Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG --- --- BÀI THẢO LUẬN
MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI: Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Giảng viên giảng dạy: Ngô Thị Huyền Trang Mã lớp học phần: 2346HCMI0111 Nhóm thảo luận: 2 Hà Nội, năm 2023
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 2 STT HỌ VÀ TÊN MÃ SINH VIÊN NHIỆM VỤ 1 1 Đoàn Thị Dung ( Nhóm trưởng) 21D180002
Word, mở đầu và kết luận 12 Đỗ Phương Thùy Dương 21D180215 2.1.1 và 2.1.3(P1) 13 Nguyễn Ánh Dương 21D1801 10 2.1.2.1(P1) 14 Nguyễn Thùy Dương 21D180163 Mục 1 (P2) 15 Phùng Hoàng Đạo 21D180111 Thuyết trình 16 Phạm Thành Độ 21D180217 Mục 3(P2) 17 Nguyễn Mạnh Đức 21D180112 Mục 2(P2) 18 Nguyễn Hương Giang 21D1801 13 2.1.2.2(P1) 19 Phạm Trà Giang 21D1801 14 Powerpoint 20 Nguyễn Thị Hà 21D180166 Mục 1 (P1)
PHẦN I: ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT ĐỀ TÀI PHỤ
Đề tài 2: Quan điểm Hồ Chí Minh về các phẩm chất đạo đức cách mạng. LỜI MỞ ĐẦU PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm, tầm quan trọng của đạo đức
2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
PHẦN II: QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CÁC PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG.
1. Quan điểm về vai trò và sức mạnh của đạo đức
1.1. Đạo đức là gốc, nền tảng tinh thần của xã hội, của người cách mạng
1.2. Đạo đức là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của CNXH
2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cách mạng
2.1. Trung với nước, hiếu với dân
2.2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
2.3. Thương yêu con người, sống có tình nghĩa
2.4. Tinh thần quốc tế trong sáng
3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng. 3.1. Nói đi đôi với làm
3.2. Nêu gương cái tốt, đấu tranh cái xấu 3.3. Rèn luyện bền bỉ
4. Mối quan hệ giữa đạo đức cách mạng và chủ nghĩa cá nhân trong tư tưởng Hồ Chí Minh
5. Một số lời dạy của Bác Hồ về đạo đức, lối sống
PHẦN II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CÁC PHẨM
CHẤT ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG.
1. Thực trạng về đạo đức và lối sống trong xã hội hiện nay.
2. Tầm quan trọng của việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
3. Nội dung học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 4. Liên hệ bản thân. KẾT LUẬN Tài liệu tham khảo
PHẦN II: TIỂU LUẬN VỀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU...................................................................................................8
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG.........................10
HỒ CHÍ MINH...............................................................................................10 1.
Sơ lược về bối cảnh hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh....................10
1.1. Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX............................10
1.2. Thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX...............................11 2.
Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh...............................12
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa giá trị truyền thống tốt đẹp của dân
tộc Việt Nam.......................................................................................................12
2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh được đúc kết bởi tinh hoa văn hóa nhân loại 13
2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa
Mác – Lênin.......................................................................................................29
PHẦN II: GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI VIỆT NAM
VÀ THẾ GIỚI........................................................................................................31 1.
Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng thế giới.................31
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần mở ra cho các dân tộc thuộc địa
con đường giải phóng dân tộc gắn liền với sự tiến bộ xã hội............................31
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh và độc
lập dân tộc, dân chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển trên thế giới..................32 2.
Giá trị tư tưởng hồ chí minh đối với cách mạng Việt Nam................33
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh đưa cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam
đến thắng lợi và bắt đầu xây dựng một xã hội mới trên đất nước ta.................33
2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho cách
mạng Việt Nam...................................................................................................35 3.
Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh đối với con đường xây dựng Xã hội
Chủ nghĩa của Việt Nam.....................................................................................37
3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 37
3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam..............................................................................38
KẾT LUẬN......................................................................................................40
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................40 LỜI NÓI ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là “Anh hùng giải phóng dân tộc Việt
Nam, Danh nhân văn hóa thế giới” ( UNESCO – 1987), là “một trong một trăm
nhân vật ảnh hưởng nhất thế kỷ XX” (TIME – 2005). Người là người con ưu tú
nhất của dân tộc Việt Nam. Mỗi thắng lợi và mỗi bước đi lên của cách mạng Việt
Nam đều gắn liền với công lao to lớn của Người, chính Người đã làm rạng rỡ dân
tộc ta, nhân dân ta và non sông nước ta.
Tuy nay đã đi xa nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc và nhân
loại ta một di sản đồ sộ, vô cùng quý giá, một hệ tư tưởng có giá trị về nhiều mặt.
Trong đó phải kể đến những cơ sở lý luận hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển
sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát
huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại,
từ đó giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Với một hệ tư
tưởng nhân văn mang ý nghĩa quan trọng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đấu
tranh giải phóng Cách mạng dân tộc vì vậy chúng ta cần đề cao, biết ơn tư tưởng
Hồ Chí Minh, lấy đó làm cơ sở để hình thành nên các quan điểm tư tưởng khác.
Việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng đã
được tiến hành từ nhiều năm nay với sự góp mặt của các nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà lý luận làm sáng rõ các khái niệm,
các nội dung cụ thể của tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có nội dung về cơ sở lý
luận hình thành lên tư tưởng. Điều đó giúp ta hiểu sâu sắc về nguồn gốc, năm được
nội dung tư tưởng quan trọng của người.
Do thời gian và trình độ hạn chế nên bài luận không tránh được các thiếu sót.
Chúng em rất mong được sự giúp đỡ và góp ý từ cô để bài thảo luận được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cám ơn!
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1. Sơ lược về bối cảnh hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1. Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Giữa thế kỷ XIX (1858), Việt Nam từ một quốc gia phong kiến độc lập đã bị
chủ nghĩa tư bản Pháp xâm lược, trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Vì
vậy, từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX, các phong trào đấu tranh yêu nước chống
Pháp xâm lược liên tục nổ ra. Ở miền Nam, có các cuộc khởi nghĩa của Trương
Định, Nguyễn Trung Trực. Ở miền Trung, có các cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn,
Đặng Như Mai, của Phan Đình Phùng. Ở miền Bắc, có các cuộc khởi nghĩa của
Nguyễn Thiện Thuật, Phạm Bành và Đinh Công Tráng, Nguyễn Quang Bích,
Hoàng Hoa Thám, v.v...Các cuộc khởi nghĩa, trong đó có những cuộc dưới ngọn cờ
"Cần Vương" tức giúp vua cứu nước, tuy đều rất anh dũng, nhưng cuối cùng đều thất bại.
Sau khi đã hoàn thành căn bản việc bình định Việt Nam về mặt quân sự, thực
dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa Việt Nam một cách mạnh mẽ và từng
bước biến nước ta từ một nước phong kiến thành nước thuộc địa và phong kiến dẫn
tới có sự biến đổi về cơ cấu giai cấp, tầng lớp trong xã hội: giai cấp địa chủ được
bổ sung, củng cố. Bên cạnh tầng lớp thợ thủ công, tiểu thương, trong xã hội Việt
Nam xuất hiện những giai tầng mới. Đó là giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và
tầng lớp tiểu tư sản ở thành thị. Từ đó, liền với mâu thuẫn cơ bản trong xã hội
phong kiến là nông dân với địa chủ phong kiến, xuất hiện các mâu thuẫn mới: Mâu
thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam với giai cấp tư sản, mâu thuẫn giữa toàn
thể nhân dân Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc Pháp.
Cùng với những biến đổi trên, đến đầu thế kỷ XX, trước ảnh hưởng của các
cuộc vận động cải cách, của cách mạng dân chủ tư sản ở Trung Quốc và tấm gương
Duy Tân Nhật Bản, ở Việt Nam xuất hiện các phong trào yêu nước theo khuynh
hướng dân chủ tư sản với sự dẫn dắt của các sĩ phu yêu nước có tinh thần cải cách
tuy nhiên đều thất bại. Nguyên nhân sâu xa là giai cấp tư sản Việt Nam còn non
yếu. Nguyên nhân trực tiếp là các tổ chức và người lãnh đạo của các phong trào đó
chưa có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn. Tinh thần yêu nước vẫn
sục sôi trong lòng nhân dân. Song, cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước diễn ra sâu sắc.
Trong bối cảnh đó, sự ra đời giai cấp mới là giai cấp công nhân và phong trào
đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam đã làm cho cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc ở Việt Nam xuất hiện dấu hiệu mới của một thời đại mới sắp ra đời. Chính
Hồ Chí Minh là một người đã dày công truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào
phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận chính
trị, tư tưởng và tổ chức, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chấm dứt sự khủng
hoảng về đường lối cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước hình thành cơ bản tư
tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam.
1.2. Thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản trên thế giới đã phát
triển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
Sang đầu thế kỷ XX, những mâu thuẫn này ngày càng phát triển gay gắt.
Giành độc lập cho các dân tộc thuộc địa không chỉ là đòi hỏi của riêng họ, mà còn
là mong muốn chung của giai cấp vô sản quốc tế; tình hình đó đã thúc đẩy phong
trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển. Cách mạng Tháng Mười Nga thành
công là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác - Lênin ở một nước lớn rộng một
phần sáu thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga đã đánh đổ giai cấp tư sản và giai
cấp địa chủ phong kiến, lập nên một xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Ngày 2-
3-1919, Quốc tế Cộng sản ra đời ở Mátxcơva trở thành Bộ tham mưu, lãnh đạo
phong trào cách mạng thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, sự ra đời
của nhà nước Xô Viết, Quốc tế Cộng sản và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô cùng với sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản, công nhân và phong
trào giải phóng dân tộc trên thế giới ảnh hưởng sâu sắc tới Hồ Chí Minh trên hành
trình đi ra thế giới tìm mục tiêu và con đường cứu nước.
Từ những bối cảnh quốc tế và trong nước nêu trên, Hồ Chí Minh ra đi tìm
đường cứu nước và từng bước hình thành tư tưởng của mình, đáp ứng đòi hỏi bức
thiết của dân tộc và thời đại.
2. Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Chủ nghĩa yêu nước là giá trị xuyên suốt trong những truyền thống tốt đẹp của
dân tộc Việt Nam. Đó là động lực, sức mạnh giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại
vượt qua mọi khó khăn trong dựng nước và giữ nước mà phát triển. Chính chủ
nghĩa yêu nước là nền tảng tư tưởng, điểm xuất phát và động lực thúc đẩy Hồ Chí
Minh ra đi tìm đường cứu nước, và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường cứu nước, cứu dân.
Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát triển tinh thần đấu tranh anh dũng, bất
khuất vì độc lập, tự do của Tổ quốc, nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn
vẹn lãnh thổ của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí
Minh đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do
và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam
quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự
do và độc lập ấy”. Không có gì quý hơn độc lập tự do - chân lý lớn của thời đại
được Hồ Chí Minh khẳng định, đồng thời cũng chính là một điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong lãnh đạo nhân dân Việt Nam xây dựng và bảo vệ đất nước, Hồ Chí Minh
hết sức chú trọng kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam là yêu nước gắn liền với yêu dân, có tinh thần đoàn kết, dân chủ, nhân ái,
khoan dung trong cộng đồng và hòa hiếu với các dân tộc lân bằng; tinh thần cần cù,
dũng cảm, sáng tạo, lạc quan, vì nghĩa, thương người của dân tộc Việt Nam. Trong
tư tưởng Hồ Chí Minh, con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thành
công của cách mạng; dân là gốc của nước; nước lấy dân làm gốc; gốc có vững cây
mới bền; xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân; đoàn kết dân tộc gắn liền với đoàn
kết quốc tế là một nguyên tắc chiến lược quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong truyền thống dân tộc Việt Nam thường trực một niềm tự hào về lịch sử,
trân trọng nền văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán và những giá trị tốt đẹp khác
của dân tộc. Đó chính là một cơ sở hình thành nên tư tưởng, phẩm chất của nhà văn
hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh với chủ trương văn hóa là mục tiêu, động lực của cách
mạng; cần giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại, xây dựng nền văn hoá mới của Việt Nam. Chính Hồ Chí Minh là một
biểu tượng cao đẹp của sự tích hợp tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây.
2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh được đúc kết bởi tinh hoa văn hóa nhân loại
2.2.1. Tinh hoa văn hóa phương Đông a) Nho Giáo
Sinh ra trong một gia đình Nho giáo, được đào tạo về Nho giáo từ rất sớm, nên
ảnh hưởng của Nho giáo đối với Hồ Chí Minh là lẽ đương nhiên. Hồ Chí Minh
cũng sớm chịu ảnh hưởng của Nho giáo - nền học vấn đầu tiên mà Người tiếp nhận.
Trong gia đình nhà Nho Nguyễn Sinh Sắc, Hồ Chí Minh đã được học những lễ
giáo, phép tắc của Nho giáo từ nhỏ. Ngay cả quê hương Nghệ An của Người cũng
là mảnh đất sản sinh ra nhiều bậc hiền tài, trạng nguyên của các triều đại phong
kiến Việt Nam. Do đó, Hồ Chí Minh có một quá trình tiếp thu Nho giáo rất căn bản
và có hệ thống: Từ tiếp thu di sản Nho học từ người cha, đến học tập các thầy đồ
nổi tiếng một thời như Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý, Trần Nhân, …; từ
việc học tập qua trao đổi với các nhà nho thế hệ cha chú như Phan Bội Châu, Phan
Chu Trinh, đến quá trình tự học lâu dài, bền bỉ… Được biết thời niên thiếu, cậu bé
Sinh Cung và anh trai Sinh Khiêm luôn là những học trò ưu tú trong lớp dạy chữ
Nôm của các ông đồ nổi tiếng quanh vùng.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh dung nạp tư tưởng Nho giáo trong bối cảnh hết sức
đặc biệt, khi mà bản thân hệ thống tư tưởng Nho giáo bất lực trước việc cung cấp
công cụ để nhận thức và luận giải hiện thực xã hội Việt Nam. Khi mà hệ thống triều
đình phong kiến dựa trên giáo lý Khổng tử đã trở nên suy thoái, bạc nhược và bất
lực trước sự xâm lược của thực dân phương Tây, xâm nhập của văn hóa phương
Tây. Các phong trào chính trị -xã hội chịu ảnh hưởng của Nho giáo không thể giải
quyết những vấn đề mà thực tiễn lịch sử của dân tộc đặt ra; hệ thống giáo dục và
khoa cử Nho học thì bị giải tán. Hồ Chí Minh chứng kiến hàng loạt các cuộc nổi
dậy đấu tranh lãnh đạo bởi các nhà Nho yêu nước, trong đó không ít người có quan
hệ thân thiết với cha mình, đều đón nhận thất bại và bị thực dân phương Tây đàn áp
trong bể máu. Ngay cả thân phụ của Người, cụ Nguyễn Sinh Sắc cũng bị giáng
chức quan tri huyện một mặt vì có qua lại với những người trong cuộc khởi nghĩa.
Hồ Chí Minh nhận ra lý luận Nho giáo dạy con người ta nhân, nghĩa, lễ, trí, tín,
nhưng cũng thấy rằng chỉ dựa vào đó thì không tìm ra được tự do cho giang sơn tổ
quốc, hay đơn giản là miếng cơm manh áo cho người dân Việt Nam lúc bấy giờ.
Nho giáo đối với Hồ Chí Minh không phải là ảnh hưởng tự phát mà là ảnh
hưởng có tính tự giác. Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã chủ động kế thừa từ lập
trường Mácxít những giá trị truyền thống trong đó có Nho giáo. Năm 1923, khi trả
lời phỏng vấn của nhà báo Nga Ôxíp Manđenxtam, Hồ Chí Minh nói: “Tôi sinh ra
trong một gia đình nhà nho An Nam... Thanh niên trong những gia đình ấy thường
học Khổng giáo, đồng chí chắc biết Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là một
thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử. Và trên cơ sở đó người ta
đưa ra khái niệm về “thế giới đại đồng”. Những nhà tư tưởng sáng lập ra Nho giáo,
ở thời đại của họ, đều xứng đáng là những vĩ nhân, những nhà lý luận cách mạng.
Đó là điều mà Hồ Chí Minh đã nhận ra, là cơ sở cho tư tưởng về tôn giáo cũng như
cách mạng sau này của Người.
Hồ Chí Minh rất đề cao và tâm đắc ý nghĩa nhân loại phổ biến của xã hội đại
đồng, một xã hội của con người, do con người, vì con người. Nhưng Trong tư
tưởng Hồ Chí Minh, xã hội đại đồng của Nho giáo chỉ có , một xã hội lí tưởng
nhưng có căn cứ hiện thực trong việc giải quyết những mâu thuẫn của thời đại hiện
nay. Vì vậy, Người khẳng định rằng, “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới
khỏi ách nô lệ”. Hồ Chí Minh chú ý kế thừa và đổi mới tư tưởng dùng nhân tri, đức
tri để quản lý xã hội.
Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng đắn vai trò của Nho giáo và người sáng lập ra
nó là Khổng Tử và đã đặc biệt khai thác những mặt tích cực của tư tưởng Nho giáo.
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là những phẩm chất đạo đức gắn bó chặt chẽ
với phẩm chất trung với nước, hiếu với dân, đòi hỏi mỗi người phải lấy bản thân
mình làm đối tượng điều chỉnh, diễn ra hàng ngày, hàng giờ, trong công tác, sinh
hoạt. Ngày 3-9 - 1945, một ngày sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khai
sinh, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh nhiệm vụ thứ tư của nhà nước là: “Chúng ta phải
làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động,
một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Tôi đề nghị mở một chiến dịch
giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính”. Hồ
Chí Minh rất chú trọng đến bồi dưỡng, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ,
đảng viên. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng xuất phát từ lòng
thương yêu con người, đồng bào, đồng chí, thương nhân loại lầm than dưới ách áp
bức, bóc lột. Từ đó, Người tiếp thu các giá trị nhân văn sâu sắc của đạo đức phương
Đông, phương Tây. Nhưng với phương pháp tư duy biện chứng và lập trường duy
vật triệt để, Hồ Chí Minh đã xây dựng hệ thống quan điểm về đạo đức con người
cách mạng Việt Nam một cách độc lập, trình độ lý luận và khả năng áp dụng và
thực tiễn cao. Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh thuộc hệ thống tư tưởng đạo đức
cộng sản, là sự thống nhất nhuần nhuyễn giữa tư tưởng triết học, chính trị và đạo
đức mang giá trị khoa học, nhân văn và thời đại.
Tuy nhiên, hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ những mặt bất cập, hạn chế của
Nho giáo. Đó là trong Nho giáo có những yếu tố duy tâm, lạc hậu, phản động như
tư tưởng đẳng cấp, khinh lao động chân tay, khinh phụ nữ, khinh thường thực
nghiệm, doanh lợi…Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng thấy được những mặt tích cực
của nó và khuyên chúng ta “nên học”. Theo Người, mặt tích cực của Nho giáo là nó
đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học với châm ngôn “Học không
biết chán, dạy không biết mỏi”. Về điểm này, Nho giáo hơn hẳn các học thuyết cổ
đại, bởi vì nhiều học thuyết cổ đại chủ trương ngu dân để dễ cai trị. Còn Hồ Chí
Minh, Người đã khai thác Nho giáo, lựa chọn những yếu tố tich cực, phù hợp để
phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng.
Ngày nay, Nho giáo tuy không còn giữ địa vị của hệ tư tưởng thống trị nhưng
những dấu ấn và ảnh hưởng của nó chưa phải đã hết, nó vẫn bám rễ và ảnh hưởng
mang tính hai mặt đến xã hội và con người Việt Nam ở những mức độ nhất định.
Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
việc khai thác những yếu tố hợp lý phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực của tư tưởng trị quốc Nho giáo là việc làm có ý nghĩa to lớn, nhưng
phải có phương hướng đúng đắn, những giải pháp phù hợp. Về phương hướng cần
phải nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
nhà nước pháp quyền và những nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa ở nước ta; gắn kế thừa, lọc bỏ với đổi mới, phát triển những giá trị của tư
tưởng trị quốc Nho giáo trong quá trình xây dựng nhà ước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
b) Chủ nghĩa Tam dân – Tôn Trung Sơn
Tôn Trung Sơn (1866-1925), nhà dân chủ cách mạng Trung Hoa và tư tưởng
của ông đã có nhiều tác động tới Hồ Chí Minh. Mặc dù cuộc Cách mạng Tân Hợi
do Tôn Trung Sơn lãnh đạo nổ ra vào cuối năm 1911, phải đến đầu những năm 20
mới có một ít tờ báo xuất bản ở Trung Quốc lọt đến Paris theo chân những người
du học và sinh sống ở đây... Có lẽ nhờ đó mà Nguyễn Ái Quốc biết được những gì
đang diễn ra trên đất Trung Quốc đầu thập kỷ 20 của thế kỷ XX, đặc biệt là hoạt
động của Chính phủ cách mạng Quảng Châu và những tư tưởng cách mạng của
Tôn Trung Sơn. Điều đó có nghĩa là Hồ Chí Minh biết đến cách mạng của Tôn
Trung Sơn sau khi đã lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Dấu vết sớm nhất về
những tư tưởng đẹp đẽ của Tôn Trung Sơn trong di sản của Hồ Chí Minh có lẽ là
bài viết đầu năm 1921 khi Người còn hoạt động ở Paris. Trong bài viết đó chứa
đựng thiện cảm to lớn của Người đối với cuộc cách mạng dân tộc do Tôn Trung
Sơn lãnh đạo và đặc biệt trong đó chứa đựng sự dự báo về khả năng phát triển của
cuộc cách mạng này. Hồ Chí Minh dần đi sâu vào tìm hiểu cuộc cách mạng đang
diễn ra tại Trung Quốc khi đó. Những nét tương đồng trong văn hóa và bối cảnh
lịch sử giữa Việt Nam và nước láng giềng phía bắc đã khiến Người nhận thấy nhiều
giá trị trong Chủ nghĩa Tam Dân đối với cuộc cách mạng giải phóng ở Việt Nam.
Vốn là một nhà hoạt động cách mạng đề cao thực tiễn, Hồ Chí Minh không ngần
ngại đã đến tận Quảng Châu để có điều kiện tìm hiểu sâu hơn về Chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn.
Chủ nghĩa Tam dân (với 3 nội dung chủ yếu là dân tộc, dân quyền, dân sinh)
đã thể hiện khá hoàn chỉnh tư tưởng dân chủ tư sản của Trung Quốc thời kỳ cận đại
Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Tam dân, Trung Quốc Đồng minh hội -(chính
đảng của giai cấp tư sản Trung Quốc) ra đời và lãnh đạo nhân dân Trung Quốc tiến
hành thành công cuộc cách mạng Tân Hợi. Cuộc cách mạng đã lật đổ nền thống trị
gần 300 năm của vương triều Mãn Thanh, kết thúc chế độ chuyên chế phong kiến
hơn 2000 năm, lập nên nước Trung Hoa dân quốc.
Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và cuộc cách mạng vận động dưới sự
chỉ đạo của hệ tư tưởng này -cách mạng Tân Hợi -ngay lập tức có những ảnh
hưởng trực tiếp, nhanh chóng và sâu sắc đến phong trào cách mạng Việt Nam thời
kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong số đó, Hồ Chí Minh là người chịu ảnh
hưởng đậm nét hơn cả.
Trước hết phải kể đến lòng tôn kính, sự khâm phục, trân trọng của Hồ Chí
Minh đối với Tôn Trung Sơn. Người đã có những đánh giá đúng đắn về Tôn Trung
Sơn, về Quốc dân đảng cách mạng (tổ chức do Tôn Trung Sơn sáng lập) thời kỳ
đầu ở Quảng Châu và về chủ nghĩa Tam dân mới của ông.
Ngày 11/11/1924, Người đến Quảng Châu sau khi Chủ nghĩa tam dân của Tôn
Trung Sơn đã chuyển sang Chủ nghĩa tam dân mới với nội dung dân tộc, dân
quyền, dân sinh đã được mở rộng theo chiều hướng có lợi cho cách mạng vô sản,
nên Người rất quan tâm tìm hiểu tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn. Ba
nguyên tắc: “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” được Nguyễn
Ái Quốc sáng tạo, bổ sung để phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nguyễn
Ái Quốc và những người yêu nước đang hoạt động ở Quảng Châu đã tổ chức huấn
luyện được hàng trăm cán bộ cách mạng và chuẩn bị tiến tới thành lập một chính
đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Tuy nhiên cuộc đảo chính ở Thượng Hải và
Quảng Châu (1927) của Tưởng Giới Thạch khiến Nguyễn Ái Quốc bị lọt vào tầm
ngắm của bọn phản cách mạng, nên Người phải bí mật trở lại đất nước Liên Xô.
Một chi tiết cần chú ý là, cũng như đối với Lênin, Hồ Chí Minh chưa có may
mắn được gặp gỡ và tiếp xúc trực tiếp với Tôn Trung Sơn. Năm 1924, khi Hồ Chí
Minh từ Mátxcơva đến Quảng Châu thì cũng thời gian đó Tôn Trung Sơn rời
Quảng Châu đến Thượng Hải và sau đó là sang Nhật Bản. Sau ít ngày lưu lại
Tôkyô, tháng 12 năm 1924 Tôn Trung Sơn đi tiếp đến Bắc Kinh và qua đời ở đó
( tháng 3 năm 1925). Trong khi Hồ Chí Minh ở lại Quảng Châu đến tận tháng 4
năm 1927. Như vậy, Hồ Chí Minh chỉ nghiên cứu chủ nghĩa Tam dân chủ yếu
thông qua tiếp xúc với sách vở, tài liệu và học trò của Tôn Trung Sơn. Điều này
càng cho thấy rõ hơn trí tuệ vĩ đại của Hồ Chí Minh trong việc tiếp thu chủ nghĩa
Mác -Lênin và tinh hoa văn hoá nhân loại (cụ thể là chủ nghĩa Tam dân).
Giai đoạn 1927-1945, Hồ Chí Minh tiếp tục tìm hiểu và vận dụng sáng tạo tinh
hoa Chủ nghĩa Tam dân mới vào thực tiễn giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Sau năm
1945, khi nước Việt Nam đã thực hiện thành công cách mạng tháng Tám và
trong quá trình bảo vệ cách mạng, Hồ Chí Minh viết: “Chính phủ cố gắng làm theo
đúng ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc”. Ngày 12/10/1945, Hồ Chí
Minh ký sắc lệnh về việc lấy Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì sau đó
không lâu chúng ta thấy dưới Quốc hiệu ấy lại xuất hiện ba cặp tiêu ngữ Độc lập -
Tự do -Hạnh phúc. Khái niệm “Độc lập -Tự do -Hạnh phúc” đã được Hồ Chí Minh
rút ra từ chủ nghĩa Tam dân và tư tưởng “Tự do -Bình đẳng -Bác ái” của cách mạng
tư sản Pháp 1789 và nâng lên một trình độ mới, mang tính giai cấp, tính nhân dân,
tính dân tộc và tính cách mạng triệt để của một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác -Lênin làm nền tảng tư
tưởng và kim chỉ nam cho hành động.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh không tiếp thu nguyên si,
máy móc mà đã vượt hẳn lên trên những nhà yêu nước Việt Nam khác. Người đã
tiếp thu một cách có chọn lọc và sáng tạo những mặt tiến bộ của chủ nghĩa Tam dân
và áp dụng thành công chúng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, coi trọng vấn đề
độc lập dân tộc, nhưng tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể mà nhấn mạnh và đặt nó lên
vị trí hàng đầu. Độc lập dân tộc gắn liền với tự do hạnh phúc của nhân dân. Đó là
điểm sáng tạo vĩ đại của Hồ Chí Minh.
Không chỉ “Việt Nam hoá” ba chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn thành
dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc, mà Hồ Chí Minh còn kết hợp
một cách tài tình sách lược hai giai đoạn cách mạng của Lênin với chủ nghĩa Tam
dân để thảo ra bản Chính cương vắn tắt cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh
đó được trình và thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bên cạnh việc tiếp thu sáng tạo những nội dung của chủ nghĩa Tam dân, Hồ
Chí Minh còn chú trọng nghiên cứu các phương pháp cách mạng của Tôn Trung
Sơn, đặc biệt là phương pháp vận dụng đạo đức Nho giáo để tuyên truyền và giáo
dục tinh thần cách mạng cho quần chúng. Học tập Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh đã
lý giải tư tưởng Nho giáo “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” một cách giản dị và thiết thực.
Tôn Trung Sơn lần đầu tiên nêu lên quan điểm: trung với quân có thể không
cần nữa, không trung với quân, mà trung với nước, trung với 400 triệu nhân dân
Trung Quốc. Hồ Chí Minh đã vận dụng sự suy nghĩ cách mạng đó của Tôn Trung
Sơn thành những lời nhắc nhở, giáo huấn mang tính sống còn cho cán bộ: “cán bộ
là đầy tớ của nhân dân”, cán bộ phải “trung với nước, hiếu với dân”, phải “cần,
kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, “cán bộ phải khổ trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”...
Trong “Lời căn dặn học viên trong lễ khai trường” của Trường võ bị Trần
Quốc Tuấn ở Sơn Tây (nay là trường Đại học Trần Quốc Tuấn) ngày 26 tháng 5
năm 1946, Hồ Chí Minh đã nói: “Anh em có nhiều giai cấp, tư tưởng khác nhau,
trước hết phải đoàn kết, đoàn kết thật thà. Phải có kỷ luật cả về tinh thần lẫn vật
chất. Phải noi gương anh dũng của anh em binh sĩ hồi khởi nghĩa để làm gương cho
các lớp về sau. Các anh em cần làm được như lời Tôn Trung Sơn đã nói: “Những
người thanh niên tốt muốn làm việc to chứ không muốn làm quan lớn”. Mong rằng
anh em ở đây, bao giờ cũng phải làm theo hai khẩu hiệu mà nó là cái mục đích của
anh em: Trung với nước, hiếu với dân”.
Tìm hiểu ảnh hưởng của Tôn Trung Sơn đối với cách mạng Việt Nam, đặc biệt
đối với Hồ Chí Minh, chúng ta trân trọng ghi nhận những đóng góp to lớn của Tôn
Trung Sơn về lý luận và thực tiễn cho cách mạng Việt Nam. Chính những chủ
trương, đường lối cách mạng dân chủ trong chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn
đã có tác dụng thúc đẩy và mang lại cho phong trào cách mạng Việt Nam một màu
sắc mới, làm phong phú thêm những trang sử đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt
Nam những năm đầu thế kỷ XX.
Nhưng cũng cần lưu ý rằng, Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Tam Dân để làm
cơ sở vững chắc tiến lên CNXH, chứ không như Tôn Trung Sơn thực hiện Chủ
nghĩa tam dân để thiết lập xã hội có tính chất tư bản. Mặc dù nhận thấy “Chủ nghĩa
Tôn Dật Tiên là thích hợp nhất với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam” nhưng trước
sau, Người đều khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ
nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, ngay cả khi trở thành chiến sĩ cộng sản
quốc tế, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục nghiên cứu về tư tưởng, văn hóa phương Đông.
Trong đó, Người đặc biệt quan tâm những trào lưu tư tưởng mới, mà điển hình là
chủ nghĩa Găngđi , Nêru ở Ấn Độ và chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên ở Trung Hoa. Hồ
Chí Minh ca ngợi tinh thần yêu nước và đấu tranh kiên cường của Găngđi, Nêru,
nhưng cũng chỉ ra rằng cuộc đấu tranh của các ông đi theo con đường cải lương,
dựa vào hình thức tôn giáo và dân tộc thì khó có thể giành thắng lợi hoàn toàn. Chủ
nghĩa của Tôn Dật Tiên có nhiều điều tiến bộ, tiêu biểu là chính sách “tam dân” với
các mục tiêu “dân tộc: Độc lập”, “dân quyền: Tự do”, “dân sinh: Hạnh phúc” và
chủ trương “liên Nga, thân cộng, phù trợ công nông”. Hồ Chí Minh đã khéo vận
dụng những điểm phù hợp vào cách mạng Việt Nam và ca ngợi: Tên tuổi của Tôn
Dật Tiên, người đã một đời đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc để giải phóng nhân
dân Trung Quốc, thật vô cùng cao quý đối với giai cấp vô sản thế giới, đối với các
dân tộc bị áp bức ở phương Đông đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.
2.2.2. Tinh hoa văn hoá phương Tây
Ngay từ khi còn học ở Trường tiểu học Pháp-bản xứ ở thành phố Vinh (1905)
Hồ Chí Minh đã quan tâm tới khẩu hiệu nổi tiếng của Đại Cách mạng Pháp năm