








Preview text:
Khi nhắc đến Ấn Độ điều họ nghĩ đến đầu tiên là gì ạ? À là tôn giáo vâng đây chính là
đất nước có hầu như tất cả các tin ngưỡng trên TG và là quê hương của hai trong số
những tôn giáo lớn nhất thế giới như đạo Hinđu, đạo Phật, ngoài ra còn có các đạo
Jain, đạo Xích. Từ mấy ngàn năm nay, tôn giáo vẫn giữ một vai trò lớn trong đời sống
tâm linh của con người Ấn Độ.
Đầu tiên phải nói đến đạo Bà la môn và đạo Hinhđu
a. Đạo Bà la môn - đạo Hinđu
* Đạo Bà la môn Brahma Vishnu Shiva
- Thời gian xuất hiện: đạo Bàlamôn xuất hiện rất sớm ở Ấn Độ, có thể nói là
sớm nhất, ngay từ đầu thiên niên kỷ I TCN, khi người Aryan đã làm chủ phần
lớn bán đảo Ấn Độ và bắt đầu xây dựng những quốc gia đầu tiên. Đạo này
hình thành trên cơ sở của đạo Vêđa. Đạo Bàlamôn là tôn giáo của xã hội có
giai cấp và nhà nước đầu tiên do người Aryan lập ra ở Ấn Độ.
- Đạo Bàlamôn hình thành trên cơ sở hỗn hợp nhiều tín ngưỡng nguyên thuỷ,
là một tôn giáo không có người sáng lập, không có tổ chức giáo hội chặt chẽ…
Giáo lý căn bản của đạo Bàlamôn được trình bày trong bộ kinh Vêđa. - Nội dung:
+ Đạo Bàlamôn là tôn giáo đa thần, trong đó tôn thờ thần Brahma là Đấng Tối
cao, là đấng đã sáng tạo ra vũ trụ, vạn vật và loài người. Phò tá Brahma có
thần Vishnu (thần Bảo vệ), thần Siva (thần phá hoại).
+ Đạo Bàlamôn tuyên truyền thuyết luân hồi và nghiệp báo. Đạo giải thích rằng
linh hồn của mỗi người là một bộ phận của Brahma, mà Brahma thì tồn tại
vĩnh hằng nên khi con người chết đi, linh hồn sẽ còn mãi và luân hồi trong
nhiều kiếp sinh vật khác nhau. Cuộc sống con người ở kiếp sau phụ thuộc vào
chính hành động, lời nói, suy nghĩ của họ ở kiếp trước. Nếu kiếp trước là
người ngoan đạo, sùng kính các thần, thực hiện đúng các nguyên tắc của đạo
Bàlamôn thì ở kiếp sau, thân phận sẽ được ở đẳng cấp cao hơn, ngược lại sẽ
rơi xuống địa vị thấp kém hơn, thậm chí biến thành súc vật. Vì thế sống ở kiếp
này, con người phải phấn đấu để được đầu thai ở kiếp sau tốt hơn. Giai cấp
thống trị Ấn Độ đã lợi dụng điều này để ngăn chặn sự phản kháng của quần chúng nhân dân.
+ Đạo Bàlamôn cho rằng xã hội phân chia thành các đẳng cấp là do ý chí của
thần thánh nên nó tồn tại vĩnh viễn. Do đó, đạo Bàlamôn trở thành công cụ
bảo vệ chế độ đẳng cấp bất bình đẳng trong xã hội Ấn Độ.
Trước khi đạo Bàlamôn ra đời, chế độ đẳng cấp đã xuất hiện trong quá trình
tan rã của chế độ công xã nguyên thủy của người Arya,
- toàn bộ cư dân chia thành 4 đẳng cấp:
+Bàlamôn: là đẳng cấp của những người làm nghề tôn giáo
+Ksatơrya: là đẳng cấp của các chiến binh
+Vaisya: là đẳng cấp của những người bình dân làm nghề chăn nuôi, làm
ruộng, thủ công, buôn bán.
+Suđra: là đẳng cấp của những người cùng khổ, vốn là con cháu của các bộ
lạc bại trận, không có tư liệu sản xuất.
- Nguyên nhân sự ra đời của chế độ đẳng cấp: do sự phân hoá giai cấp, sự
phân công về nghề nghiệp, sự phân biệt về bộ tộc. Nhưng các tăng lữ
Bàlamôn thì dùng uy lực của thần linh để giải thích hiện tượng xã hội ấy. Luật
Manu chép: “Vì sự phồn vinh của cả thế giới, từ mồm, tay, đùi và bàn chân của
mình, ngài (thần Brahma) đã tạo nên Braman ( miệng ), Ksatơrya ( tay ),
Vaisya ( đùi ) và Suđra (bàn chân )”
Trong 4 đẳng cấp ấy,-đẳng cấp Bàlamôn có địa vị cao nhất. Luật Manu
viết: “Do sinh ra từ bộ phận cao quý nhất của thân thể Brahma ( mồm : D ), do
sinh ra sớm nhất, do hiểu biết Vêđa, Bàlamôn có quyền là chúa tể của tất cả
các tạo vật ấy”
Ngoài Bàlamôn, chỉ có hai - đẳng cấp Ksatơrya và Vaisya mới được trở thành
tín đồ của đạo Bàlamôn và => cả ba đẳng cấp trên được quan niệm là những
người sinh hai lần, còn - Suđra không được dự các buổi lễ tôn giáo và được
quan niệm là những người sinh một lần.
+ Chú trọng tế lễ thần thánh rất xa xỉ. Mỗi cuộc tế lễ gọi là lễ hiến sinh, giết
nhiều trâu bò, lễ lớn giết hàng trăm trâu bò. Lễ càng lớn thì càng được thần
thánh phù hộ nhiều. Lúc đầu còn giết tù binh để tế lễ, về sau chỉ giết trâu bò.
- Đạo Bàlamôn đã đươc truyền bá rộng rãi ở Ấn Độ trong nhiều thế kỷ. Đến
khoảng thế kỷ VI TCN, ở Ấn Độ xuất hiện một tôn giáo mới gọi là đạo Phật,
đạo Bàlamôn bị suy thoái trong một thời gian dài.
- Sau này, đạo Bàlamôn cải biến tiếp thu một số tín điều của tôn giáo khác: bổ
sung thêm một số kinh kệ, thần thánh, thay đổi một số lễ nghi, trở thành Ấn Độ giáo (Hinđu giáo)
* Hinđu giáo (Ấn Độ giáo)
Thế kỷ VII, đạo Phật suy sụp ở Ấn Độ, đạo Bàlamôn dần dần phục hưng, đến
khoảng thế kỷ VIII, IX, đạo Bàlamôn đã bổ sung thêm nhiều yếu tố mới về đối
tượng sùng bái, về kinh điển, về nghi thức tế lễ…từ đó, đạo Bàlamôn được gọi
là đạo Hinđu (hay Ấn Độ giáo)
Đạo Hinđu theo nguyên nghĩa có nghĩa là “tôn giáo của người Ấn Độ”, khái
niệm đó lần đầu tiên được nhà sử học Bácthơ đưa ra trong cuốn “Tôn giáo Ấn
Độ”, xuất bản năm 1879 [7]. (Câu hỏi gợi mở cho SV: Tại sao lại gọi là Ấn Độ giáo?)
- Giáo lý đạo Hinđu về cơ bản không có gì khác so với giáo lý của đạo
Bàlamôn. Những quan điểm cốt lõi về số phận của con người vẫn được giữ
nguyên vẹn (luân hồi, nghiệp báo, giải thoát). Theo những quan niệm đó, số
phận của con người ở kiếp này phụ thuộc vào chính hành động của con người
ở kiếp trước. Con người có thể được giải thoát khi mà linh hồn của cá nhân
người đó hoà nhập vào linh hồn của vũ trụ nhưng điều này rất khó xảy ra.
- Về thần linh: Hinđu giáo không chỉ tiếp nhận những vị thần linh của đạo
Bàlamôn mà còn sáng tạo ra rất nhiều thần khác. Vì thế, Hinđu giáo là tôn giáo
đa thần, trong đó có 3 thần được tôn thờ hơn cả: Brama, Visnu, Siva
- Liên quan đến thần shiva còn có nữ thần kahl i vợ thần shiva và thần ganesha con trai của thần
Thần kali ( vợ thần Shiva )
Thần ganesha ( con của thần Shiva ) Thần Shiva
- Ngoài các vị thần nói trên, các loài động vật như khỉ, bò, rắn, hổ, cá sấu,
chim công, vẹt,v.v.v cũng là các thần đạo Hindu, trong đó được tôn sùng hơn
cả là thần khỉ và thần bò Thần khỉ Hanuman Thần bò Kamdenu
Đạo Hindu cũng chia thành 2 phái là phái thờ thần Vishnu và phái thờ thần Shiva.
Mỗi buổi sáng, tín đồ phái Visnu dùng son vẽ lên trán, còn tín đồ phái Siva
thì bôi lên lông mày một vạch ngang bằng than phân bò cái hoặc đeo ở tay,
ở cổ cái linga. Tuy nhiên hai phái đó vẫn đoàn kết với nhau và có khi cùng
cúng tế trong một ngôi đền.
- Kinh thánh của đạo Hinđu ngoài các tập Vêđa và Upanisad còn có
Mahabharata, Bhagavad Gita, Ramayana và Purana.
- Về tục lệ, cũng như đạo Bàlamôn, đạo Hinđu cũng hết sức coi trọng sự phân
chia đẳng cấp. Lúc này, chế độ đẳng cấp cũ Vácna đã chuyển biến sang
Casta, xuất hiện nhiều đẳng cấp mới gọi là jati.
Hinđu giáo là tôn giáo chủ yếu ở Ấn Độ. Tôn giáo này còn truyền bá sang một
số nước Đông Nam Á, đặc biệt là Cămpuchia từ thời Ăngko trở về trước. Ngày
nay, ở Ấn Độ có khoảng 84% tổng số cư dân theo đạo Hinđu. Ngoài Ấn Độ, đa
số dân Nêpan và đảo Bali ở Inđônêxia, gần 20% dân số Bănglađét và Xri
Lanca vẫn theo đạo Hinđu.
=> Một số điểm cần lưu ý:
- Đạo Hinđu là một tôn giáo trục của Ấn Độ, chiếm tới 83% dân số (theo số liệu
thống kê năm 1971). Tuy nhiên mức độ lan toả sang các nước khác để trở
thành tôn giáo thế giới lại không mạnh mẽ như đạo Phật hay đạo Islam.
- Đạo Hinđu không phải là một tôn giáo nguyên dạng thuần khiết mà là tổng
hợp của những hệ thống tôn giáo – tín ngưỡng - triết học. Đó là một tôn giáo
không có người sáng lập, không có giáo chủ, giáo điều và một tổ chức nhà thờ
trung ương chặt chẽ. Mặt khác, đạo Hinđu ở một dạng thức uyển chuyển
thường xuyên biến thái, tiếp thu và đồng hoá ảnh hưởng của những tôn giáo khác.
* Một số khái niệm cơ bản trong giáo lý của đạo Hinđu
- Kácman và samsara (nghiệp báo, luân hồi). là nền tảng của nhân sinh quan
đạo Hinđu và của một số tôn giáo khác như đạo Phật, đạo Jaina.
-Theo học thuyết samsara, con người không thật sự chết đi mà chỉ chuyển hoá
sang một kiếp sống khác, một sự tái sinh trong vòng luân hồi. Đời người là
một chuỗi mắt xích dài vô tận mà mỗi kiếp sống hiện hữu chỉ là một mắt xích mà thôi.
-Học thuyết Kácman (nghiệp báo) gắn liền với samsara. Theo đó bất cứ hành
động nào của con người cũng đều được trả giá