giàu tri thức, phẩm chất; vừa chú ý cải thiện hình thức, tức
là nâng cao khả năng diễn đạt, giao tiếp, tác phong và phong cách thể hiện phù hợp với
hoàn cảnh xã hội. Một cách cụ thể, nếu bạn giỏi chuyên môn, hãy học thêm kỹ năng
thuyết trình để chia sẻ hiệu quả trong lớp học hoặc nơi làm việc. Nếu bạn có tư duy
phản biện tốt, hãy luyện cách đặt câu hỏi, thể hiện ý tưởng bằng ngôn ngữ rõ ràng, súc
tích. Nếu bạn đã có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, hãy học cách xây dựng hình ảnh
cá nhân để gây ấn tượng chuyên nghiệp trên mạng xã hội và khi phỏng vấn xin việc.
Mỗi điều chỉnh hình thức phù hợp sẽ góp phần giúp nội dung bên trong được nhận diện
đúng và phát huy tối đa giá trị. Chính sự đồng bộ, tương thích giữa nội dung và hình
thức sẽ tạo nên một cá nhân toàn diện, có phẩm chất bên trong vững chắc, và có cách
thể hiện thuyết phục, thích nghi tốt với yêu cầu của xã hội hiện đại.
2.5. Cặp phạm trù bản chất hiện tượng
2.5.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Bản chất là phạm trù dùng để chỉ tổng thể các mối liên hệ tất yếu, khách quan và
tương đối ổn định nằm bên trong sự vật, hiện tượng, quy định sự vận động và phát triển
của nó. Bản chất không hiện diện một cách trực quan, mà chỉ có thể được nhận thức
thông qua quá trình phân tích, nghiên cứu và khái quát hóa các hiện tượng bề ngoài.
Ngược lại, hiện tượng là phạm trù chỉ những biểu hiện bên ngoài, dễ thấy và dễ biến
đổi, là hình thức biểu hiện của bản chất trong điều kiện nhất định. Một ví dụ đơn giản
để phân biệt: một ngôi nhà có thể mang nhiều hình thức khác nhau, to, nhỏ, đẹp, cũ, đó
là hiện tượng; nhưng dù biểu hiện ra sao, bản chất của ngôi nhà vẫn là để ở, để che
nắng che mưa và phục vụ sinh hoạt con người.
Mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng là mối quan hệ biện chứng, thể hiện sự
thống nhất giữa cái bên trong và cái biểu hiện ra bên ngoài. Bản chất luôn tồn tại thông
qua hiện tượng, còn hiện tượng là sự thể hiện của một bản chất nào đó. Bản chất quyết
định hiện tượng, nhưng không phải lúc nào hiện tượng cũng phản ánh một cách đầy đủ,
chính xác bản chất. Trong nhiều trường hợp, hiện tượng có thể che giấu hoặc làm sai
lệch nhận thức về bản chất, đặc biệt khi hiện tượng bị tác động bởi các yếu tố ngoại
cảnh hoặc do trình độ nhận thức còn hạn chế. Tuy nhiên, nhìn chung, giữa bản chất và
hiện tượng luôn có xu hướng phù hợp vì sự vật là một chỉnh thể thống nhất; sự mâu 12
thuẫn giữa chúng chỉ là tạm thời và sẽ được giải quyết trong quá trình vận động phát triển của sự vật.
2.5.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân
Trong quá trình phát triển bản thân, việc nhận thức đúng mối quan hệ giữa bản
chất và hiện tượng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhiều người trong xã hội hiện nay
dễ bị cuốn theo những hiện tượng bề ngoài, như hình ảnh của sự bận rộn, thành đạt, sự
nổi bật trên mạng xã hội, mà không đủ thời gian và chiều sâu để phân tích bản chất thật
sự ẩn sau những biểu hiện đó. Một người có vẻ như rất năng động, tham gia nhiều hoạt
động có thể trong thực tế thiếu chiều sâu, thiếu hiệu quả thực chất. Ngược lại, một
người trầm lặng, ít thể hiện lại có nội lực mạnh mẽ, khả năng tư duy chiến lược hoặc
phẩm chất đạo đức tốt đẹp.
Do đó, mỗi cá nhân cần hình thành thói quen suy nghĩ phản biện, không vội
vàng đánh giá mọi thứ chỉ qua vẻ bề ngoài. Trước hết, hãy tập trung vào việc xây dựng
nội lực: học tập nghiêm túc, rèn luyện kỹ năng bền vững, bồi dưỡng phẩm chất đạo
đức, phát triển tư duy độc lập. Đây là những yếu tố cốt lõi làm nên bản chất của một
con người trưởng thành. Tiếp theo, cần học cách quan sát hiện tượng một cách có phân
tích, thử đặt câu một số câu hỏi như: "Những gì trước mắt có phản ánh đúng thực chất
không?", "Người này thành công thật sự hay chỉ đang tạo ra hình ảnh thành công?".
Việc thường xuyên phản biện như vậy giúp ta điều chỉnh kỳ vọng, cách tiếp nhận thông
tin và định hướng hành vi một cách lý trí hơn.
Không những thế, tư duy này còn giúp cá nhân tự nhận thức chính mình một
cách trung thực, kiểm soát được tình trạng “nói nhiều làm ít”, “hình thức cao hơn nội
dung”. Diễn giả Stephen R. Covey từng khuyên các thính giả của mình rằng: “Hãy học
cách nhìn đằng sau bề mặt, bạn sẽ thấy những gì thực sự quan trọng” .1 Tư tưởng này
hoàn toàn tương thích với quan điểm của triết học Mác – Lênin, khi khẳng định rằng
muốn nhận thức đúng sự vật, không chỉ dừng lại ở hiện tượng mà phải đi sâu vào bản
chất thông qua tư duy, phân tích, so sánh và tổng hợp.
2.6. Cặp phạm trù khả năng hiện thực
2.6.1. Khái quát về cặp phạm trù mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Cặp phạm trù khả năng và hiện thực phản ánh mối quan hệ giữa cái chưa xảy ra
nhưng có thể xảy ra và cái đã tồn tại khách quan trong thực tế. Khả năng là phạm trù
biểu hiện giai đoạn hình thành ban đầu của sự vật, hiện tượng, khi nó mới chỉ tồn tại
dưới dạng tiền đề, như một xu hướng vận động có thể xảy ra. Khả năng không phải là
cái chắc chắn xuất hiện, mà dựa trên tổng thể các tiền đề, điều kiện, và mối liên hệ chín
muồi để có thể dẫn đến sự hình thành một hiện thực mới. Ngược lại, hiện thực là cái 13
đang tồn tại, là kết quả của những khả năng đã được hiện thực hóa, đồng thời lại là nền
tảng để sinh ra những khả năng mới. Trong ví dụ đơn giản, một hạt thóc là hiện tượng
chứa đựng trong nó khả năng trở thành cây lúa, nhưng điều đó chỉ xảy ra nếu có đủ
điều kiện chín muồi: đất, nước, ánh sáng, thời gian, và cả sự chăm sóc con người.
Mối quan hệ giữa khả năng và hiện thực là mối quan hệ biện chứng, gắn bó và
chuyển hóa lẫn nhau, thể hiện ở chỗ: khả năng, khi có điều kiện phù hợp, sẽ trở thành
hiện thực. Đồng thời, mọi hiện thực đều là kết quả phát triển từ khả năng trước đó và là
nền tảng để sinh ra những khả năng khác nhau. Tuy nhiên, không phải khả năng nào
cũng được hiện thực hóa, vì ngoài các yếu tố khách quan còn phụ thuộc vào ý chí chủ
quan và hành động thực tiễn của con người. Triết học chỉ ra rằng: hiện thực bao hàm
nhiều khả năng khác nhau, nhưng chỉ những khả năng được chủ động thúc đẩy và có
điều kiện thuận lợi mới trở thành hiện thực. Do vậy, để khả năng phát triển, con người
không thể thụ động chờ đợi, mà phải hành động để biến khả năng thành thực tế sống
động. Tư tưởng này được nhà phát triển cá nhân John C. Maxwell thể hiện rất rõ khi
ông khẳng định: “Talent is never enough. It’s what you do with it makes it different”4.
Câu nói cho thấy khả năng không tự nhiên chuyển hóa thành hiện thực mà chỉ khi được
kích hoạt bởi hành động, kỷ luật, ý chí, và môi trường phù hợp thì mới có thể phát triển bền vững.
2.6.2. Vận dụng cặp phạm trù vào phát triển bản thân
Trong quá trình phát triển bản thân, cặp phạm trù khả năng và hiện thực mang ý
nghĩa chỉ đạo quan trọng, giúp mỗi người định hướng hành động một cách chủ động và
có cơ sở. Mỗi cá nhân đều sở hữu những tiềm năng phong phú, đó có thể là tư duy
logic, năng khiếu nghệ thuật, khả năng giao tiếp, tư duy chiến lược, hay sức sáng tạo.
Những tiềm năng ấy chính là khả năng theo quan điểm triết học Mác – Lênin, là những
yếu tố chưa được hiện thực hóa nhưng có thể trở thành hiện thực nếu gặp đúng điều
kiện phát triển. Tuy nhiên, khả năng không tự động biến thành hiện thực, mà chỉ có thể
được phát triển khi cá nhân có nhận thức đúng đắn, hành động quyết liệt và kiên trì
trong một môi trường thuận lợi.
Chẳng hạn, một người có năng khiếu mỹ thuật từ nhỏ, có khả năng cảm thụ và
thể hiện cái đẹp tốt hơn người khác, chỉ thực sự biến khả năng đó thành hiện thực khi
người ấy được rèn luyện đúng phương pháp, có thầy giỏi hướng dẫn, được làm việc
trong môi trường sáng tạo và không ngừng thực hành. Nếu thiếu những yếu tố đó, năng
khiếu nghệ thuật ấy sẽ mãi chỉ là tiềm năng chưa được đánh thức, không thể hình thành
năng lực thực tế và càng không thể trở thành hiện thực là một nghệ sĩ, nhà thiết kế hay
người sáng tạo có ảnh hưởng. Ngược lại, khi cá nhân biết tận dụng mọi nguồn lực, thời 14
gian, kiến thức, sự hỗ trợ từ người khác, thì năng khiếu ấy có thể từng bước trở thành
hiện thực, góp phần hình thành một sự nghiệp bền vững.
Để vận dụng hiệu quả cặp phạm trù này vào phát triển bản thân, trước hết, mỗi
cá nhân cần chủ động khám phá và nhận diện những khả năng tiềm ẩn của chính mình,
thông qua trải nghiệm, phản hồi từ người khác, hoặc tự đánh giá qua các hoạt động
thực tế. Việc này giúp xác định rõ điểm mạnh, năng lực đặc biệt cũng như các yếu tố
cần phát triển. Tiếp theo, cá nhân cần đặt ra các mục tiêu phù hợp với khả năng ấy,
không viển vông nhưng cũng không tự giới hạn. Đồng thời, xây dựng lộ trình hành
động cụ thể: học tập có kế hoạch, tìm kiếm cơ hội thực hành, rèn luyện thói quen kiên
trì và theo dõi sự tiến bộ định kỳ. Quan trọng hơn, cần tạo hoặc tìm kiếm môi trường
có điều kiện thuận lợi như kết nối với người cùng chí hướng, tham gia các tổ chức,
cộng đồng học tập, hoặc chủ động vượt qua giới hạn bản thân bằng việc thử sức ở những lĩnh vực mới.
Cuối cùng, cá nhân cần ghi nhớ rằng quá trình chuyển hóa khả năng thành hiện
thực là một tiến trình lâu dài, không thể diễn ra trong thời gian ngắn. Có những khả
năng chỉ được bộc lộ và phát triển khi gặp đúng hoàn cảnh, nên việc chuẩn bị tâm thế
kiên nhẫn, bền bỉ là yếu tố then chốt. Mỗi hành động cụ thể, dù nhỏ, như viết một bài
luận, thử một buổi thuyết trình, đăng ký một khóa học ngắn hạn, đều là bước đi chuyển
hóa cái khả năng thành cái hiện thực. Chính sự chủ động, kiên trì và biết tự tạo điều
kiện phù hợp sẽ là cầu nối đưa khả năng tiến gần đến hiện thực, và từ đó, mở ra những
giá trị mới trong hành trình phát triển bản thân toàn diện. 15
PHẦN 3. KẾT LUẬN
Sáu cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật gồm: nguyên nhân và kết
quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, khả năng và hiện thực, nội dung và hình thức, cái riêng và
cái chung, và bản chất và hiện tượng không chỉ mang giá trị lý luận sâu sắc mà còn có
tính ứng dụng thiết thực trong quá trình phát triển bản thân.
Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả khẳng định rằng mọi kết quả đều có
nguồn gốc từ những nguyên nhân cụ thể, khách quan. Việc phân tích đúng nguyên nhân
giúp con người điều chỉnh hành vi, giúp thúc đẩy tư duy phản biện và tinh thần tự chịu
trách nhiệm, thay vì quy kết quả cho yếu tố may rủi. Cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu
nhiên cho thấy rằng những yếu tố bất ngờ trong cuộc sống, dù có vẻ như đến tình cờ,
thực chất vẫn nằm trong dòng vận động chung của cái tất yếu. Chuẩn bị kỹ lưỡng và
phát triển nội lực chính là điều kiện để biến các yếu tố ngẫu nhiên thành bước ngoặt
quan trọng. Cặp phạm trù khả năng và hiện thực phản ánh quy luật chuyển hóa từ tiềm
năng thành kết quả. Mỗi cá nhân đều sở hữu những năng lực riêng, nhưng chỉ thông
qua hành động cụ thể, sự kiên trì rèn luyện và điều kiện thích hợp, những khả năng ấy
mới được hiện thực hóa. Cặp phạm trù nội dung và hình thức đặt ra yêu cầu phát triển
toàn diện giữa giá trị bên trong và cách thể hiện ra bên ngoài. Mối quan hệ này đòi hỏi
cá nhân vừa bồi dưỡng tri thức, kỹ năng, phẩm chất, vừa rèn luyện cách giao tiếp, ứng
xử phù hợp với môi trường thực tiễn. Với cặp phạm trù cái riêng và cái chung, phép
biện chứng gợi mở tư duy linh hoạt trong việc dung hòa giữa cá tính cá nhân và tinh
thần hợp tác tập thể. Việc học hỏi từ người khác, nhưng vẫn giữ được nguyên tắc và
bản lĩnh cá nhân, là biểu hiện của sự phát triển hài hòa và bền vững. Cuối cùng, cặp
phạm trù bản chất và hiện tượng nhấn mạnh vai trò của tư duy chiều sâu trong nhận
thức. Thay vì đánh giá sự vật hiện tượng qua biểu hiện bên ngoài, cần phân tích và
khám phá bản chất bên trong mới có thể đưa ra nhận định chính xác và khách quan.
Từ đó có thể thấy, sáu cặp phạm trù không chỉ giúp con người nhận thức đúng
đắn về thế giới khách quan, mà còn đóng vai trò như kim chỉ nam cho việc điều chỉnh
tư duy, hành vi và thái độ trong quá trình hoàn thiện và phát triển bản thân. Việc vận
dụng linh hoạt các cặp phạm trù này góp phần hình thành nền tảng triết học thực hành,
giúp cá nhân thích ứng tốt hơn với những biến đổi của cuộc sống, đồng thời từng bước
vươn tới sự phát triển toàn diện và bền vững. 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu tham khảo khác có liên quan đến biện chứng và phát triển cá nhân.
2. Lê Công Sự, Vấn đề phạm trù trong lịch sử triết học.
3. C. Mác & Ph. Ăngghen: Toàn tập
4. John C. Maxwell, Talent is never enough: Discover the choices that will take you beyond your talent, 17