C
HUYÊN ĐỀ 2 . KIẾN THỨC CHUNG VỀ THỂ LOẠI I: TRUYỆN
- Truyện là tác phẩm văn học kể lại một câu chuyện, có cốt truyện, nhân vật,
không gian, thời gian, hoàn cảnh diễn ra các sự việc.
1. Truyền thuyết - Khái niệm:
Truyền thuyết là thể loại truyện kể dân gian, thường kể về sự kiện, nhân vật
lịch sử hoặc liên quan đến lịch sử. - Đặc điểm:
Đặc điểm của truyền thuyết được thể hiện qua cách xây dựng nhân vật, cốt
truyện, sử dụng yếu tố kì ảo, lời kể,...
Nhân vật truyền thuyết có các đặc điểm:
+ Thường có những điểm khác lạ về lai lịch, phẩm chất, tài năng, sức mạnh,...
+ Thường gắn với sự kiện lịch sử và có công lớn đối với cộng đồng.
+ Được cộng đồng truyền tụng, tôn thờ.
Cốt truyện truyền thuyết có các đặc điểm:
+ Thường xoay quanh công trạng, kì tích của nhân vật mà cộng đồng truyền tụng, tôn thờ.
+ Thường sử dụng yếu tố kì ảo nhằm thể hiện tài năng, sức mạnh khác thường của nhân vật.
+ Cuối truyện thường gợi nhắc các dấu tích xưa còn lưu lại đến hiện tại.
Yếu tố kì ảo trong truyền thuyết là những hình ảnh, chi tiết kì lạ, hoang đường,
là sản phẩm của trí tưởng tượng và nghệ thuật hư cấu dân gian. Yếu tố kì ảo
trong truyền thuyết thường được sử dụng khi cần thể hiện sức mạnh của nhân
vật truyền thuyết, phép thuật của thần linh,... Qua đó, thể hiện nhận thức, tình
cảm của nhân dân đối với các nhân vật, sự kiện lịch sử. 2. Truyện cổ tích Khái niệm:
- Loại truyện dân gian có nhiều yếu tố hư cấu, kì ảo, kể về số phận và cuộc đời
của các nhân vật trong những mối quan hệ xã hội.
- Thể hiện cái nhìn về hiện thực, bộc lộ quan niệm đạo đức, lẽ công bằng và
ước mơ về cuộc sống tốt đẹp.
Một số yếu tố của truyện cổ tích
- Thường kể về những xung đột trong gia đình, xã hội, phản ánh số phận của
các cá nhân và thể hiện ước mơ đổi thay số phận của chính họ.
- Nhân vật trong truyện cổ tích đại diện cho các kiểu người khác nhau trong xã
hội, thường được chia làm hai tuyến: chính diện (tốt, thiện) và phản diện (xấu, ác).
- Các chi tiết, sự việc thường có tính chất hoang đường, kì ảo.
- Truyện được kể theo trật tự thời gian tuyến tính, thể hiện rõ quan hệ nhân quả giữa các sự kiện.
- Lời kể chuyện thường mở đầu bằng những từ ngữ chỉ không gian, thời gian
không xác định. Tùy thuộc vào bối cảnh, người kể chuyện có thể thay đổi một
số chi tiết trong lời kể, tạo ra nhiều bản kể khác nhau ở cùng một cốt truyện.
3. Truyện đồng thoại
- Truyện đồng thoại là loại truyện thường lấy loài vật làm nhân vật. Các con
vật trong truyện đồng thoại được các nhà văn miêu tả, khắc họa như con người (gọi là nhân cách hóa).
Cốt truyện: Yếu tố quan trọng, gồm các sự kiện chính được sắp xếp theo một trình tự nhất định.
Nhân vật: Đối tượng (con người, thần tiên, ma quỷ, đồ vật,…) được nhà văn
khắc họa trong tác phẩm.
Người kể chuyện: Nhân vật được tạo ra để kể lại câu chuyện, có thể xuất hiện
trực tiếp (ngôi thứ nhất) hoặc không tham gia vào câu chuyện (ngôi thứ ba).
Lời người kể chuyện và lời nhân vật
- Lời người kể chuyện thuật lại các sự việc trong câu chuyện.
- Lời nhân vật là lời nói trực tiếp của nhân vật (đối thoại, độc thoại).
4. Truyện ngắn; đặc điểm nhân vật; lời người kể chuyện và lời nhân vật
- Truyện ngắn là tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ, ít nhân vật, ít sự việc phức tạp,…
Chi tiết và lời văn trong truyện rất cô đọng.
- Đặc điểm nhân vật là những nét riêng của nhân vật trong truyện, thường được
thể hiện qua hình dáng, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, ý nghĩ,…
- Lời người kể chuyện là lời của người đã kể lại câu chuyện:
+ Người kể theo ngôi thứ nhất là lời của người xưng “tôi”.
VD: Bức tranh của em gái tôi – Tạ Duy Anh
+ Người kể theo ngôi thứ ba là lời của người ngoài, không tham gia câu chuyện. VD: Thạch Sanh
- Lời nhân vật là lời của một nhân vật trong truyện.
VD: Lời của Thánh Gióng: Mẹ ra mời sứ giả vào đây. (Thánh Gióng) II: THƠ * Thơ là gì?
- Thơ thuộc loại tác phẩm trữ tình, thiên về diễn tả tình cảm, cảm xúc của nhà
thơ. Thơ có hình thức cấu tạo đặc biệt. Thơ cách luật có quy tắc nhất định về số
câu, số chữ, gieo vần...
- Thơ tự do không có quy tắc nhất định về số câu số chữ, gieo vần,... như thơ
cách luật. Bài thơ tự do có thể liền mạch hoặc chia thành các khổ thơ. Số dòng
trong một khổ thơ và số chữ trong một dòng cũng không theo quy tắc.
- Yếu tố miêu tả và tự sự trong thơ làm cho bài thơ thêm gợi tả, hấp dẫn. Yếu tố
miêu
tả góp phần làm rõ đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng. Yếu tố tự
sự được dùng để thuật lại sự việc, câu chuyện khi cần. Cả hai yếu tố đều làm
cho việc thể hiện tình cảm, cảm xúc trong thơ thêm sâu sắc, độc đáo.
- Ngôn ngữ thơ hàm súc, giàu nhạc điệu, hình ảnh, thể hiện những rung động,
suy tư của người viết. Vì vậy, tìm hiểu một bài thơ cũng chính là khám phá
những tình cảm, cảm xúc mà tác giả gửi gắm qua ngôn ngữ thơ.
*. Một số yếu tố hình thức của bài thơ
- Dòng thơ gồm các tiếng được sắp xếp thành hàng; các dòng thơ có thể giống
hoặc khác nhau về độ dài, ngắn.
- Vần là phương tiện tạo tính nhạc cơ bản của thơ dựa trên sự lặp lại (hoàn toàn
hoặc không hoàn toàn) phần vần của âm tiết. Vần có vị trí ở cuối dòng thơ gọi
là vần chân, ở giữa dòng thơ gọi là vần lưng.
- Nhịp là những điểm ngắt hơi khi đọc một dòng thơ. Nhắp nhịp tạo ra sự hài
hòa, đồng thời giúp hiểu đúng ý nghĩa của dòng thơ. 1. Thơ lục bát
- Lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Mỗi bài thơ ít nhất
gồm hai dòng với số tiếng cố định: dòng 6 tiếng (dòng lục) và dòng 8 tiếng
(dòng bát). Thơ lục bát gieo vần chân và vần lưng. Tiếng thứ sáu của dòng lục
gieo vần xuống tiếng thứ sáu của dòng bát, tiếng thứ tám của dòng bát gieo vần
xuống tiếng thứ sau của dòng lục tiếp theo. VD:
Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều.
(Việt Nam quê hương ta – Nguyễn Đình Thi)
- Thơ lục bát thường ngắt nhịp chẵn (mỗi nhịp hai tiếng). Lục bát là thể thơ có
sức sống mãnh liệt, mang đậm vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam.
2. Thể thơ bốn chữ
Là thể thơ mà mỗi câu thơ gồm 4 chữ, trong bài không giới hạn số lượng câu. Quy luật
Document Outline

  • Quy luật
  • Cách gieo vần
  • 3. Thể thơ năm chữ
  • 4. Thể thơ sáu chữ
  • 5. Thể thơ bảy chữ
  • 6. Thể thơ tám chữ
  • 7. Thể thơ tự do