CHƯƠNG 2:
ĐẢNG LÃNH ĐẠO HAI CUC KHÁNG CHIẾN GIÀNH ĐỘC LP HOÀN
TOÀN, THNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1945 - 1975)
I. Đảng lãnh đạo xây dng, bo v chính quyn cách mng kháng chiến
chng thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
1.1.
Xây dựng bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ (1945 -
1946)
1.1.1.
Tình hình Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám
- Thuận lợi:
- Trên thế giới:
+ Hệ thống XHCN do Liên đứng đầu trở đối trọng với phe TBCN.
+ Phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh châu Á, châu Phi Mỹ
Latinh.
+ Phong trào hòa bình, dân chủ đang vươn lên mạnh m.
- trong ớc:
+ Việt Nam trở thành quốc gia độc lập, tự do; nhân dân trở thành chủ nhân của chế
độ mới.
+ Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền lãnh đạo cách mạng trong cả ớc.
+ Chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, hệ thống từ đến sở.
+ Lực lượng trang nhân dân được tăng cường.
* Khó khăn:
- Trên thế giới:
+ Các nước đế quốc nuôi dưỡng âm mưu “chia lại hệ thống thuộc địa”, ra sức đàn
áp phong trào cách mạng thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam.
+ Nền độc lập của nước ta chưa được quốc gia nào công nhận. Việt Nam nằm
trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, bị bao vây cách biệt hoàn toàn với thế giới
bên ngoài.
+ Cách mạng ba nước Đông Dương phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử
thách.
- trong ớc:
vn dân ch cng hòa
+ Nhà nước VNDCCH tiếp quản một nền kinh tế tiêu điều, xác sau chiến
tranh;
nền tài chính kiệt quệ; các htục lạc hậu, tệ nạn xã hội chưa được khắc phục; 95%
dân số mù chữ; 2 triệu người chết đói.
+ Quân đội các nước đế quc t kéo vào chiếm đóng Việt Nam khuyến
khích bn Vit gian chng phá chính quyn cách mng nhm xóa b bền độc
lp chia ct nước ta: Ở miền Nam, thực dân Pháp dưới sự bo trợ của 2 vạn
quân Anh - Ấn trở lại xâm
lược nước ta. Ở miền Bắc, 20 vn quân ca Tưởng Gii thch cùng tay sai Vit
quc, Vit cách chng phá chính quyn cách mng.
=> T quc lâm nguy, vn mnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc”.
1.1.2.
Xây dựng chế độ mới chính quyền cách mạng
- Ngày 3/9/1945, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên dưới sự ch
trì của Hồ Chủ tịch đã xác định ngay nhiệm vụ lớn trước mắt là diệt giặc đói, giặc
dốt và giặc ngoại xâm.
- Ngày 25/11/1945, BCHTƯ Đảng ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”
định hướng con đường đi lên của cách mạng Việt Nam sau khi giành được chính
quyền:
+ Xác định k thù chính ca ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phi tp
trung ngn lửa đấu tranh vào chúng.
+ Mục tiêu cách mạng vẫn là “dân tộc giải phóng” và đ ra khẩu hiệu “Dân tộc trên
hết, Tổ quốc trên hết”.
+ Nhiệm vụ chủ yếu, trước mắt “củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp
xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân”.
+ Biện pháp cụ thể: cần nhanh chóng tiến hành bầu cử Quốc hội đđi đến thành
lập Chính phủ chính thức, lập ra Hiến pháp; kiên định nguyên tc độc lập về chính
trị; về ngoi giao, Đảng chủ trương kiên trì nguyên tắc thêm bạn bớt thù, đối với
Tưởng thực hiện khẩu hiệu “Hoa - Việt thân thiện”, đối với Pháp “độc lập về chính
trị, nhân nhượng về kinh tế”.
=> Những quan điểm và chủ trương, biện pháp lớn được Đảng nêu ra trong Chỉ thị
“Kháng chiến kiến quốc” đã đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam, tác
dụng định hướng tư tưởng, trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp Nam Bộ; xây dựng bảo vệ chính quyền cách mạng trong giai đoạn đầy
khó khăn, thử thách.
- Chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói được xác định một nhiệm vụ ln,
quan trọng, cấp bách lúc bấy giờ. Đảng, Chính phủ Chủ tịch Hồ Chí Minh tp
trung chỉ đạo, động vn, tập hợp đông đảo mọi tng lớp nhân dân tham gia các
phong to như tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; lập hũ gạo tiết kiệm và phát
động các cuộc vận động lớn trong toàn quốc (Tuần lễ vàng, Quỹ độc lập, Quỹ đảm
phụ quốc phòng, Quỹ Nam Bộ kháng chiến...). Nhiều thứ thuế lý của chế độ cũ
bị xóa bỏ, thực hiện chính sách giảm 25%; ngân quỹ quốc gia được xây dựng
lại, phát hành đồng giấy bạc Việt Nam...
-> Đầu năm 1946 nạn đói bản được đẩy lùi, đời sống nhân dân ổn định, tinh
thần dân tộc được phát huy cao độ.
- Chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan
tâm đặc biệt, coi đó là một “giải pháp quan trọng” để xây dựng hệ thống chính
quyền cách mạng và phát huy quyền dân chủ của nhân dân. Đảng chủ trương
phát động phong trào “Bình dân học vụ” toàn dân học chữ quốc ngữ để từng
bước xóa bỏ nạn dốt; vận động toàn dân xây dựng đời sống mới, nền văn hóa mới
để đẩy lùi các tệ nạn, hủ tục, thói quen cũ cản trở tiến bộ...
-> Cuối năm 1946 cả nước có thêm hơn 2,5 triệu người dân biết đọc, biết viết chữ
quốc ngữ.
- Xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền cách mạng:
+ Để khẳng định địa vị pháp lý của Việt Nam, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh ch
trương tiến hành cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu trong toàn quốc, bầu ra Quốc
hội thành lập Chính phủ chính thức. Ngày 6/1/1946, cuộc tổng tuyển cử bầu
Quốc hội diễn ra trên cả nước, vi khoảng 90% tổng số cử tri đi bỏ phiếu, bu
được 333 đại biểu đại diện cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân.
+ Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I đã họp phiên đầu tn tại Nhà hát lớn Hà Nội và
lập ra Chính phủ chính thức do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Quốc hội cũng lập ra
Ban soạn thảo Hiến pháp mới sau đó thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Hiến pháp năm 1946).
+ Mặt trận dân tộc thống nhất được mở rộng nhằm tăng cường thực lực cách mạng;
lực lượng vũ trang được củng cố...
1.1.3.
Tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở
Nam Bộ, đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ
- miền Nam:
+ Ngày 23/9/1945, nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp.
+ Ngày 25/10/1945, Hội nghị cán bộ Đảng bộ Nam Bộ họp tại Thiên Hộ, Cái
(Mỹ Tho) quyết định những bin pháp cấp bách củng cố lực lượng trang, xây
dựng sở chính trị và vũ trang bí mật trong nội đô; tổ chức và phát động toàn dân
kháng chiến, kiên quyết đẩy lùi cuộc tấn công của quân Pháp.
+ Ngày 26/9/1945, những chi đội đầu tiên ưu nhất của quân đội đã lên đường
Nam tiến; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào Nam Bộ, tuyên dương
và tặng nhân dân Nam Bộ danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”.
- miền Bắc:
+ Để làm thất bại âm mưu “diệt Cộng, cầm Hồ” của quân Tưởng tay sai, Đảng
chủ trương Hoa - Việt thân thiện”, thực hiện “nhân nhượng nguyên tắc” thông
qua một loạt sách lược hòa hoãn: Đảng rút vào hoạt động mật bằng việc tuyên
bố tự giải tán thành lập “Hội những người nghiên cứu chủ nghĩa Mác Đông
Dương” (11/1945); về quân sự Quân đội quốc gia Việt Nam được đổi thành Vệ
quốc đoàn (9/1945); Chính phủ Việt Nam đồng ý cung cấp lương thực, thực phẩm
cần thiết cho 20 vạn quân đội Trung Hoa dân quốc làm nhiệm vụ giải gp quân
Nhật khi Việt Nam cho phép quân Tưởng sdụng tiền Quan kim, Quốc tệ
song hành cùng đồng bạc Đông Dương.
4
+ Sau khi bầu cử thành công, Hồ Chí Minh chấp nhận mở rộng thành phần đại
biểu, bổ sung 70 ghế Quốc hội không qua bầu cử cho một số đảng viên của Việt
quốc, Việt cách; đồng thời mở rộng thành phần Chính phủ liên hiệp với sự tham
gia của nhiều nhân sĩ, trí thức, người không đảng phái...
+ Ngày 28/2/1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết, trong đó nội dung thỏa
thuận để Pháp đưa quân đội ra Bắc tuyến 16 làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật
thay thế cho 20 vạn quân Tưởng rút về nước.
+ Trước sự thay đổi nhanh chóng của tình hình, ngày 3/3/1946 Thường vụ Trung
ương Đảng ra Chỉ thị “Tình hình chủ trương” nêu rõ: “Vấn đề lúc này, không
phải là muốn hay không muốn đánh. Vấn đề biết mình, biết người, nhận một
cách khách quan những điều kiện lời lãi trong nước và ngoài nước chủ trương
cho đúng” chủ trương tạm thời “dàn hòa với Pháp” để thúc đẩy nhanh quân
Tưởng về nước, bớt đi một kẻ t nguy hiểm.
+ Ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phVNDCCH đã ký với
đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp tại Hà Nội J. Xanhtơny bản Hiệp định Sơ bộ.
Theo đó, Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam một quốc gia tự do, chính
phủ, nghị viện, tài chính và quân đội riêng nằm trong Liên bang Đông Dương
thuộc khối Liên hiệp Pháp; Việt Nam đồng ý để 15.000 quân đội Pháp ra miền Bắc
thay thế 20 vạn quân đội Tưởng rút về nước và sẽ rút dần trong thời hạn 5 năm;
hai bên sẽ tiếp tục tiến hành đàm phán chính thức để giải quyết mối quan hệ Việt -
Pháp...
+ Ngay sau khi ký Hiệp định Sơ bộ, ngày 9/3/1946, Thường vụ Trung ương Đảng
đã ra Chỉ thị “Hòa để tiến” phân tích, đánh giá chủ trương hòa hoãn và khả năng
phát triển của tình hình. Chỉ thị nêu rõ: Cần phải tiếp tục nêu cao tinh thần cảnh
giác cách mạng, không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến
bất cứ lúc nào và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh
thần quyết chiến của dân tộc ta, nhất là đối với đồng bào Nam B.
+ Để giữ vững nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Đảng, Chính phủ tiếp
tục cuộc đấu tranh ngoại giao kiên trì, kiên quyết, đầy khó khăn trong suốt cả năm
1946 ở cả mặt trận trong nước và ngoài nước. Từ ngày 19/4 đến 10/5/1946, đại
diện Việt Nam và Pháp gặp nhau tại Hội nghị trù bị ở Đà Lạt; từ ngày 31/5 đến
20/10/1946, theo lời mời của Quốc hội Chính phủ Pháp, Hồ Chủ tịch dẫn đầu
phái đoàn của Chính phủ Việt Nam thăm nước Pháp; từ ngày 6/7 đến 10/9/1946
cuộc đàm phán giữa 2 bên Việt - Pháp tại Hội nghị Phôngtenơblô (Paris, Pháp) đã
không đem lại kết quả do lập trường hiếu chiến và dã tâm xâm lược của thực dân
Pháp. Với thiện chí của mình, trước khi lên đường về nước Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã với M. Mutê đại diện Chính phủ Pháp bản Tạm ước 14/9 tại Mácxây,
nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi kinh tế, văn hóa ở Việt Nam, đồng
thời hai bên cam kết đình chỉ chiến sự ở Nam Bộ và tiếp tục đàm phán...
+ Trong khi đó ở Việt Nam, các thế lực thực dân hiếu chiến Pháp ở Hà Nội câu kết
với tay sai Việt Quốc ráo riết chuẩn bị âm mưu thâm độc lật đổ Chính phủ Việt
Nam, dự định vào ngay 14/7/1946. Dưới sự lãnh đạo của Đng, rạng sáng ngày
12/7/1946, lực lượng công an đã kn khéo, mưu trí tổ chức một cuộc đột nhập,
tấn công bất ngờ vào trụ sở của Việt Nam Quốc dân Đảng (nhà số 7, phố Ôn Như
Hầu), nhanh chóng khống chế bọn phản động có vũ trang, tổ chức khám xét và tịch
thu được nhiều i liệu phản động. Với thắng lợi quan trọng này ta đã đập tan hoàn
toàn mưu đồ thâm độc lật đổ chính quyền cách mạng của bọn tay sai phản động
cấu kết với thực dân Pháp, giữ vững chính quyền cách mạng.
+ Ngày 20/10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh phái đoàn Việt Nam vđến cảng
Hải Phòng an tn trong không khí đón chào nồng nhiệt của nhân dân, đồng bào,
đồng chí. Người đã viết bài “Công việc khẩn cấp bây giờ” nêu những nhiệm vụ
cụ thể cấp thiết phải làm để chuẩn bị cho cuộc đối đầu quân sự giữa Việt Nam
và Pháp.
=> Những chủ trương, biện pháp, sách lược đúng đắn của Đảng, Chính phủ và Chủ
tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài những năm đầu
chính quyền cách mạng non trẻ đã đem lại thắng li có ý nghĩa hết sức quan trọng:
ngăn chặn bước tiến của đội quân xâm lược Pháp ở Nam Bộ, vch trần và làm thất
bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của kẻ thù; củng cố, giữ vững bảo vệ
chính quyền cách mạng từ.Trung ương đến sở nhng thành quả của Cách
mạng Tháng Tám; tạo thêm thời gian hòa bình, hòa hoãn, tranh thủ xây dựng thực
lực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
1.2.
Đường lối kháng chiến toàn quốc và quá trình tổ chức thực
hiện từ năm 1946 đến năm 1950
1.2.1.
Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ đường lối kháng
chiến của Đảng
- Hoàn cảnh lịch sử:
- Sau Hiệp định bộ 6/3 Tạm ước 14/9, Đảng, Chính phủ nhân
dân Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện chủ trương hòa hoãn và tỏ rõ thiện chí hòa
bình, thái độ nhân nhượng nhằm tìm kiếm con đường tốt nhất bảo vệ giữ gìn
toàn vẹn nền độc lập, cứu vãn mối quan hệ Việt - Pháp và nguy cơ nổ ra một cuộc
chiến tranh quân sự.
- Song về phía Chính phủ Pháp Bộ chỉ huy quân đội Pháp Việt
Nam đã bộc lộ thái độ bội ước:
+ Cuối tháng 11-1946, thực dân Pháp tấn công đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn,
tiếp đó chiếm đóng trái phép Đà Nẵng, Hải Dương, tấn công vào các vùng tự do
của ta ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ, hậu thuẫn cho lực lượng phản động xúc tiến
thành lập “Chính phủ Cộng hòa Nam kỳ” và triệu tập Hội nghị Liên bang Đông
Dương.
+ Ngày 15 16/12/1946, quân đội Pháp Nội đã tổ chức gây hấn với ta
nhiều nơi, tấn công đánh chiếm trụ sở Bộ Tài chính, Bộ Giao thông công chính.
Ngày 17/12, chúng bắn đại bác gây ra vụ thảm sát đồng bào ta phố Yên Ninh,
Hàng Bún. Ngày 18/12, đi diện Chính phủ Pháp Nội đơn phương tuyên bố
cắt đt mọi liên hệ với Chính phủ Việt Nam, đưa liên tiếp 3 tối hậu thư đòi phía
Việt Nam phải giải giáp; phá bỏ công sự, chướng ngại vật trên đường phố Hà Nội,
giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, đòi thực thi nhiệm vụ kiểm soát, gìn giữ an
ninh, trật tự của thành phố...
=> Như vy, đến ngày 19/12/1946, mọi cố gắng ngoại giao và thiện chí hòanh
của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã bị thực dân Pháp cự tuyệt. Nhân
dân ta không có sự lựa chọn nào khác là phải cầm súng đứng lên để bảo vệ nền
độc lập non trẻ và chính quyền cách mạng; bảo vệ những thành quả của cuộc Cách
mạng Tháng Tám.
- Ngày 12/12/1946, Trung ương ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến.
Ngày 18/12/1946, Hi ngh Ban Thường v Trung ương Đảng (m rng) hp
ti làng Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sch trì ca H Chí Minh. Hi nghị đã
nhận định hành động ca Pháp chng tchúng c ý muốn cướp nước ta mt
ln na. Kh năng hòa hoãn không còn. Hòa hoãn na mất nước. Trong thời
điểm lch s phi quyết đoán ngay, Hội ngh h quyết tâm phát đng cuc
kháng chiến trong cả nước và chđộng tiến công trước khi thc dân Pháp thc
hin màn kịch đảo chính quân sự ở Ni.
- Ngày 19/12/1946, Ch tch H Chí Minh ra Li kêu gi toàn quc
kháng chiến, khẳng định quyết tâm sắt đá của nhân dân ta để bo v nền độc
lp, t do: “Chúng ta mun hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nng chúng
ta càng nhân nhượng, thc dân Pháp càng ln ti, vì chúng quyết tâm cướp nước ta
mt ln na!
Không! Chúng ta thà hy sinh tt c, ch nhất định không chu mất nước, nhất định
không chu làm nô lệ”.
- Nội dung đường lối kháng chiến:
Đường li kháng chiến chng Pháp của Đảng được th hin tập trung trong ba
văn kin ln (ChthToàn dân kháng chiến của Trung ương Đảng - 12/12/1946;
Li kêu gi toàn quc kháng chiến ca HCh tch - 19/12/1946; tác phm
Kháng chiến nhất định thng li ca đồng chí Trường Chinh - 8/1947) được son
tho và công bố ngay trước và sau ngày toàn quc kháng chiến:
- Tính cht kháng chiến: “Cuộc kháng chiến ca dân tc ta là mt cuc
chiến tranh cách mng ca nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. tính chất
toàn dân, toàn din lâu dài”. “Là một cuc chiến tranh tiến b t do, đc lâp,
dân ch và hòa bình”.
- Mc tiêu ca cuc kháng chiến đánh đổ thực dân Pháp xâm
lược, giành nn độc lp, t do, thng nht hoàn toàn; vì nn t do dân ch, góp
phn bo v hòa bình thế gii.
- Phương châm tiến hành kháng chiến: Toàn dân, toàn din, lâu dài,
da vào sc mình là chính:
- + Kháng chiến toàn dân động viên toàn dân tham gia cuộc kháng
chiến, “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài, mỗi đường ph
một mặt trận”. Trong đó Quân đội nhân dân làm nòng cốt cho toàn dân đánh
giặc.
+ Kháng chiến toàn diện đánh địch trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận không chỉ
bằng quân sự cả vchính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa tưởng, trong đó
mặt trận quân sự, đấu tranh trang giữ vai trò tiên phong, mang tính quyết định.
Phải động viên, phát huy cho được mọi tiềm năng, sức mạnh của dân tộc, mọi
nguồn lực vật chất, tinh thần trong nhân dân để phục vụ kháng chiến.
+ Kháng chiến lâu dài tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong bối cảnh so
sánh lực lượng ban đầu giữa ta địch quá chênh lệch, không cân sức. Trường kỳ
kháng chiến là một quá trình vừa đánh tiêu hao lực lượng địch, vừa xây dựng, phát
triển lực lượng ta, từng bước làm chuyển biến so sánh lực lượng trên chiến trường.
Kháng chiến lâu dài nhưng không phải kéo dài thời hạn luôn tranh thủ thời
, thúc đẩy cuộc kháng chiến bước nhảy vọt về chất, thắng từng bước để đi
đến thắng lợi cuối cùng.
+ Kháng chiến dựa vào sức mình chính. Đây là sự kế thừa tưởng chiến
lược trong chỉ đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc “đem sức ta mà tự giải
phóng cho ta”. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta nổ ra trong điều kiện quốc tế bất
lợi, Việt Nam nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy con đường duy
nhất lúc bấy giờ là phải tự lập, tự cường, tự cấp, tự túc về mọi mặt; phải dựa vào
nguồn nội lực của dân tộc, phát huy nguồn lực vật chất, tinh thần vốn trong
nhân dân làm sức mạnh, chỗ dựa chủ yếu của cuộc chiến tranh, làm cơ sở để sử
dụng và phát huy ngoại lực khi có điều kiện.
=> Li kêu gi toàn quc kháng chiến đường lối kháng chiến của Đảng trở
thành ngọn cờ dẫn đường, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiến lên.
Đường lối đó được nhân dân ủng hộ, hưởng ứng trong suốt quá trình kháng
chiến trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi của cuộc
kháng chiến chống Pháp.
1.2.2.
Tổ chức, chỉ đạo cuộc kháng chiến từ năm 1947 đến năm 1950
(SV tìm hiu thêm)
Đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi (1951 - 1954)
1.2.3.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Chính cương của
Đảng (2/1951)
- Tháng 2/1951, Đại hội đại biu toàn quc ln th II của Đảng
hp ti Tuyên Quang. Đại hội đã tán thành Báo cáo chính tr của BCHTƯ do
Chủ tch H Chí Minh trình bày và ra Ngh quyết chia tách ĐCSĐD thành ba
Đảng cách mạng để lãnh đạo cuc kháng chiến ca ba dân tộc đi tới thng li.
Việt Nam, Đảng ra hoạt động công khai ly tên là Đảng Lao đng Vit Nam.
- Báo cáo ca Tổng thư Trường Chinh đã trình bày toàn bộ
đường li cách mng Vit Nam. Đó là đường li CMDTDCND tiến lên CNXH.
Nội dung bản ca báo cáo được phn ánh trong Chính cương của Đảng Lao
động Vit Nam, xác định:
+ Tính cht xã hi: “Xã hội Vit Nam hin nay gm có ba tính cht: dân ch nhân
dân, mt phn thuộc địa na phong kiến. Ba tính chất đó đang đấu tranh
ln nhau. Nhưng mâu thuẫn ch yếu lúc này mâu thun gia tính cht dân ch
nhân dân tính cht thuộc địa. Mâu thuẫn đó đang được gii quyết trong quá
trình kháng chiến ca dân tc Vit Nam chng thc dân Pháp và bn can thiệp”.
+ Đối tượng cách mng: Đối tượng chính hiện nay đế quc Pháp bn can
thip Mỹ; đối tượng phlà bn phong kiến phản đng.
+ Nhim v cách mng: Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lp và
thng nht cho dân tc; xóa b nhng tàn tích phong kiến na phong kiến,
làm cho người cày rung; phát trin chế độ dân ch nhân dân. Ba nhim v
đó khăng khít với nhau nhưng nhiệm v chính lúc này tập trung đấu tranh
chống xâm lược, hoàn thành công cuc gii phóng dân tc.
+ Động lc ca cách mng được xác định gm có bn giai cp là công nhân, nông
dân, tiểu sản sản dân tc, ngoài ra còn nhng thân (thân hào, địa
ch) yêu nước tiến b. Trong đó, nền tng liên minh công - nông lao
động trí thc; giai cp công nhân đóng vai trò là lực lượng lãnh đạo cách mng
Vit Nam.
+ Đặc điểm ca cách mng Vit Nam hin nay là mt cuc cách mng dân tc dân
chnhân dân.
+ Trin vng ca cách mng: Cách mng dân tc dân ch nhân dân do Đảng
ca giai cấp công nhân lãnh đạo nhất định s tiến lên CNXH. Đó quá trình lâu
dài, tri qua
ba giai đoạn: hoàn thành GPDT; xóa btàn tích phong kiến và na phong kiến,
thc hin triệt đngười cày rung, hoàn chnh chế độ dân ch nhân dân; xây
dựng sở cho CNXH, tiến lên thc hin CNXH.
+ Chính sách của Đảng: 15 chính sách ln nhm phát trin chế độ dân ch
nhân dân, gây mm mống cho CNXH và đẩy mnh kháng chiến đến thng li.
+ Quan h quc tế: Việt Nam đứng v phe hòa bình dân ch, phi tranh th
sự giúp đỡ của các nước XHCN nhân dân thế gii, thc hiện đoàn kết Vit -
Trung - và đoàn kết Vit - Miên - Lào.
=> Đại hội II là “Đại hi kháng chiến kiến quốc”, “thúc đẩy kháng chiến đến thng
li hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam”.
chiến
1.2.4.
Đẩy mạnh phát triển cuộc kháng chiến về mọi mặt
(SV tìm hiu thêm)
1.2.5.
Kết hợp đấu tranh quân sự ngoại giao kết thúc thắng lợi
cuộc kháng
(SV tìm hiu thêm)
1.3.
Ý
nghĩa lịch
sử kinh
nghiệm
của Đảng
về lãnh đạo kháng chiến
1.3.1.
Ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến
- Dưới s lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã bảo v thành qu ca
cuc Cách
mng Tháng Tám; cng c, phát trin chế độ dân ch nhân dân. Thng li ca
cuc kháng chiến đưa đến vic min Bắc được hoàn toàn giải phóng, quá độ
lên CNXH, trthành hậu phương ln, chi vin cho tin tuyến ln min Nam.
11
12
- Đánh bại cuc chiến tranh xâm lược quy ln của quân đội nhà ngh
có tim lc quân s kinh tế hùng mạnh, được điều hành bi các nhà chính tr
lão luyn, các tướng tá quân stài ba ca Pháp và M. Lần đầu tiên trong lch s
phong trào GPDT, một nước thuộc địa nhỏ bé đã đánh thắng một cường quc
thc dân, tác dng cổ vũ mnh m phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân ch
và tiến b trên thế gii.
1.3.2.
Kinh nghiệm của Đảng về lãnh đạo kháng chiến
- Đề ra đường lối đúng đắn, sáng to, phù hp vi thc tin lch sca
cuc kháng chiến ngay tnhững ngày đầu.
- Kết hp cht ch gii quyết đúng đắn mi quan h gia hai
nhim vụ cơ bản va kháng chiến va kiến quc, chống đế quc và chng phong
kiến.
- Ngày càng hoàn thiện phương thức lãnh đạo, tchức điu hành cuc
kháng chiến phù hp với đặc thù ca từng gaii đoạn.
- Xây dng và phát trin lực lượng trang ba thứ quân (bđội ch
lc, bđội địa phương, dân quân du kích) một cách thích hợp, đáp ng kp thi
yêu cu ca nhim vchính tr- quân sca cuc kháng chiến.
- Coi trng công tác xây dng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao vai trò
lãnh đạo toàn din của Đảng đi vi cuc kháng chiến trên tt c mọi lĩnh vực,
mt trn.

Preview text:

CHƯƠNG 2:
ĐẢNG LÃNH ĐẠO HAI CUC KHÁNG CHIẾN GIÀNH ĐỘC LP HOÀN
TOÀN, THNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1945 - 1975)
I. Đảng lãnh đạo xây dng, bo vchính quyn cách mng và kháng chiến
chng thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) 1.1.
Xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ (1945 - 1946) 1.1.1.
Tình hình Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám - Thuận lợi: - Trên thế giới:
+ Hệ thống XHCN do Liên Xô đứng đầu trở đối trọng với phe TBCN.
+ Phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh.
+ Phong trào hòa bình, dân chủ đang vươn lên mạnh mẽ. - Ở trong nước:
+ Việt Nam trở thành quốc gia độc lập, tự do; nhân dân trở thành chủ nhân của chế độ mới.
+ Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền lãnh đạo cách mạng trong cả nước.
+ Chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, có hệ thống từ TƯ đến cơ sở.
+ Lực lượng vũ trang nhân dân được tăng cường. * Khó khăn: - Trên thế giới:
+ Các nước đế quốc nuôi dưỡng âm mưu “chia lại hệ thống thuộc địa”, ra sức đàn
áp phong trào cách mạng thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam.
+ Nền độc lập của nước ta chưa được quốc gia nào công nhận. Việt Nam nằm
trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, bị bao vây cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài.
+ Cách mạng ba nước Đông Dương phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách. - Ở trong nước: vn dân chủ cộng hòa
+ Nhà nước VNDCCH tiếp quản một nền kinh tế tiêu điều, xơ xác sau chiến tranh;
nền tài chính kiệt quệ; các hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội chưa được khắc phục; 95%
dân số mù chữ; 2 triệu người chết đói.
+ Quân đội các nước đế quốc ồ ạt kéo vào chiếm đóng Việt Nam và khuyến
khích bọn Việt gian chống phá chính quyền cách mạng nhằm xóa bỏ bền độc
lập và chia cắt nước ta: Ở miền Nam, thực dân Pháp dưới sự bảo trợ của 2 vạn
quân Anh - Ấn trở lại xâm
lược nước ta. Ở miền Bắc, 20 vạn quân của Tưởng Giới thạch cùng tay sai Việt
quốc, Việt cách chống phá chính quyền cách mạng.
=> Tổ quốc lâm nguy, vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc”. 1.1.2.
Xây dựng chế độ mới và chính quyền cách mạng -
Ngày 3/9/1945, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên dưới sự chủ
trì của Hồ Chủ tịch đã xác định ngay nhiệm vụ lớn trước mắt là diệt giặc đói, giặc
dốt và giặc ngoại xâm. -
Ngày 25/11/1945, BCHTƯ Đảng ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”
định hướng con đường đi lên của cách mạng Việt Nam sau khi giành được chính quyền:
+ Xác định kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập
trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng.
+ Mục tiêu cách mạng vẫn là “dân tộc giải phóng” và đề ra khẩu hiệu “Dân tộc trên
hết, Tổ quốc trên hết”.
+ Nhiệm vụ chủ yếu, trước mắt là “củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp
xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân”.
+ Biện pháp cụ thể: cần nhanh chóng tiến hành bầu cử Quốc hội để đi đến thành
lập Chính phủ chính thức, lập ra Hiến pháp; kiên định nguyên tắc độc lập về chính
trị; về ngoại giao, Đảng chủ trương kiên trì nguyên tắc thêm bạn bớt thù, đối với
Tưởng thực hiện khẩu hiệu “Hoa - Việt thân thiện”, đối với Pháp “độc lập về chính
trị, nhân nhượng về kinh tế”.
=> Những quan điểm và chủ trương, biện pháp lớn được Đảng nêu ra trong Chỉ thị
“Kháng chiến kiến quốc” đã đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam, có tác
dụng định hướng tư tưởng, trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp ở Nam Bộ; xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng trong giai đoạn đầy khó khăn, thử thách. -
Chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói được xác định là một nhiệm vụ lớn,
quan trọng, cấp bách lúc bấy giờ. Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập
trung chỉ đạo, động viên, tập hợp đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia các
phong trào như tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; lập hũ gạo tiết kiệm và phát
động các cuộc vận động lớn trong toàn quốc (Tuần lễ vàng, Quỹ độc lập, Quỹ đảm
phụ quốc phòng, Quỹ Nam Bộ kháng chiến...). Nhiều thứ thuế vô lý của chế độ cũ
bị xóa bỏ, thực hiện chính sách giảm tô 25%; ngân quỹ quốc gia được xây dựng
lại, phát hành đồng giấy bạc Việt Nam...
-> Đầu năm 1946 nạn đói cơ bản được đẩy lùi, đời sống nhân dân ổn định, tinh
thần dân tộc được phát huy cao độ. -
Chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan
tâm đặc biệt, coi đó là một “giải pháp quan trọng” để xây dựng hệ thống chính
quyền cách mạng và phát huy quyền dân chủ của nhân dân. Đảng chủ trương
phát động phong trào “Bình dân học vụ” toàn dân học chữ quốc ngữ để từng
bước xóa bỏ nạn dốt; vận động toàn dân xây dựng đời sống mới, nền văn hóa mới
để đẩy lùi các tệ nạn, hủ tục, thói quen cũ cản trở tiến bộ...
-> Cuối năm 1946 cả nước có thêm hơn 2,5 triệu người dân biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. -
Xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền cách mạng:
+ Để khẳng định địa vị pháp lý của Việt Nam, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ
trương tiến hành cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu trong toàn quốc, bầu ra Quốc
hội và thành lập Chính phủ chính thức. Ngày 6/1/1946, cuộc tổng tuyển cử bầu
Quốc hội diễn ra trên cả nước, với khoảng 90% tổng số cử tri đi bỏ phiếu, bầu
được 333 đại biểu đại diện cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân.
+ Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I đã họp phiên đầu tiên tại Nhà hát lớn Hà Nội và
lập ra Chính phủ chính thức do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Quốc hội cũng lập ra
Ban soạn thảo Hiến pháp mới và sau đó thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Hiến pháp năm 1946).
+ Mặt trận dân tộc thống nhất được mở rộng nhằm tăng cường thực lực cách mạng;
lực lượng vũ trang được củng cố... 1.1.3.
Tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở
Nam Bộ, đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ - Ở miền Nam:
+ Ngày 23/9/1945, nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp.
+ Ngày 25/10/1945, Hội nghị cán bộ Đảng bộ Nam Bộ họp tại Thiên Hộ, Cái Bè
(Mỹ Tho) quyết định những biện pháp cấp bách củng cố lực lượng vũ trang, xây
dựng cơ sở chính trị và vũ trang bí mật trong nội đô; tổ chức và phát động toàn dân
kháng chiến, kiên quyết đẩy lùi cuộc tấn công của quân Pháp.
+ Ngày 26/9/1945, những chi đội đầu tiên ưu tú nhất của quân đội đã lên đường
Nam tiến; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào Nam Bộ, tuyên dương
và tặng nhân dân Nam Bộ danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”. - Ở miền Bắc:
+ Để làm thất bại âm mưu “diệt Cộng, cầm Hồ” của quân Tưởng và tay sai, Đảng
chủ trương “Hoa - Việt thân thiện”, thực hiện “nhân nhượng có nguyên tắc” thông
qua một loạt sách lược hòa hoãn: Đảng rút vào hoạt động bí mật bằng việc tuyên
bố tự giải tán và thành lập “Hội những người nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông
Dương” (11/1945); về quân sự Quân đội quốc gia Việt Nam được đổi thành Vệ
quốc đoàn (9/1945); Chính phủ Việt Nam đồng ý cung cấp lương thực, thực phẩm
cần thiết cho 20 vạn quân đội Trung Hoa dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân
Nhật khi ở Việt Nam và cho phép quân Tưởng sử dụng tiền Quan kim, Quốc tệ
song hành cùng đồng bạc Đông Dương.4
+ Sau khi bầu cử thành công, Hồ Chí Minh chấp nhận mở rộng thành phần đại
biểu, bổ sung 70 ghế Quốc hội không qua bầu cử cho một số đảng viên của Việt
quốc, Việt cách; đồng thời mở rộng thành phần Chính phủ liên hiệp với sự tham
gia của nhiều nhân sĩ, trí thức, người không đảng phái...
+ Ngày 28/2/1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết, trong đó có nội dung thỏa
thuận để Pháp đưa quân đội ra Bắc vĩ tuyến 16 làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật
thay thế cho 20 vạn quân Tưởng rút về nước.
+ Trước sự thay đổi nhanh chóng của tình hình, ngày 3/3/1946 Thường vụ Trung
ương Đảng ra Chỉ thị “Tình hình và chủ trương” nêu rõ: “Vấn đề lúc này, không
phải là muốn hay không muốn đánh. Vấn đề là biết mình, biết người, nhận một
cách khách quan những điều kiện lời lãi trong nước và ngoài nước mà chủ trương
cho đúng” và chủ trương tạm thời “dàn hòa với Pháp” để thúc đẩy nhanh quân
Tưởng về nước, bớt đi một kẻ thù nguy hiểm.
+ Ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ VNDCCH đã ký với
đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp tại Hà Nội là J. Xanhtơny bản Hiệp định Sơ bộ.
Theo đó, Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính
phủ, nghị viện, tài chính và quân đội riêng nằm trong Liên bang Đông Dương
thuộc khối Liên hiệp Pháp; Việt Nam đồng ý để 15.000 quân đội Pháp ra miền Bắc
thay thế 20 vạn quân đội Tưởng rút về nước và sẽ rút dần trong thời hạn 5 năm;
hai bên sẽ tiếp tục tiến hành đàm phán chính thức để giải quyết mối quan hệ Việt - Pháp...
+ Ngay sau khi ký Hiệp định Sơ bộ, ngày 9/3/1946, Thường vụ Trung ương Đảng
đã ra Chỉ thị “Hòa để tiến” phân tích, đánh giá chủ trương hòa hoãn và khả năng
phát triển của tình hình. Chỉ thị nêu rõ: Cần phải tiếp tục nêu cao tinh thần cảnh
giác cách mạng, không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến
bất cứ lúc nào và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh
thần quyết chiến của dân tộc ta, nhất là đối với đồng bào Nam Bộ.
+ Để giữ vững nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Đảng, Chính phủ tiếp
tục cuộc đấu tranh ngoại giao kiên trì, kiên quyết, đầy khó khăn trong suốt cả năm
1946 ở cả mặt trận trong nước và ngoài nước. Từ ngày 19/4 đến 10/5/1946, đại
diện Việt Nam và Pháp gặp nhau tại Hội nghị trù bị ở Đà Lạt; từ ngày 31/5 đến
20/10/1946, theo lời mời của Quốc hội và Chính phủ Pháp, Hồ Chủ tịch dẫn đầu
phái đoàn của Chính phủ Việt Nam thăm nước Pháp; từ ngày 6/7 đến 10/9/1946
cuộc đàm phán giữa 2 bên Việt - Pháp tại Hội nghị Phôngtenơblô (Paris, Pháp) đã
không đem lại kết quả do lập trường hiếu chiến và dã tâm xâm lược của thực dân
Pháp. Với thiện chí của mình, trước khi lên đường về nước Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã ký với M. Mutê đại diện Chính phủ Pháp bản Tạm ước 14/9 tại Mácxây,
nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi kinh tế, văn hóa ở Việt Nam, đồng
thời hai bên cam kết đình chỉ chiến sự ở Nam Bộ và tiếp tục đàm phán...
+ Trong khi đó ở Việt Nam, các thế lực thực dân hiếu chiến Pháp ở Hà Nội câu kết
với tay sai Việt Quốc ráo riết chuẩn bị âm mưu thâm độc lật đổ Chính phủ Việt
Nam, dự định vào ngay 14/7/1946. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, rạng sáng ngày
12/7/1946, lực lượng công an đã khôn khéo, mưu trí tổ chức một cuộc đột nhập,
tấn công bất ngờ vào trụ sở của Việt Nam Quốc dân Đảng (nhà số 7, phố Ôn Như
Hầu), nhanh chóng khống chế bọn phản động có vũ trang, tổ chức khám xét và tịch
thu được nhiều tài liệu phản động. Với thắng lợi quan trọng này ta đã đập tan hoàn
toàn mưu đồ thâm độc lật đổ chính quyền cách mạng của bọn tay sai phản động
cấu kết với thực dân Pháp, giữ vững chính quyền cách mạng.
+ Ngày 20/10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam về đến cảng
Hải Phòng an toàn trong không khí đón chào nồng nhiệt của nhân dân, đồng bào,
đồng chí. Người đã viết bài “Công việc khẩn cấp bây giờ” nêu rõ những nhiệm vụ
cụ thể và cấp thiết phải làm để chuẩn bị cho cuộc đối đầu quân sự giữa Việt Nam và Pháp.
=> Những chủ trương, biện pháp, sách lược đúng đắn của Đảng, Chính phủ và Chủ
tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài những năm đầu
chính quyền cách mạng non trẻ đã đem lại thắng lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng:
ngăn chặn bước tiến của đội quân xâm lược Pháp ở Nam Bộ, vạch trần và làm thất
bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của kẻ thù; củng cố, giữ vững và bảo vệ
chính quyền cách mạng từ.Trung ương đến cơ sở và những thành quả của Cách
mạng Tháng Tám; tạo thêm thời gian hòa bình, hòa hoãn, tranh thủ xây dựng thực
lực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. 1.2.
Đường lối kháng chiến toàn quốc và quá trình tổ chức thực
hiện từ năm 1946 đến năm 1950 1.2.1.
Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ và đường lối kháng
chiến của Đảng -
Hoàn cảnh lịch sử: -
Sau Hiệp định sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9, Đảng, Chính phủ và nhân
dân Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện chủ trương hòa hoãn và tỏ rõ thiện chí hòa
bình, thái độ nhân nhượng nhằm tìm kiếm con đường tốt nhất bảo vệ và giữ gìn
toàn vẹn nền độc lập, cứu vãn mối quan hệ Việt - Pháp và nguy cơ nổ ra một cuộc chiến tranh quân sự. -
Song về phía Chính phủ Pháp và Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Việt
Nam đã bộc lộ rõ thái độ bội ước:
+ Cuối tháng 11-1946, thực dân Pháp tấn công đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn,
tiếp đó chiếm đóng trái phép Đà Nẵng, Hải Dương, tấn công vào các vùng tự do
của ta ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ, hậu thuẫn cho lực lượng phản động xúc tiến
thành lập “Chính phủ Cộng hòa Nam kỳ” và triệu tập Hội nghị Liên bang Đông Dương.
+ Ngày 15 và 16/12/1946, quân đội Pháp ở Hà Nội đã tổ chức gây hấn với ta ở
nhiều nơi, tấn công đánh chiếm trụ sở Bộ Tài chính, Bộ Giao thông công chính.
Ngày 17/12, chúng bắn đại bác gây ra vụ thảm sát đồng bào ta ở phố Yên Ninh,
Hàng Bún. Ngày 18/12, đại diện Chính phủ Pháp ở Hà Nội đơn phương tuyên bố
cắt đứt mọi liên hệ với Chính phủ Việt Nam, đưa liên tiếp 3 tối hậu thư đòi phía
Việt Nam phải giải giáp; phá bỏ công sự, chướng ngại vật trên đường phố Hà Nội,
giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, đòi thực thi nhiệm vụ kiểm soát, gìn giữ an
ninh, trật tự của thành phố...
=> Như vậy, đến ngày 19/12/1946, mọi cố gắng ngoại giao và thiện chí hòa bình
của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã bị thực dân Pháp cự tuyệt. Nhân
dân ta không có sự lựa chọn nào khác là phải cầm súng đứng lên để bảo vệ nền
độc lập non trẻ và chính quyền cách mạng; bảo vệ những thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám. -
Ngày 12/12/1946, Trung ương ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến.
Ngày 18/12/1946, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng (mở rộng) họp
tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh. Hội nghị đã
nhận định hành động của Pháp chứng tỏ chúng cố ý muốn cướp nước ta một
lần nữa. Khả năng hòa hoãn không còn. Hòa hoãn nữa là mất nước. Trong thời
điểm lịch sử phải quyết đoán ngay, Hội nghị hạ quyết tâm phát động cuộc
kháng chiến trong cả nước và chủ động tiến công trước khi thực dân Pháp thực
hiện màn kịch đảo chính quân sự ở Hà Nội. -
Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Li kêu gi toàn quc
kháng chiến, khẳng định quyết tâm sắt đá của nhân dân ta để bảo vệ nền độc
lập, tự do: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng
ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định
không chịu làm nô lệ”. -
Nội dung đường lối kháng chiến:
Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng được thể hiện tập trung trong ba
văn kiện lớn (Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Trung ương Đảng - 12/12/1946;
Li kêu gi toàn quc kháng chiến của Hồ Chủ tịch - 19/12/1946; tác phẩm
Kháng chiến nhất định thng li của đồng chí Trường Chinh - 8/1947) được soạn
thảo và công bố ngay trước và sau ngày toàn quốc kháng chiến: -
Tính chất kháng chiến: “Cuộc kháng chiến của dân tộc ta là một cuộc
chiến tranh cách mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. Nó có tính chất
toàn dân, toàn diện và lâu dài”. “Là một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lâp, dân chủ và hòa bình”. -
Mục tiêu của cuộc kháng chiến là đánh đổ thực dân Pháp xâm
lược, giành nền độc lập, tự do, thống nhất hoàn toàn; vì nền tự do dân chủ, góp
phần bảo vệ hòa bình thế giới. -
Phương châm tiến hành kháng chiến: Toàn dân, toàn din, lâu dài,
da vào sc mình là chính: -
+ Kháng chiến toàn dân là động viên toàn dân tham gia cuộc kháng
chiến, “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài, mỗi đường phố
là một mặt trận”. Trong đó Quân đội nhân dân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.
+ Kháng chiến toàn diện là đánh địch trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận không chỉ
bằng quân sự mà cả về chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa tư tưởng, trong đó
mặt trận quân sự, đấu tranh vũ trang giữ vai trò tiên phong, mang tính quyết định.
Phải động viên, phát huy cho được mọi tiềm năng, sức mạnh của dân tộc, mọi
nguồn lực vật chất, tinh thần trong nhân dân để phục vụ kháng chiến.
+ Kháng chiến lâu dài là tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong bối cảnh so
sánh lực lượng ban đầu giữa ta và địch quá chênh lệch, không cân sức. Trường kỳ
kháng chiến là một quá trình vừa đánh tiêu hao lực lượng địch, vừa xây dựng, phát
triển lực lượng ta, từng bước làm chuyển biến so sánh lực lượng trên chiến trường.
Kháng chiến lâu dài nhưng không phải kéo dài vô thời hạn mà luôn tranh thủ thời
cơ, thúc đẩy cuộc kháng chiến có bước nhảy vọt về chất, thắng từng bước để đi
đến thắng lợi cuối cùng.
+ Kháng chiến dựa vào sức mình là chính. Đây là sự kế thừa tư tưởng chiến
lược trong chỉ đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc “đem sức ta mà tự giải
phóng cho ta”. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta nổ ra trong điều kiện quốc tế bất
lợi, Việt Nam nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy con đường duy
nhất lúc bấy giờ là phải tự lập, tự cường, tự cấp, tự túc về mọi mặt; phải dựa vào
nguồn nội lực của dân tộc, phát huy nguồn lực vật chất, tinh thần vốn có trong
nhân dân làm sức mạnh, chỗ dựa chủ yếu của cuộc chiến tranh, làm cơ sở để sử
dụng và phát huy ngoại lực khi có điều kiện.
=> Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đường lối kháng chiến của Đảng trở
thành ngọn cờ dẫn đường, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiến lên.
Đường lối đó được nhân dân ủng hộ, hưởng ứng trong suốt quá trình kháng
chiến và trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. 1.2.2.
Tổ chức, chỉ đạo cuộc kháng chiến từ năm 1947 đến năm 1950 (SV tìm hiểu thêm)
Đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi (1951 - 1954) 1.2.3.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II và Chính cương của
Đảng (2/1951) -
Tháng 2/1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng
họp tại Tuyên Quang. Đại hội đã tán thành Báo cáo chính trcủa BCHTƯ do
Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày và ra Nghị quyết chia tách ĐCSĐD thành ba
Đảng cách mạng để lãnh đạo cuộc kháng chiến của ba dân tộc đi tới thắng lợi. Ở
Việt Nam, Đảng ra hoạt động công khai lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. -
Báo cáo của Tổng Bí thư Trường Chinh đã trình bày toàn bộ
đường lối cách mạng Việt Nam. Đó là đường lối CMDTDCND tiến lên CNXH.
Nội dung cơ bản của báo cáo được phản ánh trong Chính cương của Đảng Lao
động Vit Nam, xác định:
+ Tính cht xã hi: “Xã hội Việt Nam hiện nay gồm có ba tính chất: dân chủ nhân
dân, một phần thuộc địa và nửa phong kiến. Ba tính chất đó đang đấu tranh
lẫn nhau. Nhưng mâu thuẫn chủ yếu lúc này là mâu thuẫn giữa tính chất dân chủ
nhân dân và tính chất thuộc địa. Mâu thuẫn đó đang được giải quyết trong quá
trình kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp và bọn can thiệp”.
+ Đối tượng cách mng: Đối tượng chính hiện nay là đế quốc Pháp và bọn can
thiệp Mỹ; đối tượng phụ là bọn phong kiến phản động.
+ Nhim vcách mng: Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và
thống nhất cho dân tộc; xóa bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến,
làm cho người cày có ruộng; phát triển chế độ dân chủ nhân dân. Ba nhiệm vụ
đó khăng khít với nhau nhưng nhiệm vụ chính lúc này là tập trung đấu tranh
chống xâm lược, hoàn thành công cuộc giải phóng dân tộc.
+ Động lc ca cách mng được xác định gồm có bốn giai cấp là công nhân, nông
dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc, ngoài ra còn có những thân sĩ (thân hào, địa
chủ) yêu nước và tiến bộ. Trong đó, nền tảng là liên minh công - nông và lao
động trí thức; giai cấp công nhân đóng vai trò là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
+ Đặc điểm ca cách mng Việt Nam hiện nay là một cuộc cách mng dân tc dân chnhân dân.
+ Trin vng ca cách mng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng
của giai cấp công nhân lãnh đạo nhất định sẽ tiến lên CNXH. Đó là quá trình lâu dài, trải qua
ba giai đoạn: hoàn thành GPDT; xóa bỏ tàn tích phong kiến và nửa phong kiến,
thực hiện triệt để người cày có ruộng, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; xây
dựng cơ sở cho CNXH, tiến lên thực hiện CNXH.
+ Chính sách của Đảng: Có 15 chính sách lớn nhằm phát triển chế độ dân chủ
nhân dân, gây mầm mống cho CNXH và đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi.
+ Quan hquc tế: Việt Nam đứng về phe hòa bình và dân chủ, phải tranh thủ
sự giúp đỡ của các nước XHCN và nhân dân thế giới, thực hiện đoàn kết Việt -
Trung - Xô và đoàn kết Việt - Miên - Lào.
=> Đại hội II là “Đại hội kháng chiến kiến quốc”, “thúc đẩy kháng chiến đến thắng
lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam”.
1.2.4. Đẩy mạnh phát triển cuộc kháng chiến về mọi mặt (SV tìm hiểu thêm)
1.2.5. Kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại giao kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến
(SV tìm hiểu thêm) 1.3. Ý
về lãnh đạo kháng chiến nghĩa lịch
sử và kinh
1.3.1. Ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến nghiệm
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã bảo vệ thành quả của
của Đảng cuộc Cách
mạng Tháng Tám; củng cố, phát triển chế độ dân chủ nhân dân. Thắng lợi của
cuộc kháng chiến đưa đến việc miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, quá độ
lên CNXH, trở thành hậu phương lớn, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. 11
- Đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược có quy mô lớn của quân đội nhà nghề
có tiềm lực quân sự và kinh tế hùng mạnh, được điều hành bởi các nhà chính trị
lão luyện, các tướng tá quân sự tài ba của Pháp và Mỹ. Lần đầu tiên trong lịch sử
phong trào GPDT, một nước thuộc địa nhỏ bé đã đánh thắng một cường quốc
thực dân, có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ
và tiến bộ trên thế giới. 1.3.2.
Kinh nghiệm của Đảng về lãnh đạo kháng chiến -
Đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn lịch sử của
cuộc kháng chiến ngay từ những ngày đầu. -
Kết hợp chặt chẽ và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai
nhiệm vụ cơ bản vừa kháng chiến vừa kiến quốc, chống đế quốc và chống phong kiến. -
Ngày càng hoàn thiện phương thức lãnh đạo, tổ chức điều hành cuộc
kháng chiến phù hợp với đặc thù của từng gaii đoạn. -
Xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ
lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) một cách thích hợp, đáp ứng kịp thời
yêu cầu của nhiệm vụ chính trị - quân sự của cuộc kháng chiến. -
Coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao vai trò
lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với cuộc kháng chiến trên tất cả mọi lĩnh vực, 12 mặt trận.