lOMoARcPSD| 23136115
TỔNG HỢP NỘI DUNG THÔNG TIN BÀI TẬP TRIẾT TUẦN 2
CHỨNG MINH SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC TẤT YẾU?
A. Mở đầu:
- Sự ra đời của triết học mác vào những năm 40 của thế kỉ 19 là một
tất yếu lịch sử vì chính một sản phẩm lí luận của sự phát triển
lịch sử nhân loại xuất hiện vào giữa thế kỉ 19 với những điều kiện
khách quan của nó. Đây không phải là sự ngẫu nhiên mà là sự kết
tinh tính quy luật của quá trình phát triển lịch stưởng triết
học nhân loại trên sở các điều kiện kinh tế-xã hội cũng như
trình độ phát triển khoa học tự nhiên ở thế kỉ 19.
Giải thích tất yếu là gì?
- Tất: nói về những thứ quy luật, , không thể khác được (nói về
những cái có tính quy luật); trái với ngẫu nhiên.
- Yếu: là quan trọng, là cốt lõi, là chủ yếu
Tất yếu là mt sự vật/sự việc/ hiện tượng đó chắc chắn phải mặt,
phải xảy ra - không thể thiếu hay không được. Dường như sự
xảy ra có trình tự và trở thành điều nghiễm nhiên có căn cứ.
B. Nội dung chứng minh ( CHIA PHẦN )
I. Các điều kiện khách quan:
1/Điều kiện về kinh tế-xã hội.
- Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp
lOMoARcPSD| 23136115
+ Vào những năm 40 của thế kXIX phương thức sản xuất bản
chủ nghĩa phát triển mạnh, đóng vai tchủ đạo trong nền kinh tế
Tây Âu.
+ Anh và Pháp cơ bản đã hoàn thành cách mạng công nghiệp.
+ Đức - nước quân chủ phong kiến nhưng bước phát triển vượt bậc về
kinh tế. cuộc cách mạng công nghiệp cũng đã được phát triển mạnh
trong lòng xã hội phong kiến
Với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất nói trên thì C.
Mác và Ăngghen đã khẳng định:
“Giai cấp sản, trong qtrình thống trị giai cấp chưa đầy một
thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn đồ sộ hơn
lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại
=> Nhờ vậy, tính nổi trội của CNTB so với chế độ phong kiến đã
được thể hiện nét. Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của CNTB đã
làm cho các mâu thuẫn hội vốn của bộc lộ ngày càng gay
gắt (mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa)
+ Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản tất yếu tạo
ra trong lòng một lực lượng đối lập giai cấp sản hiện đại.
Giai cấp sản công nghiệp ra đời, đã tạo ra một quan hệ đối lập
ngày càng gay gắt với giai cấp sản . Sự phát triển mạnh mẽ của
lực lượng sản xuất bản làm cho sở hữu bản nhân trở nên chín
muồi; cùng với những mặt mạnh do sở hưu tư bản tư nhân tạo ra thì
nó cũng làm cho mâu thuân vốn có của xã hội tư bản chủ nghĩa bộc
lộ rõ rệt, làm nảy sinh nhiều vấn đề tưtưởng, lý luận,
thực tiễn đòi hỏi các nhà triết học đương thời phải giải quyết.
Mâu thuẫn sâu sắc giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
(tính xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và tính cá nhân
lOMoARcPSD| 23136115
của quan hệ SX tư bản chủ nghũa )
Của cải xã hội tăng lên nhưng sự bình đẳng xã hội không thực hiện
được lại còn làm cho hội càng thêm bất công, xung đột đối
kháng sâu sắc hơn điển hình xung đột giữa giai cấp sản
sản đã trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp.
+ Pháp: Cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Lyon năm 1831 bị
đàn áp sau đó lại nổ ra vào năm 1834 đã chỉ ra một điều quan
trong: đó là cuộc đấu tranh bên trong, diễn ra trong hội giữa giai
cấp những người có của và giai cấp những kẻ không có gì hết
+ Anh: vào cuối những năm 30 của thế kỉ XIX – phong trào
Hiến chương là “phong trào cách mạng vô sản to lớn đầu tiên, thật
sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị”
+ Đức: (còn đang vào đêm trước của cuộc cách mạng
sản, song sự phát triển công nghiệp trong điều kiện cách mạng
công nghiệp đã làm cho giai cấp sản lớn nhanh) , cuộc đấu tranh
của thợ dệt Xilêdi cũng đã mang tính chất giai cấp tự phát đã
đưa đến sự ra đời một tổ chức sản cách mạng “Đồng minh
những người chính nghĩa”
Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nổ ra ngày càng nhiều,
đã chứng tỏ được sự trưởng thành lớn mạnh của giai cấp
sản và phong trào công nhân cả về quy mô tính chất. Tuy nhiên,
còn mang tính tự phát, chủ yếu là quyền lợi về kinh tế, thiếu tổ chức
lãnh đạo do chưa nhận thức đầy đủ về sở, mục đích, bản chất
cuộc đấu tranh.
Sự xuất hiện của giai cấp sản trên đài lịch sử với cách là
một lực lượng chính trị - xã hội độc lập nhân tố chính trị - hội
quan trọng cho sự ra đời của triết học Mác. Để đáp ứng cho
nhu cầu , yêu cầu phải có một lý luận khoa học dẫn đường - lãnh
lOMoARcPSD| 23136115
đạo , để đưa giai cấp công nhân đi từ đấu tranh tự phát tới đấu
tranh tự giác vì lợi ích của giai cấp mình và giai cấp vô sản thực sự
trở thành giai cấp tiến bộ. ( giác ngộ nhận thức về cơ sở, mục đích,
bản chất cuộc đấu tranh. )
=> Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu
nhất cho sự ra đời triết học Mác
* Bên cạnh đó,
C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc trên tinh
thần phê phán tất cả những gìtư tưởng loài người đã sáng tạo ra.
Hơn thế nữa chính hai ông đã thực sự chiến đấu trong phong trào
cách mạng của giai cấp công nhân, khái quát những kinh nghiệm
đấu tranh của phong trào công nhân Chính tđó triết học Mác ra
đời và nó vừa gắn với lý luận vừa mang hơi thở của thực tiễn.
Có thể nói trong những năm 40 của thế kỉ XIX - dựa trên điều kiện
kinh tế - hội bấy giờ, sự ra đời của triết học Mác một tất yếu
lịch sử, không thể sớm hơn cũng không thể muộn hơn thời điểm
đó đã thực sự chín muồi.
Note: Triết học Mác là tất yếu về mặt điều kiện kinh tế - xã hội vì
đã phản ánh
đ
úng lịch sử phong trào đấu tranh cách mạng
của giai cấp công nhân, giai cấp công nhân đưa phong trào đấu
tranh chuyển từ tự phát sang tự giác , đồng thời đáp ứng nhu
cầu, đòi hỏi về mặt luận của thực tiễn xã hội nói chung, nhất
thực tiễn cách mạng của sản giai đoạn 3040 thế kỷ XIX
nói riêng. Triết học Mác ra đời đồng thời dựa
trên sở từng trải trực tiếp của C.Mác Ăng-ghen nên
tính tất yếu càng được khẳng định mạnh mẽ hơn.
2. Tiền đề lý luận.
lOMoARcPSD| 23136115
*Câu nối cho phần này: Sự ra đời triết học Mác không chỉ là sản phẩm tất
yếu của những điều kiện kinh tế - xã hội của xã hội giữa thế kỉ 19 mà còn
sản phẩm tất yếu của sự phát triển hợp quy luật của lịch sử tưởng nhân
loại. Triết học Mác ra đời là một sự kế thừa biện chứng những học thuyết,
lí luận trước kia mà trực tiếp và nét nhất là triết học cổ điển đức, kinh tế
chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp hồi thế kỉ 19.
Chứng minh:
Sự ra đời của triết học Mác không phải một hiện tượng biệt lập,
tách rời lịch sử triết học nhân loại, kết qubiện chứng của toàn
bộ quá trình đó. Triết học Mác, hình thức phát triển cao nhất của chủ
nghĩa duy vật, là kết quả của sự phát triển của triết học duy vật trong
cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết học . Tuy
nhiên, cần phải khẳng định rằng tiền đề lý luận trực tiếp
cho triết học Mác ra đời là triết học cổ điển Đức, mà tiêu biểu là
triết học Hêghen và Phoiơbắc.
- Đi vào đánh giá khái quát từng mục nhỏ:
C.Mác và Anghen đã đánh giá rất cao vai ttriết học của Hêghen
người đầu tiên trong lịch sử triết học trên cơ sở triết học duy tâm đã
xây dựng hthống các phạm trù, quy luật của phép biện chứng.
Đồng thời hai ông phê phán quyết liệt chủ nghĩa duy tâm thần bí của
Hê ghen
+ C. Mác và Ăngghen đã từng là những người theo học triết học
Hegel nhưng sau này, cả khi đã từ bỏ chủ nghĩa duy tâm của triết học Hegel
thì các ông vẫn đánh giá cao tư tưởng biện chứng ca nó. Đó là “Hạt nhân
hợp lý”
+ Trong khi phê phán chủ nghĩa duy tâm của triết học Hegel thì Mác
đã dựa vào truyền thống của chủ nghĩa duy vật triết học, trực tiếp là
chủ nghĩa duy vật triết học của Feuerbach. Đồng thời cải tạo chủ
lOMoARcPSD| 23136115
nghĩa duy vật cũ, khắc phục tính chất siêu hình những hạn chế
lịch sử khác ca nó
Từ đó Mác và Awngghen đã xây dựng nên triết học mới, trong đó,
chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất hữu cơ với nhau,
hai ông đã rút ra được hạt nhân quý báu trong triết học của Hêghen
là phép biện chứng và đã cải tạo, giải phóng cho nó từ đó xây dựng
nên phép biện chứng duy vật, thực sự tạo ra một bước ngoặt cách
mạng trong triết học.
+/Sự ra đời của triết học Mác cũng diễn ra trong stác động qua lại với
quá trình Mác được kế thừa biện chứng, cải tạo các luận về kinh tế
về chủ nghĩa hội. Việc kế thừa cải tạo kinh tế chính trị học Anh
với những con người xuất sắc kể đến như Adam Smith,David Ricardo,…
đã tạo điều kiện cho Mác hoàn thành quan niệm duy vật lịch sử cũng như
xây dựng lên học thuyết về kinh tế của mình.
+/Mác còn kế của chủ nghĩa xã hội không tưởng
Pháp trong lý thuyết của Xanh ximong trở thành tiền đề lí luận quan trọng
cho sra đời của luận khoa học về chủ nghĩa hội trong chủ nghĩa Mác.
Note: Sự ra đời của triết học Mác được coi tất yếu trong tiền đề
luận còn kết quả của sự tiếp thu chọn lọc các tinh hoa
tưởng triết học của nhân loại, bước tiến lớn nhất cũng như tiến bộ
nhất sau một chặng dài lịch sử Triết học.
* Câu nối cho phần tiếp theo: Trên thực tế, sự hình thành phát triển triết
học Mác không tách rời với sự phát triển luận về CNXH của Mác, tức
CNXH khoa học.
1. Tiền đề khoa học tự nhiên.
Triết học Mác một hình thức lịch sử mới cao nhất của chủ nghĩa
duy vật cũng được chuẩn bị bởi một tiền đề khách quan nữa về
phương diện khoa học .
thừa tư tưởng nhân đạo
lOMoARcPSD| 23136115
Đó chính những thành tựu mới đạt được của khoa học trên nền
tảng của khoa học tự nhiên vào thời điểm đó. nổi bật sự ra
đời của tư duy biện chứng
+ triết học cổ đại: tư duy biện chứng như nhận định của
Ăngghen tuy mới chỉ là “một kiến thức thiên tài” nay đã kết quả
của một công trình nghiên cứu khoa học chặt chẽ dựa trên chi thức
khoa học tự nhiên hồi đó
+ 3 phát minh lớn đối với sự hình thành triết học duy vật biện
chứng:
Định luât bảo toàn chuyển hóa năng lượng : sở KHTN khẳng
định rằng c dạng vât chất tồn tại trong thế giới đều mối liên hệ
với nhau có thể chuyển hóa cho nhau.
Học thuyết tế bào sở KHTN chứng minh rằng thế giới TV
ĐV có chung nguồn gốc và hình thái đó là tế bào.
Học thuyết tiến hóa của Dacuyn sở KHTN chứng minh giữa
các loài không phải bất biến đều được sinh ra từ các loài
trước đó bằng con đường chọn lọc tự nhiên.
Sự phát triển của khoa học tự nhiên trong các thế k XVII và XVIII
sự phát triển của các khoa học cụ thể, nghiên cứu các vấn đề riêng
rẽ của tự nhiên theo phương pháp siêu hình. Nhưng cho đến cuối thế
kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX thì sự phát triển của khoa học tự nhiên
đã chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn phát triển khoa học tự
nhiên lý luận
Có khả năng tổng kết và tiếp nối lịch sử nền văn minh nhân loại
---> Làm bộc lộ rõ tính hạn chế, bất lực của phương pháp tư duy siêu hình
trong việc nhận thức thế giới, đồng thời cung cấp sở tri thức khoa học
cho sự phát triển tư duy biện chứng, hình thành phép biện chứng duy vật.
lOMoARcPSD| 23136115
=>Rõ ràng, triết học Mác là sản phẩm mang tính quy luật ca khoa học và
của triết học trong toàn bộ lịch sử tư tưởng của nhân loại. Trong điều kiện
lịch sử đó, C.Mác Ph.Ăngghen những thiên tài đã khái quát được toàn
bộ tiến trình lịch sử và văn hóa tinh thân mà loài người đã đạt
được, để xây dựng học thuyết triết học duy vật biện chứng, đáp ứng được
nhu cầu nhận thức cải tạo thực tiễn hội thời đại lịch sử mới đặt
ra.
Note: Sự phát triển tiền đề khoa học tự nhiên đối với sự ra đời
của triết học Mác lê nin là tất yếu vì đã đòi hỏi và thúc đẩy việc
phải chuyển phương pháp nghiên cứu từ siêu hình, máy móc,
chia cắt ngưng đọng các đối tượng nghiên cứu sang phương
pháp biện chứng nghĩa trình bày sự phát triển của tự nhiên
như một quá trình vận động, liên hệ và thống nhất.
3. Nhân tố chủ quan – thiên tài ở Mác và Ăngghen.
*Câu dẫn cho phần này: Nếu nhân tố khách quan thúc đẩy sự ra đời
của chủ nghĩa Mác thì nhân tố chủ quan cũng đóng vai trò quan
trọng.
- Xuất thân từ tầng lớp trên nhưng C.Mác Ph.Ăngghen đều tích cực tham
gia hoạt động thực tiễn, từ hoạt động đấu tranh trên báo chí đến tham gia
phong trào đấu tranh của công nhân, tham gia thành lập và hoạt động trong
các tổ chức của công nhân…; có trí tuệ uyên bác…
+ Ở Mác có một sự uyên bác nhìn xa trông rộng, nhạy cảm về chính trị, sự
kiên định và lòng yêu thương người lao động( hiểu sâu săc cuộc sống khốn
khổ của giai cấp công nhân trong nền sản xuất bản chủ nghĩa nên đã
đứng trên lợi ích của giai cấp công nhân.)
+
ông đã tìm thấy
một tình bạn sâu sắc và cả những lý tưởng giải phóng
lOMoARcPSD| 23136115
con người không đổi Ăngghen là sở để hai người cùng hợp tác, làm
việc vì những lý tưởng chung.
Note: Như vậy thể nói, trước tiên tưởng cao cả - hai ý tưởng
lớn gặp nhau. Sự gần gũi thấu hiểu giai cấp - hội, lòng bác ái-
đồng cảm trực tiếp.
=>- Xây dựng hệ thống luận để cung cấp cho giai cấp công nhân một
công cụ sắc bén để nhận thức và cải tạo thế giới
5. Kết luận.
chủ nghĩa Mác ra đời dựa vào các điều kiện kinh tế xã hội ( giải phóng nỗi
thống khổ - mâu thuẫn giai cấp - con người hội ), tiền đề luận của
thời đại ( tiếp thu tinh hoa có chọn lọc đồng thời cải tiến để hợp lý tưởng -
tưởng thời đại, hợp thời điểm lịch sử tiến hóa của loài người), tiền đề
khoa học tự nhiên. Đó là sự phản ánh thực tiễn xã hội thực tiễn phong trào
đấu tranh của công nhân và sự phát triển một cách logic của tư tưởng nhân
loại.
vậy sự ra đời của chủ nghĩa Mác là tất yếu .

Preview text:

lOMoAR cPSD| 23136115
TỔNG HỢP NỘI DUNG THÔNG TIN BÀI TẬP TRIẾT TUẦN 2
CHỨNG MINH SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÀ TẤT YẾU? A. Mở đầu:
- Sự ra đời của triết học mác vào những năm 40 của thế kỉ 19 là một
tất yếu lịch sử vì nó chính là một sản phẩm lí luận của sự phát triển
lịch sử nhân loại xuất hiện vào giữa thế kỉ 19 với những điều kiện
khách quan của nó. Đây không phải là sự ngẫu nhiên mà là sự kết
tinh có tính quy luật của quá trình phát triển lịch sử tư tưởng triết
học nhân loại và trên cơ sở các điều kiện kinh tế-xã hội cũng như
trình độ phát triển khoa học tự nhiên ở thế kỉ 19.
Giải thích tất yếu là gì?
- Tất: nói về những thứ có quy luật, , không thể khác được (nói về
những cái có tính quy luật); trái với ngẫu nhiên.
- Yếu: là quan trọng, là cốt lõi, là chủ yếu
 Tất yếu là một sự vật/sự việc/ hiện tượng gì đó chắc chắn phải có mặt,
phải xảy ra - không thể thiếu hay không có được. Dường như là sự
xảy ra có trình tự và trở thành điều nghiễm nhiên có căn cứ.
B. Nội dung chứng minh ( CHIA PHẦN )
I. Các điều kiện khách quan:
1/Điều kiện về kinh tế-xã hội.
- Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp lOMoAR cPSD| 23136115
+ Vào những năm 40 của thế kỉ XIX phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa phát triển mạnh, đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Tây Âu.
+ Anh và Pháp cơ bản đã hoàn thành cách mạng công nghiệp.
+ Đức - nước quân chủ phong kiến nhưng có bước phát triển vượt bậc về
kinh tế. Có cuộc cách mạng công nghiệp cũng đã được phát triển mạnh
trong lòng xã hội phong kiến
Với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất nói trên thì C.
Mác và Ăngghen đã khẳng định:
“Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một
thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn
lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”
=> Nhờ vậy, tính nổi trội của CNTB so với chế độ phong kiến đã
được thể hiện rõ nét. Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của CNTB đã
làm cho các mâu thuẫn xã hội vốn có của nó bộc lộ ngày càng gay
gắt (mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa)
+ Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản tất yếu tạo
ra trong lòng nó một lực lượng đối lập là giai cấp vô sản hiện đại.
Giai cấp vô sản công nghiệp ra đời, đã tạo ra một quan hệ đối lập
ngày càng gay gắt với giai cấp tư sản . Sự phát triển mạnh mẽ của
lực lượng sản xuất tư bản làm cho sở hữu tư bản tư nhân trở nên chín
muồi; cùng với những mặt mạnh do sở hưu tư bản tư nhân tạo ra thì
nó cũng làm cho mâu thuân vốn có của xã hội tư bản chủ nghĩa bộc
lộ rõ rệt, làm nảy sinh nhiều vấn đề tưtưởng, lý luận,
thực tiễn đòi hỏi các nhà triết học đương thời phải giải quyết.
⇨ Mâu thuẫn sâu sắc giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
(tính xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và tính cá nhân lOMoAR cPSD| 23136115
của quan hệ SX tư bản chủ nghũa )
Của cải xã hội tăng lên nhưng sự bình đẳng xã hội không thực hiện
được mà lại còn làm cho xã hội càng thêm bất công, xung đột đối
kháng sâu sắc hơn điển hình là xung đột giữa giai cấp vô sản và tư
sản đã trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp.
+ Pháp: Cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở Lyon năm 1831 bị
đàn áp và sau đó lại nổ ra vào năm 1834 đã chỉ ra một điều quan
trong: đó là cuộc đấu tranh bên trong, diễn ra trong xã hội giữa giai
cấp những người có của và giai cấp những kẻ không có gì hết
+ Anh: vào cuối những năm 30 của thế kỉ XIX – phong trào
Hiến chương là “phong trào cách mạng vô sản to lớn đầu tiên, thật
sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị”
+ Đức: (còn đang ở vào đêm trước của cuộc cách mạng
tư sản, song sự phát triển công nghiệp trong điều kiện cách mạng
công nghiệp đã làm cho giai cấp vô sản lớn nhanh) , cuộc đấu tranh
của thợ dệt ở Xilêdi cũng đã mang tính chất giai cấp tự phát và đã
đưa đến sự ra đời một tổ chức vô sản cách mạng là “Đồng minh
những người chính nghĩa”
Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nổ ra ngày càng nhiều,
nó đã chứng tỏ được sự trưởng thành và lớn mạnh của giai cấp vô
sản và phong trào công nhân cả về quy mô và tính chất. Tuy nhiên,
còn mang tính tự phát, chủ yếu là quyền lợi về kinh tế, thiếu tổ chức
lãnh đạo do chưa nhận thức đầy đủ về cơ sở, mục đích, bản chất cuộc đấu tranh.
Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử với tư cách là
một lực lượng chính trị - xã hội độc lập là nhân tố chính trị - xã hội
quan trọng cho sự ra đời của triết học Mác. Để đáp ứng cho
nhu cầu , yêu cầu phải có một lý luận khoa học dẫn đường - lãnh lOMoAR cPSD| 23136115
đạo , để đưa giai cấp công nhân đi từ đấu tranh tự phát tới đấu
tranh tự giác vì lợi ích của giai cấp mình và giai cấp vô sản thực sự
trở thành giai cấp tiến bộ. ( giác ngộ nhận thức về cơ sở, mục đích,
bản chất cuộc đấu tranh. )
=> Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu
nhất cho sự ra đời triết học Mác * Bên cạnh đó,
C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc trên tinh
thần phê phán tất cả những gì mà tư tưởng loài người đã sáng tạo ra.
Hơn thế nữa chính hai ông đã thực sự chiến đấu trong phong trào
cách mạng của giai cấp công nhân, khái quát những kinh nghiệm
đấu tranh của phong trào công nhân Chính từ đó triết học Mác ra
đời và nó vừa gắn với lý luận vừa mang hơi thở của thực tiễn.
Có thể nói trong những năm 40 của thế kỉ XIX - dựa trên điều kiện
kinh tế - xã hội bấy giờ, sự ra đời của triết học Mác là một tất yếu
lịch sử, không thể sớm hơn cũng không thể muộn hơn vì thời điểm
đó đã thực sự chín muồi.
Note: Triết học Mác là tất yếu về mặt điều kiện kinh tế - xã hội vì
nó đã phản ánh đúng lịch sử phong trào đấu tranh cách mạng
của giai cấp công nhân, giai cấp công nhân đưa phong trào đấu
tranh chuyển từ tự phát sang tự giác , đồng thời đáp ứng nhu
cầu, đòi hỏi về mặt lý luận của thực tiễn xã hội nói chung, nhất
là thực tiễn cách mạng của vô sản ở giai đoạn 3040 thế kỷ XIX
nói riêng. Triết học Mác ra đời đồng thời dựa
trên cơ sở “ từng trải “ trực tiếp của C.Mác và Ăng-ghen nên
tính tất yếu càng được khẳng định mạnh mẽ hơn.
2. Tiền đề lý luận. lOMoAR cPSD| 23136115
*Câu nối cho phần này: Sự ra đời triết học Mác không chỉ là sản phẩm tất
yếu của những điều kiện kinh tế - xã hội của xã hội giữa thế kỉ 19 mà còn
là sản phẩm tất yếu của sự phát triển hợp quy luật của lịch sử tư tưởng nhân
loại. Triết học Mác ra đời là một sự kế thừa biện chứng những học thuyết,
lí luận trước kia mà trực tiếp và rõ nét nhất là triết học cổ điển đức, kinh tế
chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp hồi thế kỉ 19. Chứng minh:
 Sự ra đời của triết học Mác không phải là một hiện tượng biệt lập,
tách rời lịch sử triết học nhân loại, mà là kết quả biện chứng của toàn
bộ quá trình đó. Triết học Mác, hình thức phát triển cao nhất của chủ
nghĩa duy vật, là kết quả của sự phát triển của triết học duy vật trong
cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết học . Tuy
nhiên, cần phải khẳng định rằng tiền đề lý luận trực tiếp
cho triết học Mác ra đời là triết học cổ điển Đức, mà tiêu biểu là
triết học Hêghen và Phoiơbắc.
- Đi vào đánh giá khái quát từng mục nhỏ:
C.Mác và Anghen đã đánh giá rất cao vai trò triết học của Hêghen
người đầu tiên trong lịch sử triết học trên cơ sở triết học duy tâm đã
xây dựng hệ thống các phạm trù, quy luật của phép biện chứng.
Đồng thời hai ông phê phán quyết liệt chủ nghĩa duy tâm thần bí của Hê ghen
+ C. Mác và Ăngghen đã từng là những người theo học triết học
Hegel nhưng sau này, cả khi đã từ bỏ chủ nghĩa duy tâm của triết học Hegel
thì các ông vẫn đánh giá cao tư tưởng biện chứng của nó. Đó là “Hạt nhân hợp lý”
+ Trong khi phê phán chủ nghĩa duy tâm của triết học Hegel thì Mác
đã dựa vào truyền thống của chủ nghĩa duy vật triết học, trực tiếp là
chủ nghĩa duy vật triết học của Feuerbach. Đồng thời cải tạo chủ lOMoAR cPSD| 23136115
nghĩa duy vật cũ, khắc phục tính chất siêu hình và những hạn chế lịch sử khác của nó
Từ đó Mác và Awngghen đã xây dựng nên triết học mới, trong đó,
chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất hữu cơ với nhau,
hai ông đã rút ra được hạt nhân quý báu trong triết học của Hêghen
là phép biện chứng và đã cải tạo, giải phóng cho nó từ đó xây dựng
nên phép biện chứng duy vật, thực sự tạo ra một bước ngoặt cách mạng trong triết học.
+/Sự ra đời của triết học Mác cũng diễn ra trong sự tác động qua lại với
quá trình mà Mác được kế thừa biện chứng, cải tạo các lí luận về kinh tế
và về chủ nghĩa xã hội. Việc kế thừa và cải tạo kinh tế chính trị học Anh
với những con người xuất sắc kể đến như Adam Smith,David Ricardo,…
đã tạo điều kiện cho Mác hoàn thành quan niệm duy vật lịch sử cũng như
xây dựng lên học thuyết về kinh tế của mình.
+/Mác còn kế thừa tư tưởng nhân đạocủ
a chủ nghĩa xã hội không tưởng
Pháp trong lý thuyết của Xanh ximong trở thành tiền đề lí luận quan trọng
cho sự ra đời của lí luận khoa học về chủ nghĩa xã hội trong chủ nghĩa Mác.
Note: Sự ra đời của triết học Mác được coi là tất yếu trong tiền đề lý
luận vì nó còn là kết quả của sự tiếp thu có chọn lọc các tinh hoa tư
tưởng triết học của nhân loại, là bước tiến lớn nhất cũng như tiến bộ
nhất sau một chặng dài lịch sử Triết học.
* Câu nối cho phần tiếp theo: Trên thực tế, sự hình thành và phát triển triết
học Mác không tách rời với sự phát triển lý luận về CNXH của Mác, tức CNXH khoa học.
1. Tiền đề khoa học tự nhiên.
Triết học Mác là một hình thức lịch sử mới và cao nhất của chủ nghĩa
duy vật cũng được chuẩn bị bởi một tiền đề khách quan nữa về phương diện khoa học . lOMoAR cPSD| 23136115
Đó chính là những thành tựu mới đạt được của khoa học trên nền
tảng của khoa học tự nhiên ở vào thời điểm đó. Mà nổi bật là sự ra
đời của tư duy biện chứng
+ Ở triết học cổ đại: tư duy biện chứng như nhận định của
Ăngghen tuy mới chỉ là “một kiến thức thiên tài” nay đã là kết quả
của một công trình nghiên cứu khoa học chặt chẽ dựa trên chi thức
khoa học tự nhiên hồi đó
+ 3 phát minh lớn đối với sự hình thành triết học duy vật biện chứng:
• Định luât bảo toàn và chuyển hóa năng lượng : là cơ sở KHTN khẳng
định rằng các dạng vât chất tồn tại trong thế giới đều có mối liên hệ
với nhau có thể chuyển hóa cho nhau.
• Học thuyết tế bào là cơ sở KHTN chứng minh rằng thế giới TV và
ĐV có chung nguồn gốc và hình thái đó là tế bào.
• Học thuyết tiến hóa của Dacuyn là cơ sở KHTN chứng minh giữa
các loài không phải là bất biến mà đều được sinh ra từ các loài
trước đó bằng con đường chọn lọc tự nhiên.
Sự phát triển của khoa học tự nhiên trong các thế kỷ XVII và XVIII
là sự phát triển của các khoa học cụ thể, nghiên cứu các vấn đề riêng
rẽ của tự nhiên theo phương pháp siêu hình. Nhưng cho đến cuối thế
kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX thì sự phát triển của khoa học tự nhiên
đã chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn phát triển khoa học tự nhiên lý luận
Có khả năng tổng kết và tiếp nối lịch sử nền văn minh nhân loại 
---> Làm bộc lộ rõ tính hạn chế, bất lực của phương pháp tư duy siêu hình
trong việc nhận thức thế giới, đồng thời cung cấp cơ sở tri thức khoa học
cho sự phát triển tư duy biện chứng, hình thành phép biện chứng duy vật. lOMoAR cPSD| 23136115
=>Rõ ràng, triết học Mác là sản phẩm mang tính quy luật của khoa học và
của triết học trong toàn bộ lịch sử tư tưởng của nhân loại. Trong điều kiện
lịch sử đó, C.Mác và Ph.Ăngghen là những thiên tài đã khái quát được toàn
bộ tiến trình lịch sử và văn hóa tinh thân mà loài người đã đạt
được, để xây dựng học thuyết triết học duy vật biện chứng, đáp ứng được
nhu cầu nhận thức và cải tạo thực tiễn xã hội mà thời đại lịch sử mới đặt ra.
Note: Sự phát triển tiền đề khoa học tự nhiên đối với sự ra đời
của triết học Mác lê nin là tất yếu vì đã đòi hỏi và thúc đẩy việc
phải chuyển phương pháp nghiên cứu từ siêu hình, máy móc,
chia cắt và ngưng đọng các đối tượng nghiên cứu sang phương
pháp biện chứng nghĩa là trình bày sự phát triển của tự nhiên
như một quá trình vận động, liên hệ và thống nhất.
3. Nhân tố chủ quan – thiên tài ở Mác và Ăngghen.
*Câu dẫn cho phần này: Nếu nhân tố khách quan thúc đẩy sự ra đời
của chủ nghĩa Mác thì nhân tố chủ quan cũng đóng vai trò quan trọng.
- Xuất thân từ tầng lớp trên nhưng C.Mác và Ph.Ăngghen đều tích cực tham
gia hoạt động thực tiễn, từ hoạt động đấu tranh trên báo chí đến tham gia
phong trào đấu tranh của công nhân, tham gia thành lập và hoạt động trong
các tổ chức của công nhân…; có trí tuệ uyên bác…
+ Ở Mác có một sự uyên bác nhìn xa trông rộng, nhạy cảm về chính trị, sự
kiên định và lòng yêu thương người lao động( hiểu sâu săc cuộc sống khốn
khổ của giai cấp công nhân trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa nên đã
đứng trên lợi ích của giai cấp công nhân.)
+ ông đã tìm thấy một tình bạn sâu sắc và cả những lý tưởng giải phóng lOMoAR cPSD| 23136115
con người không đổi ở Ăngghen là cơ sở để hai người cùng hợp tác, làm
việc vì những lý tưởng chung.
Note: Như vậy có thể nói, trước tiên là lý tưởng cao cả - hai ý tưởng
lớn gặp nhau. Sự gần gũi và thấu hiểu giai cấp - xã hội, lòng bác ái-
đồng cảm trực tiếp.
=>- Xây dựng hệ thống lý luận để cung cấp cho giai cấp công nhân một
công cụ sắc bén để nhận thức và cải tạo thế giới 5. Kết luận.
chủ nghĩa Mác ra đời dựa vào các điều kiện kinh tế xã hội ( giải phóng nỗi
thống khổ - mâu thuẫn giai cấp - con người xã hội ), tiền đề lý luận của
thời đại ( tiếp thu tinh hoa có chọn lọc đồng thời cải tiến để hợp lý tưởng -
tư tưởng thời đại, hợp thời điểm lịch sử và tiến hóa của loài người), tiền đề
khoa học tự nhiên. Đó là sự phản ánh thực tiễn xã hội thực tiễn phong trào
đấu tranh của công nhân và sự phát triển một cách logic của tư tưởng nhân loại.
Vì vậy sự ra đời của chủ nghĩa Mác là tất yếu .