









Preview text:
lOMoAR cPSD| 58707906 CHƯƠNG 1
Câu 1: Phân tích từng đặc điểm của đầu tư phát triển
(1) Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triểnthường rất lớn:
Quy mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng
chính sách, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư và thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm.
Lao động sử dụng cho các dự án đầu tư là rất lớn vì vậy cần hạn chế mức thấp nhất những ảnh
hưởng tiêu cực do vấn đề hậu dự án tạo ra như giải quyết lao động dôi, dư… Cần phải có các
kế hoạch cũng như biện pháp quản lý và sử dụng các nguồn lực hợp lý, tránh thất thoát lãng phí.
(2) Thời kỳ đầu tư kéo dài
Thời kỳ đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và
đưa vào hoạt động. Tính chất của thời kỳ đầu tư kéo theo ảnh hưởng tới tiến độ, do đó làm
giảm hiệu quả đầu tư, thời gian thu hồi vốn chậm.
(3) Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài
Thời gian vận hành các kết quả đầu tư được tính từ khi đưa vào hoạt động cho đến khi hết hạn
sử dụng và đào thải công trình. Trong suốt quá trình vận hành, các kết quả của đầu tư phát triển
chịu tác động cả hai mặt, tích cực và tiêu cực, của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã
hội… Do đó, yêu cầu đặt ra đối với công tác đầu tư là rất lớn, nhất là công tác dự báo về cung
cầu thị trường sản phẩm đầu tư tương lai.
(4) Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xây dựng thườngphát
huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên, do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng
như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tốt về tự nhiên,
kinh tế, xã hội vùng.
Các điều kiện tự nhiên của vùng như khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng,…có tác động rất lớn trong
việc thi công các công trình xây dựng. Tình hình phát triển kinh tế của vùng ảnh hưởng trực
tiếp tới việc ra quyết định và quy mô vốn đầu tư. Không chỉ vậy, môi trường xã hội cũng ảnh
hưởng rất lớn đến việc thực hiện các dự án như văn hóa địa phương, phong tục tập quán, …
(5) Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao
Có rất nhiều rủi ro trong hoạt đông đ ̣ ầu tư:
+ Rủi ro do nguyên nhân khách quan: các rủi ro về thời tiết, thị trường như giá cả nguyên liệu
tăng, giá bán sản phẩm giảm... Ngoài ra quá trình đầu tư còn thể găp ṛ ủi ro do điều kiên cḥ
ính trị xã hôi không ̣ ổn định. lOMoAR cPSD| 58707906
+ Rủi ro do nguyên nhân chủ quan: quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu.
Câu 2: Thế nào là đầu tư trọng tâm trọng điểm, đầu tư đồng bộ, độ trễ thời gian trong đầu tư?
- Đầu tư trọng tâm trọng điểm là việc tập trung vốn, nguồn lực vào một dự án trọng điểmtrong
hạng mục đầu tư. Tránh việc đầu tư dàn trải, không có trọng tâm trọng điểm, không phù hợp
với khả năng quản lý và năng lực tài chính của các chủ thể,... sẽ làm cho việc đầu tư trở nên
kém hiệu quả, gây thất thoát lãng phí nguồn lực, trở thành vật cản cho đất nước.
- Đầu tư đồng bộ là đầu tư cho nhiều lĩnh vực hay bộ phận cùng một lúc
- Độ trễ thời gian trong đầu tư: là sự không trùng hợp giữa thời gian đầu tư với thời gian
vậnhành các kết quả đầu tư. Đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư thường thu được trong
tương lai. Đây là đặc điểm rất riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư.
Câu 3: Các lý thuyết về đầu tư CHƯƠNG 2
Câu 1: Nội dung từng nguồn vốn đầu tư, giải pháp huy động nguồn vốn đó
* Đứng dưới góc độ vĩ mô, nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn
vốn đầu tư nước ngoài.
1. Nguồn vốn đầu tư trong nước:
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy nội bộ của toàn bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm
của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ được
huy động vào quá trình tái sản xuất xã hội. Biểu hiện cụ thể của nguồn vốn đầu tư trong nước
bao gồm nguồn vốn đầu tư nhà nước và nguồn vốn của dân cư và tư nhân.
- Nguồn vốn nhà nước: Bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng
đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước.
+ Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu
tư. Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham
gia của Nhà nước, chi cho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
+ Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển
của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp
của Nhà nước. Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước còn phục vụ
công tác quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn tín dụng đầu tư, nhà nước
thực hiện việc khuyến khích phát triển kinh tế ngành, vùng, lĩnh vực theo chiến lược của mình. lOMoAR cPSD| 58707906
+ Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước: Nguồn vốn này chủ yếu bao gồm từ
khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại doanh nghiệp nhà nước. Tỷ trọng đầu tư
của khu vực DNNN trong tổng vốn đầu tư nhà nước tuy có giảm trong những năm gần
đây, song vẫn là nguồn vốn quan trọng.
- Nguồn vốn của dân cư và tư nhân:
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích lũy của các doanh
nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Thực tế thời gian qua cho thấy đầu tư của khu vực tư nhân
và hộ gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương mại, dịch vụ và vận tải trên các địa phương.
Nguồn vốn trong dân cư còn phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Quy mô
của nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào: Trình độ phát triển của đất nước ( ở những nước có
trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp); Tập quán tiêu dùng của dân
cư; Chính sách động viên của nhà nước thông qua các chính sách thuế thu nhập và các khoản đóng góp của xã hội.
2. Nguồn vốn nước ngoài:
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm bộ phận tích lũy của cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại.
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng lưu chuyển
vốn quốc tế (International Capital Flows). Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là
biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới.
Theo tính chất lưu chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước ngòai chính như sau:
- Nguồn vốn ODA: Là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước
ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển. So với các hình thức tài trợ
khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn ODF nào khác. Ngoài các điều kiện ưu
đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng vốn cho vay lớn, bao giờ trong ODA cũng
có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25%.
- Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế:
Đây là nguồn vốn mà các nước nhận vốn vay từ các ngân hàng thương mại quốc tế với một
mức lãi suất nhất định. Sau một thời gian, các nước này phải hoàn trả cả vốn và lãi, các ngân
hàng thương mại quốc tế sẽ thu được lợi nhuận từ lãi suất của khoản vay.
Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồn vốn ODA. Tuy nhiên,
bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là không có gắn với các ràng buộc về chính trị, xã hội.
Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn này thường là tương đối khắt khe, thời gian trả nợ
nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo.
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): lOMoAR cPSD| 58707906
Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển không chỉ đối với các nước nghèo mà kể cả
các nước công nghiệp phát triển. Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác
nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp
nhận. Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng
khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả.
Không những là nguồn vốn bổ sung quan trọng, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn đóng góp vào
việc bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai và cải thiện cái cân thanh toán quốc tế. Bên cạnh đó
đóng góp cho ngân sách nhà nước của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng rất đáng kể
- Thị trường vốn quốc tế:
Là nguồn vốn huy động từ thị trường chứng khoán trên thế giới, bằng việc bán trái phiếu, cổ
phiếu của chính phủ, các công ty trong nước ra nước ngoài.
Nguồn vốn này có thể huy động vốn với số lượng lớn, trong thời gian dài để đáp ứng nhu cầu
về vốn cho nền kinh tế mà không bị ràng buộc bởi các điều kiện về tín dụng quan hệ cho vay
để gây sức ép với nước huy động vốn trong các quan hệ khác. Bên cạnh đó còn tạo điều kiện
cho nước tiếp nhận vốn tiếp cận với thị trường vốn quốc tế.
* Trên góc độ vi mô, nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp, các đơn vị thực hiện đầu tư bao
gồm hai nguồn chính: nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài
1. Nguồn vốn bên trong:
Hình thành từ phần tích lũy từ nội bộ doanh nghiệp (vốn góp ban đầu, thu thập giữ lại) và phần
khấu hao hằng năm. Nguồn vốn này có yêu điểm là đảm bảo tính độc lập, chủ động, không
phụ thuộc vào chủ nợ, hạn chế rủi ro về tín dụng. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp nếu chỉ
dựa vào nguồn vốn này sẽ bị hạn chế về quy mô đầu tư.
2. Nguồn vốn bên ngoài:
Có thể hình thành từ việc vay nợ hoặc phát hành chứng khoán ra công chúng thông qua hai
hình thức tài trợ chủ yếu: tài trợ gián tiếp qua trung gian tài chính (ngân hàng thương mại, các
tổ chức tín dụng…) hoặc tài trợ trực tiếp (qua thị trường vốn: thị trường chứng khoán, hoạt
động tín dụng thuê mua).
* Để có thể huy động có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, Việt Nam cần chú trọng đối với các
điều kiện cơ bản sau:
Tạo lập và duy trì năng lực tăng trưởng nhanh và bền vững cho nền kinh tế. Đây là một điều lệ
liên quan đến một nguyên tắc mang tính chủ đạo trong việc thu hút vốn đầu tư: vốn càng được
sử dụng có hiệu quả thì khả năng thu hút nó càng lớn. Năng lực tăng trưởng sẽ đảm bảo cho
khả năng tích lũy và triển vọng tăng trưởng là tín hiệu tốt thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Đảm bảo sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô có thể được coi là điều kiện tiên quyết của mọi
ý định và hành vi đầu tư. Để thu hút được các nguồn vốn đầu tư nhằm ngày càng đáp ứng tốt lOMoAR cPSD| 58707906
hơn các yêu cầu phát triển của đất nước, phải đảm bảo được nền kinh tế đó trước hết là nơi an
toàn cho sự vận động của nó và sau nữa là nơi có năng lực sinh lợi cao.
Bên cạnh tiềm năng tăng trưởng và sự ổn định kinh tế vĩ mô để huy động có hiệu quả các nguồn
vốn đầu tư phát triển, nhà nước và doanh nghiệp cần có các chính sách và giải pháp đồng bộ
và hợp lý trên cơ sở có sự tính toán tổng hợp đảm bảo khuyến khích định hướng các hoạt động
thu hút và cung ứng vốn nhằm huy động tổng lực của nền kinh tế cho công nghiệp hóa đất nước.
Câu 2: Mối quan hệ giữa ODA và FDI, kiều hối với vốn trong nước?
* Mối quan hệ giữa ODA và FDI
1. Tác động của ODA đến FDI -
Vốn ODA đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc
thuhút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI
Trong những năm qua, khoảng 80% lượng vốn ODA được dành cho đầu tư lĩnh vực cơ sở hạ
tầng, số vốn này chiếm khoảng 40% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội cho cơ sở hạ tầng. Từ đó,
chúng không những góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế xã hội Việt Nam phát triển mà còn
trực tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút nguồn vốn FDI. -
Vốn ODA đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, tạo ra đội ngũ lao động có trình độ cao chokhu vực kinh tế FDI.
Ngoài xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, vốn ODA cũng được ưu tiên sử dụng trong lĩnh vực giáo
dục, đào tạo, y tế... Các dự án sử dụng vốn ODA trong lĩnh vực này góp phần đào tạo đội ngũ
lao động trong tương lai có năng lực, trình độ và sức khỏe tốt phục vụ cho phát triển kinh tế
một cách bền vững và là một yếu tố vô cùng quan trọng cho khu vực kinh tế FDI với các dự
án đòi hỏi lao động có trình độ cao -
Nguồn vốn ODA đóng vai trò định hướng cho nguồn vốn FDI đầu tư vào những
ngành,những vùng cần thiết.
Nguồn vốn ODA cần được ưu tiên đầu tư vào những vùng, miền gặp khó khăn để cải thiện môi
trường đầu tư, tạo thuận lợi cho việc thu hút vốn FDI, giảm chênh lệch về sự phát triển giữa
các vùng, miền trong cả nước.
Tuy nhiên tại Việt Nam, nguồn vốn ODA vẫn chưa phát huy được tốt vai trò định hướng cho
nguồn vốn FDI đầu tư vào các ngành, các vùng cần thiết.Nhiều địa phương không thu hút hoặc
thu hút được ít vốn FDI do cơ sở hạ tầng, yếu kém.
2. Tác động FDI đến ODA
- Các dự án FDI hoạt động có hiệu quả, hoạt động xuất khẩu được thúc đẩy, sẽ là nguồn
cungngoại tệ chủ yếu trang trải những khoản ODA đến hạn.
Nguồn vốn ODA có đặc điểm là có khả năng gây ra gánh nặng nợ nần cho nước tiếp nhận, tuy
nhiên khi các dự án FDI hoạt động có hiệu quả sẽ tạo ra 1 luồng ngoại tệ để trang trải những
khoản nợ cho những khoản ODA đến hạn. Sản phẩm của các dự án FDI ban đầu dùng để thay lOMoAR cPSD| 58707906
thế nhập khẩu tiến tới xuất khẩu hoặc có thể xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài mà không dùng
để tiêu dùng trong nước. Hoạt động xuất khẩu sẽ thu về một lượng lớn ngoại tệ trang trải các khoản nợ đến hạn.
- Sản xuất hiệu quả ở khu vực FDI làm gia tăng giá trị sản xuất trong nước tạo điều kiện tíchlũy
để trả khoản nợ chưa đến hạn.
Khu vực FDI hoạt động hiệu quả sẽ đóng góp ngày càng nhiều vào NSNN thông qua các khoản
thuế, phí, lệ phí, đó là một trong những nguồn lực quan trọng để quốc gia lên kế hoạch trả
những khoản nợ trong đó có nợ từ ODA. * Mối quan hệ giữa kiều hối và vốn trong nước
- Theo khái niệm của Ngân hàng Thế giới thì: “Kiều hối bao gồm các khoản tiền chuyển từnước
ngoài có nguồn gốc là thu nhập của người lao động, dân di cư ở nước ngoài, được thể hiện
trong cán cân thanh toán quốc tế là khoản chuyển tiền (ròng)”.
Còn hiểu theo cách đơn giản nhất thì “Kiều hối là sự di chuyển tiền bạc từ những người đang
sống và lao động ở nước ngoài đến thân nhân của họ ở quê hương”
- Nguồn vốn đầu tư trong nước là toàn bộ phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế. Hơn nữa
kiềuhối có thể chuyển đổi thành tích lũy của dân cư & tư nhân trong nước khi lượng kiều hối
đã được trao cho thân nhân. Như vậy kiều hối trở thành nguồn vốn đầu tư trong nước.
- Kiều hối đóng góp cho công cuộc xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống người lao
động.Nguồn vốn này chảy thẳng vào khu vực dân cư, do đó có tính thúc đẩy đầu tư tư nhân
cao, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao mức thu nhập cho các chủ thể nhận kiều hối và
các chủ thể được hưởng lợi từ nguồn đầu tư kiều hối.
- Kiều hối đóng góp cho sự gia tăng tiết kiệm của quốc gia, được tính bằng giá trị tiền để
lạikhông sử dụng cho mục đích tiêu dùng của những chủ thể nhận các dòng kiều hối. Phần
tiết kiệm từ kiều hối có thể được sử dụng cho các hoạt động đầu tư trực tiếp, được gửi bằng
ngoại tệ hoặc bản tệ vào các ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính khác, và một phần có thể
được cất trữ dưới dạng tiền mặt, vàng… CHƯƠNG 3:
Câu 1: Phân tích từng đặc điểm của môi trường đầu tư
Có tính tổng hợp:
- Các yếu tố của môi trường đầu tư có mối quan hệ tương tác lẫn nhau và gây tác động đếntoàn bộ nền kinh tế
- Khi đánh giá môi trường đầu tư cần xem xét tổng hợp các yếu tố và mối quan hệ, sự tácđộng
giữa các yếu tố chứ không chỉ xem xét độc lập từng thứ.
- Các yếu tố của môi trường đầu tư khác nhau giữa các vùng, địa phương, quốc gia.
Có tính hai chiều:
Môi trường đầu tư , chính phủ và nhà đầu tư tương tác với nhau. Môi trường đầu tư gây ảnh
hưởng tới quá trình ra quyết định đầu tư, giá trị và cơ cấu vốn đầu tư. Nhà đầu tư tác động lên
môi trường đầu tư theo hướng tích cực và tiêu cực, ví dụ nâng cao tay nghề người lao động lOMoAR cPSD| 58707906
hoặc làm ô nhiễm môi trường. Chính phủ cải thiện môi trường đầu tư, tác động tới các yếu tố
của môi trường đầu tư như chính trị, pháp luật, cơ sở hạ tầng.
Có tính động:
- Môi trường đầu tư luôn vận động do các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư luôn vận
độngbiến đổi theo thời gian.
- Các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư luôn vận động và tương tác với nhau.
- Các nhân tố khác tác động tới các yếu tố cấu thành.
- Muốn thu hút được vốn thì môi trường đầu tư cần ổn định để đồng vốn nhà đầu tư bỏ rađược bảo toàn và sinh lời.
Có tính mở:
Các yếu tố của môi trường đầu tư cấp tỉnh chịu ảnh hưởng của môi trường đầu tư quốc gia,
môi trường đầu tư quốc gia lại chịu ảnh hưởng của môi trường đầu tư quốc tế.
Có tính hệ thống:
Vì môi trường đầu tư là tổng hòa của các yếu tố tác động qua lại lẫn nhau và chịu tác động của
môi trường đầu tư quốc tế. Các yếu tố này luôn tự biến đổi, tương tác lẫn nhau qua các mối
liên hệ, dẫn đến bản thân hệ thống môi trường đầu tư biến đổi liên tục. Môi trường đầu tư quốc
gia bao gồm các hệ thống nhỏ. Vì thế để quản lý, cải thiện môi trường đầu tư cần có cách tiếp
cận hệ thống để tìm ra những yếu tố ảnh hưởng tới tín hấp dẫn của môi trường đầu tư, chi phí,
rủi ro và rào cản cạnh tranh. Cần quản lý hoạt động đầu tư một cách hệ thống, thống nhất và
không có sự chồng chéo của hệ thống, văn bản pháp lý, biện pháp quản lý làm mất thời gian, chi phí đầu tư. CHƯƠNG 4:
Câu 1: Phân tích từng nguyên tắc quản lý, trình bày nội dung từng phương pháp quản lý đầu tư
* Nguyên tắc quản lý đầu tư
1. Nguyên tắc thống nhất giữa chính trị và kinh tế, kết hợp hài hòa giữa hai mặt kinh tế và xãhội.
Đảm bảo sự thống nhất giữa chính trị và kinh tế. Kết hợp hài hòa giữa kinh tế và xã hôi tḥ ể
hiên trong việ c x ̣ ác định cơ chế pháp lý đầu tư, đăc biệ t ḷ à các cơ cấu đầu tư theo địa phương,
vùng lãnh thổ, thành phần kinh thế đều nhằm mục đích phục vụ cho viêc tḥ ực hiên c ̣ ác mục
tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hôi theo ṭ ừng thời kỳ.
2. Nguyên tắc tập trung dân chủ.
Quản lý hoạt đông đ ̣ ầu tư vừa phải đảm bảo nguyên tắc tâp trung ḷ ại vừa phải đảm bảo nguyên
tắc dân chủ. Nguyên tắc này đòi hỏi công tác quản lý đầu tư cần phải theo sự lãnh đạo thống
nhất từ môt trung tâm đ ̣ ồng thời phát huy được tính chủ đông ṣ áng tạo của các đơn vị thực hiên đ ̣ ầu tư. lOMoAR cPSD| 58707906
3. Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lí theo các địa phương và vùng lãnh thổ.Đây
là môt trong c ̣ ác công tác quản lý kinh tế. Nguyên tắc này xuất phát từ sự kết hợp khách
quan trong xu hướng của sự phát triển kinh tế, đó là chuyên môn hóa theo ngành và phân
bố sản xuất theo vùng, lãnh thổ.
4. Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa các lợi ích trong đầu tư.
Đầu tư tạo ra lợi ích, có rất nhiều loại lợi ích như lợi ích kinh tế và xã hôi, ḷ ợi ích nhà nước,
lợi ích tâp tḥ ể và cá nhân, lợi ích trực tiếp và gián tiếp.
Biểu hiên: Ḷ à kết hợp hài hòa giữa các lợi ích trên và giữa các cá nhân, tâp tḥ ể, người lao
đông, cḥ ủ đầu tư, chủ thầu,... Sự kết hợp này được đảm bảo bằng các đối tượng tham giá quá
trình đầu tư bằng viêc tḥ ực hiên luậ t đ ̣ ấu thầu.
5. Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả.
Nguyên tắc này nói lên tiết kiêm đ ̣ ể nâng cao hiêu qụ ả hoạt đông đ ̣ ầu tư. Đối với chủ đầu tư
thì lợi nhuân ḷ à lớn nhất, đối với nhà nước thì mức đóng góp cho ngân sách là lớn nhất, mức
tăng thu nhâp cho lao độ ng, ṭ ạo viêc ḷ àm cho người lao đông, ḅ ảo vê môi trự ờng, tăng
trưởng phát triển văn hóa giáo dục và sự nghiêp pḥ úc lợi công công.̣
* Nội dung từng phương pháp quản lý đầu tư
1. Phương pháp kinh tế:
Phương pháp kinh tế trong quản lý là phương pháp tác động của chủ thể vào đối tượng quản
lý bằng các chính sách và đòn bẩy kinh tế như tiền lương, tiền phạt, giá cả, lợi nhuận, tín dụng, thuế, …
2. Phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính là phương pháp được sử dụng trong quản lý cả lĩnh vực xã hội và
kinh tế của mọi nước. Đây là cách thức tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến dự án quản
lý bằng những văn bản, chỉ thị, những quy định về tổ chức.
3. Phương pháp giáo dục
Phương pháp này xuất phát từ quan điểm cho rằng vật chất khách quan quyết định ý thức con
người, nhưng ý thức của con người có thể tác động trở lại đối với sự vật khách quan. Do đó,
trong sự quản lý, con người là đối tượng trung tâm của quản lý và phương pháp giáo dục được coi trọng trong quản lý.
Nội dung của các biện pháp giáo dục bao gồm giáo dục về thái độ lao động, ý thức kỷ luật,
tinh thần trách nhiệm, khuyến khích phát huy sáng kiến, thực hiện các biện pháp kích thích sự
say mê hăng hái lao động, giáo dục về tâm lý tình cảm lao động.
4. Phương pháp toán và thống kê
Để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả, bên cạnh các phương pháp định tính cần áp dụng cả
các phương pháp định lượng, đặc biệt là phương pháp toán kinh tế và thống kê.
Câu 2: Trình bày chi tiết từng nguyên tắc của KH hóa
Kế hoạch hóa đầu tư vừa là nội dung vừa là một công cụ để quản lý hoạt động đầu tư. Công
tác kế hoạch hóa đầu tư phải quán triệt được những nguyên tắc chủ yếu sau đây : lOMoAR cPSD| 58707906
Thứ nhất, kế hoạch hóa đầu tư phải dựa vào quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội
của quốc gia , ngành, địa phương và cơ sở. Các chiến lược, quy hoạch phát triển là cơ sở khoa
học để lập kế hoạch đầu tư trong phạm vi nền kinh tế quốc dân cũng như từng ngành, địa
phương và tổ chức cơ sở.
Thứ hai, kế hoạch hóa đầu tư phải xuất phát từ tình hình cung, cầu của thị trường. Khác với
kế hoạch hóa trong nền kinh tế tập trung, bao cấp, kế hoạch đầu tư trong cơ chế thị trường cần
xuất phát từ tình hình cung, cầu của thị trường. Tín hiệu thị trường cho biết nên đầu tư cái gì,
bao nhiêu vốn, đầu tư khi nào… Trên cơ sở nghiên cứu thị trường để quyết định phương hướng
đầu tư mới nâng cao được hiệu quả của hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, cũng cần thấy rõ mặt trái
của thị trường khi lập kế hoạch đầu tư.
Thứ ba, coi trọng công tác dự báo khi lập kế hoạch đầu tư trong cơ chế thị trường. Dự báo là
một công cụ để lập kế hoạch.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác kế hoạch hóa đầu tư theo các chương trình dự án. Điểm mới của
công tác lập kế hoạch trong cơ chế thị trường là việc lập kế hoạch theo chương trình phát triển
và dự án. Chương trình phát triển là công cụ thực hiện kế hoạch, là tập hợp các mục tiêu, biện
pháp nhằm phối hợp một cách hiệu quả nhất mục tiêu kế hoạch đề ra trong điều kiện thời gian
và nguồn lực nhất định. Thực chất của công tác lập kế hoạch theo chương trình và dự án là lập
kế hoạch đầu tư phát triển trên cơ sở các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch, lựa chọn vấn đề
vào các chương trình phát triển và dự án là cơ sở thực hiện thành công kế hoạch đầu tư.
Thứ năm, kế hoạch đầu tư của Nhà nước trong cơ chế thị trường cần coi trọng cả kế hoạch
định hướng và kế hoạch trực tiếp . Kế hoạch đầu tư Nhà nước cần đảm bảo nhưng mặt cân đối
lớn của nền kinh tế, phản ánh toàn bộ hoạt động đầu tư và có định hướng phân công đầu tư
hợp lý giữa các thành phần kinh tế. Một số công trình đầu tư quan trọng có ảnh hưởng lớn đến
đời sống kinh tế, xã hội, an ninh quốc gia và nguồn vốn của Nhà nước cần được Nhà nước trực
tiếp lập kế hoạch đầu tư. Tuy nhiên, nhà nước quản lý quá trình đầu tư chủ yếu bằng luật pháp,
bằng các phương pháp khuyến khích hay hạn chế, bằng cơ chế chính sách, đòn bẩy kinh tế, sử
dụng triệt để quan hệ thị trường và lợi ích vật chất.
Thứ sáu, đảm bảo tính khoa học, đồng bộ, kịp thời và linh hoạt kịp thời của kế hoạch. Kế
hoạch đầu tư phải dựa trên những căn cứ khoa học về khả năng và thực trạng vốn đầu tư, tình
hình cung – cầu sản phẩm thị trường, chiến lược, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội,
chiến lược đầu tư chung của nền kinh tế, ngành, địa phương và đơn vị… Kế hoạch đầu tư phải
đồng bộ giữa nội dung đầu tư, giữa mục tiêu và biện pháp, đảm bảo tạo ra cơ cấu đầu tư hợp
lý, có tính linh hoạt cao. Kế hoạch sẽ được điều chỉnh khi thay đổi nhu cầu và nguồn lực.
Thứ bảy, kế hoạch đầu tư của Nhà nước phải đảm bảo những mặt cân đối lớn của nền kinh tế,
kết hợp tốt giữa nội lực và ngoại lực, kết hợp hài hòa giữa lợi ích hiện tại và lợi ích lâu dài, lợi
ích tổng thể với lợi ích cục bố , lấy hiệu quả kinh tế- xã hội làm tiêu chuẩn để xem xét, đánh
giá. Kế hoạch hóa đầu tư của Nhà nước là bộ phận rất quan trọng của kế hoạch đầu tư nói
chung. Với quy mô lớn, tập trung trong tay thành phần kinh tế Nhà nước, nhà nước xây dựng
và thực hiện kế hoạch hóa đầu tư có vị trí chiến lược quan trọng, ảnh hưởng đến toàn bộ nền lOMoAR cPSD| 58707906
kinh tế quốc dân, đảm bảo những cân đối trong nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi để phát huy
tiềm năng đầu tư các thành phần kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Thứ tám, Kế hoạch hóa đầu tư trực tiếp Nhà nước phải được xây dựng theo nguyên tắc từ dưới
lên. Để kế hoạch có tính thực thi cao, đặc biệt trong điều kiện sử dụng vốn Nhà nước thì kế
hoạch đầu tư cần thực hiện từ dưới lên. Dự án đầu tư là công cụ thực hiện kế hoạch đầu tư của
các tổ chức cơ sở. Cơ sở lập dự án đầu tư trình lên bộ, ngành, địa phương. Nhà nước xem xét
trên cơ sở đảm bảo sự cân đối chung của toàn bộ nền kinh tế, giữa các ngành, các địa phương
và cơ sở. Tổng hợp kế hoạch hóa đầu tư theo các dự án của cơ sở sẽ là kế hoạch đầu tư của
đơn vị và từ đó tổng hợp theo từng ngành, từng địa phương và từng cơ sở