








Preview text:
lOMoAR cPSD| 58097008 Đề số 1.
1. Cương lĩnh chính trị là gì?
Theo V.I. Lênin: “Cương lĩnh là bản tuyên ngôn vắn tắt, rõ ràng và chính xác
nói lên tất cả những điều mà Đảng muốn đạt được và vì mục đích gì mà Đảng đấu
tranh”. Theo đó, cương lĩnh là văn bản tóm tắt chỉ ra những mục tiêu, đường lối,
nhiệm vụ và phương pháp hoạt động mà Đảng cộng sản cần thực hiện để đạt được
mục đích của cách mạng trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Cương lĩnh chính trị
là cơ sở thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng, là ngọn cờ tập hợp, cổ vũ các
lực lượng xã hội. Đây không phải là sản phẩm thuần túy từ tư duy của Đảng Cộng
sản mà phải được đề ra từ thực tiễn cuộc sống và gắn với thực tiễn. Vì vậy, cương
lĩnh đúng đắn, khoa học sẽ định hướng cho phong trào đấu tranh của giai cấp công
nhân; xây dựng niềm tin, động viên cổ vũ giai cấp công nhân trước những thách
thức, khó khăn và làm tăng bản lĩnh của người cộng sản. Bên cạnh đó, cương lĩnh
chính trị còn là cơ sở để tuyên truyền, vận động quần chúng ưu tú học tập và đi theo
con đường cách mạng của Đảng.
Ở Việt Nam, cương lĩnh chính trị được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng
đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa
MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là văn kiện cơ bản trình bày mục tiêu,
đường lối, nhiệm vụ và phương pháp Đảng Cộng sản Việt Nam hướng tới để thực
hiện đúng đắn những mục tiêu cách mạng đề ra. Cương lĩnh chính trị được coi là văn
bản có giá trị cao nhất trong hệ thống các văn bản của Đảng Cộng sản Việt Nam ban
hành (trên cả Điều lệ Đảng). Kể từ khi được thành lập đến nay, dưới những tên gọi
và hình thức khác nhau, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành 5 văn bản là: Cương
lĩnh chính trị đầu tiên (Tháng 2/1930); Luận cương chính trị của Đảng
Cộng sản Ðông Dương (Tháng 10/1930); Chánh cương của Đảng Lao động Việt
Nam (Tháng 2/1951); Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (1991); Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). 5 cương lĩnh hoặc văn bản mang tính
cương lĩnh đã trình bày những quan điểm cơ bản về mục đích, đường lối, nhiệm vụ,
cách thức hoạt động của Đảng ta từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đến
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội để đáp ứng với yêu cầu về thực tiễn của đất nước
ta trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.
2. Vai trò của Cương lĩnh chính trị đối với một đảng chính trị lOMoAR cPSD| 58097008
Trong xã hội tư bản, mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt, đấu tranh giai cấp mang
tính tự phát với mục tiêu kinh tế sẽ phát triển dần đến đấu tranh mang tính tự giác –
đấu tranh chính trị, liên quan đến vấn đề giành và giữ chính quyền. Đấu tranh chính
trị đòi hỏi một giai cấp phải có mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ chính trị rõ ràng, tổ
chức chặt chẽ, tập hợp, huy động được đông đảo lực lượng, trong đó có lực lượng
của giai cấp và các lực lượng liên minh khác. Từ đó, sự ra đời của đảng chính trị để
tiên phong, dẫn đường cho giai cấp giành chính quyền là tất yếu. Và rõ ràng, Mỗi
một chính đảng hoặc tổ chức chính trị thường cần phải có cương lĩnh hoặc những
văn bản có tính cương lĩnh để làm công cụ thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, để
có chính danh, định hướng hành động cho các thành viên của mình và vận động, kêu gọi quần chúng.
Trải qua 94 năm hình thành và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng
minh được vai trò to lớn của mình trong việc giải quyết các mâu thuẫn về dân tộc và
mâu thuẫn về giai cấp. Tháng 3 năm 1930, sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
đã đánh dấu bước ngoặt vĩ đại đối với cách mạng Việt Nam, chấm dứt sự khủng
hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam. Kể từ
đó, với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, Đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam vượt qua
bao khó khăn, thử thách và từng bước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chính
nhờ có Cương lĩnh chính trị nên ngay từ khi được thành lập, Đảng đã nhanh chóng
trở thành lực lượng lãnh đạo, tập hợp được toàn thể tầng lớp trong đất nước, đoàn
kết đi theo con đường cách mạng mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân đã
lựa chọn, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Cương lĩnh ấy rất phù
hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nông dân. Vì vậy, Đảng
đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình.
Còn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản, hoặc bị cô lập. Do đó,
quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân không ngừng củng cố và
tăng cường”. Có thể nói, cương lĩnh chính trị là một phần quan trọng không thể thiếu
trên con đường giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội của một đảng chính trị. 2.1.
Cương lĩnh chính trị là ngọn cờ tập hợp, cổ vũ các lực
lượng xã hội gia nhập đảng chính trị
Cương lĩnh được xem là bản tuyên ngôn chính trị, là văn kiện tuyên bố về tôn
chỉ, mục đích của đảng chính trị; về mục tiêu, lý tưởng mà đảng phấn đấu để đạt
được trước nhân dân, quần chúng, thế giới,… Thông qua bản tuyên ngôn này, chính lOMoAR cPSD| 58097008
đảng có thể tuyên truyền, vận động, tập hợp lực lượng quần chúng nhân dân ủng hộ
và gia nhập đảng; nhận được sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế. Đối với Đảng
Cộng sản Việt Nam, cương lĩnh chính trị đóng vai trò là cơ sở thống nhất ý chí và
hành động của toàn Đảng, là ngọn cờ tập hợp, cổ vũ các lực lượng xã hội phấn đấu
cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng. 2.2.
Cương lĩnh chính trị là ngọn đèn định hướng đường lối, là
kim chỉ nam hành động cho đảng chính trị
Cương lĩnh là văn bản quan trọng nhất, mang tính “pháp lý” cao nhất đối với
hoạt động của đảng. Thông qua cương lĩnh chính trị làm cơ sở lý luận cho phương
hướng hành động, đảng vạch ra đường lối, mục tiêu phát triển rõ ràng cho hoạt động
trong các phương diện, lĩnh vực trong đời sống xã hội như: chính trị, kinh tế, văn
hóa – xã hội,… trong từng giai đoạn cụ thể; thường xuyên được đưa ra để bàn luận,
xem xét để bổ sung, phát triển nhằm đảm bảo cương lĩnh là phù hợp, đúng đắn, kịp
thời. Thực tiễn về công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam đã chứng minh được những giá trị mà các
cương lĩnh chính trị và văn bản mang tính cương lĩnh mang lại. Sau 55 năm kể từ
khi Cương lĩnh chính trị đầu tiên ra đời, đất nước ta đã hoàn toàn giành được độc lập
trước hai kẻ thù là những cường quốc lớn trên thế giới; sau 38 năm kể từ khi bước
vào công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những sự phát triển thần kỳ trên nhiều
mặt như: kinh tế, chính trị, văn hóa,… Tất cả là nhờ sự tuân thủ và thực hiện đúng
đắn những gì mà cương lĩnh chính trị đã đề ra. 2.3.
Cương lĩnh chính trị định hướng sự phát triển lâu dài của
đảng và đất nước
Cương lĩnh là văn kiện trình bày những nội dung cơ bản về mục tiêu, đường
lối, nhiệm vụ và phương pháp cách mạng trong một giai đoạn dài. Phát triển phải đi
đôi với bền vững thì phát triển mới thực sự có giá trị. Đối với Đảng Cộng sản Việt
Nam, nếu nội dung cơ bản của Báo cáo chính trị là nhiệm vụ cho 5 năm, nội dung
của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trong thời gian 10 năm thì
Cương lĩnh nhằm định hướng sự phát triển của đất nước trong thời gian dài, thông
thường là hơn 10 năm. Tính đến thời điểm hiện nay là năm 2024, Đảng và nhân dân
vẫn tiếp tục thực hiện theo những chỉ đạo, đường lối của Cương lĩnh 2011. Trải qua
94 năm thành lập, Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển nhiều luận điểm vẫn còn mang lOMoAR cPSD| 58097008
giá trị, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước hiện tại mà những cương lĩnh
trước đây đã từng đề cập. 2.4.
Cương lĩnh là cơ sở của công tác xây dựng và phát triển đảng
Mọi đảng viên trước khi kết nạp đảng đều phải hiểu biết về cương lĩnh chính
trị của đảng, trên cơ sở đó, tự nguyện gia nhập đảng và thực hiện theo quy định của
cương lĩnh, điều lệ đảng. Có thể thấy, thông qua cương lĩnh chính trị, những mục
tiêu, nhiệm vụ, đường lối của đảng được truyền đạt hiệu quả tới những đảng viên
tương lai, giúp họ hiểu biết và nắm rõ những nhiệm vụ mà mình cần thực hiện khi
trở thành đảng viên. Khi đảng viên hiểu biết và thực hiện đúng đắn theo cương lĩnh
chính trị, công tác xây dựng và phát triển đảng sẽ mang lại kết quả tích cực.
Mỗi cương lĩnh của Ðảng đều có vai trò, giá trị chỉ đạo thực tiễn to lớn, định
hướng cho sự phát triển của đất nước và chỉ đường cho mọi hoạt động của Ðảng.
Tuy nhiên, mỗi bản cương lĩnh (cũng như nhiều tác phẩm lý luận khác) đều là sản
phẩm nhận thức của một thời kỳ lịch sử cụ thể, nên trong lãnh đạo, chỉ đạo, Ðảng có
lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, do mắc phải giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi
phạm quy luật khách quan hoặc do nhận thức của Ðảng trên một số lĩnh vực còn hạn
chế. Ðiều quan trọng là Ðảng đã nhận ra, thẳng thắn tự phê bình và nghiêm túc sửa
chữa, khắc phục có kết quả. Trong quá trình lãnh đạo của Đảng, qua mỗi giai đoạn,
mỗi kỳ Ðại hội Ðảng, tư duy, nhận thức của Ðảng lại được phát triển; quan điểm,
đường lối của Ðảng từng bước được bổ sung, hoàn thiện, phù hợp với sự phát triển
của thời đại, của thực tiễn cuộc sống.
3. Nhận thức của bản thân về ý nghĩa của Cương lĩnh “Xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội” của Đảng Cộng sản Việt Nam
(bổ sung, phát triển năm 2011) đối với cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay
Đầu tiên, chúng ta cần hiểu rõ khái niệm cách mạng nói chung và cách mạng
Việt Nam nói riêng. Cách mạng là một phương pháp đấu tranh của quần chúng nhân
dân hoặc một tổ chức nhằm đạt được những sự tiến bộ của một chính quyền, tư
tưởng, kỹ thuật,… Cách mạng có thể xảy ra trong nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh
tế, văn hóa, giáo dục,…và kết quả thường tạo ra sự thay đổi về chất trên những
phương diện này. Cách mạng Việt Nam đã trải qua nhiều hình thái trong từng giai lOMoAR cPSD| 58097008
đoạn lịch sử nhất định. Trong quá khứ, cách mạng Việt Nam xảy ra với mục đích lật
đổ chế độ phong kiến; đánh đuổi các nước đế quốc, thực dân có ý định xâm chiếm
đất nước. Dưới sự dẫn dắt và chỉ đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam hoàn toàn
thắng lợi, nền độc lập, tự do của nhân dân ta được trả lại. Sau đó, kể từ năm 1986,
Đảng chỉ đạo đất nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện và bước vào thời kỳ
quá độ lên Chủ nghĩa xã hội. Đây cũng chính là nội dung mà cách mạng Việt Nam
hiện nay vẫn đang hướng tới. Mục đích của cách mạng hiện nay có sự thay đổi so
với cách mạng trong quá khứ, đó là hướng đất nước đạt được mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Song cách mạng Việt Nam hiện
nay vẫn hướng tới việc gìn giữ và bảo vệ chủ quyền, độc lập dân tộc. Những điểm
này được thể hiện cụ thể trong Cương lĩnh “Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên Chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011). Dưới đây là một số nhận thức
của tôi về ý nghĩa của Cương lĩnh này đối với cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Trên cơ sở tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh (bổ
sung, phát triển năm 2011) có những diễn đạt mới và khẳng định lại những thắng lợi
vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Đó là thắng lợi của những cuộc kháng chiến chống
xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng lừng lẫy Điện Biên Phủ 1954 với bản Hiệp định
Genève, đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo
vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế và thắng lợi trong công cuộc đổi mới, đưa đất
nước bước vào thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội. Việc khẳng định lại về những
thành tựu to lớn mà cách mạng Việt Nam nhằm đảm bảo tính trung thực của lịch sử;
cổ vũ, khích lệ quần chúng nhân dân đặt niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và tuyên
truyền, vận động quần chúng ưu tú gia nhập Đảng, tiếp bước cha ông ta tham gia
vào cuộc cách mạng hiện nay để phát huy những thành quả to lớn được để lại. Bên
cạnh đó còn củng cố, phát triển quan hệ ngoại giao đối với các nước trên thế giới,
phục vụ cho mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của đất nước. Ngoài ra, việc
đưa ra những diễn đạt mới về cách mạng Việt Nam còn giúp Đảng ta nhìn nhận lại
những sự kiện quan trọng đã xảy ra trong quá khứ để tiếp tục bổ sung, phát triển
những mặt tích cực, những thành quả do các thắng lợi mang lại và tự phê bình những
sai lầm, khuyết điểm và phát hiện ra nguyên nhân, thay đổi quan điểm dựa trên những
sai lầm đó. Trên cơ sở đó, Đảng đã rút ra được 5 bài học kinh nghiệm quý báu cho
cách mạng Việt Nam hiện nay và sau này. Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Cách lOMoAR cPSD| 58097008
mạng Việt Nam dù ở trong hoàn cảnh nào, giai đoạn lịch sử nào cũng cần phải bám
sát hai nhiệm vụ chiến lược này. Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân. Toàn thể nhân dân Việt Nam đã làm nên những thắng lợi
lịch sử này nên mọi hoạt động, định hướng của Đảng cần phải xuất phát từ lợi ích và
nguyện vọng chính đáng của nhân dân, làm việc gì cũng cần lấy dân làm gốc. Chính
vì thế, cách mạng Việt Nam hiện nay cần phát hiện, ngăn chặn triệt để những hành
vi quan lieu, tham nhũng, xa rời nhân dân. Nếu để những hành động xấu này có cơ
hội phát triển sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước,
của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng. Thực tế hiện nay đã xuất hiện nhiều hành
vi tham nhũng của một số cán bộ, lãnh đạo trong Đảng gây hoang mang trong quần
chúng nhân dân. Tuy nhiên, Đảng và nhà nước ta đã kịp thời ngăn chặn và kỷ luật
để khắc phục hậu quả và củng cố niềm tin của nhân dân. Ba là, không ngừng củng
cố, tăng cường đoàn kết, đoàn kết toàn đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc,
đoàn kết quốc tế. Đoàn kết chính là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to
lớn của cách mạng Việt Nam, như Bác Hồ đã từng khẳng định:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công”
Nhân dân Việt Nam phải luôn đoàn kết, đồng lòng cùng hướng về một mục tiêu
chung của dân tộc là bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng Chủ nghĩa xã hội, có như
thế thì cách mạng Việt Nam mới đi đến thắng lợi được. Hiện nay, nhiều thủ đoạn
nhằm lăm le gây chia rẽ đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch đang tồn tại
dưới nhiều hình dạng khác nhau (ví dụ: phân biệt vùng miền, lợi dụng tôn giáo,…)
nên vấn đề xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân càng trở nên cấp thiết.
Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với
sức mạnh quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, sức mạnh dân tộc là
nguồn lực nội sinh, giữ vai trò quyết định; sức mạnh thời đại là nguồn lực bên ngoài
chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua nhân tố bên trong là sức mạnh dân tộc, và khi
nó được phát huy thì sẽ làm cho sức mạnh dân tộc tăng lên. Trong bất cứ hoàn cảnh
nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ, phát huy cao độ nội lực, đi cùng với đó
là nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, tranh thủ ngoại lực. Qua hơn 37 năm đổi mới,
việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đã để lại nhiều kết quả, thành
tựu to lớn, có tính bước ngoặt. Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, đến nay, nước ta đã vào
nhóm nước có thu nhập trung bình, là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách
nhiệm trong cộng đồng quốc tế; uy tín, vị thế quốc gia trên trường quốc tế ngày càng lOMoAR cPSD| 58097008
được khẳng định và nâng lên. Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố
hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh năm 2011 có
sửa đổi hai từ “bảo đảm” thành “quyết định” ở bài học này. Đảng luôn đặt việc phụng
sự Tổ quốc, nhân dân lên hàng đầu. Đảng cần phải nắm vững và vận dụng sáng tạo,
phát triển chủ nghĩa Mác Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu
trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để giải
quyết những vấn đề do thực tiễn cách mạng đề ra.
Cương lĩnh năm 2011 trình bày các vấn đề cơ bản nhất, nguyên tắc và hướng
đi trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước trên con đường tiến tới chủ nghĩa xã
hội với tầm nhìn đến giữa thế kỷ XXI. Đây là cơ sở lý luận chính trị để Đảng ta tiếp
tục bổ sung và phát triển chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước phù hợp với hoàn
cảnh và yêu cầu mới, từ đó làm sáng tỏ hơn về tư tưởng và tinh thần của Cương lĩnh.
Trước hết, Cương lĩnh có ý nghĩa là nền tảng lý luận để Đảng ta tiếp tục phát
triển nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Cương lĩnh đã đề cập đến sự nhận thức về tình hình quốc tế, cập nhật các xu
hướng mới, các diễn biến, nhất là những cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các nước lớn,
sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, và sự tiến bộ trong lĩnh vực khoa học
công nghệ, đặc biệt là cách mạng công nghiệp lần thứ tư…, phân tích các tác động
tích cực, tiêu cực để có biện pháp ứng phó một cách chủ động.
8 đặc trưng của mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa được xác định trong Cương
lĩnh 2011 đã đặt cơ sở phương pháp luận để Đảng nhận thức sâu sắc hơn nội hàm
của từng đặc trưng và mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa các đặc trưng.. Nổi
bật là nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa, về vai trò làm chủ, quyền làm chủ của
nhân dân; về về vị trí trung tâm của kinh tế, về tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững,
chú trọng chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh kinh tế; về vai trò nền tảng tinh thần,
nguồn lực nội sinh của văn hóa, vai trò chủ thể, động lực phát triển của con người;
về vai trò, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; về sự gắn bó dân tộc và nhân loại, quốc
gia và quốc tế. Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
và mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp hiện
đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Gần 10 năm qua, bám sát 8 phương hướng
cơ bản nêu trong Cương lĩnh, Đảng đã cụ thể hóa, bổ sung, làm sáng tỏ hơn phương
hướng phát triển đất nước qua từng chặng đường phát triển (bổ sung nếu cần). Trong lOMoAR cPSD| 58097008
quá trình thực hiện, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt 8 mối quan
hệ lớn giữa: đổi mới, ổn định và phát triển; đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; kinh
tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển lực lượng sản xuất và xây
dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; tăng trưởng kinh tế
và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghia; độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Cương lĩnh là cơ sở lý luận để Đảng cụ thể hóa, từng bước hoàn thiện định
hướng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng
hệ thống chính trị, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng.
Về kinh tế, xác định phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là một loại hình kinh tế thị trường phù hợp với điều kiện Việt Nam. Đây là nền kinh
tế thống nhất, gồm nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò
chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng,
kinh tế tư nhân là động lực quan trọng. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
theo tư duy đổi mới, chuyển từ phát triển theo chiều rộng dựa trên xuất khẩu tài
nguyên thô và nguồn nhân lực giá rẻ sang phát triển chủ đạo theo chiều sâu, chú
trọng năng suất, hiệu quả trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ, sử dụng nguồn
nhân lực chất lượng. Cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế; huy động, phát huy mọi nguồn
lực trong nước, ngoài nước; thực hiện 3 đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân
lực, hệ thống kết cấu hạ tầng; phát triển nhanh, bền vững; xây dựng kinh tế độc lập,
tự chủ đi đôi với chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Về văn hóa, những định hướng chính sách xã hội trong Cương lĩnh 2011 là
cơ sở để Đảng tiếp tục hoàn thiện an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, cải cách tiền
lương, giải quyết việc làm, thu nhập của người lao động; hoàn thiện chính sách dân
tộc, tôn giáo,chính sách dân số... từng bước bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền
lợi, nghĩa vụ công dân. Cương lĩnh cũng đưa ra định hướng quản lý phát triển xã hội
gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội nhằm từng bước kiến tạo một xã hội hài
hòa, bền vững về cơ cấu xã hội, về lợi ích, về trình độ phát triển giữa các vùng miền,
các lĩnh vực, các giai tầng, cộng đồng xã hội, từng bước thực hiện mục tiêu xây dựng
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Về quốc phòng, an ninh, định hướng của Cương lĩnh là cơ sở quan trọng để
Đảng lãnh đạo xây dựng, không ngừng hoàn thiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lOMoAR cPSD| 58097008
lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự, Chiến lược an ninh mạng, Dự báo chiến
lược, khẳng định rõ quan hệ khăng khít giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa tăng
cường quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Định
hướng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an
ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân trên nền tảng “thế trận lòng dân”, định
hướng xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện
đại và phương lược bảo vệ Tổ quốc không ngừng được hoàn thiện, hình thành lý
luận và khoa học quân sự, an ninh Việt Nam trong thời kỳ mới.
Về đối ngoại, quán triệt định hướng của Cương lĩnh: thực hiện đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa
quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế..., Đảng chú trọng bám sát thực tiễn
khu vực, thế giới, tăng cường nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng, phương pháp
ngoại giao Hồ Chí Minh, phát triển lý luận ngoại giao làm cơ sở hoàn thiện đường
lối đối ngoại đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết,
gắn lợi ích đất nước với lợi ích của cộng đồng khu vực, quốc tế trên, nêu cao ngọn
cờ hòa bình, chính nghĩa, tôn trọng luật pháp quốc tế, xử lý đúng đắn vấn đề đối
tượng, đối tác, mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác song phương, đa phương, chủ
động tham gia xây dựng các định chế khu vực, quốc tế, giữ vững môi trường hòa
bình, ổn định, phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Về hệ thống chính trị và sự lãnh đạo của Đảng, đặt trọng tâm là xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân đân, do nhân dân, vì nhân dân. Gắn
xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị; gắn xây dựng với chỉnh đốn Đảng.
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo
đức đi đôi với đấu tranh phòng ngừa, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong Đảng, không ngừng nâng cao
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, có sự phân công, phối hợp, kiểm
soát chặt chẽ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Xây dựng, đổi mới tổ
chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị
- xã hội, khắc phục những biểu hiện hành chính hóa. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức trong hệ thống chính trị, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ
đi đôi với đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu...