











Preview text:
Đề bài: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII và Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH; Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng. I. Mở bài
Sau Đại hội Vl của Đảng với đường lối đổi mới tư duy các công tác tư tưởng,
Đại hội khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện, đánh dấu bước phát triển mới
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đến với nhau kỳ Đại hội mới là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
được tiến hành trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang có những diễn biến phức
tạp. Đó là sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và
Đông Âu, sự chống phá nhiều phía vào chủ nghĩa xã hội, vào chủ nghĩa Mác –
Lênin và Đảng Cộng sản, những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch quốc
tế hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực và sự hoang mang dao động của một bộ
phận những người cộng sản trên thế giới đã tác động đến tư tưởng và tình cảm của
một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam.
Đất nước ta cũng phải đương đầu với các hoạt động phá hoại của các lực lượng thù
địch ở cả trong và ngoài nước. Tình hình kinh tế và đời sống của nhân dân vẫn còn
khó khăn, đất nước vẫn trong tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội. Tuy nhiên,
công cuộc đổi mới được Đảng ta đề ra từ Đại hội lần thứ VI (12/1986), bước đầu
đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhờ đó mà nước ta đã đứng vững và tiếp tục phát triển.
Đồng chí Võ Chí Công đọc Diễn văn khai mạc. Đồng chí Nguyễn Văn Linh đọc
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương về các văn kiện Đại hội VII (1991-1995). Mục tiêu:
Báo cáo chính trị xác định: “mục tiêu tổng quát của 5 năm tới là vượt khó khăn thử
thách ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi
tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta cơ bản thoát khỏi tình trạng khủng hoảng
hiện nay”. Báo cáo cũng chỉ rõ công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu, đó là:
Các mục tiêu của 3 chương trình kinh tế, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước, huy động được nguồn lực sản xuất của xã hội, tốc độ lạm phát được kiềm
chế, đời sống của một bộ phận nhân dân đã được cải thiện.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã tổng
kết cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1991 và nêu lên những bài học kinh nghiệm. Vai trò:
Về vai trò lãnh đạo của Đảng, Đại hội VII xác định vai trò của Đảng gắn liền với
việc xây dựng và thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, Chiến lược và công cuộc đổi
mới. Đồng thời gắn vai trò của Đảng với hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo hệ
thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết
với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến
pháp và pháp luật. Đặc biệt trong bối cảnh quốc tế, trong nước và tình hình Đảng ta
hiện nay việc xác định đúng và phát huy vai trò của Đảng càng có ý nghĩa đặc biệt.
+ Về bản chất giai cấp của Đảng, Đại hội VII khẳng định Đảng Cộng sản Việt
Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi
ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.
+ Về nền tảng tư tưởng của Đảng, Đại hội VII khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.
+ Đại hội VII tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng, kiên trì và tích cực đẩy mạnh
công cuộc đổi mới do chính bản thân Đảng khởi xướng theo những nguyên tắc đã
được xác định… Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có nguyên tắc và có bước đi vững
chắc, đó là mệnh lệnh của cuộc sống, là quá trình không thể đảo ngược”. II. Thân bài
1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam
a. Thời gian địa điểm, bối cảnh lịch sử.
Đại hội đại biển toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam được tổ chức
từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991 tại Hội trường ba Đình, Thủ đô Hà Nội
Đại hội VII là Đại hội của trí tuệ-đổi mới, dân chủ-kỷ cương-đoàn kết; là Đại hội
lần đầu tiên thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
Chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội một lần nữa khẳng định Đảng Cộng sản Việt
Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi
ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy Chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam được tiến
hành vào tháng 6-1991, trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang có những diễn
biến phức tạp. Đó là những biến động đã và đang xảy ra trong các nước xã hội chủ
nghĩa, sự tiến công nhiều phía vào chủ nghĩa xã hội, vào chủ nghĩa Mác-Lênin và
Đảng cộng sản, những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch quốc tế hòng
xóa bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực và sự hoang mang dao động trong một bộ phận
lớn những người cộng sản trên thế giới đã tác động mạnh đến tư tưởng và tình cảm
của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam. Đất nước ta
cũng phải đương đầu với các hoạt động phá hoại của các lực lượng thù địch ở cả
ngoài nước và ở trong nước. Nhưng nhờ những thành tựu bước đầu của gần năm
năm đổi mới, chúng ta đã đứng vững và tiếp tục tiến lên, mặc dù còn nhiều khó
khăn. Đất nước vẫn chưa chấm dứt được sự khủng hoảng về kinh tế - xã hội. b. Nội dung Đại Hội.
Nội dung cơ bản của Đại hội VII:
- Đại hội đã đánh giá quá trình thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI đề
ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và nhận định: Sau hơn 4 năm đưa Nghị
quyết Đại hội VI vào cuộc sống, các chủ trương, chính sách đổi mới bắt đầu mang
lại những kết quả nhất định: Tình hình chính trị của đất nước: ổn định; nền kinh tế
có những bước phát triển, đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các
mục tiêu của ba chương trình kinh tế (lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng,
hàng xuất khẩu); kinh tế đối ngoại phát triển nhanh, mở rộng hơn về quy mô, hình
thức, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội; bước đầu hình thành nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước. Quyền dân chủ của nhân dân ngày càng được phát huy. Quốc phòng
được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm, từng bước phá thế bao vây về kinh
tế, chính trị. Quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, tạo ra môi trường thuận lợi để
đẩy mạnh công cuộc đổi mới.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thì những yếu kém và khó khăn còn rất
lớn: Đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiều vấn đề kinh tế -
xã hội nóng bỏng chưa được giải quyết như lạm phát cao, lao động thiếu việc làm,
nhiều cơ sở sản xuất đình đốn kéo dài. Số lao động thiếu việc làm tăng. Chế độ
lương bất hợp lý. Tốc độ dân số còn quá cao; tình trạng vi phạm dân chủ còn
nhiều; văn hoá xã hội có những mặt tiếp tục xuống cấp. Tình trạng tham nhũng,
tiêu cực, bất công trong xã hội tăng thêm, an ninh trật tự và an toàn xã hội còn
phức tạp, vẫn còn nhân tố gây mất ổn định chính trị, bộ máy nhà nước, Đảng và
các đoàn thể nhân dân cồng kềnh, quan liêu, hoạt động kém hiệu quả.
Đại hội đã làm rõ nguyên nhân của khuyết điểm, yếu kém, đồng thời bước đầu rút
ra năm kinh nghiệm trong tiến hành công cuộc đổi mới:
Một là: Phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới.
Hai là: Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp.
Ba là: Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đi đôi với tăng cường vai trò
quản lý của Nhà nước về kinh tế - xã hội.
Bốn là: Phát huy ngày càng sâu rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Năm là: Quan tâm dự báo tình hình, kết hợp phát hiện và giải quyết đúng đắn
những vấn đề mới nảy sinh, tăng cường tổng kết thực tiễn và không ngừng hoàn
chỉnh lý luận về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đại hội có nhiệm vụ tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, đánh giá
những việc làm được, những việc có thể làm nhưng chưa làm được, những vấn đề
mới nảy sinh, chỉ ra những ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và những kinh
nghiệm tiến hành đổi mới trên các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội. Trên cơ
sở đó Đại hội đề ra phương hướng, mục tiêu và các nhiệm vụ chủ yếu cho năm
năm tới. ý nghĩa trọng đại của Đại hội VII còn ở chỗ, đây là lần đầu tiên Đại hội
thông qua Cương lĩnh vạch ra những quan niệm và phương hướng cơ bản về thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thông qua chiến lược ổn định và phát
triển kinh tế, xã hội đến năm 2000.
c. Nội dung cương lĩnh được thông qua tại đại hội.
Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
+ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã tổng
kết cách mạng Việt Nam từ năm 1930, nêu lên những bài học và đặc biệt là xác
định sáu đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng do
nhân dân lao động làm chủ: có một nền kinh tế phát triển cần dựa trên lực lượng
sản xuất, hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu: có nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc
lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình
đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác
với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
+ Cương lĩnh xác định quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu
dài, phải trải qua nhiều chặng đường. Do vậy, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ Tổ quốc cần nắm vững bảy phương hướng cơ bản sau đây:
Một là, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân, vì dân, lấy
liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng lãnh đạo.
Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện
đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm
nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không
ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.
Ba là, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự
đa dạng hoá về hình thức sở hữu, phù hợp với sự phát triển lực lượng sản xuất.
Phát triển liền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Bốn là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá
làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí
chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa, phát huy những truyền thống văn
hoá tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
Năm là, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận
dân tộc thống nhất. Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác và hữu nghị
với tất cả các nước.
Sáu là, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ chiến lược của
cách mạng Việt Nam. Nâng cao tinh thần cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ.
"Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ
bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính
trị và tư tưởng, văn hoá phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh".
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991
là mốc đánh dấu sự phát triển tư duy chính trị của Đảng ta, thể hiện nhận thức sâu
sắc về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về công cuộc đổi mới.
Để thực hiện dân giàu nước mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa, điều quan
trọng nhất là phải cải biến căn bản tình trạng kinh tế, xã hội kém phát triển, chiến
thắng những lực lượng cản trở việc thực hiện mục tiêu đó, trước hết là các lực
lượng thù địch chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường.
Cương lĩnh cũng nêu lên những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc
phòng, an ninh, đối ngoại, về hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng.
"Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại
biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, và của cả dân
tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.
Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách
và chủ trương công tác, bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ
chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu
những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ
quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm thay công việc của
các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng
liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong
khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật".
- Đại hội thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000.
Chiến lược ghi rõ mục tiêu phát triển là "Phát triển kinh tế - xã hội theo con đường
củng cố độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình thực
hiện dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ,
nhân ái, có văn hoá, có kỷ cương, xoá bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện cho mọi
người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc".
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược đến năm 2000 là: "ra khỏi khủng hoảng, ổn
định tình hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém
phát triển, cải thiện đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo
điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI. Tổng sản phẩm
trong nước (GDP) đến năm 2000 tăng khoảng gấp đôi so với năm 1990".
- Đại hội thông qua Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi điều lệ Đảng, khẳng định
vai trò lãnh đạo của Đảng gắn liền với việc xây dựng và thực hiện Cương lĩnh,
Chiến lược và công cuộc đổi mới đất nước.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung Ương (khóa VII) gồm 146 ủy viên. Đồng chí
Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.
Đại hội VII là cột mốc mới trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước
trưởng thành của Đảng ta. Đại hội đã thực sự làm tròn trách nhiệm mà lịch sử giao
phó, đó là "Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ cương - đoàn kết".
- Đại hội đã hoạch định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc
điểm của Việt Nam và những giải pháp đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế -
xã hội, đặt cơ sở và quyết định những bước đi cho sự phát triển mạnh mẽ của đất
nước. Từ đó củng cố thêm niềm tin tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối
với công cuộc đổi mới đất nước.
- Trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang diễn ra những biến đổi phức tạp thì
“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội” đã
thể hiện bản lĩnh vững vàng, sự kiên định về lập trường chính trị của Đảng ta
trong quá trình lãnh đạo cách mạng và tạo niềm tin cho nhân dân ta về sự thắng
lợi tất yếu của công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Lần đầu tiên trong lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có một
bản Cương lĩnh toàn diện, khái quát và nêu lên những vấn đề cơ bản trên các lĩnh
vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hộ, an ninh quốc phòng của đất nước, chỉ đạo
toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong công cuộc đổi mới.
- Những quan điểm và nguyên tắc được Đại hội VII khẳng định:
+ Về vai trò lãnh đạo của Đảng, Đại hội VII xác định vai trò của Đảng gắn liền
với việc xây dựng và thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, Chiến lược và công cuộc đổi
mới. Đồng thời gắn vai trò của Đảng với hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo hệ
thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết
với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến
pháp và pháp luật. Đặc biệt trong bối cảnh quốc tế, trong nước và tình hình Đảng ta
hiện nay việc xác định đúng và phát huy vai trò của Đảng càng có ý nghĩa đặc biệt.
Đảng lãnh đạo xã hội bằng Cương lĩnh, Chiến lược, các định hướng về chính sách
và chủ trương công tác, bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ
chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên.
Đại hội VII khẳng định tăng cường lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một
tất yếu vì trong điều kiện nước ta Đảng Cộng sản là lực lượng duy nhất lãnh đạo.
+ Về bản chất giai cấp của Đảng, Đại hội VII khẳng định Đảng Cộng sản Việt
Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi
ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.
+ Về nền tảng tư tưởng của Đảng, Đại hội VII khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.
+ Về mục đích của Đảng, Đại hội VII xác định Đảng lãnh đạo nhân dân xây dựng
nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa và cuối cùng
là thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.
+ Đại hội VII khẳng định tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng. Đại hội VII coi việc
tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng là yêu
cầu quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng, là công việc thường xuyên
bảo đảm cho Đảng ta luôn luôn ngang tầm nhiệm vụ cách mạng.
Công tác xây dựng Đảng rất quan trọng nên việc đổi mới ,chỉnh đốn Đảng phải
được chỉ đạo một cách kiên quyết, có bước đi vững chắc làm từ Trung ương đến cơ
sở, bằng nhiều biện pháp đồng bộ, gắn với quá trình đổi mới cơ chế quản lý, tăng
cường hệ thống chính trị, cải cách bộ máy Nhà nước, dựa vào nhân dân, thông qua
phong trào cách mạng của nhân dân để đổi mới, chỉnh đốn Đảng.
2. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
• Tầm quan trọng của cương lĩnh trong quá trình đổi mới:
Cương lĩnh có ý nghĩa vô cùng to lớn, giải đáp đúng đắn vấn đề cơ bản của cách
mạng Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đặt nền tảng đoàn kết, thống nhất
tư tưởng với hành động, tạo ra sức mạnh tổng hợp đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển.
• Đề ra 7 phương hướng xây dựng CNXH
- Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa
- Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại gắn
liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm
- Thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa
dạng về hình thức sở hữu
- Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
- Tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng, làm cho thế giới quan Mác
Lênin, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội
- Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc
- Thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc
• Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000
- Mục tiêu tổng quát đến năm 2000 là ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh
tế - xã hội, phấn đấu vượt tình trạng nước nghèo và kém phát triển. GDP năm 2000
tăng gấp đôi so với năm 1990
- Đảng đề ra các quan điểm chỉ đạo chiến lược
* Chỉ đạo đổi mới về kinh tế:
+ Hội nghị TW5 (6/1993): đưa ra các chính sách đối với nông dân, nông nghiệp và nông thôn.
+ Hội nghị TW 7 (7/1994): chủ trương phát triển công nghiệp, công nghệ và xây
dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới. Khẳng định mục tiêu lâu dài của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta trở thành nước có cơ sở vật chất,
kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý.
* Chỉ đạo thực hiện về đối ngoại:
+ Năm 1991: Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Nhật Bản nối
lại quan hệ viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam (ODA)
+ Năm 1992: Việt Nam khai thông mối quan hệ với các tổ chức tiền tệ như ngân
hàng thế giới (WB), quỹ tiền tệ quốc tế (IMF),...
+ Năm 1994: Việt Nam phê chuẩn tham gia Công Ước về Luật biển 1982 của Liên Hợp Quốc
+ Năm 1995: Trở thành thành viên của ASEAN. Và có quan hệ ngoại giao với hơn
160 nước, quan hệ thương mại quốc tế buôn bán với trên 100 nước,...
* Chỉ đạo thực hiện trên lĩnh vực chính trị:
+ Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, tăng cường củng cố Mặt Trận Dân Tộc thống nhất
+ Hội nghị TW 3 ( 6/1992): đưa ra 3 quyết sách quan trọng: củng cố quốc phòng
an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, đổi mới và chỉnh đốn Đảng
* Chỉ đạo thực hiện trên các lĩnh vực khác:
Quyết sách của Hội nghị TW 4 (1/1993) đã xác định được chủ trương trên các lĩnh
vực văn hóa, giáo dục, dân số, ý tế,...
+ Đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo
+ Đưa ra một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ
+ Khẳng định các vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của toàn dân
+ Đưa ra chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình
+ Về công tác thanh niên trong thời kỳ mới
3. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng • Mục đích:
- Tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, đánh giá những việc làm được,
những việc có thể làm nhưng chưa làm được, những vấn đề mới nảy sinh.
- Chỉ ra những ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và những kinh nghiệm tiến
hành đổi mới trên các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội.
- Đề ra phương hướng, mục tiêu và các nhiệm vụ chủ yếu cho 5 năm tới ý nghĩa
trọng đại của Đại hội VII. • Ý nghĩa:
- Hội nghị tiếp tục khẳng định kiên trì với sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân
- Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, có đường lối, chính sách phù hợp với
quy luật và thực tiễn Việt Nam
• Đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ được Đại hội đặt ra:
- Tình hình chính trị của đất nước ổn định.
- Nền kinh tế có những chuyển biến tích cực đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong
việc thực hiện các mục tiêu của ba chương trình kinh tế:
• Bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
• Nguồn lực sản xuất của xã hội được huy động tốt hơn, tốc độ lạm phát được
kiềm chế bớt, đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận nhân dân có
phần được cải thiện.
- Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy.
- Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm. Từng bước phá thế
bị bao vây về kinh tế và chính trị, mở rộng quan hệ quốc tế, tạo ra môi trường
thuận lợi hơn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
• Điều chỉnh chính sách và chiến lược phù hợp với tình hình:
- Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân do ĐCS lãnh đạo.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, có sự phân công phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước.
- Coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội, kết hợp sức mạnh của pháp luật với
sức mạnh của quần chúng. III. Kết luận
Đại hội VII và Cương lĩnh là cột mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển mình và
phát triển của đất nước. Tại đại hội này, các nhà lãnh đạo cùng các đại biểu đại
diện cho toàn Đảng và xã hội thảo luận, đánh giá tình hình và đưa ra các quyết
sách quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển. Cương lĩnh được xây dựng và thông qua
tại đại hội này không chỉ xác định hướng đi chiến lược mà còn đề cập đến các biện
pháp cụ thể để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, và nâng
cao vị thế quốc gia. Điều này thúc đẩy sự đổi mới, tiến bộ trong mọi lĩnh vực và
tăng cường sự đồng thuận và đoàn kết trong xã hội, đóng góp tích cực vào quá
trình phát triển bền vững của đất nước.
Hội nghị giữa nhiệm kỳ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và điều
chỉnh chiến lược phát triển của đất nước. Trong quá trình này, hội nghị đánh giá
thực hiện cương lĩnh, đề xuất các biện pháp điều chỉnh và thúc đẩy, xác định các
ưu tiên mới, và định hình chiến lược tương lai. Điều này giúp đảm bảo rằng chiến
lược phát triển luôn phản ánh và thích nghi với biến động trong môi trường, đồng
thời đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả của đất nước.
Mục tiêu và tầm nhìn lâu dài của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng và phát
triển đất nước theo con đường CNXH vẫn được khẳng định mạnh mẽ. Điều này
bao gồm việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, cải thiện đời sống nhân dân,
tăng cường vị thế quốc gia và xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn
minh. Mục tiêu này không chỉ dừng lại ở việc đạt được sự phồn thịnh kinh tế mà
còn nhấn mạnh vào việc phát triển toàn diện, bao gồm cả mặt văn hóa, xã hội và
môi trường. Tầm nhìn của
Đảng và Nhà nước là xây dựng một đất nước mạnh mẽ, phồn thịnh, vững chắc trên
cơ sở cải thiện chất lượng cuộc sống cho mọi công dân, đồng thời đóng góp tích
cực vào hòa bình, ổn định và phát triển bền vững của khu vực và thế giới.