





Preview text:
lOMoAR cPSD| 58702377
I. SƠ LƯỢC VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ:
- Cơ chế quản lý hoạt động đầu tư là công cụ quản lý mà chủ thể quản lý hình thành và
sử dụng để tác động, điều chỉnh và định hướng hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản (đối tượng quản lý).
- Bộ phận cấu thành chủ yếu:
+ hệ thống tổ chức bộ máy quản lý và quá trình điều hành quản lý, +
hệ thống kế hoạch hóa đầu tư, + hệ thống quản lý tài sản, .
+ hệ thống chính sách và đòn bẩy kinh tế,
+ hệ thống pháp luật có liên quan đến đầu tư và xây dựng;
+ các quy chế, thể lệ, các chế độ, hệ thống chuẩn mực, định mức, đơn giá… II.
CƠ CHẾ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM:
1. Quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư tại Việt Nam
1.1. Quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư tại Việt Nam trước khi đổi mới
(trướcnăm 1986)
Trước thời kỳ đổi mới, cơ chế quản lý đầu tư tại Việt Nam chỉ được hướng dẫn theo
Nghị định 232/CP của Hội đồng Chính phủ. Chủ yếu đề cập đến nguồn vốn xây dựng cơ bản
tập trung của ngân sách nhà nước với cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chỉ thích hợp với công
trình quy mô lớn, chấp hành trình tự đầu tư chưa đồng bộ, cơ chế giao nhận thầu còn nhiều
bất cập, mang nặng tính bao cấp, chưa chú trọng đến tính hiệu quả. Kết quả báo cáo đánh
giá sau khi thực hiện các quy định này là quy mô vốn huy động bị hạn chế.
1.2. Quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư tại Việt Nam từ khi đổi mới (sau 1986)
- Mục tiêu của quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý hoạt động đầu tư là
từng bước chuyển đổi sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước, hội nhập với các chuẩn mực đầu tư quốc tế, nâng cao hiệu quả
hoạt động đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tiến bộ và
công bằng xã hội. Thực tiễn cho thấy đầu tư là một trong những lĩnh
vực đi đầu trong thời kỳ đổi mới với Luật Đầu tư Nước ngoài được Quốc
hội thông qua từ năm 1987, và từ 1988 dòng vốn FDI và ODA vào Việt
Nam liên tục gia tăng. Khung pháp lý về đầu tư trực tiếp nước ngoài
ngày càng hoàn thiện. Đối với đầu tư trong nước, cơ chế quản lý đầu tư
cũng liên tục được hoàn thiện.
- 1988, Quyết định 80/HĐBT được ban hành đã làm mềm mại hóa các
quy định của Nghị định 232/CP.
· Tập trung vốn ngân sách cho các công trình lớn, xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình
phúc lợi, bước đầu đa dạng hóa các nguồn vốn lOMoAR cPSD| 58702377
· Giảm bớt các bộ máy Ban quản lý công trình => Hạn chế:
· Buông lỏng quản lý theo danh mục: vốn tại địa phương bị chia nhỏ, phân tán
· “Chủ đầu tư được quyền lựa chọn tổ chức xây lắp quốc doanh hoặc tập thể có tư
cách pháp nhân không hạn chế theo ngành nghề và vùng lãnh thổ” dẫn đến tình trạng
mua bán thầu “lại quả phần trăm”
- Phải đến năm 1990, Nghị định 385/HĐBT mới chính thức thay thế Nghị
định 232/CP, bắt đầu đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư. hạn chế là chưa
thống nhất quan điểm nhà nước phải quản lý mọi nguồn vốn đầu tư nhà
nước, trình tự đầu tư chưa theo thông lệ quốc tế yêu cầu mở cửa, chưa
chú ý đến yếu tố thị trường trong quản lý giá.
- Ngày 20 tháng 10 năm 1994, nghị định 177/CP của Chính Phủ để thay
thế Nghị định 385/HĐBT. khắc phục một số nhược điểm như là: ·
Xác định đúng nguyên tắc quản lý cơ bản
· Thực hiện đúng trình tự đầu tư và xây dựng
- Ngày 16/7/1996, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 42/CP về Điều
lệ Quản lý Đầu tư và Xây dựng.
· Thẩm quyền quyết định đầu tư thay đổi
· Quản lý đầu tư dần tiếp cận với cơ chế thị trường, quy chế đấu thầu tiếp tục được hoàn thiện
- Quy chế quản lý đầu tư ban hành theo Nghị định 07/2003/NĐ-CP. Về
nguồn vốn, nhà nước đã cho phép tự chủ đầu tư nhưng phải có điều tiết
của nhà nước, mọi hoạt động phải minh bạch, công khai. sửa đổi, bổ
sung về hoạt động giám sát, đánh giá đầu tư.
2. Đánh giá quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý hoạt động đầu tư tại Việt Nam từkhi
thực hiện chính sách đổi mới
2.1. Kết quả của việc thực hiện chính sách đổi mới của cơ chế quản lý hoạt động
đầu tư tạiViệt Nam sau năm 1986:
a. Tăng trưởng kinh tế ấn tượng:
b. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):
Chính sách mở cửa và cải thiện môi trường đầu tư đã tạo điều kiện thuận lợi để nhiều
tập đoàn và công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. FDI đã đóng góp lớn vào sự phát triển
của nền kinh tế và tạo ra hàng triệu việc làm.
c. Quy mô vốn đầu tư toàn xã hội không chỉ tăng nhanh mà cơ cấu đầu tư cũng có sự
dịchchuyển theo hướng phù hợp với kinh tế thị trường:
Ngoài vốn đầu tư của Nhà nước thì đầu tư của tư nhân và dân cư đã chiếm tỷ trọng đáng
kể (giai đoạn 2016 - 2020 là 43,1% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đang có xu hướng tăng, giai
đoạn 2011 - 2015 chỉ chiếm 38,3%) (bảng 1). lOMoAR cPSD| 58702377
Đầu tư của Nhà nước cũng đã được đa dạng hóa. Bên cạnh nguồn vốn từ ngân sách nhà
nước còn có tín dụng của Nhà nước cho đầu tư và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước.kết quả
thu hút các dự án mới trong tháng 1/2023 được đánh giá là tín hiệu tích cực, mở ra cơ hội cho
Việt Nam trong năm 2023 khi nhiều dự báo cho thấy Việt Nam có thể thu hút 36-38 tỷ USD.
d. Đổi mới kỷ luật tài chính và ngân sách:
Chính sách cải cách ngân sách và tài chính đã cải thiện quản lý tài chính của chính phủ,
tạo điều kiện cho việc phát triển hạ tầng và cung cấp các dịch vụ cơ bản cho dân cư. Đầu tư của
tư nhân và dân cư gia tăng và có tỷ trọng lớn gắn với việc số doanh nghiệp mới gia tăng cả về
số lượng và vốn đăng ký. (Bảng 2)
Do chính sách đầu tư và kinh doanh ngày càng thông thoáng, môi trường đầu tư cạnh
tranh, minh bạch hơn nên tinh thần khởi nghiệp lan tỏa rộng rãi. Xu hướng phát triển các mô
hình đầu tư dựa trên đổi mới sáng tạo diễn ra ngày càng sôi động. e.Sự phát triển của ngành
công nghiệp và dịch vụ:
f. Cải thiện môi trường kinh doanh:
g. Nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân:
Chỉ số phát triển con người của Việt Nam đã cải thiện đáng kể, từ 0,572 vào năm 1990 lên
0,704 vào năm 2019, theo báo cáo của Liên Hợp Quốc.
Tình trạng đầu tư dàn trải, nợ đọng trong đầu tư xây dựng dần được khắc phục, thủ tục
đầu tư đã giảm nhiều; tình trạng “quy hoạch treo”, đầu tư không theo quy hoạch từng bước
được khắc phục. h, Việt Nam đã tham gia thiết lập FTA với 15 nước trong khung khổ của 6
FTA khu vực, bao gồm:
Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA)
Khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc
Khu vực thương mại tự do ASEAN- Hàn Quốc
Khu vực thương mại tự do ASEAN – Úc và New Zealand
Khu vực thương mại tự do ASEAN – Ấn độ
Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ trên thế giới.
Những kết quả đạt được trong mối quan hệ đan xen này đã củng cố và nâng cao vị thế quốc tế
của đất nước, tạo ra thế cơ động linh hoạt trong quan hệ quốc tế, có lợi cho việc bảo vệ độc lập
tự chủ và an ninh cũng như công cuộc xây dựng đất nước. Mối quan hệ được mở rộng thúc đẩy
sự phát triển của hoạt động đầu tư mà nổi bật là các hoạt động liên kết với đối tác trong hoạt
động đầu tư trong khu vực và quốc tế. Hoạt động quản lý đầu tư của Việt Nam ngày càng được
hoàn thiện với những quy định chi tiết hướng dẫn cụ thể góp phần tạo ra tính minh bạch và
công bằng đối với mọi nguồn lực tham gia đầu tư tại Việt Nam.
Tóm lại, việc thực hiện chính sách đổi mới cơ chế quản lý hoạt động đầu tư tại Việt
Nam sau năm 1986 đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và cải thiện lOMoAR cPSD| 58702377
chất lượng cuộc sống của người dân. Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế phát
triển nhanh nhất ở khu vực Đông Nam Á.
2.2. Những tồn tại sau khi thực hiện chính sách đổi mới:
2.2.1. Thứ nhất, mặc dù hệ thống pháp luật về đầu tư ngày càng được hoàn thiện nhưng
hiệu lực và hiệu quả chưa cao, vẫn còn nhiều hạn chế:
2.2.2. Thứ hai, các nguồn vốn đầu tư đã được đa dạng hóa, tuy nhiên cơ chế phối hợp để
phát huy hiệu quả tổng thể giữa các nguồn vốn chưa cao.
2.2.3 Thứ ba, môi trường đầu tư, kinh doanh có được cải thiện nhưng vẫn còn chậm
2.2.4. Thứ tư, hiệu quả đầu tư chậm được cải thiện.
3. Nguyên nhân gây ra những tồn tại sau khi thực hiện chính sách đổi mới:
Thứ nhất, nhận thức về tư duy kinh tế thị trường gắn với hiệu quả đầu tư của một bộ
phận cán bộ nhất là cán bộ cơ sở và phần đông công chúng vẫn còn hạn chế.
Thứ hai, nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu sắc, độ mở của nền kinh tế lớn trong khi
điều kiện kinh tế toàn cầu có nhiều biến động khó lường, gây khó khăn cho công tác xây dựng
chính sách, phân tích, dự báo và tính tự chủ trong thực thi chính sách.
Thứ ba, chất lượng quy hoạch còn thấp, tính dự báo còn hạn chế, thiếu tính liên kết,
đồng bộ gây lãng phí và kém hiệu quả đầu tư đặc biệt là các dự án hạ tầng.
Thứ tư, cơ chế kiểm tra, giám sát đầu tư còn chậm đổi mới. Kỷ luật đầu tư công không nghiêm
III. BÀI HỌC RÚT RA: (MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KẾT LUẬN)
1. Thu hút đầu tư nhưng cần đảm bảo tính độc lập, tự chủ cho nền kinh tế đất nước.
2. Hoạt động đầu tư cần được xem xét trên góc độ bền vững.
3. Tăng cường tính chủ động liên kết mở rộng mối quan hệ.
4. Chú trọng khâu công tác giám sát, đánh giá đầu tư
5. Đẩy mạnh công nghệ thông tin, tin học hóa trong công tác giám sát, đánh giá đầu tư
6. Rà soát và nâng cao chất lượng quy hoạch, hoàn thiện thể chế quản lý đầu tư
7. Tăng cường đa dạng hóa nguồn lực, tạo ra môi trường cạnh tranh mở.
1. Được biết Nghị định 07/2003/NĐ-CP của Chính phủ được ban kèm sửa đổi, bổ sung
cho 2 Nghị định 52/CP (8/7/1999) và Nghị định 12/CP (5/5/2000), thì nhóm có thể chi
tiết hơn về các nội dung được sửa đổi bổ sung không nhỉ?
Nghị định này được ban kèm các điều lệ đã được sửa đổi, bổ sung cho Nghị
định 52/CP (8/7/1999) và Nghị định 12/CP (5/5/2000) về công tác quản lý các
dự án quy hoạch (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng). Về nguồn vốn, nhà
nước đã cho phép tự chủ đầu tư nhưng bên cạnh đó cũng phải có điều tiết của
nhà nước, mọi hoạt động phải minh bạch, công khai (các doanh nghiệp đầu tư
thì doanh nghiệp tự thẩm định và quyết định đầu tư); quy định về giám sát đầu
tư, đồng thời cũng nghiêm cấm hành vi hối lộ, vụ lợi hay gây bất bình đẳng
giữa các nhà thầu. Bên cạnh đó còn còn sửa đổi, bổ sung ở NĐ 52/CP về hoạt lOMoAR cPSD| 58702377
động giám sát, đánh giá đầu tư: về cách thức, nội dung giám sát và quy định
rõ vai trò của cơ quan quản lý trong hoạt động này. Nhà nước đồng thời quy
định về thời hạn quyết toán vốn đầu tư, thanh toán các gói thầu và quy trình
triển khai thực hiện.
2. Các điểm mới của Quyết định 80/HĐBT (9/5/1988) của Hội đồng Bộ trưởng được
ban hành có ưu điểm gì hơn Nghị định 232/CP?
3. Về cơ chế kiểm tra, giám sát đầu tư còn chậm đổi mới cần có biện pháp khắc
phục nào hay không và khắc phục như thế nào?
Theo Bộ Tài chính, để khắc phục tình trạng này, cần tăng cường công tác giám sát đối
tượng, thông qua hệ thống phân tích rủi ro, phối hợp với các cơ quan, đơn vị ngành Tài chính
để chủ động cung cấp các thông tin phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành. Đồng
thời, kịp thời điều chỉnh, bổ sung kế hoạch thanh tra, kiểm tra tài chính cho phù hợp với yêu
cầu thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc thanh tra, kiểm tra, cũng như
phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra, giám sát tài chính năm sau được kịp
thời và đúng đối tượng
4. Khung pháp lý về đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng hoàn thiện. Vậy đâu là
cơ sở pháp lý quan trọng cho Việt Nam từng bước hội nhập ngày càng sâu hơn
vào nền kinh tế toàn cầu ngày nay?
Vào thời điểm cuối năm 1987, việc thông qua Luật Đầu tư nước ngoài được coi là
một bước ngoặt lớn về tư tưởng kinh tế luật, tạo ra nền tảng pháp lý cho việc hợp tác với
nước ngoài, một vấn đề còn rất mới mẻ và xa lạ với Việt Nam ở thời điểm những năm đầu
Đổi mới. Luật Đầu tư nước ngoài được Quốc hội thông qua vào cuối năm 1987 cho phép
nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp sở hữu 100% vốn. Điều khoản này thay cho
cam kết rằng Việt Nam coi trọng lợi ích của nhà đầu tư. Đây cũng là nội dung hấp dẫn nhất
bởi lúc đó, các nước có nền kinh tế mở hơn như: Thái Lan, Indonesia và các nước trong khu
vực cũng chưa có loại hình doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Ngay sau khi Luật Đầu tư
nước ngoài có hiệu lực, Giấy phép đầu tư số 01 đã được cấp cho liên doanh hoạt động
trong lĩnh vực vận tải, du lịch với tổng vốn đầu tư chỉ là 2,5 triệu USD. Vào thời điểm đó,
Luật Đầu tư nước ngoài với những tư tưởng cởi mở đã mở đường cho thu hút dòng vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tạo đà cho phát triển kinh tế, số lượng các dự án đầu tư tăng
dần theo thời gian. Từ năm 1993, Việt Nam bình thường hóa quan hệ với hai tổ chức tài
chính - tiền tệ lớn nhất hành tinh (Ngân hàng Thế giới - WB và Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF),
dòng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) chính thức được khôi phục. Từ đó, dòng vốn
FDI và ODA vào Việt Nam liên tục gia tăng. Khung pháp lý về đầu tư trực tiếp nước ngoài
cũng ngày càng hoàn thiện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho Việt Nam từng bước hội
nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Đối với đầu tư trong nước, cơ chế quản
lý đầu tư cũng liên tục được hoàn thiện.
5. Đẩy mạnh công nghệ thông tin, tin học hoá trong công tác giám sát đầu tư là gì và làm
như nào chúng ta có thể áp dụng được nó vào công tác quản lý đầu tư? lOMoAR cPSD| 58702377
Nhà nước cần đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, hình thành hệ
thống trung tâm dữ liệu quốc gia, các trung tâm dữ liệu quốc gia vùng và địa phương
kết nối đồng bộ, thống nhất.
Ngoài ra, cần xây dựng và phát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu quốc gia nhằm phục
vụ quản lý đầu tư. Song song với điều đó là việc xây dựng và thực hiện chính phủ điện
tử, hướng tới một chính phủ số khi chúng ta hoàn tất được hệ thống thông tin một cửa
điện tử, cổng dịch vụ công về đầu tư kết nối với cổng dịch vụ công quốc qua.
Hơn thế nữa, việc hoàn thành kết nối liên thông giữa các cơ quan hành chính nhà
nước và doanh nghiệp, hoàn thiện hết quy trình, thủ tục đầu tư phù hợp với hoạt động
của chính phủ số, cắt giảm tối đa các dịch vụ trực tiếp.
6. Tại sao các hoạt động đầu tư của cần được xem xét chặt chẽ trên góc độ bền vững?