17:48, 09/01/2026
Chương 1: Khái Niệm Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Học Đối Chiếu (CL101) - Studocu
CONTRASTIVE LINGUISTICS
TASK FOR WEEK 4 - GROUP 1
Bất kì ngôn ngữ nào
Tuy nhiên, chúng khác nhau ở những gì mà ngôn ngữ đó phải truyền tải.
Roman Jakobson
CHƯƠNG 1: NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ HỌC ĐỐI CHIẾU
1.1. Ngôn ngữ học
Ngôn ngữ của con người là hệ thống các ký hiệu được thiết kế cho mục đích giao tiếp.
Ngôn ngữ học là môn học nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống kiến thức ở nhiều khía cạnh của
ngôn ngữ (cấu trúc hệ thống, việc sử dụng trong sản xuất và cách hiểu các thông điệp, etc..). Đó
là nghiên cứu khoa học về bản chất, cấu trúc và biến thể ngôn ngữ, bao gồm ngữ âm, âm vị học,
hình thái học, cú pháp, ngữ nghĩa, ngôn ngữ học xã hội và ngữ dụng học.
Lĩnh vực ngôn ngữ học có thể được chia thành nhiều lĩnh vực phụ: ngôn ngữ học tổng
quát và ngôn ngữ học mô tả, ngôn ngữ học lý thuyết và ngôn ngữ học ứng dụng, ngôn ngữ học vi
mô và ngôn ngữ học vĩ mô. Ngôn ngữ học đối chiếu là một nhánh của ngôn ngữ học mô tả
những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hay nhiều ngôn ngữ ở cấp độ như âm vị học, ngữ
pháp và ngữ nghĩa, đặc biệt là nhằm cải thiện việc giảng dạy và dịch thuật ngôn ngữ.
1.2. Ngôn ngữ học đối chiếu
Trái ngược với những gì người ta thường tin, hầu hết dân số thế giới là người nói đa ngôn
ngữ và đa văn hóa, mặc dù tính đa ngôn ngữ không phải lúc nào cũng được các tổ chức công
nhận. Sống trong những cộng đồng này, con người cần có công cụ để giao tiếp với nhau, thực
hiện các công việc của con người và xã hội. Họ dường như biết rằng “Một người biết bao nhiêu
ngôn ngữ thì người đó đáng giá bấy nhiêu” – (Ngạn ngữ dân gian Croatia).
Các vấn đề chính sẽ được thảo luận trong bài này là: các thuật ngữ liên quan đến ngôn ngữ học
đối chiếu, nghiên cứu đối chiếu trong thực tiễn và khoa học, xu hướng và mô hình nghiên cứu
đối chiếu, thách thức và vấn đề trong ngôn ngữ học đối chiếu và định nghĩa ngôn ngữ học đối
chiếu.
1.2.1. Một số vấn đề về thuật ngữ
17:48, 09/01/2026
Chương 1: Khái Niệm Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Học Đối Chiếu (CL101) - Studocu
Nhãn tương phản đã được sử dụng trong nghiên cứu ngôn ngữ chủ yếu để chỉ các so sánh liên
ngôn ngữ và liên văn hóa. Nó cũng đã được sử dụng để so sánh trong các ngôn ngữ và nền văn
hóa. Mục đích của các nghiên cứu đối chiếu là so sánh dữ liệu ngôn ngữ và văn hóa xã hội giữa
các ngôn ngữ khác nhau (quan điểm ngôn ngữ/văn hóa chéo) hoặc trong các ngôn ngữ riêng lẻ
(quan điểm nội ngôn ngữ/văn hóa) để thiết lập các mẫu, loại cụ thể cho ngôn ngữ, loại hình
và/hoặc phổ quát , và các tính năng.(1) Nghiên cứu đối chiếu, phân tích đối chiếu và ngôn ngữ
học đối chiếu
(1) Nghiên cứu đối chiếu, phân tích đối chiếu và ngôn ngữ học đối chiếu
Tùy thuộc vào những gì các tác giả cụ thể cảm thấy là mô tả phù hợp nhất cho vấn đề đang thảo
luận, các nhãn có thể được tìm thấy là Nghiên cứu (Ngôn ngữ) tương phản (Áp dụng), Ngôn ngữ
học tương phản, Ngôn ngữ học so sánh (lịch sử hoặc kiểu chữ), Phân tích (ngôn ngữ) tương
phản, Ngữ pháp tương phản (Sáng tạo), Cú pháp so sánh, Từ điển học/Từ điển học tương phản,
Ngữ dụng học tương phản, Phân tích diễn ngôn tương phản, hoặc Ngôn ngữ học xã hội tương
phản, chỉ đề cập đến một số ít.
*Labels: nhãn ( do chính con người gán nhãn, mô hình sẽ sử dụng thêm 1 lượng lớn các dữ liệu
do chính nó gán nhãn cho việc học tập ở các bước và giai đoạn tiếp theo.)
Đằng sau sự phong phú thuật ngữ này dường như tồn tại một sự khác biệt về phạm vi liên quan
đến ba cụm từ chính mà các thuật ngữ đã nói ở trên có xu hướng tập trung xung quanh, đó là: (i)
nghiên cứu đối chiếu, (ii) phân tích đối chiếu và (iii) ngôn ngữ học đối chiếu. Có vẻ như các
nghiên cứu đối chiếu là tên gọi lĩnh vực chung nhất, thể hiện cả khía cạnh ngôn ngữ và ngoại
ngữ (VD: văn hóa, dân tộc học, ký hiệu học,v.v.) của nghiên cứu đối chiếu.
Ngược lại, phân tích đối chiếu là một cách so sánh các ngôn ngữ để xác định các lỗi tiềm ẩn
nhằm mục đích cuối cùng là tách biệt những gì cần và không cần học trong tình huống ngôn ngữ
học thứ hai.
Ngôn ngữ học đối chiếu có thể được cho là hạn chế lĩnh vực của nó trong nghiên cứu ngôn ngữ
đối chiếu, cho dù là lý thuyết, đều tập trung vào mô tả, đối chiếu các ngôn ngữ/nền văn hóa liên
quan, hoặc thực tế/ứng dụng, nhằm phục vụ nhu cầu của một ứng dụng cụ thể, và được thảo luận
lần lượt.
Bên cạnh đó, ngôn ngữ học đối chiếu được gọi là ‘mô tả song song’, ‘mô tả phân biệt’, ‘phân
tích đối thoại’, ‘phân tích đối chất’, ‘so sánh phân tích’, ‘so sánh liên ngôn ngữ’, cũng như 'ngôn
ngữ học mô tả so sánh’, hoặc ‘mô tả so sánh’. Tuy nhiên, thuật ngữ ‘ngôn ngữ học đối chiếu’ đã
được đặt ra bởi Benjamin Lee Whorf trong bài báo Ngôn ngữ và Logic của ông được xuất bản
năm 1941, trong đó, ông đã vạch ra sự khác biệt giữa ngôn ngữ học so sánh và ngôn ngữ học đối
chiếu, khẳng định rằng ngôn ngữ học đối chiếu “có tầm quan trọng lớn hơn đối với tư tưởng
công nghệ tương lai”.(1967: 240, Được chuyển thể từ Kurtes: 233).
(2) Sự tiếp xúc ngôn ngữ và đa ngôn ngữ.
17:48, 09/01/2026
Chương 1: Khái Niệm Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Học Đối Chiếu (CL101) - Studocu
Sự thay đổi của ngôn ngữ và nguồn gốc quan trọng của nó là sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ khác
nhau. Và kết quả là sự phổ biến; sự truyền bá của các đặc điểm ngôn ngữ giữa các ngôn ngữ đấy.
Sự giao tiếp ngôn ngữ diễn ra khi những người nói hai hoặc nhiều ngôn ngữ khác nhau hoặc giao
tiếp bằng phương ngữ (ngôn ngữ/tiếng nói địa phương) thường xuyên.
Phần lớn công dân trên thế giới ngày nay là song ngữ (đa ngôn ngữ), và điều này có thể đã xảy ra
trong suốt lịch sử loài người. Trước khi ý tưởng về nhà nước dân tộc thiểu số ra đời, chủ nghĩa
đơn ngữ (một ngôn ngữ duy nhất) chủ yếu là một đặc điểm của của các cộng đồng cư trú trên các
hòn đảo nhỏ. Tuy nhiên, chủ nghĩa đơn ngữ bắt đầu phát triển trên toàn thế giới do triết lý cho
rằng có một người dân, một quốc gia và một ngôn ngữ là hệ thống chính phủ lý tưởng.
17:48, 09/01/2026
Chương 1: Khái Niệm Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Học Đối Chiếu (CL101) - Studocu

Preview text:

17:48, 09/01/2026
Chương 1: Khái Niệm Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Học Đối Chiếu (CL101) - Studocu CONTRASTIVE LINGUISTICS TASK FOR WEEK 4 - GROUP 1 Bất kì ngôn ngữ nào
Tuy nhiên, chúng khác nhau ở những gì mà ngôn ngữ đó phải truyền tải. Roman Jakobson
CHƯƠNG 1: NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ HỌC ĐỐI CHIẾU 1.1. Ngôn ngữ học
Ngôn ngữ của con người là hệ thống các ký hiệu được thiết kế cho mục đích giao tiếp.
Ngôn ngữ học là môn học nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống kiến thức ở nhiều khía cạnh của
ngôn ngữ (cấu trúc hệ thống, việc sử dụng trong sản xuất và cách hiểu các thông điệp, etc..). Đó
là nghiên cứu khoa học về bản chất, cấu trúc và biến thể ngôn ngữ, bao gồm ngữ âm, âm vị học,
hình thái học, cú pháp, ngữ nghĩa, ngôn ngữ học xã hội và ngữ dụng học.
Lĩnh vực ngôn ngữ học có thể được chia thành nhiều lĩnh vực phụ: ngôn ngữ học tổng
quát và ngôn ngữ học mô tả, ngôn ngữ học lý thuyết và ngôn ngữ học ứng dụng, ngôn ngữ học vi
mô và ngôn ngữ học vĩ mô. Ngôn ngữ học đối chiếu là một nhánh của ngôn ngữ học mô tả
những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hay nhiều ngôn ngữ ở cấp độ như âm vị học, ngữ
pháp và ngữ nghĩa, đặc biệt là nhằm cải thiện việc giảng dạy và dịch thuật ngôn ngữ.
1.2. Ngôn ngữ học đối chiếu
Trái ngược với những gì người ta thường tin, hầu hết dân số thế giới là người nói đa ngôn
ngữ và đa văn hóa, mặc dù tính đa ngôn ngữ không phải lúc nào cũng được các tổ chức công
nhận. Sống trong những cộng đồng này, con người cần có công cụ để giao tiếp với nhau, thực
hiện các công việc của con người và xã hội. Họ dường như biết rằng “Một người biết bao nhiêu
ngôn ngữ thì người đó đáng giá bấy nhiêu” – (Ngạn ngữ dân gian Croatia).
Các vấn đề chính sẽ được thảo luận trong bài này là: các thuật ngữ liên quan đến ngôn ngữ học
đối chiếu, nghiên cứu đối chiếu trong thực tiễn và khoa học, xu hướng và mô hình nghiên cứu
đối chiếu, thách thức và vấn đề trong ngôn ngữ học đối chiếu và định nghĩa ngôn ngữ học đối chiếu.
1.2.1. Một số vấn đề về thuật ngữ 17:48, 09/01/2026
Chương 1: Khái Niệm Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Học Đối Chiếu (CL101) - Studocu
Nhãn tương phản đã được sử dụng trong nghiên cứu ngôn ngữ chủ yếu để chỉ các so sánh liên
ngôn ngữ và liên văn hóa. Nó cũng đã được sử dụng để so sánh trong các ngôn ngữ và nền văn
hóa. Mục đích của các nghiên cứu đối chiếu là so sánh dữ liệu ngôn ngữ và văn hóa xã hội giữa
các ngôn ngữ khác nhau (quan điểm ngôn ngữ/văn hóa chéo) hoặc trong các ngôn ngữ riêng lẻ
(quan điểm nội ngôn ngữ/văn hóa) để thiết lập các mẫu, loại cụ thể cho ngôn ngữ, loại hình
và/hoặc phổ quát , và các tính năng.(1) Nghiên cứu đối chiếu, phân tích đối chiếu và ngôn ngữ học đối chiếu
(1) Nghiên cứu đối chiếu, phân tích đối chiếu và ngôn ngữ học đối chiếu
Tùy thuộc vào những gì các tác giả cụ thể cảm thấy là mô tả phù hợp nhất cho vấn đề đang thảo
luận, các nhãn có thể được tìm thấy là Nghiên cứu (Ngôn ngữ) tương phản (Áp dụng), Ngôn ngữ
học tương phản, Ngôn ngữ học so sánh (lịch sử hoặc kiểu chữ), Phân tích (ngôn ngữ) tương
phản, Ngữ pháp tương phản (Sáng tạo), Cú pháp so sánh, Từ điển học/Từ điển học tương phản,
Ngữ dụng học tương phản, Phân tích diễn ngôn tương phản, hoặc Ngôn ngữ học xã hội tương
phản, chỉ đề cập đến một số ít.
*Labels: nhãn ( do chính con người gán nhãn, mô hình sẽ sử dụng thêm 1 lượng lớn các dữ liệu
do chính nó gán nhãn cho việc học tập ở các bước và giai đoạn tiếp theo.)
Đằng sau sự phong phú thuật ngữ này dường như tồn tại một sự khác biệt về phạm vi liên quan
đến ba cụm từ chính mà các thuật ngữ đã nói ở trên có xu hướng tập trung xung quanh, đó là: (i)
nghiên cứu đối chiếu, (ii) phân tích đối chiếu và (iii) ngôn ngữ học đối chiếu. Có vẻ như các
nghiên cứu đối chiếu là tên gọi lĩnh vực chung nhất, thể hiện cả khía cạnh ngôn ngữ và ngoại
ngữ (VD: văn hóa, dân tộc học, ký hiệu học,v.v.) của nghiên cứu đối chiếu.
Ngược lại, phân tích đối chiếu là một cách so sánh các ngôn ngữ để xác định các lỗi tiềm ẩn
nhằm mục đích cuối cùng là tách biệt những gì cần và không cần học trong tình huống ngôn ngữ học thứ hai.
Ngôn ngữ học đối chiếu có thể được cho là hạn chế lĩnh vực của nó trong nghiên cứu ngôn ngữ
đối chiếu, cho dù là lý thuyết, đều tập trung vào mô tả, đối chiếu các ngôn ngữ/nền văn hóa liên
quan, hoặc thực tế/ứng dụng, nhằm phục vụ nhu cầu của một ứng dụng cụ thể, và được thảo luận lần lượt.
Bên cạnh đó, ngôn ngữ học đối chiếu được gọi là ‘mô tả song song’, ‘mô tả phân biệt’, ‘phân
tích đối thoại’, ‘phân tích đối chất’, ‘so sánh phân tích’, ‘so sánh liên ngôn ngữ’, cũng như 'ngôn
ngữ học mô tả so sánh’, hoặc ‘mô tả so sánh’. Tuy nhiên, thuật ngữ ‘ngôn ngữ học đối chiếu’ đã
được đặt ra bởi Benjamin Lee Whorf trong bài báo Ngôn ngữ và Logic của ông được xuất bản
năm 1941, trong đó, ông đã vạch ra sự khác biệt giữa ngôn ngữ học so sánh và ngôn ngữ học đối
chiếu, khẳng định rằng ngôn ngữ học đối chiếu “có tầm quan trọng lớn hơn đối với tư tưởng
công nghệ tương lai”.(1967: 240, Được chuyển thể từ Kurtes: 233).
(2) Sự tiếp xúc ngôn ngữ và đa ngôn ngữ. 17:48, 09/01/2026
Chương 1: Khái Niệm Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Học Đối Chiếu (CL101) - Studocu
Sự thay đổi của ngôn ngữ và nguồn gốc quan trọng của nó là sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ khác
nhau. Và kết quả là sự phổ biến; sự truyền bá của các đặc điểm ngôn ngữ giữa các ngôn ngữ đấy.
Sự giao tiếp ngôn ngữ diễn ra khi những người nói hai hoặc nhiều ngôn ngữ khác nhau hoặc giao
tiếp bằng phương ngữ (ngôn ngữ/tiếng nói địa phương) thường xuyên.
Phần lớn công dân trên thế giới ngày nay là song ngữ (đa ngôn ngữ), và điều này có thể đã xảy ra
trong suốt lịch sử loài người. Trước khi ý tưởng về nhà nước dân tộc thiểu số ra đời, chủ nghĩa
đơn ngữ (một ngôn ngữ duy nhất) chủ yếu là một đặc điểm của của các cộng đồng cư trú trên các
hòn đảo nhỏ. Tuy nhiên, chủ nghĩa đơn ngữ bắt đầu phát triển trên toàn thế giới do triết lý cho
rằng có một người dân, một quốc gia và một ngôn ngữ là hệ thống chính phủ lý tưởng. 17:48, 09/01/2026
Chương 1: Khái Niệm Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Học Đối Chiếu (CL101) - Studocu