Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀ TÀI:
QUAN ĐIỂM” ĐẢNG LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH CỦA HỒ CHÍ MINH” Nhóm thực hiện : Nhóm 6
Giáo viên hướng dẫn : Hoàng Thị Thúy Lớp học phần : 241_HCMI0111_11 Hà Nội, tháng 10 năm 2024
BẢNG ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN STT Họ và tên Nhiệm vụ Đánh giá 92 Nguyễn Thị Thanh Phần 2.2-a 94 Ngô Thị Thảo Phần 1.2 95 Phạm Phương Thảo Thuyết trình 96 Trần Phương Thảo Phần 2.2-c 97 Trần Phương Thảo Phần 3.2 98 Trần Quang Thạch Phần 1.3 99 Hoàng Trung Thắng Word 100 Lê Thanh Thu PowerPoint 101 Phạm Minh Thư Phần 3.3 102 Hoàng Thu Trang Word 103 Lưu Thị Trang Thuyết trình 104 Ngô Yến Trang Phần 3.1
105 Trần Thị Quỳnh Trang Phần 2.2-d 106 Trần Thùy Trang PowerPoint 107 Trần Xuân Trường Phần 3.1 108 Trần Quốc Tuấn Phần 1.1 109 Bế Thị Uyên Phần 2.2-d 100 Nguyễn Quang Vinh Phần 2.1 111 Vũ Tô Hà Vy Phần 2.2-b 2 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM "ĐẢNG LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH" 5
1.1. Khái niệm Đảng Cộng sản Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh 5
1.2. Khái niệm đạo đức và văn minh trong tư tưởng Hồ Chí Minh 5
1.3. Tổng quan về quan điểm "Đảng là đạo đức, là văn minh" 6
CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUAN ĐIỂM "ĐẢNG LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH" 8
2.1. Bối cảnh quan điểm “Đảng là đạo đức, là văn minh” 8
2.2. Biểu hiện của quan điểm “Đảng là đạo đức, là văn minh” 8
2.2.1. Biểu hiện ở mục đích của Đảng 8
2.2.2. Biểu hiện về lý luận cách mạng của Đảng 9
2.2.3. Biểu hiện về tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, kỷ luật
nghiêm minh, lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. 10
2.2.4. Biểu hiện về ứng dụng văn minh trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hóa và xã hội của Đảng 11
2.3. Sự kết hợp giữa đạo đức và văn minh trong xây dựng Đảng và đất nước 15
CHƯƠNG 3. Ý NGHĨA THỰC TIỄN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ QUAN
ĐIỂM "ĐẢNG LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH" 18
3.1. Ý nghĩa của quan điểm "Đảng là đạo đức, là văn minh" đối với công cuộc
xây dựng và phát triển đất nước 18
3.2. Bài học kinh nghiệm từ việc thực hiện quan điểm này trong lịch sử cách mạng Việt Nam 20
3.3. Giải pháp nâng cao vai trò của đạo đức và văn minh trong xây dựng Đảng hiện nay 23 KẾT LUẬN 27 TÀI LIỆU THAM KHẢO 28 3 LỜI MỞ ĐẦU
Trong hành trình dài đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, Hồ Chí Minh
không chỉ để lại cho chúng ta một di sản vĩ đại về tư tưởng và đạo đức cách mạng, mà còn
định hình rõ nét vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Một trong những quan điểm nổi bật của Người chính là "Đảng là đạo đức, là văn
minh." Quan điểm này không chỉ phản ánh tầm nhìn xa trông rộng của Hồ Chí Minh mà
còn khẳng định bản chất và sứ mệnh cao cả của Đảng trong mối liên hệ với đời sống xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức là nền tảng của mọi hoạt động cách mạng. Đảng
không chỉ là tổ chức chính trị mà còn phải là ngọn đuốc soi đường, là biểu tượng của
những giá trị tốt đẹp, mang trong mình trách nhiệm chăm lo cho cuộc sống của nhân dân.
Trong bối cảnh đất nước hiện nay, khi mà những vấn đề như tham nhũng, lạm quyền, và
xa rời quần chúng vẫn còn tồn tại, việc thấu hiểu và thực hiện quan điểm này càng trở nên
cấp bách hơn bao giờ hết.
Bài thảo luận này sẽ tập trung phân tích sâu sắc ý nghĩa của quan điểm “Đảng là
đạo đức, là văn minh” từ nhiều góc độ khác nhau. Chúng ta sẽ xem xét sự tác động của
quan điểm này đối với việc xây dựng Đảng vững mạnh, trong sạch, và hiện đại; đồng thời
làm rõ vai trò của đạo đức trong sự phát triển bền vững của đất nước. Qua đó, bài thảo
luận cũng sẽ rút ra những bài học quý giá cho việc thực hiện nhiệm vụ của Đảng trong bối
cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. 4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM "ĐẢNG LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH"
1.1. Khái niệm Đảng Cộng sản Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Khi đề cập các yếu tố cho sự ra đời của Đảng Cộng sản, xuất phát từ hoàn cảnh cụ
thể của nước Nga và của phong trào công nhân châu Âu, V.I.Lênin nêu lên hai yếu tố, đó
là sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân, bên cạnh hai yếu tố chủ nghĩa
Mác - Lênin và phong trào công nhân, Hồ Chí Minh còn kể đến yếu tố thứ ba, đó là phong trào yêu nước.
Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Hồ Chí Minh viết bài Ba mươi năm
hoạt động của Đảng, trong đó chỉ rõ: Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào
đầu năm 1930. Đây chính là một quan điểm quan trọng của Hồ Chí Minh về sự hình
thành Đảng Cộng sản Việt Nam, là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trên cơ
sở tổng kết thực tiễn Việt Nam.
Hồ Chí Minh đánh giá cao vị trí, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam
trong sắp xếp lực lượng cách mạng. Số lượng giai cấp công nhân Việt Nam tuy ít nhưng
theo Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của lực lượng cách mạng không phải do số lượng của
lực lượng đó quyết định. Hồ Chí Minh chỉ rõ đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam
là: kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật.
1.2. Khái niệm đạo đức và văn minh trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức là nguồn nuôi dưỡng, phát triển con người.
Người nhiều lần khẳng định đạo đức là gốc, là nền tảng, là sức mạnh, là tiêu chuẩn hàng
đầu của người cách mạng. Trong Di chúc, Người viết “Đảng ta là một Đảng cầm quyền.
Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm
liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người
lãnh đạo, là đầy tớ trung thành của nhân dân”
Cũng theo Người, một đảng văn minh là khi lời nói và việc làm của đảng phải làm
cho nhân dân tin, nhân dân phục, nhân dân yêu; ngược lại, mất lòng tin của nhân dân là
mất tất cả, bởi “Ý DÂN LÀ TRỜI. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý
nguyện của dân thì ắt bại”.
Một đảng đạo đức, văn minh phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho
Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mục đích của
người cách mạng là để làm đầy tớ cho nhân dân, một người đầy tớ xứng đáng, trong sạch,
trung thành chứ không phải là mục đích thăng quan phát tài”. Nói cách khác, đạo đức
cách mạng cao nhất của Đảng và mỗi đảng viên là chí công vô tư. Đảng viên phải thật thà,
trung thành, hăng hái; trọng lợi ích của cách mạng hơn tính mệnh của mình; phải hy sinh 5
lợi ích của mình cho Đảng, cho Tổ quốc và dân tộc. Bất kỳ lúc nào, bất kỳ việc gì, người
cán bộ, đảng viên đều phải tính đến lợi ích chung, phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc,
của Tổ quốc lên trên hết, trước hết.
1.3. Tổng quan về quan điểm "Đảng là đạo đức, là văn minh"
Quan điểm "Đảng là đạo đức, là văn minh" không phải là một phát biểu ngẫu nhiên
mà là kết quả của quá trình tích lũy kinh nghiệm, suy ngẫm sâu sắc và đúc kết thực tiễn
của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam.
Quan điểm trên có nguồn gốc từ tư tưởng Mác - Lênin về vai trò của giai cấp công
nhân và Đảng cộng sản trong việc lãnh đạo cách mạng. Mác và Lênin đã nhấn mạnh tầm
quan trọng của đạo đức cách mạng, của sự tận tụy phục vụ nhân dân trong hoạt động của
Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của
dân tộc Việt Nam như: nhân nghĩa, lễ nghĩa, trung hiếu, yêu nước, thương người... vào
việc xây dựng Đảng. Những giá trị này đã trở thành nền tảng vững chắc cho đạo đức cách mạng của Đảng ta.
Trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội,
Đảng ta đã trải qua nhiều khó khăn, thử thách. Chính trong quá trình đó, Đảng đã rèn
luyện và hình thành nên những phẩm chất đạo đức cao quý. Đảng viên luôn đặt lợi ích
của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng.
Đạo đức là nền tảng vững chắc cho Đảng. Đạo đức cách mạng không chỉ là một
khái niệm trừu tượng mà là một yêu cầu thiết thực, là thước đo mức độ thành công của
Đảng. Một đảng viên có đạo đức cao sẽ luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên
trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Đạo đức cách mạng giúp
xây dựng lòng tin trong nhân dân, tăng cường đoàn kết nội bộ và ngăn chặn những hành vi tiêu cực.
Văn minh là động lực thúc đẩy sự phát triển của Đảng. Một Đảng văn minh là một
Đảng không ngừng đổi mới, sáng tạo, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại. Văn minh
thể hiện ở năng lực lãnh đạo, phương pháp làm việc và mối quan hệ với nhân dân. Đảng
văn minh phải có những người lãnh đạo tài năng, có tầm nhìn xa trông rộng, đưa ra những
quyết sách đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế. Đồng thời, Đảng phải có phương
pháp làm việc khoa học, dân chủ, hiệu quả, tận dụng tối đa các thành tựu của khoa học -
công nghệ. Và quan trọng hơn, Đảng văn minh luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, tôn
trọng quyền tự do của công dân, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng.
Đạo đức và văn minh là yếu tố quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng
đất nước. Một xã hội có đạo đức là một xã hội mà mọi người đều có ý thức trách nhiệm
với cộng đồng, tôn trọng pháp luật, sống hòa hợp với nhau. 6
Xây dựng một Đảng "là đạo đức, là văn minh" là một mục tiêu lâu dài của Đảng.
Để đạt được mục tiêu này, cần phải nâng cao nhận thức, rèn luyện đạo đức và xây dựng
cơ chế, chính sách phù hợp. Tuyên truyền, giáo dục để mọi người hiểu rõ tầm quan trọng
của đạo đức và văn minh là điều cần thiết. Đồng thời, tổ chức các hoạt động giáo dục, rèn
luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân cũng là một nhiệm vụ quan trọng. Bên
cạnh đó, hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích
những hành vi tốt đẹp, xử lý nghiêm những hành vi sai trái cũng là những giải pháp cần thiết. 7
CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUAN ĐIỂM "ĐẢNG LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH"
2.1. Bối cảnh quan điểm “Đảng là đạo đức, là văn minh”
Quan điểm "Đảng là đạo đức, là văn minh" ở Việt Nam xuất phát từ vai trò và vị trí
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xã hội. Đây là một phần trong hệ thống tư tưởng
chính trị, thể hiện sự kết hợp giữa lý luận Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhấn
mạnh đến vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng và phát triển đất nước.
Thời kì kháng chiến và xây dựng đất nước
Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng đã lãnh
đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập, tự do. Điều này khẳng định vai trò của Đảng như
một tổ chức lãnh đạo có đạo đức và tinh thần trách nhiệm với dân tộc. Vừa mới ra đời,
Đảng ta trở thành người lãnh đạo, người tổ chức của cách mạng Việt Nam. Suốt hơn 90
năm qua, dưới ngọn cờ của Đảng, dân tộc ta và nhân dân ta vượt qua muôn vàn thử thách
gian lao, biến động của lịch sử, đấu tranh gian khổ lâu dài, đẩy lùi nghèo nàn lạc hậu, đổi
bằng xương máu giành độc lập tự do, làm nên những kỳ tích anh hùng, đưa cách mạng
nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, viết tiếp những trang sử vàng của dân tộc. Thời kỳ đổi mới
Từ năm 1986, chính sách đổi mới đã đưa Việt Nam vào giai đoạn phát triển mới,
tạo ra những thành tựu kinh tế và xã hội. Quan điểm "Đảng là đạo đức, là văn minh" được
nhấn mạnh trong bối cảnh cần xây dựng Đảng vững mạnh, trong sạch và phục vụ nhân
dân. Dù giá trị đạo đức của xã hội có biến động như thế nào thì lý tưởng chính trị và lý
tưởng đạo đức của người đảng viên cộng sản vẫn không hề thay đổi. Quan điểm trên
không chỉ là một lý thuyết mà còn là một yêu cầu thực tiễn, giúp Đảng duy trì sự lãnh đạo
vững mạnh, đồng thời nâng cao đời sống nhân dân và phát triển xã hội. Việc tiếp tục hoàn
thiện bản thân và nâng cao đạo đức cách mạng của Đảng là yếu tố quan trọng để bảo đảm
sự phát triển bền vững trong tương lai.
2.2. Biểu hiện của quan điểm “Đảng là đạo đức, là văn minh”
2.2.1. Biểu hiện ở mục đích của Đảng
Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” trước hết thể hiện ở bản chất và mục đích của
Đảng, “đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân
lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và của dân tộc”. Một Đảng đạo đức, văn minh không phải là một tổ
chức để làm quan phát tài, mà phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ
quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mục đích của
người cách mạng là để làm đầy tớ cho nhân dân, một người đầy tớ xứng đáng, trong sạch,
trung thành chứ không phải là mục đích thăng quan phát tài”. Nói cách khác, đạo đức 8
cách mạng cao nhất của Đảng và mỗi đảng viên là chí công vô tư. Đảng viên phải thật thà,
trung thành, hăng hái; trọng lợi ích của cách mạng hơn tính mệnh của mình; phải hy sinh
lợi ích của mình cho Đảng, cho Tổ quốc và dân tộc. Bất kỳ lúc nào, bất kỳ việc gì, người
cán bộ, đảng viên đều phải tính đến lợi ích chung, phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc,
của Tổ quốc lên trên hết, trước hết.
Mục đích của Đảng là lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc, xã hội, giai cấp, con
người. Đó là sự nghiệp cách mạng theo chủ nghĩa Mác Lênin, làm cho dân tộc độc lập,
nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, đoàn kết, hữu nghị với các dân tộc trên
thế giới. Đây được coi là “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của Đảng. Mọi cương lĩnh,
đường lối, chủ trương mà Đảng đề xuất, xây dựng và ban hành đều phải hướng đến mục
đích đó. Đảng đại diện, tiêu biểu cho lợi ích của dân tộc, của toàn dân. Hồ Chí Minh
nhiều lần chỉ rõ ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân, dân tộc, Đảng không
có lợi ích nào khác. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960) viết: ' Đảng ta
không những là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân Việt Nam mà
đồng thời còn là đại biểu trung thành cho lợi ích chân chính của nhân dân lao động và của
dân tộc. Sự ra đời và phát triển của Đảng đều vì mục đích cho đất nước hùng cường đi lên
chủ nghĩa xã hội, đem lại quyền lợi cho nhân dân. Đảng luôn phải trung thành với lợi ích
toàn dân tộc vì Đảng không có mục đích riêng, Đảng không phục vụ cho lợi ích riêng của
bất cứ cá nhân nào. “Lý do tồn tại của Đảng là ở đó. Đạo đức và văn minh của Đảng cũng là ở đó”
2.2.2. Biểu hiện về lý luận cách mạng của Đảng
Định hướng giá trị đạo đức trong cách mạng
Thực tiễn học tập và làm theo Bác: Việc triển khai Chỉ thị 05-CT/TW đã thúc đẩy
nhiều phong trào học tập, rèn luyện đạo đức trong các tổ chức Đảng và chính quyền.
Nhiều địa phương đã tổ chức các buổi sinh hoạt chính trị, chia sẻ kinh nghiệm, gương
điển hình, qua đó lan tỏa những giá trị tốt đẹp đến cộng đồng.
Cách mạng xã hội gắn liền với văn minh
Chương trình giảm nghèo bền vững: Chính sách giảm nghèo bền vững đã giúp
hàng triệu hộ dân thoát nghèo. Chương trình "Mỗi xã một sản phẩm" (OCOP) không chỉ
phát triển kinh tế mà còn tạo ra sản phẩm văn hóa đặc trưng, thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Phát triển văn hóa: Các lễ hội văn hóa, nghệ thuật được tổ chức thường xuyên, như
Festival Huế hay Ngày hội văn hóa các dân tộc, đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần
và tạo cơ hội cho người dân giao lưu, học hỏi.  9
Chống tham nhũng và tiêu cực
Kết quả đấu tranh chống tham nhũng: Các vụ xử lý như vụ Đinh La Thăng hay
Nguyễn Bắc Son đã tạo ra hiệu ứng tích cực, củng cố niềm tin của nhân dân. Những vụ án
này không chỉ dừng lại ở việc xử lý cá nhân mà còn mở ra cuộc cách mạng trong quản lý
công, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.
Chính sách minh bạch hóa: Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà
nước, như việc công khai thông tin đầu tư công qua các trang web chính thức, đã giúp
người dân theo dõi và giám sát hoạt động của chính quyền.
Tôn trọng nhân dân và dân chủ
Tiếp nhận ý kiến từ người dân: Các hình thức như hội nghị cử tri, đối thoại trực
tiếp giữa lãnh đạo với người dân đã được tổ chức rộng rãi, giúp nhân dân bày tỏ nguyện
vọng và ý kiến đóng góp cho chính sách.
Thực hiện dân chủ trong Đảng: Việc tổ chức các hội nghị lấy ý kiến đảng viên về
các vấn đề quan trọng như sửa đổi Hiến pháp hay xây dựng các chương trình phát triển
địa phương thể hiện sự tôn trọng và khuyến khích ý kiến đóng góp từ cơ sở.
Tính tiên phong và gương mẫu
Phong trào thi đua yêu nước: Nhiều cá nhân, tập thể trong Đảng đã tích cực tham
gia các phong trào thi đua, như "Lao động giỏi, lao động sáng tạo", góp phần nâng cao
chất lượng công việc và tạo động lực cho nhân dân.
Gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ: Nhiều lãnh đạo, cán bộ gương mẫu trong
công việc, như các chương trình tình nguyện, hỗ trợ người nghèo, đã tạo cảm hứng cho
cộng đồng và củng cố thêm niềm tin vào Đảng.
2.2.3. Biểu hiện về tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, kỷ luật nghiêm
minh, lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.
Luận điểm "Đảng là đạo đức, là văn minh" thể hiện rất rõ thông qua các khía cạnh
như tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, kỷ luật nghiêm minh, và việc áp
dụng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Trước hết, về mặt tổ chức, Đảng thể hiện sự chặt chẽ thông qua việc không che
giấu khuyết điểm, luôn thẳng thắn tự phê bình và phê bình, cũng như không ngại thừa
nhận những sai lầm để từ đó sửa chữa, tiến bộ. Đây chính là biểu hiện của sự trung thực
và bản lĩnh dám đối diện với những hạn chế trong quá trình lãnh đạo. Điều này cũng
chứng minh Đảng là một tổ chức đạo đức và văn minh bởi Đảng không chỉ khắc phục các
lỗi lầm mà còn lấy đó làm bài học để cải thiện năng lực lãnh đạo và sự gắn kết với nhân dân. 10
Sự thống nhất ý chí và hành động được thể hiện qua quan điểm "Đảng mạnh là nhờ
sự ủng hộ của nhân dân." Điều này cho thấy mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa Đảng và
quần chúng. Đảng không chỉ đại diện cho ý chí của mình mà còn là sự tập trung của ý
nguyện của toàn dân, đảm bảo rằng mọi hoạt động và quyết định của Đảng đều phù hợp
với lợi ích chung. Việc duy trì sự thống nhất này đòi hỏi Đảng phải giữ vững chủ nghĩa,
đoàn kết từ trên xuống dưới, đồng thời lắng nghe và tôn trọng ý kiến của quần chúng.
Điều này phản ánh tầm nhìn và tư duy khoa học của Đảng khi biết thích ứng và thay đổi
phù hợp với tình hình thực tiễn, một biểu hiện rõ ràng của tư duy văn minh.
Kỷ luật nghiêm minh là một trong những yếu tố quan trọng khác mà Đảng thực
hiện để giữ vững sức mạnh tổ chức và uy tín trước nhân dân. Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng,
Đảng không thể không có kỷ luật, và các sai lầm, bất liêm phải bị trừng trị, dù người đó
nắm giữ cương vị nào. Điều này thể hiện rõ rằng Đảng không dung túng sai phạm, và
pháp luật phải nghiêm minh. Đảng phải luôn hành động theo nguyên tắc và kỷ luật
nghiêm túc từ trên xuống dưới, đảm bảo sự thống nhất trong tư tưởng và hành động, một
biểu hiện đặc trưng của một đảng văn minh và đạo đức.
Nguyên tắc tập trung dân chủ cũng được xem là nguyên tắc cơ bản cho sự hoạt
động của Đảng. Dân chủ là chìa khóa giúp Đảng giải quyết mọi khó khăn, và tập trung
dân chủ đảm bảo rằng mọi quyết định được đưa ra đều mang tính đồng thuận và đại diện
cho lợi ích chung. Việc này không chỉ thể hiện sự đạo đức của Đảng trong việc đặt quyền
lợi của nhân dân lên trên hết, mà còn là sự văn minh trong cách thức tổ chức khi lắng
nghe và tôn trọng ý kiến từ mọi tầng lớp nhân dân. Quyền làm chủ của nhân dân, quyền
phê bình Đảng cũng là biểu hiện của chế độ dân chủ, nơi mà dân là chủ và Đảng là người đầy tớ trung thành.
Như vậy, Đảng thể hiện được sự đạo đức và văn minh thông qua việc xây dựng tổ
chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, giữ gìn kỷ luật nghiêm minh, và áp dụng
nguyên tắc tập trung dân chủ, tất cả đều nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và sự phát triển của đất nước.
2.2.4. Biểu hiện về ứng dụng văn minh trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của Đảng
Về lĩnh vực chính trị
Một trong những biểu hiện có giá trị nhất của một đảng đạo đức, văn minh là thực
hành dân chủ theo đúng nghĩa “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Trong
đó quyền lực thuộc về nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng mọi quyền lực nhà nước đều xuất phát từ nhân dân.
Nhà nước của nhân dân: Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định nước ta là nước dân
chủ; địa vị cao nhất là nhân dân, vì dân là chủ; bao nhiêu quyền hạn là của nhân dân;
quyền hành và lực lượng đều nằm trong tay nhân dân. Quan điểm trên đã thể hiện rõ tính 11
dân chủ một cách triệt để của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), trở thành nguyên tắc cơ bản tổ chức bộ máy quyền lực nhà
nước và phải được thể hiện rõ trong các văn bản pháp lý mà đạo luật cao nhất là Hiến
pháp. Mối quan hệ giữa nhân dân với cán bộ nhà nước trên cơ sở nhân dân là chủ thể nắm
giữ quyền lực đã được Hồ Chí Minh xác định rõ dựa trên vị thế và mối quan hệ giữa họ.
Đó là cơ chế mà nhân dân có thể tạo ra quyền lực nhà nước một cách dân chủ, nhân dân
có quyền kiểm soát quyền lực nhà nước một cách hữu hiệu và nhân dân có quyền thu hồi
lại quyền lực nhà nước nếu có sự tha hóa. Từ yêu cầu đó Hồ Chí Minh đã nêu lên và thực hiện 3 vấn đề:
Một là, xây dựng một chế độ bầu cử dân chủ nhằm bảo đảm “Chính quyền từ xã
đến chính phủ trung ương do dân cử ra”
Hai là, xây dựng cơ chế để “nhân dân có quyền mãi đại biểu Quốc hội và đại biểu
Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của
nhân dân. nguyên tắc ấy đảm bảo quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại biểu của mình”.
Ba là, xây dựng một cơ chế “luật pháp dân chủ và là công cụ quyền lực của nhân dân”
Nhà nước do nhân dân: Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước do nhân dân trước
hết phải là nhà nước do nhân dân lập nên sau thắng lợi của sự nghiệp cách mạng vẻ vang
của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà nước do nhân dân
còn có ý nghĩa “dân làm chủ”. Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, có
nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa
vụ làm trong bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân.” Kế thừa và phát triển tư
tưởng “Dân là gốc” của Nho giáo, truyền thống “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền
gốc” của các triều đại phong kiến tiến bộ Việt Nam và quan điểm “quần chúng là người
làm nên lịch sử” của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng tư tưởng
độc đáo về dân chủ, tức “Dân là chủ” và “Dân làm chủ”. Trong quan niệm của Hồ Chí
Minh, quyền là chủ của người dân được thể hiện ở nhiều khía cạnh.
Một là, quyền bầu cử và ứng cử.
Hai là, quyền giám sát, góp ý, phê bình cán bộ và các cơ quan nhà nước.
Ba là, quyền bãi miễn các đại biểu do mình bầu ra.
Bốn là, quyền khiếu nại và tố cáo việc làm sai phạm của cá nhân và cơ quan nhà nước.
Nhà nước vì nhân dân: Nhà nước vì dân là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện
vọng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, phải thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm,
chính. Nhà nước ta là thành quả của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 do nhân dân 12
ta tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bộ máy Nhà nước ta do nhân
dân bầu ra. Nhà nước hoạt động vì lợi ích của nhân dân. Ngay sau ngày Cách mạng tháng
Tám thành công, Hồ Chí Minh đã nêu bật sự khác nhau căn bản về chất giữa Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa với các loại hình nhà nước trước đó: “Chúng ta phải hiểu
rằng, các cơ quan Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân,
nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ
dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại
đến dân, ta phải hết sức tránh”. Theo Hồ Chí Minh việc đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu, lợi
ích của nhân dân là tiêu chí số một để đánh giá hiệu quả năng lực hoạt động của nhà nước. Về lĩnh vực kinh tế
Đạo đức và văn minh của Đảng thể hiện ở tư duy khoa học, cách mạng, đổi mới,
sáng tạo, tầm nhìn về tương lai, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển
của thế giới. Theo V.I. Lê-nin, người cộng sản phải có dũng khí nhìn vào sự thật, phải có
gan vứt bỏ những nhận thức của ngày hôm qua không phù hợp với tình hình diễn biến của
ngày hôm nay, phải biết “thay đổi sách lược, chọn một con đường khác để đi tới đích của
chúng ta, nếu con đường cũ, trong một thời gian nhất định nào đó, xem ra không thích
hợp nữa, không đi theo được nữa”. Đó chính là phương châm hành động “dĩ bất biến ứng
vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện trong suốt sự nghiệp cách mạng của mình.
Mọi công cuộc đổi mới đều bắt đầu từ đổi mới tư duy. Công cuộc đổi mới toàn
diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng tại Đại hội VI (12-1986) cũng bắt
đầu từ đổi mới tư duy. Bối cảnh đất nước rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế -
xã hội lúc đó đặt ra tình huống “đổi mới hay là chết”; Đảng ta với bản lĩnh và quyết tâm
chính trị cao, chỉ rõ phải nhìn thẳng vào sự thật. Đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, và
rút ra phải mở đầu công cuộc đổi mới bằng đổi mới tư duy, mà trước hết là đổi mới tư duy
kinh tế. Hiện nay, bối cảnh trong nước có nhiều thay đổi, tiền đề và điều kiện phát triển đã
khác; bối cảnh quốc tế không còn như khi tồn tại “hai phe, bốn mâu thuẫn”. Lợi ích quốc
gia, dân tộc trở thành động lực chủ đạo chi phối quan hệ quốc tế; quá trình toàn cầu hóa,
quốc tế hóa, tùy thuộc lẫn nhau, hợp tác với nhau song hành với cạnh tranh - đấu tranh,
hình thành các liên kết mới, các khối mới, các cực tăng trưởng, ảnh hưởng mới trong
tương quan quan hệ giữa các nước (cả về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa,
xã hội...), nhất là giữa các nước lớn và các nước mới trỗi dậy. Đại dịch COVID-19 cũng
đang làm bộc lộ những yếu kém, bất cập về nhận thức và cấu trúc về thể chế phát triển
kém bền vững của các quốc gia và các thể chế, thiết chế toàn cầu; cho thấy rõ hơn mối
quan hệ của các giá trị con người - giá trị công dân, giá trị cộng đồng, giá trị xã hội, giá trị
quốc gia - dân tộc, giá trị chung của nhân loại và trách nhiệm xã hội. Điều đó đặt ra yêu
cầu phải có nhận thức mới trong tư duy phát triển; nhận thức rõ hơn bản chất của những 13
cơ hội cũng như thách thức, khó khăn trong nhận thức và các giải pháp ứng phó với tình
hình thế giới và khu vực hiện nay về phát triển bền vững, trên bình diện toàn cầu cũng
như ở từng quốc gia. “Toàn cầu hóa 4.0” đòi hỏi các nhà lãnh đạo phải rút kinh nghiệm từ
những sai lầm trong quá khứ, thoát khỏi sự trói buộc của tư duy phát triển cũ không còn
thích hợp cả trên bình diện quốc tế cũng như trong mỗi quốc gia, để xây dựng thể chế
phát triển tổng hợp về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường thích ứng có hiệu
quả với bối cảnh làn sóng toàn cầu hóa lần thứ tư. Về văn hóa
Đảng nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong việc phát triển xã hội và con người, thông qua:
- Chú trọng bảo tồn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, các phong tục, tập
quán, ngôn ngữ, và nghệ thuật dân gian. Đồng thời, thúc đẩy sáng tạo văn hóa mới, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại một cách chọn lọc để không ngừng làm giàu nền văn hóa dân tộc.
- Khuyến khích các hoạt động nghệ thuật và văn hóa hướng tới mọi tầng lớp nhân
dân, tạo điều kiện cho mọi người được tiếp cận với các sản phẩm văn hóa chất lượng cao.
Thời kỳ trước Đổi mới, việc triển khai thực hiện các quan điểm, đường lối văn hóa,
văn nghệ của Đảng đã đạt được những kết quả quan trọng. Nền văn hóa dân chủ mới -
văn hóa cứu quốc đã bước đầu được hình thành, đạt nhiều thành tựu trong kháng chiến và
kiến quốc. Các phong trào văn nghệ quần chúng, báo chí, xuất bản phát triển mạnh ở khắp
các địa phương. Đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ tích cực tham gia vào cuộc kháng chiến với
tư cách là những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, đóng vai trò nòng cốt xây đắp nên một
nền văn học, nghệ thuật kháng chiến và cách mạng. Những tàn tích của nền văn hóa nô
dịch dưới chế độ thực dân, những hủ tục lạc hậu, lỗi thời trong di sản văn hóa phong kiến
dần được xóa bỏ, bước đầu xây dựng nền văn hóa dân chủ mới với tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng.
Các phong trào thể hiện truyền thống tương thân tương ái của dân tộc như “Hũ gạo
cứu đói”, “Lá lành đùm lá rách”, “Tuần lễ vàng”, … được phát động và triển khai rộng
rãi. Các phong trào thực hiện nếp sống văn minh được quan tâm thực hiện, góp phần bài
trừ các tệ nạn xã hội. Phong trào “Thi đua yêu nước” do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động
(năm 1948) đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, trí tuệ và năng lực sáng tạo của nhân
dân, tạo động lực tinh thần quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần thúc đẩy
cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi.
Mạng lưới các tổ chức văn hóa, văn nghệ phát triển rộng rãi. Các cơ sở xuất bản
được duy trì, cải tổ và phát triển, xuất hiện hàng trăm tờ báo ở khắp các địa phương trong
cả nước, đóng góp tích cực cho công tác tuyên truyền. Nền văn học, nghệ thuật cách
mạng Việt Nam được hình thành và phát triển, từng bước chuyển sang một giai đoạn mới, 14
với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa; xuất hiện nhiều tác phẩm văn học,
nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật trên các loại hình, cùng nhiều thể loại
phong phú, có giá trị tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân hăng
hái thi đua yêu nước, góp phần xây dựng cuộc sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.
Về đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội
Có thể nói, tiến bộ, công bằng xã hội là yếu tố gắn bó mật thiết với đời sống nhân
loại trong mọi giai đoạn phát triển của lịch sử đồng thời, là một trong những nội dung
quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hiện nay, việc thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội là chủ trương lớn của Đảng, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ
xã hội chủ nghĩa trong tiến trình cách mạng Việt Nam, vừa là mục tiêu, nhiệm vụ trong
thực tiễn, vừa là động lực then chốt của sự phát triển; bảo đảm mọi thành viên xã hội
được hưởng thụ tương xứng với những kết quả đóng góp trong lao động, cũng như kiến
tạo sự bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội, nguồn lực để mỗi cá nhân có thể phát triển.
Tiến bộ, công bằng xã hội, do đó, là trụ cột của sự phát triển bền vững.
Ứng dụng văn minh trong lĩnh vực xã hội được biểu hiện qua sự cam kết của Đảng
trong việc xây dựng một xã hội công bằng, không có sự phân biệt về quyền lợi giữa các
giai tầng, dân tộc hay vùng miền, bao gồm:
- Đảng đưa ra các chính sách bảo đảm quyền lợi cơ bản cho mọi người dân như tiếp
cận y tế, giáo dục, việc làm, và các phúc lợi xã hội khác, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía
sau trong quá trình phát triển.
- Đảng không chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế mà còn đặc biệt quan tâm tới
việc thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm cải thiện đời sống
của những người dân có hoàn cảnh khó khăn.
Bên cạnh đó, nhằm xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp, văn minh và phát triển
bền vững, cần bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã
hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội; cần xây dựng một xã hội
nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không
phải cạnh tranh bất công “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các
phe nhóm; đồng thời, xác định rõ “đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định
hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội,
thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển.
2.3. Sự kết hợp giữa đạo đức và văn minh trong xây dựng Đảng và đất nước
Trong tiến trình lịch sử và sự phát triển của xã hội, đạo đức và văn minh luôn giữ
vai trò quan trọng trong việc định hình nhân cách con người và tổ chức xã hội. Đặc biệt, 15
trong bối cảnh xây dựng Đảng và đất nước Việt Nam hiện nay, việc kết hợp giữa đạo đức
và văn minh không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững.
a. Mối quan hệ tương hỗ giữa đạo đức và văn minh.
Trong tiến trình lịch sử và sự phát triển của xã hội, đạo đức và văn minh luôn giữ
vai trò quan trọng trong việc định hình nhân cách con người và tổ chức xã hội. Đặc biệt,
trong bối cảnh xây dựng Đảng và đất nước Việt Nam hiện nay, việc kết hợp giữa đạo đức
và văn minh không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững.
Vậy, mối quan hệ của đạo đức và văn minh được thể hiện qua vài điểm như sau:
Đạo đức là nền tảng của văn minh: Đạo đức không chỉ là các quy tắc và chuẩn mực
hành vi mà còn là những giá trị cốt lõi định hình nhân cách con người. Những phẩm chất
như trung thực, công bằng, lòng nhân ái, và trách nhiệm xã hội là những giá trị đạo đức
cần thiết cho một xã hội phát triển. Đạo đức cao sẽ tạo ra những con người có trách
nhiệm, có ý thức cộng đồng, từ đó hình thành một xã hội văn minh. Khi cá nhân nhận
thức được trách nhiệm của mình đối với người khác, họ sẽ hành xử một cách tôn trọng và
văn minh. Các xã hội phát triển thường có nền tảng đạo đức vững chắc. Những quy định
pháp luật, chính sách công, và các hoạt động cộng đồng thường xuất phát từ các nguyên
tắc đạo đức, ví dụ như phong trào vì cộng đồng hay bảo vệ môi trường
Văn minh thúc đẩy và hình thành đạo đức: Văn minh được biểu hiện qua sự phát
triển trong các lĩnh vực như khoa học, công nghệ, giáo dục và văn hóa. Sự tiến bộ này
không chỉ mang lại tiện ích vật chất mà còn làm phong phú thêm đời sống tinh thần của
con người. Khi xã hội trở nên văn minh hơn, các tiêu chuẩn đạo đức cũng được nâng cao.
Ví dụ, trong một xã hội hiện đại, các vấn đề như bình đẳng giới, bảo vệ quyền con người,
và trách nhiệm xã hội chú trọng nhiều hơn, điều này phản ánh sự thay đổi trong nhận thức
đạo đức của người dân. Văn minh thường gắn liền với sự phát triển giáo dục, một hệ
thống giáo dục tốt không chỉ cung cấp kiến thức mà còn giáo dục nhân cách, đạo đức cho
học sinh. Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải các giá trị văn minh và đạo đức.
Trong bối cảnh xây dựng Đảng và đất nước, mối quan hệ giữa đạo đức và văn
minh ngày càng trở nên rõ nét. Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn nhấn mạnh tầm quan
trọng của đạo đức trong việc xây dựng chính quyền, nâng cao trách nhiệm của cán bộ,
đảng viên. Sự phát triển văn minh của xã hội Việt Nam cũng thể hiện qua việc xây dựng
các chính sách phát triển bền vững, hướng tới lợi ích cộng đồng. Trong cuộc sống hàng
ngày, chúng ta có thể thấy sự tương hỗ này qua các phong trào xã hội như bảo vệ môi
trường, giảm thiểu rác thải nhựa, hay các hoạt động từ thiện. Những hoạt động này không
chỉ thể hiện văn minh mà còn là sự lan tỏa của các giá trị đạo đức trong cộng đồng.
Mối quan hệ giữa đạo đức và văn minh là một chu trình tương tác liên tục, trong đó
đạo đức tạo ra nền tảng cho sự phát triển văn minh, và văn minh lại thúc đẩy sự nâng cao 16
của đạo đức. Việc hiểu rõ và phát huy mối quan hệ này không chỉ giúp xây dựng một xã
hội văn minh mà còn góp phần tạo ra một nền tảng đạo đức vững chắc cho mọi cá nhân và tập thể.
b. Những thành tựu của Đảng trong việc thực hiện quan điểm "Đảng là đạo đức, là văn minh".
Đảng đã phát động nhiều phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới, góp phần cải
thiện không gian văn hóa tại cộng đồng. Các hoạt động văn hóa thể thao đã được khuyến
khích, từ đó nâng cao tinh thần đoàn kết và sự gắn bó giữa các thành viên trong cộng
đồng. Bên cạnh đó, Đảng đã chú trọng bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và di sản
văn hóa dân tộc, đồng thời khuyến khích việc phát triển văn hóa hiện đại. Những chương
trình như “Ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam” hay “Festival văn hóa, thể thao các dân
tộc” đã giúp tôn vinh giá trị văn hóa đa dạng của các dân tộc.
Để Tuyên truyền và giáo dục về trách nhiệm xã hội. Đảng đã triển khai nhiều
chương trình giáo dục nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của công dân đối với xã hội và
đất nước. Các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” hay “Nói
không với tiêu cực” đã góp phần thay đổi nhận thức và hành động của người dân trong
việc xây dựng cộng đồng. Ngoài ra, thực hiện phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, phong trào này không chỉ nhấn mạnh giá trị đạo đức
mà còn khuyến khích cán bộ, đảng viên thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối
với cộng đồng. Qua đó, tinh thần tự giác, đoàn kết và sáng tạo trong nhân dân được nâng cao.
Đảng thực hiện nhiều chương trình an sinh xã hội, bao gồm chính sách trợ cấp, bảo
hiểm y tế, và hỗ trợ học phí cho trẻ em nghèo. Những nỗ lực này đã giúp giảm bớt gánh
nặng cho các gia đình khó khăn, tạo cơ hội cho họ vươn lên trong cuộc sống. Chương
trình xây dựng nhà ở cho người nghèo đã được triển khai rộng rãi, giúp hàng triệu hộ gia
đình có chỗ ở ổn định. Điều này không chỉ đảm bảo nhu cầu cơ bản mà còn tạo động lực
cho sự phát triển bền vững của từng cá nhân và cộng đồng.
Những thành tựu nổi bật trong việc thực hiện quan điểm "Đảng là đạo đức, là văn
minh" đã khẳng định vai trò và vị trí của Đảng trong việc dẫn dắt đất nước tiến lên. Qua
các hoạt động cụ thể, Đảng không chỉ thể hiện tinh thần trách nhiệm với nhân dân mà còn
khẳng định mục tiêu xây dựng một xã hội văn minh, phát triển bền vững. Điều này không
chỉ góp phần tạo dựng niềm tin trong nhân dân mà còn là cơ sở vững chắc để tiếp tục xây
dựng và phát triển đất nước trong tương lai. 17
CHƯƠNG 3. Ý NGHĨA THỰC TIỄN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
TỪ QUAN ĐIỂM "ĐẢNG LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH"
3.1. Ý nghĩa của quan điểm "Đảng là đạo đức, là văn minh" đối với công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước
a. Vai trò của đạo đức và văn minh trong quá trình phát triển bền vững.
Trong quan điểm “Đảng là đạo đức, là văn minh” của Hồ Chí Minh, đạo đức và
văn minh đóng vai trò cốt lõi trong việc xây dựng và phát triển đất nước một cách bền
vững. Vai trò của đạo đức và văn minh trong phát triển bền vững được thể hiện qua các khía cạnh sau:
Đạo đức trong lãnh đạo và quản lý xã hội:
Đạo đức trong lãnh đạo là nền tảng để bảo đảm tính liêm chính, minh bạch và công
bằng trong quản lý đất nước. Những người lãnh đạo có đạo đức sẽ đặt lợi ích của dân tộc
và nhân dân lên hàng đầu, tạo dựng niềm tin và sự đồng thuận trong xã hội, là yếu tố cốt
lõi để phát triển bền vững.
Đạo đức trong kinh tế và phát triển xã hội:
Đạo đức trong hoạt động kinh tế giúp tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh,
chống lại các hành vi tham nhũng, gian lận, tạo sự công bằng và cơ hội phát triển cho mọi
tầng lớp trong xã hội. Kinh tế phát triển bền vững không chỉ dựa vào tăng trưởng mà còn
đảm bảo quyền lợi lâu dài cho người dân, giảm khoảng cách giàu nghèo, và xây dựng xã hội công bằng.
Văn minh trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường:
Văn minh thể hiện qua cách xã hội sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đảm
bảo sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Đây là yếu tố quan trọng
trong phát triển bền vững, đảm bảo nguồn tài nguyên không bị cạn kiệt và bảo tồn được cho các thế hệ sau.
Văn minh trong xây dựng con người và xã hội:
Một xã hội văn minh là xã hội chú trọng đến việc xây dựng con người, đảm bảo sự
phát triển toàn diện về giáo dục, y tế, văn hóa và tinh thần. Phát triển bền vững cần đi kèm
với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, và nhân văn.
Đạo đức và văn minh trong quan hệ quốc tế:
Trong hội nhập quốc tế, đạo đức và văn minh trong quan hệ đối ngoại là yếu tố
then chốt giúp đất nước phát triển hài hòa, hợp tác và bền vững với các quốc gia khác. 18
Chính sách đối ngoại dựa trên nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi và
hòa bình sẽ giúp đất nước tạo dựng được vị thế vững chắc trên trường quốc tế.
Tóm lại, đạo đức và văn minh là nền tảng để tạo nên sự phát triển bền vững về
kinh tế, xã hội và môi trường. Điều này không chỉ đảm bảo sự thịnh vượng của đất nước
hiện tại, mà còn là yếu tố quyết định sự trường tồn và phát triển của các thế hệ tương lai.
b. Ảnh hưởng của quan điểm này đối với chính sách và hoạt động của Đảng hiện nay.
Quan điểm "Đảng là đạo đức, là văn minh" của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ảnh
hưởng sâu sắc và quyết định đến các chính sách và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong bối cảnh hiện nay. Sự lãnh đạo của Đảng không chỉ cần thiết phải dựa trên các
nguyên tắc chính trị mà còn phải đặt nền tảng vững chắc về đạo đức. Dưới đây là những
ảnh hưởng cụ thể của quan điểm này:
Tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức
Quan điểm "Đảng là đạo đức, là văn minh" đã dẫn đến việc xác định xây dựng
Đảng về đạo đức là một nhiệm vụ then chốt, ngang tầm với xây dựng Đảng về chính trị và
tổ chức. Đại hội XII của Đảng đã khẳng định rằng việc xây dựng Đảng về đạo đức là cần
thiết để tạo ra một nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động lãnh đạo. Điều này thể hiện qua
việc Đảng đã đề ra các nhiệm vụ cụ thể trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo
đức cho cán bộ, đảng viên. Từ đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải ý thức rõ về trách nhiệm và
nghĩa vụ của mình trong việc xây dựng Đảng, từ đó nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ.
Chống tham nhũng và tiêu cực
Ảnh hưởng mạnh mẽ của quan điểm này còn thể hiện rõ trong quyết tâm của Đảng
trong việc chống tham nhũng, tiêu cực, và các tệ nạn xã hội. Tình trạng suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang gây
bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Để
khắc phục tình trạng này, Đảng đã xác định rõ nhiệm vụ đấu tranh chống tham nhũng là
một trong những ưu tiên hàng đầu. Việc kiên quyết xử lý các vụ việc tham nhũng, đồng
thời tạo ra môi trường làm việc trong sạch, minh bạch, chính là cách để Đảng thực hiện
cam kết với nhân dân, rằng Đảng không chỉ là một tổ chức lãnh đạo mà còn là một tổ
chức phục vụ lợi ích của dân tộc.
Đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên
Một trong những ảnh hưởng quan trọng của quan điểm "Đảng là đạo đức, là văn
minh" là việc Đảng nhấn mạnh trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Đảng yêu
cầu mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người giữ vị trí lãnh đạo, phải thể hiện rõ
phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm và sự tận tâm với công việc. Việc nêu gương
không chỉ là trách nhiệm cá nhân mà còn là yêu cầu bắt buộc để củng cố niềm tin của 19
nhân dân. Điều này được thể hiện qua các quy định nêu gương trong các nghị quyết của
Đảng, cũng như việc thường xuyên kiểm tra, giám sát các cán bộ đảng viên trong việc
thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhân dân. Gắn bó với nhân dân
Quan điểm này khẳng định rằng Đảng phải gần gũi, lắng nghe và đáp ứng nguyện
vọng của nhân dân. Đảng cần thường xuyên tổ chức các hoạt động đối thoại với nhân dân
để hiểu rõ hơn về các vấn đề họ đang gặp phải. Việc này không chỉ tạo sự đồng thuận mà
còn giúp Đảng điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn. Hơn nữa, thông qua việc
"học dân, hỏi dân", Đảng có thể thu thập ý kiến đóng góp của nhân dân, từ đó đưa ra các
quyết định đúng đắn, phản ánh đúng nhu cầu thực tiễn của xã hội.
Xây dựng môi trường chính trị trong sạch
Đảng đã tích cực thực hiện các biện pháp nhằm xây dựng một môi trường chính trị
trong sạch, minh bạch. Điều này bao gồm việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, và
thực hiện nghiêm túc kỷ luật Đảng. Các quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên vi
phạm được thực hiện nghiêm ngặt hơn, nhằm tạo ra một môi trường làm việc mà ở đó
không có chỗ cho sự tha hóa, quan liêu, và tham nhũng. Đảng cam kết sẽ không bao che
cho những sai phạm, từ đó củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng
Một ảnh hưởng khác của quan điểm này là sự quyết tâm của Đảng trong việc thực
hiện các chỉ thị, nghị quyết một cách nghiêm túc và hiệu quả. Đảng đã chỉ đạo các cấp ủy,
tổ chức đảng cần tích cực thực hiện và giám sát việc thực hiện nghị quyết của Đảng. Qua
đó, mọi tổ chức và cá nhân đều phải có trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, từ đó
tạo nên sự đồng bộ và thống nhất trong toàn Đảng.
3.2. Bài học kinh nghiệm từ việc thực hiện quan điểm này trong lịch sử cách mạng Việt Nam
Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng trong bối cảnh quốc
tế có nhiều diễn biến phức tạp, đất nước chồng chất khó khăn càng làm nổi bật những
thành tựu đạt được sau 35 năm đổi mới. Đất nước có hoà bình, thống nhất, cả nước bước
vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhưng với mô hình và kinh nghiệm của các nước
xã hội chủ nghĩa áp dụng vào Việt Nam đã nhanh chóng bộc lộ khuyết tật, sai lầm của nó.
Thấm nhuần tư tưởng “Đảng là đạo đức là văn minh” sau mỗi sai lầm, vấp ngã, Đảng đã
dũng cảm "nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật", kiên quyết sửa chữa, kịp thời tổng
kết rút ra những bài học từ những thành công và cả những sai lầm, thất bại, kiên trì sự
nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng XHCN. Đảng luôn hành động, phấn đấu để
thực sự là một tổ chức trong sạch vững mạnh, đi theo đúng mục tiêu đề ra, đúng với tư tưởng Hồ Chí Minh. 20