Câu 1: Lấy dụ về chuẩn mực hội:
- Chào hỏi một cách thân mật tôn trọng những người mặt khi đến một địa điểm
nhất định.
- Lắng nghe người khác khi họ đang nói, tránh cắt ngang lời họ. Nếu họ tình bị
gián đoạn, nên xin lỗi.
- Đối xử với người khác một cách tôn trọng, tránh những từ tục tĩu hoặc thô tục.
- Giữ gìn vệ sinh trang phục phù hợp theo hoàn cảnh.
- Trong các không gian công cộng phải duy trì giọng nói thích hợp, tránh la hét ồn
ào gây khó chịu cho người khác.
Câu 2: Ngày nay, trong hội xuất hiện rất nhiều những thông tin về các hành vi sai
lệch chuẩn mực của người dân đặc biệt thanh thiếu niên Việt Nam. Vậy thì
những hành vi đó gây nguy hiểm cho hội hay không?
- Căn cứ vào nội dung, tính chất của chuẩn mực hội, ta thể phân loại những
hành vi sai lệch chuẩn mực hội thành 2 loại: Hành vi tích cực hành vi tiêu cực.
+ Hành vi tích cực những hành vi phá vỡ những chuẩn mực hội cũ, những
chuẩn mực lâu đời c hủ để tạo ra những chuẩn mực mới phù hợp, tiến bộ, được
thừa nhận rộng rãi trong hội hiện tại. Như vậy, hành vi này không gây hại đến
hội thậm chí còn giúp hội phát triển một cách tốt đẹp toàn diện hơn.
+ Hành vi tiêu cực những hành vi vi phạm, phá vỡ những chuẩn mực hội đang
thịnh hành, những quy chuẩn vốn trong hội, tính chất chống đối hội, gây
hại đến con người môi trường xung quanh. Đây những hành vi tính nguy
hiểm nghiêm trọng đến hội.
- Tổng kết lại, tùy thuộc o tích chất mức độ y hại của những sai lệch về chuẩn
mực hội thể kết luận được những nh vi sai lệch đó gây nguy hiểm đến
hội hay không.
Câu 3: Các chuẩn mực về thẩm mỹ của người phụ nữ đã thay đổi như thế nào qua thời
gian?
- Chuẩn mực thẩm mỹ, cũng như các chuẩn mực hội khác, luôn vận động biến
đổi, những quy tắc thẩm mỹ mất đi những chuẩn mực thẩm mỹ mới ra đời
đáp ứng yêu cầu quan niệm thẩm mỹ trong hội. Nếu phụ nữ ngày xưa nét giản dị
nhưng dịu dàng, đằm thắm, kín đáo trong những áo ba, áo dài hội tụ đủ công, dung,
ngôn, hạnh thì ngày nay nét đẹp của người phụ nữ phóng khoáng hơn, hiện đại, pha
với phong cách phương y, ngày càng khẳng định vai trò vị trí của mình trong
hội từ chính trị gia cho đến doanh nhân thành đạt… Họ tự tỏa ng bằng tài năng
nhan sắc của nh.
Câu 4: Khi các chuẩn mực hội không vận động biến đổi thì liệu trở thành
định kiến? Lấy dụ để làm vấn đề trên.
- Một trong những đặc điểm của chuẩn mực hội tính vận động, biến đổi theo
không gian, thời gian, giai cấp, dân tộc. Các chuẩn mực hội không mang tính bất
biến thường trong trạng thái động. Khi chuẩn mực hội trở nên lạc hậu, lỗi
thời, không còn phù hợp với thực tế hội thì chúng sẽ tự mất đi, bị loại bỏ hoặc
được thay thế bằng những chuẩn mực hội mới phù hợp tiến bộ hơn. Nhưng cũng
những chuẩn mực hội đã ăn quá sâu o tiềm thức con người khiến cho chúng
mất đi tính vận động, biến đổi từ đó trở thành định kiến.
VD: Nho giáo được truyền vào nước ta trong thời kỳ Bắc thuộc nhằm mục đích đồng
hóa nhân dân ta. Sau đó, qua các thời kỳ phong kiến Nho giao đã trở thành chuẩn mực
hội những tư tưởng đã ăn sâu o trong tiềm thức người dân, chẳng hạn như
‘nam tôn nữ ti”, đã trải qua hàng ngàn m lịch sử nhưng vẫn không biến đổi,
khiến những tưởng đó trở thành định kiến.
Câu 5: Cho biết những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập sự tiếp thu các chuẩn
mực đạo đức hội của trẻ em ngày nay.
- Yếu tố sinh học (phát triển): Trong giai đoạn từ 6-11 tuổi trẻ vẫn tiếp tục hoàn thiện
cho mình khả năng vận động. Trẻ sẽ phát triển tốt về sự vận động thể chất tinh thần
nếu được đặt trong môi trường với những điều kiện thuận lợi dạy dỗ bài bản. Việc
hoàn thiện khả năng vận động giúp trẻ được sự nhìn nhận đánh giá t bên ngoài,
việc đánh giá đó ảnh hưởng đến việc trẻ cảm nhận được ‘cái tôi thể’ của bản thân
với những yếu tố nhìn nhận từ bên ngoài về c tích cực lẫn tiêu cực
- Yếu tố gia đình nhà trường (mối quan hệ)
- Yếu tố bạn (mối quan hệ)
- Yếu tố phương pháp học (môi trường)
Câu 6: Nêu hạn chế của chuẩn mực hội giải pháp khắc phục?
* Những hạn chế của chuẩn mực hội:
- Trong một số trường hợp, ranh giới điều chỉnh giữa đạo đức pháp luật chưa
ràng hay sự pháp luật hóa các quy tắc quan niệm đạo đức không cụ thể dẫn đến khó
ứng dụng vào cuộc sống. Chẳng hạn, Bộ luật hình sự năm 2015 quy định các giao
dịch dân sự không được trái với đạo đức hội. Trên thực tế thì vệc đánh giá một
hành vi nào đó là trái hay không trái với đạo đức hội không phải la vấn đề đơn
giản, cùng một hành vi nhưng thể các đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập
nhau.
- Trong hội còn nhiều quan niệm, tưởng đạo đức cổ hủ, lạc hẫu vẫn còn tồn tại
chưa bị ngăn chặn đúng mức cần thiết. dụ như tưởng gia trưởng, thói
nhân chủ nghĩa, tưởng địa vị, đẳng cấp, trong nam khinh nữ,… vẫn ảnh hưởng
không nhỏ trong đại bộ phận dân cư.
* Các giải pháp khắc phục:
- Để khắc phụ, nhà nước ta cần xác định những uan điểm đạo đức tích cực
hợp với hội hiện tại để đưa vào pháp luật. Trong quá trình áp dụng pháp luật
chuẩn mực đạo đức vào trong đời sống hội s không tránh khỏi những mâu thuẫn,
xung đột. Nhìn chung, giữa pháp luật đạo đức không có những mâu thuẫn u sắc,
cả hai đều chung một mục đích cùng bảo vệ những hành vi tốt, bài trừ những
quan điểm, hành vi xấu, nhằm hướng đến mục tiêu xác lập trật tự điều hòa lợi ích
chung của hôij. Nếu xét về yếu tố con người thì đạo đức một lĩnh vực mang đậm
tính nhân văn nhân đạo. Trong khi đó, pháp luật tiến bộ coi con người là trọng
tâm nhưng pháp luật còn trọng trách điều chỉnh trật tự hội nên không đáp ứng
đầy đủ nhu cầu về đạo đức của con người.
thế, những hành vi được coi vi phạm đạo đức nhưng không vi phạm pháp
luật ngược lại. Đối với những trường hợp như vậy thường khó thể giải quyết
triệt để được, cho xxax hội phát triển hiện đại mấy đi chăng nữa thì không
thể xóa nhòa tương quan giữa pháp luật đạo đức. Trong trường hợp nếu pháp luật
chưa điều chỉnh thì giải quyết theo quy phạm đạo đức hay nếu xung đột giữa pháp
luật đạo đức thường giải quyết theo hướng thiên về quy phạm đạo đức.
Tránh tiếng ồn trong nhà vào ban đêm, tiếng ồn (như tiếng nhạc lớn hoặc tiếng búa)
thể làm gián đoạn lịch trình nghỉ ngơi của người khác.
Duy trì khoảng cách hội để tránh lây lan.

Preview text:

Câu 1: Lấy ví dụ về chuẩn mực xã hội:
- Chào hỏi một cách thân mật và tôn trọng những người có mặt khi đến một địa điểm nhất định.
- Lắng nghe người khác khi họ đang nói, tránh cắt ngang lời họ. Nếu họ vô tình bị gián đoạn, nên xin lỗi.
- Đối xử với người khác một cách tôn trọng, tránh những từ tục tĩu hoặc thô tục.
- Giữ gìn vệ sinh và trang phục phù hợp theo hoàn cảnh.
- Trong các không gian công cộng phải duy trì giọng nói thích hợp, tránh la hét và ồn
ào gây khó chịu cho người khác.
Câu 2: Ngày nay, trong xã hội xuất hiện rất nhiều những thông tin về các hành vi sai
lệch chuẩn mực của người dân và đặc biệt là thanh thiếu niên Việt Nam. Vậy thì
những hành vi đó có gây nguy hiểm cho xã hội hay không?
- Căn cứ vào nội dung, tính chất của chuẩn mực xã hội, ta có thể phân loại những
hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội thành 2 loại: Hành vi tích cực và hành vi tiêu cực.
+ Hành vi tích cực là những hành vi phá vỡ những chuẩn mực xã hội cũ, những
chuẩn mực lâu đời và cổ hủ để tạo ra những chuẩn mực mới phù hợp, tiến bộ, được
thừa nhận rộng rãi trong xã hội hiện tại. Như vậy, hành vi này không gây hại đến xã
hội thậm chí còn giúp xã hội phát triển một cách tốt đẹp và toàn diện hơn.
+ Hành vi tiêu cực là những hành vi vi phạm, phá vỡ những chuẩn mực xã hội đang
thịnh hành, những quy chuẩn vốn có trong xã hội, có tính chất chống đối xã hội, gây
hại đến con người và môi trường xung quanh. Đây là những hành vi có tính nguy
hiểm nghiêm trọng đến xã hội.
- Tổng kết lại, tùy thuộc vào tích chất và mức độ gây hại của những sai lệch về chuẩn
mực xã hội có thể kết luận được những hành vi sai lệch đó có gây nguy hiểm đến xã hội hay không.
Câu 3: Các chuẩn mực về thẩm mỹ của người phụ nữ đã thay đổi như thế nào qua thời gian?
- Chuẩn mực thẩm mỹ, cũng như các chuẩn mực xã hội khác, luôn vận động và biến
đổi, có là những quy tắc thẩm mỹ mất đi và có những chuẩn mực thẩm mỹ mới ra đời
đáp ứng yêu cầu quan niệm thẩm mỹ trong xã hội. Nếu phụ nữ ngày xưa vì nét giản dị
nhưng dịu dàng, đằm thắm, kín đáo trong những áo bà ba, áo dài hội tụ đủ công, dung,
ngôn, hạnh thì ngày nay nét đẹp của người phụ nữ phóng khoáng hơn, hiện đại, pha
với phong cách phương Tây, ngày càng khẳng định vai trò và vị trí của mình trong xã
hội từ chính trị gia cho đến doanh nhân thành đạt… Họ tự tỏa sáng bằng tài năng và nhan sắc của mình.
Câu 4: Khi các chuẩn mực xã hội không vận động biến đổi thì liệu nó có trở thành
định kiến? Lấy ví dụ để làm rõ vấn đề trên.
- Một trong những đặc điểm của chuẩn mực xã hội là tính vận động, biến đổi theo
không gian, thời gian, giai cấp, dân tộc. Các chuẩn mực xã hội không mang tính bất
biến mà thường ở trong trạng thái động. Khi chuẩn mực xã hội trở nên lạc hậu, lỗi
thời, không còn phù hợp với thực tế xã hội thì chúng sẽ tự mất đi, bị loại bỏ hoặc
được thay thế bằng những chuẩn mực xã hội mới phù hợp và tiến bộ hơn. Nhưng cũng
có những chuẩn mực xã hội đã ăn quá sâu vào tiềm thức con người khiến cho chúng
mất đi tính vận động, biến đổi từ đó trở thành định kiến.
VD: Nho giáo được truyền vào nước ta trong thời kỳ Bắc thuộc nhằm mục đích đồng
hóa nhân dân ta. Sau đó, qua các thời kỳ phong kiến Nho giao đã trở thành chuẩn mực
xã hội và có những tư tưởng đã ăn sâu vào trong tiềm thức người dân, chẳng hạn như
‘nam tôn nữ ti”, dù đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử nhưng vẫn không biến đổi,
khiến những tư tưởng đó trở thành định kiến.
Câu 5: Cho biết những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập và sự tiếp thu các chuẩn
mực đạo đức xã hội của trẻ em ngày nay.
- Yếu tố sinh học (phát triển): Trong giai đoạn từ 6-11 tuổi trẻ vẫn tiếp tục hoàn thiện
cho mình khả năng vận động. Trẻ sẽ phát triển tốt về sự vận động thể chất và tinh thần
nếu được đặt trong môi trường với những điều kiện thuận lợi và dạy dỗ bài bản. Việc
hoàn thiện khả năng vận động giúp trẻ có được sự nhìn nhận và đánh giá từ bên ngoài,
việc đánh giá đó ảnh hưởng đến việc trẻ cảm nhận được ‘cái tôi có thể’ của bản thân
với những yếu tố nhìn nhận từ bên ngoài về cả tích cực lẫn tiêu cực
- Yếu tố gia đình và nhà trường (mối quan hệ)
- Yếu tố bạn bè (mối quan hệ)
- Yếu tố phương pháp học (môi trường)
Câu 6: Nêu hạn chế của chuẩn mực xã hội và giải pháp khắc phục?
* Những hạn chế của chuẩn mực xã hội:
- Trong một số trường hợp, ranh giới điều chỉnh giữa đạo đức và pháp luật chưa rõ
ràng hay sự pháp luật hóa các quy tắc quan niệm đạo đức không cụ thể dẫn đến khó
ứng dụng vào cuộc sống. Chẳng hạn, Bộ luật hình sự năm 2015 quy định các giao
dịch dân sự không được trái với đạo đức xã hội. Trên thực tế thì vệc đánh giá một
hành vi nào đó là trái hay không trái với đạo đức xã hội không phải la vấn đề đơn
giản, cùng một hành vi nhưng có thể có các đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau.
- Trong xã hội còn nhiều quan niệm, tư tưởng đạo đức cổ hủ, lạc hẫu vẫn còn tồn tại
mà chưa bị ngăn chặn đúng mức cần thiết. Ví dụ như tư tưởng gia trưởng, thói cá
nhân chủ nghĩa, tư tưởng địa vị, đẳng cấp, trong nam khinh nữ,… vẫn có ảnh hưởng
không nhỏ trong đại bộ phận dân cư.
* Các giải pháp khắc phục:
- Để khắc phụ, nhà nước ta cần xác định có những uan điểm đạo đức tích cực hù
hợp với xã hội hiện tại để đưa vào pháp luật. Trong quá trình áp dụng pháp luật và
chuẩn mực đạo đức vào trong đời sống xã hội sẽ không tránh khỏi những mâu thuẫn,
xung đột. Nhìn chung, giữa pháp luật và đạo đức không có những mâu thuẫn sâu sắc,
vì cả hai đều chung một mục đích là cùng bảo vệ những hành vi tốt, bài trừ những
quan điểm, hành vi xấu, nhằm hướng đến mục tiêu xác lập trật tự và điều hòa lợi ích
chung của xã hôij. Nếu xét về yếu tố con người thì đạo đức là một lĩnh vực mang đậm
tính nhân văn và nhân đạo. Trong khi đó, pháp luật tiến bộ dù coi con người là trọng
tâm nhưng pháp luật còn trọng trách điều chỉnh trật tự xã hội nên nó không đáp ứng
đầy đủ nhu cầu về đạo đức của con người.
Vì thế, có những hành vi được coi là vi phạm đạo đức nhưng không vi phạm pháp
luật và ngược lại. Đối với những trường hợp như vậy thường khó có thể giải quyết
triệt để được, vì cho dù xxax hội có phát triển và hiện đại mấy đi chăng nữa thì không
thể xóa nhòa tương quan giữa pháp luật và đạo đức. Trong trường hợp nếu pháp luật
chưa điều chỉnh thì giải quyết theo quy phạm đạo đức hay nếu có xung đột giữa pháp
luật và đạo đức thường giải quyết theo hướng thiên về quy phạm đạo đức.
Tránh tiếng ồn trong nhà vào ban đêm, vì tiếng ồn (như tiếng nhạc lớn hoặc tiếng búa)
có thể làm gián đoạn lịch trình nghỉ ngơi của người khác.
Duy trì khoảng cách xã hội để tránh lây lan.