TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
˗˗˗˗˗ ˗˗˗˗˗
BÀI THẢO LUẬN
Hà Nội, tháng 3, năm 2022
Đề tài 1: sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh? Trong các nhân tố góp
phần tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố nào đóng vai trò quyết định bản chất
cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh?
Đề tài 2: Vận dụng chuẩn mực “cần, kiệm, liêm, chính”, “tình yêu thương
con người trong tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng đạo đức, lối sống cho sinh
viên Việt Nam.
Lớp học phần: 2229HCMI0111
Sinh viên thực tập: Nhóm 1
Giảng viên hướng dẫn: TS. Bùi Hồng Vạn
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1
STT Họ và tên Mã sinh viên Nhiệm vụ Điểm thảo luận
1Nguyễn Thị Vân Anh
(Nhóm trưởng) 20D160212 Nội dung
2Vũ Thị Quế Anh
(Thư ký) 20D160144 Mở đầu+ Kết luận
3 Nguyễn Thị Ngọc Ánh 20D160214 PowerPoint
4 Chu Quỳnh Chi 20D140187 Nội dung
5 Nguyễn Tùng Chi 20D140008 Thuyết trình
6 Trần Đàm Linh Chi 20D160077 Nội dung
7 Trần Thị Hường Chinh 20D160217 Nội dung
8 YIACHONG Chouvang 19D160122 Nội dung
9 Trần Thị Chuyên 20D140128 Word
10 Nguyễn Mạnh Cường 20D160145 Nội dung
11 Phạm Minh Cường 20D160006 Nội dung
12 Vi Văn Cường 20D160076 Nội dung
13 Nguyễn Công Đạt 20D160081 Nội dung
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................................4
PHẦN NỘI DUNG...........................................................................................................5
I. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh...............................................................5
1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh....................................................................................5
2. Phân tích cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh..........................................................6
2.1. Cơ sở thực tiễn..........................................................................................................6
2.1.1. Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX.........................................6
2.1.2 Thực tiễn thế giới cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX..............................................7
2.2. Cơ sở lý luận.............................................................................................................8
2.2.1. Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.............................................8
2.2.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại.................................................................................8
2.2.3. Chủ nghĩa Mác Lênin......................................................................................10
2.3. Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh..............................................................................11
2.3.1 Phẩm chất Hồ Chí Minh..................................................................................11
2.3.2 Tài năng hoạt động, tổng kết thực tiễn phát triển lý luận..................................11
II. Nhân tố đóng vai trò quyết định bản chất cách mạng khoa học của
tưởng Hồ Chí Minh....................................................................................................12
1. Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin.......................................12
2. Bản chất cách mạng và khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh.....................................13
2.1. Bản chất cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh..................................................13
2.2. Bản chất khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh.....................................................14
3. Yếu tố đóng vai trò quyết định đối với bản chất cách mạng khoa học của tưởng
Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác- Lênin..............................................................................15
KẾT LUẬN......................................................................................................................18
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................20
LỜI MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng lỗi lạc, có nhiều cống hiến kiệt xuất vào kho
tàng tưởng luận của dân tộc nhân loại, Người luôn tấm gương sáng về đạo đức
thực hành đạo đức cho tất cả mọi người noi theo. Đất nước ta hòa bình, độc lập từng bước đi
lên như ngày hôm nay chính là nhờ vào sự lãnh đạo của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại
cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá, một hệ thống tư tưởng về nhiều mặt trong đó tư tưởng
Hồ Chí Minh là tư tưởng nổi bật, có giá trị trường tồn đối với quá trình phát triển của dân tộc ta
của toàn nhân loại. Đó tưởng xuyên suốt nhất quán trong duy luận trong
hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, gắn
liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc. tưởng Hồ Chí Minh một hệ thống rộng lớn
bao quát chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nên trong suốt cuộc đời sự nghiệp của
mình. tưởng của Người một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mac-Lenin, được vận
dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc xây dựng chủ nghĩa hội Việt
Nam. Để làm rõ sự hình thành nên tư tưởng và bản chất cách mạng khoa học trong tư tưởng Hồ
Chủ tịch. Nhóm chúng em xin nghiên cứu đề tài thảo luận: sở hình thành tưởng Hồ
Chí Minh. Trong các nhân tố tạo nên tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố nào đóng vai trò quyết
định bản chất và cách mạng khoa học tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Do kiến thức và tầm hiểu biết vẫn còn nhiều hạn chế nên nhóm chúng em hy vọng rằng
sẽ nhận được những đóng góp nhận xét để đề tài thảo luận của chúng em được hoàn thiện
hơn.
PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2011) nêu
khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh” như sau:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh một hệ thống quan điểm toàn diện sâu sắc về những vấn
đề bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa
Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa phát triển các giá trị truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; tài sản tinh thần cùng to lớn quý
giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành
thắng lợi”. Khái niệm trên đây chỉ nội hàm bản của tưởng Hồ Chí Minh, sở hình
thành cũng như ý nghĩa của tư tưởng đó. Cụ thể:
Một là, khái niệm này đã nêu bản chất khoa học cách mạng cũng như nội dung cơ
bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề
bản của cách mạng Việt Nam, từ đó phản ánh những vấn đề tính quy luật của cách mạng
Việt Nam. tưởng Hồ Chí Minh hệ thống quan điểm toàn diện sâu sắc về mục tiêu xây
dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng
đáng vào snghiệp cách mạng thế giới. Để đạt mục tiêu đó, con đường phát triển của dân tộc
Việt Nam độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa hội. Mục tiêu con đường này đúng
theo luận Mác-Lênin; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sự quản
lý của Nhà nước cách mạng; xác định lực lượng cách mạng là toàn thể nhân dân Việt Nam yêu
nước, xây dựng con người Việt Nam có năng lực và phẩm chất đạo đức cách mạng; kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại trên cơ sở quan hệ quốc tế hòa bình, hợp tác, hữu nghị
cùng phát triển; với phương pháp cách mạng phù hợp...
Hai là, nêu lên sở hình thành tưởng Hồ Chí Minh chủ nghĩa MácLênin giá trị
cơ bản nhất trong quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng đó; đồng thời tư tưởng Hồ Chí
Minh còn bắt nguồn từ việc Hồ Chí Minh tiếp thu các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
và tinh hoa văn hóa nhân loại.
Ba là, khái niệm đó đã nêu lên ý nghĩa của tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định tưởng
Hồ Chí Minh tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng dân tộc ta, mãi mãi soi
đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, tưởng Hồ
Chí Minh một bộ phận cấu thành làmn nền tảng tưởng kim chỉ nam cho hành động
của Đảng và cách mạng Việt Nam.
2. Phân tích cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
2.1. Cơ sở thực tiễn
2.1.1. Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX
Từ năm 1858, đế quốc Pháp tiến nh xâm lược Việt Nam. Triều đình nhà Nguyễn lần
lượt kết các hiệp ước đầu hàng, từng bước trở thành tay sai của thựcn Pháp. Trong hoàn
cảnh triều đình hèn nhược như vậy, nhân dân nổi lên những cuộc khởi nghĩa trang anh
dũng của Nguyễn Thiện Thuật, Phạm Bành Đinh Công Tráng,… Tuy các cuộc khởi nghĩa
này đã thể hiện được tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta nhưng đều
thất bại do sự bất lực của hệ tưởng phong kiến lạc hậu không đấu chọi được với những thế
lực hiện đại, tiên tiến.
Bước sang đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp bắt tayo cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất, Việt Nam nhiều biến chuyển to lớn từ một nước phong kiến sang nước thuộc địa nửa
phong kiến. Thực dân Pháp vẫn duy trì nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với khoảng 95% dân số
là nông dân; giai cấp địa chủ được bổ sung, củng cố, tăng cường thêm các điền chủ người Pháp
nước ngoài. Bên cạnh tầng lớp thợ thủ công, tiểu thương, trong hội Việt Nam xuất hiện
những giai tầng mới. Đó giai cấp công nhân, giai cấp sản tầng lớp tiểu sản thành
thị. Từ đó, liền với mâu thuẫn bản trong hội phong kiến nông dân với địa chủ phong
kiến, xuất hiện các mâu thuẫn mới: Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam với giai cấp
tư sản, mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với đế quốc Pháp. Trong thời gian này, các
phong trào giải phóng dân tộc cũng chuyển dần sang xu hướng dân chủ sản. Điển hình
các phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đã những nỗ lực tìm ra phương
pháp mới xong đều đi vào ngõ cụt. Nguyên nhân sâu xa giai cấp sản Việt Nam còn non
yếu. Nguyên nhân trực tiếp các tổ chức người lãnh đạo của các phong trào đó chưa
đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn.
Chứng kiến cảnh đất nước lầm than, nhan dân cực, phong trào yêu nước còn loay
hoay khủng hoảng, Hồ Chí Minh đã nhận ra rằng cần tìm một con đường mới. Hồ Chí Minh đã
dày công truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân phong trào yêu nước
Việt Nam, chuẩn bị về luận chính trị, tưởng tổ chức, sáng lập Đảng Cộng sản Việt
Nam, chấm dứt skhủng hoảng về đường lối cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước hình thành
cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam.
2.1.2 Thực tiễn thế giới cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩabản trên thế giới đã phát triển từ giai
đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Một số nước đế quốc Anh, Pháp, Mỹ,
Tây Ban Nha, Ý, Đức, Nga, v.v… đã chi phối toàn bộ tình hình thế giới. Phần lớn các nước
châu Á, châu Phi khu vực Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa phụ thuộc của các nước đế
quốc. Tình hình đó đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa giai cấp sản với giai cấp sản
các nước tư bản; mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau; mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc
địa phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc. Sang đầu thế kỷ XX, những mâu thuẫn ngày ngày
càng phát triển gay gắt. Giành độc lập cho các dân tộc thuộc địa không chỉ đòi hỏi của riêng
họ còn mong muốn chung của giai cấp sản quốc tế; tình hình đó đã thúc đẩy phong
trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển.
Năm 1917, cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi, đánh đổ giai cấp sản giai
cấp địa chủ phong kiến, lập nên một hội mới hội hội chủ nghĩa, mở ra một thời đại
mới trong lịch sử loài người thời đại quá độ từ chủ nghĩa bản lên chủ nghĩa hội trên
phạm vi toàn thế giới, mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới.
Ngày 2-3-1919, Quốc tế cộng sản ra đời đẩy mạnh việc truyền chủ nghĩa Mác-Lênin
kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười Nga ra khắp thế giới, thúc đẩy sự ra đời hoạt động
ngày càng mạnh mẽ của các đảng cộng sản ở nhiều nước.
Như vậy, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, sự ra đời của nhà nước Xôviết, Quốc
tế Cộng sản thực tiễn xây dựng chủ nghĩa hộiLiên Xô cùng với sự phát triển mạnh mẽ
phong trào cộng sản, công nhân phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới ảnh hưởng sâu
sắc tới Hồ Chí Minh trên hành trình đi ra thế giới tìm mục tiêu và con đường cứu nước.
2.2. Cơ sở lý luận
2.2.1. Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Chủ nghĩa yêu nước giá trị xuyên suốt trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam, nền tảng tưởng, điểm xuất phát động lực thúc đẩy Hồ Chí Minh ra đi tìm
đường cứu nước, và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường cứu nước, cứu dân.
Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát triển tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất độc
lập tự do của Tổ quốc nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia sự toàn vẹn lãnh thổ của chủ
nghĩayêu nước Việt Nam. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Người đã trịnh trọng tuyên bố với thế
giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và
độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần lực lượng, tính mệnh của cải
để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Không quý hơn độc lập tự do - chân lớn của
thời đại được Hồ Chí Minh khẳng định, đồng thời cũng chính một điểm cốt lõi trong
tưởng Hồ Chí Minh.
Trong lãnh đạo nhân dân xây dựng bảo vệ đất nước, Hồ Chí Minh hết sức chú trọng
kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc yêu nước yêu dân, tinh
thần đoàn kết, dân chủ, nhân ái, khoan dung trong cộng đồng, hòa hiếu với các dân tộc lân
bang; tinh thần cần cù, dũng cảm, sáng tạo, lạc quan, thương người của dân tộc Việt Nam.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thành công của
cách mạng.
Trong truyền thống dân tộc Việt Nam thường trực một niềm tự hào về lịch sử, trân trọng
nền văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán và những giá trị tốt đẹp khác của dân tộc. Đó chính
một sở hình thành nên tưởng, phẩm chất của nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh với
chủ trương văn hóa mục tiêu, động lực của cách mạng; cần giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc
đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hoá mới của Việt Nam. Chính
Hồ Chí Minh một biểu tượng cao đẹp của sự tích hợp tinh hoa văn hóa phương Đông
phương Tây.
2.2.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại
Tinh hoa văn hóa phương Đông
Về Nho giáo, Hồ Chí Minh phân tích: "Tuy Khổng Tử phong kiến tuy trong học
thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên
học. “Chỉ những người cách mạng chân chính mới thu thái được những điều hiểu biết quý
báu của các đời trước để lại”. Lênin dạy chúng ta như vậy.
Hồ Chí Minh chú ý kế thừa và đổi mới tư tưởng dùng nhân trị, đức trị để quản lý xã hội.
Kế thừa phát triển quan niệm của Nho giáo về việc xây dựng một hội tưởng trong đó
công bằng, bác ái, nhân, nghĩa, trí, dũng, tín, liêm được coi trọng để thể đi đến một thế giới
đại đồng với hòa bình, không chiến tranh, các dân tộc quan hệ hữu nghị hợp tác. Đặc
biệt, Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, đổi mới, phát triển tinh thần trọng đạo đức của Nho giáo
trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của con người; trong công tác xây dựng Đảng về đạo
đức.
Đối với Phật giáo, Hồ C Minh chú ý kế thừa, phát triển tưởng từ bi, vị tha, yêu
thương con người, khuyến khích làm việc thiện, chống lại điều ác; đề cao quyền bình đẳng của
con người chân lý; khuyên con người sống hòa đồng, gắn với đất nước của Đạo Phật.
Người cũng chú trọng kế thừa, phát triển những tư tưởng nhân bản, đạo đức tích cực trong Phật
giáo vào việc xây dựng xã hội mới, con người mới Việt Nam hiện nay.
Đối với Lão giáo, Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, phát triển tưởng của Lão Tử, khuyên
con người nên sống gắn bó, hoà đồng với thiên nhiên, hơn nữa phải biết bảo vệ môi trường
sống, kế thừa phát triển tư tưởng thoát mọi ràng buộc của vòng danh lợi trong Lão giáo.
Ngoài ra, Người cũng chú ý tìm hiểu chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn thấy
trong đó “những điều thích hợp với điều kiện của nước ta đó “dân tộc được độc lập, dân
quyền được tự do, dân sinh được hạnh phúc”
Tinh hoa văn hoá phương Tây
Hồ Chí Minh đã trải qua những năm bôn ba nước ngoài từ đó người đã học hỏi
được rất nhiều kinh nghiệm quý báu cả những đặc sắc văn hóa của phương Tây. Người đã
tiếp thu các giá trị của bản tuyên ngôn nhân quyềndân quyền của Đại cách mạng Pháp, các
giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập Mỹ
năm 1776.
Ngoài ra, Người đã trực tiếp đọc và tiếp thu các tư tưởng về tự do, bình đẳng qua các tác
phẩm của các nhà khai sáng như Vonte, Rutxô, Môngtétxkiơ, tìm hiểu chủ nghĩa Tamn của
Tôn Trung Sơn,….
2.2.3. Chủ nghĩa Mác Lênin
Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí
Minh. Trên sở lập trường, quan điểm phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí
Minh đã triệt để kế thừa, đổi mới, phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam, tinh hoa văn hóa nhân loại kết hợp với thực tiễn cách mạng trong nước thế giới hình
thành lên một hệ thống các quan điểm bản, toàn diện về cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa
Mác Lênin tiền đề luận quan trọng nhất, vai trò quyết định trong việc hình thành
tưởng Hồ Chí Minh.
Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã trở thành người cộng sản với tầm vóc
trí tuệ lớn. Hồ Chí Minh trở thành người cộng sản trênsở hiểu biết sâu sắc kho tàng tri thức
của nhân loại từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Về việc đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Học thuyết
Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân
ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật
Tiên ưu điểm chính sách của phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêxu, Mác,
Tôn Dật Tiên chẳng phải đã những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn "mưu hạnh phúc
cho loài người, mưu phúc lợi cho hội". Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp
lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn
thân thiết. Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy".
Tổng kết kinh nghiệm thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Chúng tôi giành được thắng lợi đó do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng -
không phải chỉ nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Lênin - chúng tôi giành được những
thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin".
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những đã
vận dụng sáng tạo, còn bổ sung, phát triển làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lênin trong
thời đại mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước nhảy vọt trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
2.3. Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh
2.3.1 Phẩm chất Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh kế thừa phát triển những phẩm chất tốt đẹp nhất của cha ông lên một
tầm cao mới. Với ý chí nghị lực to lớn, Người đi khắp thế giới rộng lớn, xa lạ để khảo sát
thức tế các nước đế quốc giàu có cũng như các dân tộc thuộc địa nghèo nàn, lạc hậu, mà chỉ hai
bàn tay trắng, đã làm nhiều nghề khác nhau vừa để kiếm sống, vừa tự học hỏi hoạt động
cách mạng.Hồ Chí Minh khéo léo kết hợp học nhà trường, học trong sách vở, học trong hoạt
động cách mạng, học nhân dân khắp nơi Người đã đến sống, học tập công tác; do đó
Người có vốn học thức văn hóa sâu rộng Đông Tây kim
Đặc biệt, Hồ Chí Minh người duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, giàu tính phế phán,
đổi mới cách mạng. Trong tưởng, luận, Người không bao giờ giáo điều, phụ thuộc, bắt
trước tưởng, hành động người khác luôn sự vận dụng sáng tạo, sự bổ sung phát
triển thành chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn tự chủ,
chủ động, lựa chọn hướng đi đúng cho nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân, đất nước
lịch sử dân tộc về tưởng, hành động của mình, không dựa dẫm, nại người khác. Người đã
vận dụng đúng quy luật chung của hội loài người, của cách mạng thế giới vào hoàn cảnh
riêng, cụ thể của Việt Nam, đề xuất tưởng, đường lối cách mạng mới đáp ứng đòi hỏi thực
tiễn.
Hồ Chí Minh là người có tầm nhìn chiến lược, bao quát thời đại, đã đưa cách mạng Việt
Nam vào dòng chảy chung của cách mạng thế giới, người năng lực tổng kết thực tiễn kịp
thời, năng lực dự báo tương lai chính xác để cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam đi
đến thắng lợi.
2.3.2 Tài năng hoạt động, tổng kết thực tiễn phát triển lý luận
Hồ Chí Minh người vốn sống thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, phi
thường. Trước khi trở thành Chủ tịch nước, Người đã sống, học tập, hoạt động, công tác
khoảng 30 nước trên thế giới . Người hiểu sâu sắc chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân
chế độ thực dân không chỉ qua các loại tài liệu, sách, o, radio còn hiểu biết sâu sắc về
chúng qua thực tế cuộc sống và hoạt động tại các cường quốc đế quốc. Người đặc biệt xác định
rõ bản chất, thủ đoạn của của chủ nghĩa đế quốc, thực dân và thấu hiểu tình cảnh của người dân
ở nhiều nước thuộc địa.
Người hiểu sâu sắc về phong trào giải phóng dân tộc, về xây dựng chủ nghĩa hội, về
xây dựng Đảng Cộng sản v.v… không chỉ qua nghiên cứu luận còn qua việc tham gia
sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, qua hoạt động trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, qua tham gia
phong trào cộng sản quốc tế nhiều nước, qua nghiên cứu đời sống xã hội Liên Xô- nước
hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới,…
Hồ Chí Minh nhà tổ chức đại của cách mạng Việt Nam. Người đã hiện thực hóa
tưởng lý luận cách mạng thành hiện thực sinh động; đồng thời tổng kết thực tiễn cách mạng, bổ
sung, phát triển luận, tưởng cách mạng. Cùng với việc tìm thấy mục tiêu, phương hướng
cách mạng Việt Nam chủ nghĩa Mác- Lênin, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp;
chuẩn bị về nhiều mặt cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam- tổ chức lãnh đạo cách mạng
Việt Nam theo chủ nghĩa Mác- Lênin, Người sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất; sáng lập
quân đội nhân dân Việt Nam; khai sinh Nhà nước kiểu mới Việt Nam. Những phẩm chất
nhân cùng những hoạt động thực tiễn phong phú trên nhiều lĩnh vực khác nhau trong trên
thế giới là nhân tố chủ quan hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.
II. Nhân tố đóng vai trò quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí
Minh
1. Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác-Lênin một hệ thống các quan điểm luận phương pháp khoa học
được kết tinh và là đỉnh cao thành tựu trí tuệ của loài người, của tinh hoa văn hoá nhân loại.
Chủ nghĩa Mác-Lêninhọc thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu, chỉ con
đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động các dân tộc bị áp bức trên
thế giới thoát khỏi tình trạng bị dịch bóc lột, thoát khỏi đói nghèo tha hoá về nhiều
mặt. Đồng thời học thuyết đó chỉ ra lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng
phát triển hội giai cấp công nhânnhân dân lao động, đem lại niềm tin vào khả năng
sức mạnh của chính mình.
Học thuyết đó cũng chỉ ra quy luật của sự giải phóng và phát triển xã hội. Đó là quy luật
về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất, về sự chuyển biến từ hình thái
kinh tế hội này sang hình thái kinh tế hội khác không phải diễn ra một cách tự phát
phải thông qua cuộc đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt. Từ đó, Mác - Ăngghen Lênin đã
trực tiếp nghiên cứu sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tìm ra quy luật về
sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản, cũng như sự thắng lợi của chủ nghĩa hội như một tất yếu
thông qua cuộc cách mạng xã hội.
Bản chất khoa học cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin còn thể hiện chỗ: Đó
học thuyết mở, không cứng nhắc, bất biến đòi hỏi luôn được bổ sung, tự đổi mới, tự phát
triển trong dòng phát triển trí tuệ của nhân loại.
2. Bản chất cách mạng và khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh
2.1. Bản chất cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn chủ yếu từ chủ nghĩa Mac-Lênin, bản chất cách mạng
trong tư tưởng của Người cách mạng hội. Điều này thể hiện ở chỗđã làm thay đổi căn
bản chế độ hội chủ nghĩa từ phong kiến nửa thuộc địa sang hội chủ nghĩa; giải phóng
nhân dân ra tự do, đem lại nền dần chủ thực sự cho đất nước.
Từ năm 1885 khi Pháp chiếm đóng Việt Nam, chúng đã bắt tay ngay vào việc thiết lập
bộ máy thống trị thực dân và tiến hành khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công
rẻ mạt mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá. Năm 1897, Thực dân Pháp tiến hành chương
trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất, sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất chúng tiến hành
chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai Đông Dương. Chúng với chủ trương bần cùng
hoá người dân để dễ cai trị đã biến Việt Nam thành địa ngục. Thực dân Pháp một mặt du nhập
phương thức sản xuất bản chủ nghĩa nhưng một mặt lại duy trì quan hệ kinh tế phong kiến
nên về bản nước ra trở thành một nước nửa thuộc địa phong kiến. Đời sống nhân dân khổ
cực, nhân dân không có chút quyền tự do nào cả ngoài “quyền” nộp thuế, đau khổ và chết chóc.
Xuyên suốt trong tưởng của Người tưởng độc lập dân tộc tự do dân chủ. Về
vấn đề n tộc thuộc địa, Người nhấn mạnh rằng thực chất vấn đề dân tộc thuộc địa đấu
tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc lựa chọn con đường phát triển của dân
tộc đi tới hội cộng sản, ấy cái đích lâu dài, Người từng nói rằng cương lĩnh của Đảng
sau khi thống nhất phải là: Dân tộc độc lập, nhân dân tự do, nhân dân hạnh phúc, tiến tới chủ
nghĩa hội. thực tế lịch sử đã cho thấy những tưởng, mục tiêu Người đề ra đã được
thực hiện. Dưới sự lãnh đạo của Người Đảng, nhân dân ta trải qua 45 năm đấu tranh đánh
đuổi thực dân Pháp, Nhật, Mỹ dành độc lập tự do, có quyền làm chủ thực sự trên chính tổ quốc
của mình.
tuởng Hồ Chí Minh một học thuyết cách mạng, sau khi tìm tòi xác lập được con
đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh “đã trở về nước,
đi vào quấn chúng, tuyên truyền họ, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đưa họ ra đấu tranh”. tưởng
Hồ Chí Minh hướng vào hành động cải tạo xã hội, cải tạo con người, đổi đời cho dân tộc, “biến
người lệ thành người tự do”. Từ đó, Ngừoi bắt tay vào mở lớp huấn luyện, đào tạo những
hạt giống cho cách mạng theo đuổi một đường lối, phương pháp cách mạng mới ,đưa họ vào
rèn luyện. Người đưa đường lối phương pháp cách mạng thâm nhập vào phong trào công
nhân và phong trào yêu nước, biến tư tưởng thành sức mạnh vật chất, đưa cách mạng đến thành
công, kháng chiến đến thắng lợi, từng bước mở mang đất nước và nâng cao đời sống nhân dân.
2.2. Bản chất khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh
tưởng Hồ Chí Minh sự tính hợp tinh hoa trí tuệ của nhân loại, trong đó nội dung
cốt lõi Chủ nghĩa Mác-Lênin một học thuyết kết tinh thành tựu khoa học của nhân loại
thời kỳ cận đại. tưởng Hồ chí minh đồng thời cũng sự tổng kết kinh nghiệm đấu tranh
thắng lợi của các phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Việt Nam, đặc biệt từ khi có
Đảng. Từ thực tiễn Hồ chí Minh đúc kết thành lý luận, rồi lại dựa vào thực tiễn để kiểm nghiệm
lý luận, do đó nó là một tư tưởng khoa học.
tưởng Hồ Chí Minh giá trị khoa học đã phản ánh được những vấn đề thuộc về
bản chấtquy luật của cách mạng Việt nam từ độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhiều
quan điểm của Hồ Chí Minh giá trị khái quát như một chân khoa học, dụ : “Không
gì qúy hơn độc lập tự do”, “Muốn giải phóng các dân tộc thuộc địa chỉ có thể trông cậy vào bản
thân mình”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”, “Đạo
đức là cái gốc của người cách mạng”, “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân.
thể nói: đó những mệnh đề chứa đựng những chân phổ biến, giá trị vĩnh
hằng, được diễn đạt giản dị nhưng súc tích như những châm ngôn, góp phần làm phong phú
thêm cho luận Mác-Lênin. vậy, tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản tinh thần quý
giá của dân tộc và thuộc về kho báu của nhân loại.
3. Yếu tố đóng vai trò quyết định đối với bản chất cách mạng khoa học của tưởng
Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác- Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lêninsở thế giới quanphương pháp luận trong nhận thức
và hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh.
Năm 1917, Cách mạng tháng 10 Nga thành công đã dẫn đến sự ra đời của nhà nước
sản đầu tiên, một nhà nước thực sự của nhân dân do nhân dân lao động làm chủ. Chính sự
kiện này đã hướng tưởng Hồ Chí Minh về Cách mạng tháng 10 Nga, về chủ nghĩa Mác -
Lênin. Đây sở luận quyết định bước phát triển mới về chất trong tưởng của Người,
giúp Người tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Ngay từ
cuối những năm 20 của thế kỉ XX, Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Bây giờ học thuyết nhiều,
chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất chủ
nghĩa Mác - Lenin”.
Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin thế giới quan, phương pháp luận trong
nhận thức và hoạt động cách mạng. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin chính là đến với con đường
cách mạng sản. Người từng nói: “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc, không con
đường nào khác ngoài con đường cách mạng sản”. Chính bản thảo lần thứ nhất những
luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đã diễn đạt một cách đầy đủ và sâu
sắc những điều Hồ Chí Minh đã nung nấu, suy nghĩ, ấp trong suốt thời gian bấy giờ, giúp
Người tìm ra được con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Đó
bước chuyển lịch strong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí minh: Từ chủ nghĩa yêu
nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trên cơ sở lập trường và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã triệt để
kế thừa, đổi mới phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt kết hợp với
tinh hoa văn hóa nhân loại từ phương Đông, phương Tây áp dụng vào thực tiễn cách
mạng trong nước. Sự kết hợp này vừa có sự kế thừa lại vừa có sự chắt lọc, đổi mới, sáng tạo đã
tạo lên một hệ thống các quan điểm cơ bản, toàn diện về cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã trở thành người cộng sản trên cơ sở hiểu biết sâu sắc kho tàng nhân loại
từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Hồ Chí Minh không rập khuôn máy móc những tưởng
bởi chúng có chứa những yếu tố duy tâm, lạc hậu nhưng Người cũng không phủ nhận sạch trơn
vì những tư tưởng ấy còn mang những yếu tố duy vật, những mặt tích cực đáng để chúng ta học
tập. Như vậy, Hồ Chí Minh đã tiếp thu một cách kế thừa phát triển theo đúng tinh thần
của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Người chỉ rõ “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu
dưỡng đạo đức nhân. Tôn giáo Giêxu ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác
ưu điểm phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn ưu
điểm là chính sách của nó phù hợp với điền kiện nước ta”. Tất cả bọn họ đều muốn mưu cầu lợi
ích, hạnh phúc cho người dân của họ, cho đất nước của họ lớn hơn nữa cho loài người,
cho hội. Đó cũng chính những giấc mơ, mong muốn ấp bấy lâu của Hồ Chí Minh.
vậy, Người đã tiếp thu những mặt tích cực, điều hay của các tư tưởng; loại bỏ những quan điểm
lỗi thời, lạc hậu làm lên tư tưởng sáng tạo riêng của người.
Thế giới quan phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã giúp Hồ Chí Minh
tổng kết kiến thức kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước. Người nhận xét
“Cách mạng sản cuộc cách mạng không triệt để, không tới nơi” thực tế không hề
giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức bóc lột, người dân lao động không quyền tự do
bình đẳng mà vẫn bị giai cấp tư sản bóc lột nặng nề. Người cũng đã khẳng định “Thắng lợi của
cách mạng Việt Nam giành được là do nhiều nhân tố, nhưng chúng tôi giành được thắng lợi đó
trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được đó là chủ nghĩa Mác - Lênin”.
Quá trình tiếp nhận chủ nghĩa Mác–Lênin của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
Quá trình tiếp nhận chủ nghĩa Mác–Lênin của Hồ Chí Minh là những nhận thức ban đầu
(cảm tính) đi đến cảm nhận tính. Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh trở thành
người cộng sản với tầm vóc trí tuệ lớn.
Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ từ một hội thuộc địa nửa phong
kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa một khái niệm ràng về đấu tranh giai cấp, đảng chính
trị, Chủ nghĩa Mác - Lênin... Hành trang của Người mang theo chính là lòng yêu nước, thương
dân, trước khi Người đến với Chủ nghĩa Mác như chính Người đã khẳng định: “Lúc đầu, chính
là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lê-nin, tin theo
Quốc tế thứ ba. Lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tình tự nhiên.
Tôi chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của nó. Tôi kính yêu Lê-nin Lê-nin một người
yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình; trước đó tôi chưa hề đọc một quyển sách nào của
Lê-nin.” Điều đó cho thấy từ những nhận thức ban đầu về chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh
đã tiến dần tới những nhận thức Lý tính, trở lại nghiên cứu Chủ nghĩa Mác sâu sắc hơn, để tiếp
thu học thuyết của các ông một cách có chọn lọc, không rập khuôn máy móc.
Hồ Chí Minh không những đã vận dụng sáng tạo còn bổ sung, phát triển làm
phong phú chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụngphát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác
- Lênin o điều kiện cụ thể của Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin nguồn gốc luận trực
tiếp, quyết định bản chất của khoa học và cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh
đã vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin nhiều vấn đề luận quan
trọng, nhất là lý luận về giai cấp - dân tộc và lý luận về chủ nghĩa xã hội.
Luận cương của V.I.Lê-nin đã chinh phục hoàn toàn Nguyễn Ái Quốc. Người đã thấy
được cái cần thiết cho dân tộc Việt Nam - con đường giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc đã
tiếp nhận những bài học sâu sắc từ V.I.Lê-nin Cách mạng Tháng Mười Nga. Bằng vốn kiến
thức luận từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú của mình, Nguyễn Ái Quốc
người đầu tiên cho rằng, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc các thuộc địa không hoàn toàn
phụ thuộc vào cách mạng "chính quốc", nhân dân thuộc địa thể đứng lên tự giải phóng
chính mình, cuộc cách mạng thể thắng lợi trước một nước thuộc địa. Những luận điểm
cách mạng của Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc và giai
cấp, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trong quá trình phát triển của cách mạng Việt
Nam dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Tiếp nhận những bài học sâu sắc từ V.I. Lê-nin Cách mạng Tháng Mười Nga, nhưng
Hồ Chí Minh không sao chép Người tiếp thu cái tinh thần của chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí
Minh coi chủ nghĩa Mác - Lê-nin cái cẩm nang thần kỳ nhưng Người cũng luôn nhấn mạnh
rằng cần phải vận dụng sáng tạo "cẩm nang thần kỳ" đó.
Dưới ánh sáng chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh đúc kết được nhiều điều quan trọng, trong
đó đáng chú ý: Thứ nhất, khi phân chia các thứ cách mạng, nếu lấytưởng làm tiêu chí thì
ba loại: bản cách mạng, dân tộc cách mạng, giai cấp cách mạng; nếu lấy mục tiêu của từng
dân tộc nhân loại thì hai loại: dân tộc cách mạng thế giới cách mạng. Thứ hai, luận
do phân tích kinh nghiệm cách mạng các nước trong nước ta từ trước đến nay kết luận
thành.
V.I.Lênin đưa ra quan điểm Đảng Cộng sản ra đời sự kết hợp chủ nghĩa hội khoa
học phong trào công nhân. Hồ Chí Minh khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời sự
kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân phong trào yêu nước Việt Nam.
Theo Người, “Đảng ta Đảng của giai cấp, đồng thời cũng của dân tộc, không thiên tư,
thiên vị”.
Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh so với chủ nghĩa Lênin không chỉ bổ sung yếu tố phong
trào yêu nước vào sự ra đời của Đảng Cộng sản còn cho thấy phong trào yêu nước khả
năng kết hợp với phong trào công nhân, cả hai phong trào cùng một nhiệm vụ mục tiêu
trước mắt là chống xâm lược, giành độc lập dân tộc.
Như vậy: Chủ nghĩa Mác Lêninnhân tố quyết định trực tiếp đến bản chất khoa học
và cách mạng của Tư tưởng Hồ Chí Minh.
KẾT LUẬN
Qua những phân tích trên của bài thảo luận, chúng ta đã nhìn nhận được vấn đề
tưởng Hồ Chí Minh một hệ thống quan điểm toàn diện sâu sắc về những vấn đề bản
của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, tiếp thu tinh hoa n hoá nhân loại. tưởng Hồ Chí Minh còn sản phẩm cấu
thành từ những điều kiện khách quan và chủ quan; giữa sự kết hợp của truyền thống dân tộc
tinh hoa văn hóa nhân loại. Trong đó, chủ nghĩa Mác-Lenin chính là nhân tố đóng vai trò quyết
định bản chất cách mạng khoa học tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh xem chủ
nghĩa Mác Lênin như một kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Từ
phương pháp tiếp cận đúng đắn, mạnh dạn, khoa học trong kế thừa phát triển học thuyết
Mác Lênin, đồng thời bám sát thực tiễn Việt Nam thế giới, chủ tịch Hồ Chí Minh đã
những luận điểm sáng tạo góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác Lênin trong vấn đề
cách mạng giải phóng dân tộc,.. Tóm lại, tưởng Hồ Chí Minh là tài sản giá mà Người đã
để lại cho dân tộc Việt Nam, Người tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực, cao đẹp, kết
tinh những giá trị truyền thống của dân tộc, của nhân loại thời đại. Việc học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhiệm vụ rất quan trọng thường xuyên, qua đó để giáo
dục, rèn luyện mình, xứng đáng là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Giáo trình tưởng Hồ Chí Minh, Bộ giáo dục đào tạo, NXB Chính trị Quốc gia sự
thật (2018)
[2] Slide bài giảng Tư tưởng Hồ Chí Minh của Trường Đại Học Thương Mại
[3] Hồ Chí Minh: , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.12, tr 407Toàn tập
[4] Hồ Chí Minh: , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.4, tr 3Toàn tập
[5] Hồ Chí Minh: , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.12, tr.30Toàn tập
[6] Hồ Chí Minh: , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.2, tr.289 Toàn tập
[7] Hồ Chí Minh: , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.6, tr. 356-357Toàn tập
[8] Hồ Chí Minh: , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.15, tr. 589-590Toàn tập
[9] Hồ Chí Minh: Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 t.15, tr.130Toàn tập, ,

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
˗˗˗˗˗˗˗˗˗˗ BÀI THẢO LUẬN
Đề tài 1: Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh? Trong các nhân tố góp
phần tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố nào đóng vai trò quyết định bản chất
cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh?
Đề tài 2: Vận dụng chuẩn mực “cần, kiệm, liêm, chính”, “tình yêu thương
con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng đạo đức, lối sống cho sinh viên Việt Nam. Lớp học phần: 2229HCMI0111
Sinh viên thực tập: Nhóm 1
Giảng viên hướng dẫn: TS. Bùi Hồng Vạn
Hà Nội, tháng 3, năm 2022
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1 STT Họ và tên Mã sinh viên Nhiệm vụ Điểm thảo luận 1Nguyễn Thị Vân Anh (Nhóm trưởng) 20D160212 Nội dung 2Vũ Thị Quế Anh (Thư ký) 20D160144 Mở đầu+ Kết luận 3 Nguyễn Thị Ngọc Ánh 20D160214 PowerPoint 4 Chu Quỳnh Chi 20D140187 Nội dung 5 Nguyễn Tùng Chi 20D140008 Thuyết trình 6 Trần Đàm Linh Chi 20D160077 Nội dung 7 Trần Thị Hường Chinh 20D160217 Nội dung 8 YIACHONG Chouvang 19D160122 Nội dung 9 Trần Thị Chuyên 20D140128 Word 10 Nguyễn Mạnh Cường 20D160145 Nội dung 11 Phạm Minh Cường 20D160006 Nội dung 12 Vi Văn Cường 20D160076 Nội dung 13 Nguyễn Công Đạt 20D160081 Nội dung MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................................4
PHẦN NỘI DUNG...........................................................................................................5
I. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh...............................................................5
1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh....................................................................................5
2. Phân tích cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh..........................................................6
2.1. Cơ sở thực tiễn..........................................................................................................6
2.1.1. Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX.........................................6
2.1.2 Thực tiễn thế giới cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX..............................................7
2.2. Cơ sở lý luận.............................................................................................................8
2.2.1. Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.............................................8
2.2.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại.................................................................................8
2.2.3. Chủ nghĩa Mác Lênin......................................................................................10
2.3. Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh..............................................................................11
2.3.1 Phẩm chất Hồ Chí Minh..................................................................................11
2.3.2 Tài năng hoạt động, tổng kết thực tiễn phát triển lý luận..................................11
II. Nhân tố đóng vai trò quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tư
tưởng Hồ Chí Minh....................................................................................................12
1. Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin.......................................12
2. Bản chất cách mạng và khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh.....................................13
2.1. Bản chất cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh..................................................13
2.2. Bản chất khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh.....................................................14
3. Yếu tố đóng vai trò quyết định đối với bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng
Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác- Lênin..............................................................................15
KẾT LUẬN......................................................................................................................18
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................20 LỜI MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng lỗi lạc, có nhiều cống hiến kiệt xuất vào kho
tàng tư tưởng – lý luận của dân tộc và nhân loại, Người luôn là tấm gương sáng về đạo đức và
thực hành đạo đức cho tất cả mọi người noi theo. Đất nước ta hòa bình, độc lập từng bước đi
lên như ngày hôm nay chính là nhờ vào sự lãnh đạo của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại
cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá, một hệ thống tư tưởng về nhiều mặt trong đó tư tưởng
Hồ Chí Minh là tư tưởng nổi bật, có giá trị trường tồn đối với quá trình phát triển của dân tộc ta
và của toàn nhân loại. Đó là tư tưởng xuyên suốt và nhất quán trong tư duy lý luận và trong
hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh và đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, gắn
liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống rộng lớn
và bao quát mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nên trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của
mình. Tư tưởng của Người là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mac-Lenin, được vận
dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam. Để làm rõ sự hình thành nên tư tưởng và bản chất cách mạng khoa học trong tư tưởng Hồ
Chủ tịch. Nhóm chúng em xin nghiên cứu đề tài thảo luận: “ Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ
Chí Minh. Trong các nhân tố tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố nào đóng vai trò quyết
định bản chất và cách mạng khoa học tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Do kiến thức và tầm hiểu biết vẫn còn nhiều hạn chế nên nhóm chúng em hy vọng rằng
sẽ nhận được những đóng góp và nhận xét để đề tài thảo luận của chúng em được hoàn thiện hơn. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2011) nêu
khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh” như sau:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn
đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa
Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý
giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành
thắng lợi”. Khái niệm trên đây chỉ rõ nội hàm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở hình
thành cũng như ý nghĩa của tư tưởng đó. Cụ thể:
Một là, khái niệm này đã nêu rõ bản chất khoa học và cách mạng cũng như nội dung cơ
bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề
cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ đó phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng
Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về mục tiêu xây
dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng
đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Để đạt mục tiêu đó, con đường phát triển của dân tộc
Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu và con đường này đúng
theo lý luận Mác-Lênin; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản
lý của Nhà nước cách mạng; xác định lực lượng cách mạng là toàn thể nhân dân Việt Nam yêu
nước, xây dựng con người Việt Nam có năng lực và phẩm chất đạo đức cách mạng; kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại trên cơ sở quan hệ quốc tế hòa bình, hợp tác, hữu nghị
cùng phát triển; với phương pháp cách mạng phù hợp...
Hai là, nêu lên cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa MácLênin – giá trị
cơ bản nhất trong quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng đó; đồng thời tư tưởng Hồ Chí
Minh còn bắt nguồn từ việc Hồ Chí Minh tiếp thu các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
và tinh hoa văn hóa nhân loại.
Ba là, khái niệm đó đã nêu lên ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định tư tưởng
Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi
đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh là một bộ phận cấu thành làm nên nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động
của Đảng và cách mạng Việt Nam.
2. Phân tích cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
2.1. Cơ sở thực tiễn
2.1.1. Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX
Từ năm 1858, đế quốc Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam. Triều đình nhà Nguyễn lần
lượt ký kết các hiệp ước đầu hàng, từng bước trở thành tay sai của thực dân Pháp. Trong hoàn
cảnh triều đình hèn nhược như vậy, nhân dân dã nổi lên những cuộc khởi nghĩa vũ trang anh
dũng của Nguyễn Thiện Thuật, Phạm Bành và Đinh Công Tráng,… Tuy các cuộc khởi nghĩa
này đã thể hiện được tinh thần yêu nước và chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta nhưng đều
thất bại do sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến lạc hậu không đấu chọi được với những thế
lực hiện đại, tiên tiến.
Bước sang đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp bắt tay vào cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất, Việt Nam có nhiều biến chuyển to lớn từ một nước phong kiến sang nước thuộc địa nửa
phong kiến. Thực dân Pháp vẫn duy trì nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với khoảng 95% dân số
là nông dân; giai cấp địa chủ được bổ sung, củng cố, tăng cường thêm các điền chủ người Pháp
và nước ngoài. Bên cạnh tầng lớp thợ thủ công, tiểu thương, trong xã hội Việt Nam xuất hiện
những giai tầng mới. Đó là giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản ở thành
thị. Từ đó, liền với mâu thuẫn cơ bản trong xã hội phong kiến là nông dân với địa chủ phong
kiến, xuất hiện các mâu thuẫn mới: Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam với giai cấp
tư sản, mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với đế quốc Pháp. Trong thời gian này, các
phong trào giải phóng dân tộc cũng có chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản. Điển hình
các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đã có những nỗ lực tìm ra phương
pháp mới xong đều đi vào ngõ cụt. Nguyên nhân sâu xa là giai cấp tư sản Việt Nam còn non
yếu. Nguyên nhân trực tiếp là các tổ chức và người lãnh đạo của các phong trào đó chưa có
đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn.
Chứng kiến cảnh đất nước lầm than, nhan dân cơ cực, phong trào yêu nước còn loay
hoay khủng hoảng, Hồ Chí Minh đã nhận ra rằng cần tìm một con đường mới. Hồ Chí Minh đã
dày công truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước
Việt Nam, chuẩn bị về lý luận chính trị, tư tưởng và tổ chức, sáng lập Đảng Cộng sản Việt
Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước hình thành
cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam.
2.1.2 Thực tiễn thế giới cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản trên thế giới đã phát triển từ giai
đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Một số nước đế quốc Anh, Pháp, Mỹ,
Tây Ban Nha, Ý, Đức, Nga, v.v… đã chi phối toàn bộ tình hình thế giới. Phần lớn các nước
châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của các nước đế
quốc. Tình hình đó đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản ở
các nước tư bản; mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau; mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc
địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc. Sang đầu thế kỷ XX, những mâu thuẫn ngày ngày
càng phát triển gay gắt. Giành độc lập cho các dân tộc thuộc địa không chỉ là đòi hỏi của riêng
họ mà còn là mong muốn chung của giai cấp vô sản quốc tế; tình hình đó đã thúc đẩy phong
trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển.
Năm 1917, cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi, đánh đổ giai cấp tư sản và giai
cấp địa chủ phong kiến, lập nên một xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa, mở ra một thời đại
mới trong lịch sử loài người – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên
phạm vi toàn thế giới, mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới.
Ngày 2-3-1919, Quốc tế cộng sản ra đời đẩy mạnh việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin
và kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười Nga ra khắp thế giới, thúc đẩy sự ra đời và hoạt động
ngày càng mạnh mẽ của các đảng cộng sản ở nhiều nước.
Như vậy, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, sự ra đời của nhà nước Xôviết, Quốc
tế Cộng sản và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cùng với sự phát triển mạnh mẽ
phong trào cộng sản, công nhân và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới ảnh hưởng sâu
sắc tới Hồ Chí Minh trên hành trình đi ra thế giới tìm mục tiêu và con đường cứu nước.
2.2. Cơ sở lý luận
2.2.1. Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Chủ nghĩa yêu nước là giá trị xuyên suốt trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam, là nền tảng tư tưởng, điểm xuất phát và động lực thúc đẩy Hồ Chí Minh ra đi tìm
đường cứu nước, và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường cứu nước, cứu dân.
Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát triển tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất vì độc
lập tự do của Tổ quốc nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của chủ
nghĩayêu nước Việt Nam. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Người đã trịnh trọng tuyên bố với thế
giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và
độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải
để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Không có gì quý hơn độc lập tự do - chân lý lớn của
thời đại được Hồ Chí Minh khẳng định, đồng thời cũng chính là một điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ đất nước, Hồ Chí Minh hết sức chú trọng
kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc là yêu nước yêu dân, có tinh
thần đoàn kết, dân chủ, nhân ái, khoan dung trong cộng đồng, hòa hiếu với các dân tộc lân
bang; tinh thần cần cù, dũng cảm, sáng tạo, lạc quan, thương người của dân tộc Việt Nam.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thành công của cách mạng.
Trong truyền thống dân tộc Việt Nam thường trực một niềm tự hào về lịch sử, trân trọng
nền văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán và những giá trị tốt đẹp khác của dân tộc. Đó chính
là một cơ sở hình thành nên tư tưởng, phẩm chất của nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh với
chủ trương văn hóa là mục tiêu, động lực của cách mạng; cần giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc
đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hoá mới của Việt Nam. Chính
Hồ Chí Minh là một biểu tượng cao đẹp của sự tích hợp tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây.
2.2.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại
Tinh hoa văn hóa phương Đông
Về Nho giáo, Hồ Chí Minh phân tích: "Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học
thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên
học. “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu thái được những điều hiểu biết quý
báu của các đời trước để lại”. Lênin dạy chúng ta như vậy.
Hồ Chí Minh chú ý kế thừa và đổi mới tư tưởng dùng nhân trị, đức trị để quản lý xã hội.
Kế thừa và phát triển quan niệm của Nho giáo về việc xây dựng một xã hội lý tưởng trong đó
công bằng, bác ái, nhân, nghĩa, trí, dũng, tín, liêm được coi trọng để có thể đi đến một thế giới
đại đồng với hòa bình, không có chiến tranh, các dân tộc có quan hệ hữu nghị và hợp tác. Đặc
biệt, Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, đổi mới, phát triển tinh thần trọng đạo đức của Nho giáo
trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của con người; trong công tác xây dựng Đảng về đạo đức.
Đối với Phật giáo, Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, phát triển tư tưởng từ bi, vị tha, yêu
thương con người, khuyến khích làm việc thiện, chống lại điều ác; đề cao quyền bình đẳng của
con người và chân lý; khuyên con người sống hòa đồng, gắn bó với đất nước của Đạo Phật.
Người cũng chú trọng kế thừa, phát triển những tư tưởng nhân bản, đạo đức tích cực trong Phật
giáo vào việc xây dựng xã hội mới, con người mới Việt Nam hiện nay.
Đối với Lão giáo, Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, phát triển tư tưởng của Lão Tử, khuyên
con người nên sống gắn bó, hoà đồng với thiên nhiên, hơn nữa phải biết bảo vệ môi trường
sống, kế thừa phát triển tư tưởng thoát mọi ràng buộc của vòng danh lợi trong Lão giáo.
Ngoài ra, Người cũng chú ý tìm hiểu chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn vì thấy
trong đó “những điều thích hợp với điều kiện của nước ta đó là “dân tộc được độc lập, dân
quyền được tự do, dân sinh được hạnh phúc”
Tinh hoa văn hoá phương Tây
Hồ Chí Minh đã trải qua những năm bôn ba ở nước ngoài và từ đó người đã học hỏi
được rất nhiều kinh nghiệm quý báu và cả những đặc sắc văn hóa của phương Tây. Người đã
tiếp thu các giá trị của bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Đại cách mạng Pháp, các
giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập ở Mỹ năm 1776.
Ngoài ra, Người đã trực tiếp đọc và tiếp thu các tư tưởng về tự do, bình đẳng qua các tác
phẩm của các nhà khai sáng như Vonte, Rutxô, Môngtétxkiơ, tìm hiểu chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn,….
2.2.3. Chủ nghĩa Mác Lênin
Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí
Minh. Trên cơ sở lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí
Minh đã triệt để kế thừa, đổi mới, phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam, tinh hoa văn hóa nhân loại kết hợp với thực tiễn cách mạng trong nước và thế giới hình
thành lên một hệ thống các quan điểm cơ bản, toàn diện về cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa
Mác – Lênin là tiền đề lý luận quan trọng nhất, có vai trò quyết định trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã trở thành người cộng sản với tầm vóc
trí tuệ lớn. Hồ Chí Minh trở thành người cộng sản trên cơ sở hiểu biết sâu sắc kho tàng tri thức
của nhân loại từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Về việc đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Học thuyết
Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân
ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật
Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêxu, Mác,
Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn "mưu hạnh phúc
cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội". Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp
lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn
thân thiết. Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy".
Tổng kết kinh nghiệm thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng - mà
không phải chỉ nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Lênin - chúng tôi giành được những
thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin".
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những đã
vận dụng sáng tạo, mà còn bổ sung, phát triển và làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lênin trong
thời đại mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước nhảy vọt trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
2.3. Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh
2.3.1 Phẩm chất Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển những phẩm chất tốt đẹp nhất của cha ông lên một
tầm cao mới. Với ý chí và nghị lực to lớn, Người đi khắp thế giới rộng lớn, xa lạ để khảo sát
thức tế các nước đế quốc giàu có cũng như các dân tộc thuộc địa nghèo nàn, lạc hậu, mà chỉ hai
bàn tay trắng, đã làm nhiều nghề khác nhau vừa để kiếm sống, vừa tự học hỏi và hoạt động
cách mạng.Hồ Chí Minh khéo léo kết hợp học ở nhà trường, học trong sách vở, học trong hoạt
động cách mạng, học ở nhân dân khắp nơi Người đã đến sống, học tập và công tác; do đó
Người có vốn học thức văn hóa sâu rộng Đông Tây kim
Đặc biệt, Hồ Chí Minh là người có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, giàu tính phế phán,
đổi mới cách mạng. Trong tư tưởng, lý luận, Người không bao giờ giáo điều, phụ thuộc, bắt
trước tư tưởng, hành động người khác mà luôn có sự vận dụng sáng tạo, có sự bổ sung và phát
triển thành chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn tự chủ,
chủ động, lựa chọn hướng đi đúng cho nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân, đất nước và
lịch sử dân tộc về tư tưởng, hành động của mình, không dựa dẫm, ỷ nại người khác. Người đã
vận dụng đúng quy luật chung của xã hội loài người, của cách mạng thế giới vào hoàn cảnh
riêng, cụ thể của Việt Nam, đề xuất tư tưởng, đường lối cách mạng mới đáp ứng đòi hỏi thực tiễn.
Hồ Chí Minh là người có tầm nhìn chiến lược, bao quát thời đại, đã đưa cách mạng Việt
Nam vào dòng chảy chung của cách mạng thế giới, là người có năng lực tổng kết thực tiễn kịp
thời, năng lực dự báo tương lai chính xác để cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam đi đến thắng lợi.
2.3.2 Tài năng hoạt động, tổng kết thực tiễn phát triển lý luận
Hồ Chí Minh là người có vốn sống và thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, phi
thường. Trước khi trở thành Chủ tịch nước, Người đã sống, học tập, hoạt động, công tác
khoảng 30 nước trên thế giới . Người hiểu sâu sắc chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân và
chế độ thực dân không chỉ qua các loại tài liệu, sách, báo, radio mà còn hiểu biết sâu sắc về
chúng qua thực tế cuộc sống và hoạt động tại các cường quốc đế quốc. Người đặc biệt xác định
rõ bản chất, thủ đoạn của của chủ nghĩa đế quốc, thực dân và thấu hiểu tình cảnh của người dân
ở nhiều nước thuộc địa.
Người hiểu sâu sắc về phong trào giải phóng dân tộc, về xây dựng chủ nghĩa Xã hội, về
xây dựng Đảng Cộng sản v.v… không chỉ qua nghiên cứu lý luận mà còn qua việc tham gia
sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, qua hoạt động trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, qua tham gia
phong trào cộng sản quốc tế ở nhiều nước, qua nghiên cứu đời sống xã hội ở Liên Xô- nước xã
hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới,…
Hồ Chí Minh là nhà tổ chức vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Người đã hiện thực hóa tư
tưởng lý luận cách mạng thành hiện thực sinh động; đồng thời tổng kết thực tiễn cách mạng, bổ
sung, phát triển lý luận, tư tưởng cách mạng. Cùng với việc tìm thấy mục tiêu, phương hướng
cách mạng Việt Nam ở chủ nghĩa Mác- Lênin, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp;
chuẩn bị về nhiều mặt cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam- tổ chức lãnh đạo cách mạng
Việt Nam theo chủ nghĩa Mác- Lênin, Người sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất; sáng lập
quân đội nhân dân Việt Nam; khai sinh Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Những phẩm chất cá
nhân cùng những hoạt động thực tiễn phong phú trên nhiều lĩnh vực khác nhau ở trong và trên
thế giới là nhân tố chủ quan hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.
II. Nhân tố đóng vai trò quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh
1. Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác-Lênin là một hệ thống các quan điểm lý luận và phương pháp khoa học
được kết tinh và là đỉnh cao thành tựu trí tuệ của loài người, của tinh hoa văn hoá nhân loại.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu, chỉ rõ con
đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên
thế giới thoát khỏi tình trạng bị nô dịch và bóc lột, thoát khỏi đói nghèo và tha hoá về nhiều
mặt. Đồng thời học thuyết đó chỉ ra lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng và
phát triển xã hội là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại niềm tin vào khả năng và
sức mạnh của chính mình.
Học thuyết đó cũng chỉ ra quy luật của sự giải phóng và phát triển xã hội. Đó là quy luật
về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về sự chuyển biến từ hình thái
kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác không phải diễn ra một cách tự phát mà
phải thông qua cuộc đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt. Từ đó, Mác - Ăngghen và Lênin đã
trực tiếp nghiên cứu sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tìm ra quy luật về
sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản, cũng như sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội như một tất yếu
thông qua cuộc cách mạng xã hội.
Bản chất khoa học và cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin còn thể hiện ở chỗ: Đó là
học thuyết mở, không cứng nhắc, bất biến mà đòi hỏi luôn được bổ sung, tự đổi mới, tự phát
triển trong dòng phát triển trí tuệ của nhân loại.
2. Bản chất cách mạng và khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh
2.1. Bản chất cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn chủ yếu từ chủ nghĩa Mac-Lênin, bản chất cách mạng
trong tư tưởng của Người là cách mạng xã hội. Điều này thể hiện ở chỗ nó đã làm thay đổi căn
bản chế độ xã hội chủ nghĩa từ phong kiến nửa thuộc địa sang xã hội chủ nghĩa; giải phóng
nhân dân ra tự do, đem lại nền dần chủ thực sự cho đất nước.
Từ năm 1885 khi Pháp chiếm đóng Việt Nam, chúng đã bắt tay ngay vào việc thiết lập
bộ máy thống trị thực dân và tiến hành khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công
rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá. Năm 1897, Thực dân Pháp tiến hành chương
trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất, sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất chúng tiến hành
chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương. Chúng với chủ trương bần cùng
hoá người dân để dễ cai trị đã biến Việt Nam thành địa ngục. Thực dân Pháp một mặt du nhập
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa nhưng một mặt lại duy trì quan hệ kinh tế phong kiến
nên về cơ bản nước ra trở thành một nước nửa thuộc địa phong kiến. Đời sống nhân dân khổ
cực, nhân dân không có chút quyền tự do nào cả ngoài “quyền” nộp thuế, đau khổ và chết chóc.
Xuyên suốt trong tư tưởng của Người là tư tưởng độc lập dân tộc và tự do dân chủ. Về
vấn đề dân tộc thuộc địa, Người có nhấn mạnh rằng thực chất vấn đề dân tộc thuộc địa là đấu
tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc và lựa chọn con đường phát triển của dân
tộc là đi tới xã hội cộng sản, ấy là cái đích lâu dài, Người từng nói rằng cương lĩnh của Đảng
sau khi thống nhất phải là: Dân tộc độc lập, nhân dân tự do, nhân dân hạnh phúc, tiến tới chủ
nghĩa xã hội. Và thực tế lịch sử đã cho thấy những tư tưởng, mục tiêu mà Người đề ra đã được
thực hiện. Dưới sự lãnh đạo của Người và Đảng, nhân dân ta trải qua 45 năm đấu tranh đánh
đuổi thực dân Pháp, Nhật, Mỹ dành độc lập tự do, có quyền làm chủ thực sự trên chính tổ quốc của mình.
Tư tuởng Hồ Chí Minh là một học thuyết cách mạng, sau khi tìm tòi xác lập được con
đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh “đã trở về nước,
đi vào quấn chúng, tuyên truyền họ, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đưa họ ra đấu tranh”. Tư tưởng
Hồ Chí Minh hướng vào hành động cải tạo xã hội, cải tạo con người, đổi đời cho dân tộc, “biến
người nô lệ thành người tự do”. Từ đó, Ngừoi bắt tay vào mở lớp huấn luyện, đào tạo những
hạt giống cho cách mạng theo đuổi một đường lối, phương pháp cách mạng mới ,đưa họ vào
rèn luyện. Người đưa đường lối và phương pháp cách mạng thâm nhập vào phong trào công
nhân và phong trào yêu nước, biến tư tưởng thành sức mạnh vật chất, đưa cách mạng đến thành
công, kháng chiến đến thắng lợi, từng bước mở mang đất nước và nâng cao đời sống nhân dân.
2.2. Bản chất khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự tính hợp tinh hoa trí tuệ của nhân loại, trong đó nội dung
cốt lõi là Chủ nghĩa Mác-Lênin – một học thuyết kết tinh thành tựu khoa học của nhân loại ở
thời kỳ cận đại. Tư tưởng Hồ chí minh đồng thời cũng là sự tổng kết kinh nghiệm đấu tranh và
thắng lợi của các phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Việt Nam, đặc biệt từ khi có
Đảng. Từ thực tiễn Hồ chí Minh đúc kết thành lý luận, rồi lại dựa vào thực tiễn để kiểm nghiệm
lý luận, do đó nó là một tư tưởng khoa học.
Tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị khoa học vì đã phản ánh được những vấn đề thuộc về
bản chất và quy luật của cách mạng Việt nam từ độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhiều
quan điểm của Hồ Chí Minh có giá trị khái quát như một chân lý khoa học, ví dụ : “Không có
gì qúy hơn độc lập tự do”, “Muốn giải phóng các dân tộc thuộc địa chỉ có thể trông cậy vào bản
thân mình”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”, “Đạo
đức là cái gốc của người cách mạng”, “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân.
Có thể nói: đó là những mệnh đề chứa đựng những chân lý phổ biến, có giá trị vĩnh
hằng, được diễn đạt giản dị nhưng súc tích như những châm ngôn, góp phần làm phong phú
thêm cho lý luận Mác-Lênin. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản tinh thần quý
giá của dân tộc và thuộc về kho báu của nhân loại.
3. Yếu tố đóng vai trò quyết định đối với bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng
Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác- Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận trong nhận thức
và hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh.
Năm 1917, Cách mạng tháng 10 Nga thành công đã dẫn đến sự ra đời của nhà nước vô
sản đầu tiên, một nhà nước thực sự của nhân dân và do nhân dân lao động làm chủ. Chính sự
kiện này đã hướng tư tưởng Hồ Chí Minh về Cách mạng tháng 10 Nga, về chủ nghĩa Mác -
Lênin. Đây là cơ sở lý luận quyết định bước phát triển mới về chất trong tư tưởng của Người,
giúp Người tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Ngay từ
cuối những năm 20 của thế kỉ XX, Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Bây giờ học thuyết nhiều,
chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác - Lenin”.
Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin là thế giới quan, phương pháp luận trong
nhận thức và hoạt động cách mạng. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin chính là đến với con đường
cách mạng vô sản. Người từng nói: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con
đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”. Chính bản Sơ thảo lần thứ nhất những
luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đã diễn đạt một cách đầy đủ và sâu
sắc những điều mà Hồ Chí Minh đã nung nấu, suy nghĩ, ấp ủ trong suốt thời gian bấy giờ, giúp
Người tìm ra được con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Đó là
bước chuyển lịch sử trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí minh: Từ chủ nghĩa yêu
nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trên cơ sở lập trường và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã triệt để
kế thừa, đổi mới và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt kết hợp với
tinh hoa văn hóa nhân loại từ phương Đông, phương Tây và áp dụng nó vào thực tiễn cách
mạng trong nước. Sự kết hợp này vừa có sự kế thừa lại vừa có sự chắt lọc, đổi mới, sáng tạo đã
tạo lên một hệ thống các quan điểm cơ bản, toàn diện về cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã trở thành người cộng sản trên cơ sở hiểu biết sâu sắc kho tàng nhân loại
từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Hồ Chí Minh không rập khuôn máy móc những tư tưởng cũ
bởi chúng có chứa những yếu tố duy tâm, lạc hậu nhưng Người cũng không phủ nhận sạch trơn
vì những tư tưởng ấy còn mang những yếu tố duy vật, những mặt tích cực đáng để chúng ta học
tập. Như vậy, Hồ Chí Minh đã tiếp thu một cách có kế thừa vá phát triển theo đúng tinh thần
của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Người chỉ rõ “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu
dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có
ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn có ưu
điểm là chính sách của nó phù hợp với điền kiện nước ta”. Tất cả bọn họ đều muốn mưu cầu lợi
ích, hạnh phúc cho người dân của họ, cho đất nước của họ và lớn hơn nữa là cho loài người,
cho xã hội. Đó cũng chính là những giấc mơ, mong muốn ấp ủ bấy lâu của Hồ Chí Minh. Vì
vậy, Người đã tiếp thu những mặt tích cực, điều hay của các tư tưởng; loại bỏ những quan điểm
lỗi thời, lạc hậu làm lên tư tưởng sáng tạo riêng của người.
Thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã giúp Hồ Chí Minh
tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước. Người nhận xét
“Cách mạng tư sản là cuộc cách mạng không triệt để, không tới nơi” vì thực tế nó không hề
giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức bóc lột, người dân lao động không có quyền tự do
bình đẳng mà vẫn bị giai cấp tư sản bóc lột nặng nề. Người cũng đã khẳng định “Thắng lợi của
cách mạng Việt Nam giành được là do nhiều nhân tố, nhưng chúng tôi giành được thắng lợi đó
trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được đó là chủ nghĩa Mác - Lênin”.
Quá trình tiếp nhận chủ nghĩa Mác–Lênin của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
Quá trình tiếp nhận chủ nghĩa Mác–Lênin của Hồ Chí Minh là những nhận thức ban đầu
(cảm tính) đi đến cảm nhận lý tính. Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh trở thành
người cộng sản với tầm vóc trí tuệ lớn.
Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa nửa phong
kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một khái niệm rõ ràng về đấu tranh giai cấp, đảng chính
trị, Chủ nghĩa Mác - Lênin... Hành trang của Người mang theo chính là lòng yêu nước, thương
dân, trước khi Người đến với Chủ nghĩa Mác như chính Người đã khẳng định: “Lúc đầu, chính
là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lê-nin, tin theo
Quốc tế thứ ba. Lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tình tự nhiên.
Tôi chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của nó. Tôi kính yêu Lê-nin vì Lê-nin là một người
yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình; trước đó tôi chưa hề đọc một quyển sách nào của
Lê-nin.” Điều đó cho thấy từ những nhận thức ban đầu về chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh
đã tiến dần tới những nhận thức Lý tính, trở lại nghiên cứu Chủ nghĩa Mác sâu sắc hơn, để tiếp
thu học thuyết của các ông một cách có chọn lọc, không rập khuôn máy móc.
Hồ Chí Minh không những đã vận dụng sáng tạo mà còn bổ sung, phát triển và làm
phong phú chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác
- Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận trực
tiếp, quyết định bản chất của khoa học và cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh
đã vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin ở nhiều vấn đề lý luận quan
trọng, nhất là lý luận về giai cấp - dân tộc và lý luận về chủ nghĩa xã hội.
Luận cương của V.I.Lê-nin đã chinh phục hoàn toàn Nguyễn Ái Quốc. Người đã thấy
được cái cần thiết cho dân tộc Việt Nam - con đường giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc đã
tiếp nhận những bài học sâu sắc từ V.I.Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười Nga. Bằng vốn kiến
thức lý luận và từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú của mình, Nguyễn Ái Quốc là
người đầu tiên cho rằng, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa không hoàn toàn
phụ thuộc vào cách mạng ở "chính quốc", nhân dân thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng
chính mình, cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước ở một nước thuộc địa. Những luận điểm
cách mạng của Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc và giai
cấp, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trong quá trình phát triển của cách mạng Việt
Nam dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Tiếp nhận những bài học sâu sắc từ V.I. Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười Nga, nhưng
Hồ Chí Minh không sao chép mà Người tiếp thu cái tinh thần của chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí
Minh coi chủ nghĩa Mác - Lê-nin là cái cẩm nang thần kỳ nhưng Người cũng luôn nhấn mạnh
rằng cần phải vận dụng sáng tạo "cẩm nang thần kỳ" đó.
Dưới ánh sáng chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh đúc kết được nhiều điều quan trọng, trong
đó đáng chú ý: Thứ nhất, khi phân chia các thứ cách mạng, nếu lấy tư tưởng làm tiêu chí thì có
ba loại: tư bản cách mạng, dân tộc cách mạng, giai cấp cách mạng; nếu lấy mục tiêu của từng
dân tộc và nhân loại thì có hai loại: dân tộc cách mạng và thế giới cách mạng. Thứ hai, lý luận
do phân tích kinh nghiệm cách mạng ở các nước và trong nước ta từ trước đến nay kết luận thành.
V.I.Lênin đưa ra quan điểm Đảng Cộng sản ra đời là sự kết hợp chủ nghĩa xã hội khoa
học và phong trào công nhân. Hồ Chí Minh khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự
kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Theo Người, “Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị”.
Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh so với chủ nghĩa Lênin không chỉ bổ sung yếu tố phong
trào yêu nước vào sự ra đời của Đảng Cộng sản mà còn cho thấy phong trào yêu nước có khả
năng kết hợp với phong trào công nhân, vì cả hai phong trào cùng một nhiệm vụ và mục tiêu
trước mắt là chống xâm lược, giành độc lập dân tộc.
Như vậy: Chủ nghĩa Mác – Lênin là nhân tố quyết định trực tiếp đến bản chất khoa học
và cách mạng của Tư tưởng Hồ Chí Minh. KẾT LUẬN
Qua những phân tích trên của bài thảo luận, chúng ta đã nhìn nhận rõ được vấn đề Tư
tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản
của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh còn là sản phẩm cấu
thành từ những điều kiện khách quan và chủ quan; giữa sự kết hợp của truyền thống dân tộc và
tinh hoa văn hóa nhân loại. Trong đó, chủ nghĩa Mác-Lenin chính là nhân tố đóng vai trò quyết
định bản chất và cách mạng khoa học Tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh xem chủ
nghĩa Mác – Lênin như một kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Từ
phương pháp tiếp cận đúng đắn, mạnh dạn, khoa học trong kế thừa và phát triển học thuyết
Mác – Lênin, đồng thời bám sát thực tiễn Việt Nam và thế giới, chủ tịch Hồ Chí Minh đã có
những luận điểm sáng tạo góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác – Lênin trong vấn đề
cách mạng giải phóng dân tộc,.. Tóm lại, Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản vô giá mà Người đã
để lại cho dân tộc Việt Nam, Người là tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực, cao đẹp, kết
tinh những giá trị truyền thống của dân tộc, của nhân loại và thời đại. Việc học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ rất quan trọng và thường xuyên, qua đó để giáo
dục, rèn luyện mình, xứng đáng là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Bộ giáo dục và đào tạo, NXB Chính trị Quốc gia và sự thật (2018)
[2] Slide bài giảng Tư tưởng Hồ Chí Minh của Trường Đại Học Thương Mại
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.12, tr 407
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.4, tr 3
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.12, tr.30
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.2, tr.289
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.6, tr. 356-357
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.15, tr. 589-590
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 t.15, tr.130 ,