-
Thông tin
-
Quiz
Đáp án đề cương lịch sử đảng | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Sự phân hóa của các giai cấp trong xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Lịch sử Đảng (LSĐ) 85 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.2 K tài liệu
Đáp án đề cương lịch sử đảng | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Sự phân hóa của các giai cấp trong xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Lịch sử Đảng (LSĐ) 85 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.2 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA LỊCH SỬ ĐẢNG
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM I. CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
2. Sự phân hóa của các giai cấp trong xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
3. Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
4: Quá trình chuẩn bị của Nguyễn Ái Quốc về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho sự ra đời
Đảng Cộng sản Việt Nam.
5. Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2/1930).
6. Nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (10/1930).
7. Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong những năm 1939 – 1941.
8. Tính chất, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
9. Hoàn cảnh lịch sử, nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử Chỉ thị “kháng chiến, kiến quốc” (25/11/1945) của Đảng.
10. Kết quả, ý nghĩa của quá trình xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng trong giai đoạn 1945 – 1946.
11: Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của Đảng (1945 – 1954)
12. Hoàn cảnh lịch sử, nội dung cơ bản và ý nghĩa Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II (2/1951) của Đảng.
13. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945 - 1954).
14. Tình hình Việt Nam sau tháng 7 năm 1954.
15. Hoàn cảnh ra đời, nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử của Nghị quyết Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (1/1959).
16. Hoàn cảnh lịch sử, nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử của Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ III của Đảng (9/1960).
17. Nội dung cơ bản, ý nghĩa lịch sử Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 11
(3/1965) và lần thứ 12 (12/1965) của Đảng.
18. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước (1954- 1975).
19. Những thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo cả nước
quá độ lên CNXH (1975 - 1986).
20. Nguyên nhân dẫn đến công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam năm 1986.
21. Nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986).
22. Nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (6/1991).
23. Nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996).
24. Những bổ sung, phát triển của Cương lĩnh 2011 so với Cương lĩnh 1991 của Đảng
25. Thành tựu, hạn chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước (1986 – 2021).
26. Nội dung cơ bản và ý nghĩa của bài học kinh nghiệm nắm vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
27. Nội dung cơ bản và ý nghĩa của bài học kinh nghiệm sự nghiệp cách mạng là của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
28. Nội dung cơ bản và ý nghĩa của bài học kinh nghiệm không ngừng củng cố, tăng
cường đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.
29. Nội dung cơ bản và ý nghĩa của bài học kinh nghiệm kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế.
30. Nội dung cơ bản và ý nghĩa của bài học kinh nghiệm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng
là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi cách mạng Việt Nam. II. ĐÁP ÁN CHI TIẾT
1. Ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
1. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản trên thế giới chuyển sang giai đoạn
đế quốc chủ nghĩa. Điều đó không chỉ dẫn tới mâu thuẫn gay gắt giữa các nước đế quốc
trong việc tranh giành thuộc địa, làm bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-
1918, mà còn làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa bị áp bức với chủ nghĩa thực dân ngày càng sâu sắc.
2. Phong trào chống đế quốc giành độc lập của các dân tộc thuộc địa trở thành một nội
dung lớn của phong trào cách mạng thế giới, một vấn đề có tính thời đại. Phong trào ấy
ngày càng được lan rộng và phát triển mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt ở châu Á đã tác
động mạnh mẽ đến phong trào yêu nước Việt Nam
3. Trong bối cảnh đó, thắng lợi của cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 đã làm biến đổi
sâu sắc tình hình thế giới. Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản do VI Lênin đứng đầu được
thành lập, không những vạch đường hướng chiến lược cho cách mạng vô sản thế giới
mà còn đề cập các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Đại hội II của Quốc tế cộng sản(1920) đã
thông qua Luận Cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa do VI Lênin khởi xướng. Với
khẩu hiệu chiến lược: Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại.
4. Kết luận: Thắng lợi của Cách mạng tháng 10 Nga cùng với sự ra đời và hoạt động của
Quốc tế Cộng sản không chỉ có ý nghĩa to lớn với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở
các nước tư bản mà còn có tác động sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc ở
các thuộc địa, cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh tự giải phóng
khỏi ách thực dân trong những năm 20 của thể thế kỷ XX, trong đó có Việt Nam và Đông Dương.
2. Sự phân hóa của các giai cấp trong xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
I. Bối cảnh lịch sử
Trong bối cảnh các nước đế quốc đẩy mạnh tìm kiếm thuộc địa, Việt Nam trở thành đối
tượng tượng nằm trong mưu đồ thôn tính của thực dân Pháp. Ngày 1/9/1858 thực dân
Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng từng bước xâm lược Việt Nam. Đó là thời điểm chế độ
phong kiến Việt Nam đã lâm vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng, mâu thuẫn giữa tập
đoàn phong kiến cầm quyền và toàn thể nhân dân vô cùng gay gắt. Trước hành động đó,
triều đình nhà Nguyễn từng bước thỏa hiệp ký với Pháp nhiều hiệp ước đầu
hàng(1862,1874,1883) và năm 1884 với hiệp ước Patonot đã đầu hàng hoàn toàn thực
dân Pháp, Việt Nam trở thành thuộc địa, dân ta vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo
dưới gót sắt của kẻ thù hung ác. II. Tính chất xã hội
Tính chất xã hội Việt Nam thay đổi từ xã hội phong kiến sang xã hội thuộc địa nửa
phong kiến, với đặc trưng là: đế quốc phong kiến kết hợp với nhau thống trị, bóc lột nhân
dân. Đế quốc dựa vào phong kiến phản động để duy trì ách thống trị, phong kiến phản
động dựa vào thế lực đế quốc để bóc lột nhân dân. III. Nội dung
Với chế độ cai trị hà khắc về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của thực dân Pháp đối với
nhân dân Việt Nam không chỉ làm phân hoá giai cấp cũ, mà còn làm xuất hiện các giai
cấp, tầng lớp mới trong xã hội Việt Nam. Các giai cấp, tầng lớp này có địa vị kinh tế
khác nhau và do đó cũng có thái độ chính trị khác nhau đối với vận mệnh của dân tộc. 1.Giai cấp địa chủ
Bị phân hoá , một bộ phận cấu kết với Pháp và làm tay sai đắc lực cho Pháp, ra sức đàn
áp phong trào yêu nước và bóc lột nhân dân; một số bộ phận khác có tinh thần dân tộc
khởi xướng và lãnh đạo phong trào nông dân chống thực dân Pháp và phong kiến phản
động; một số bộ phận nhỏ chuyển kinh doanh theo lối tư bản. 2. Giai cấp nông dân.
Giai cấp nông dân chiếm khoảng 90% dân số. Họ bị đế quốc, phong kiến địa chủ và tư
sản áp bức, bóc lột rất nặng nề. Ruộng đất của nông dân đã bị bọn tư bản thực dân chiếm
đoạt. Chính sách độc quyền kinh tế, mua rẻ bán đắt, tô cao, thuế nặng, chế độ cho vay
nặng lãi… của đế quốc và phong kiến đã đẩy nông dân vào con đường bần cùng hóa
không lối thoát. Một số ít bán sức lao động, làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn
điền hoặc bị bắt đi làm phu tại các thuộc địa khác của đế quốc Pháp. Còn số đông vẫn
phải gắn vào đồng ruộng và gánh chịu sự bóc lột vô cùng nặng nề ngay trên mảnh đất
mà trước đây là sở hữu của chính họ.
Vì bị mất nước và mất ruộng đất nên nông dân có mâu thuẫn với đế quốc và phong kiến,
đặc biệt sâu sắc nhất với đế quốc và bọn tay sai phản động. Họ vừa có yêu cầu độc lập
dân tộc, lại vừa có yêu cầu ruộng đất, song yêu cầu về độc lập dân tộc là bức thiết nhất.
Giai cấp nông dân có truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất là lực lượng to lớn
nhất, một động lực cách mạng mạnh mẽ. Giai cấp nông dân khi được tổ chức lại và có
sự lãnh đạo của một đội tiên phong cách mạng, sẽ phát huy vai trò cực kỳ quan trọng của
mình trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. 3. Giai cấp công nhân
- Ra đời trong quá trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp(1897-1914).
Ngoài những đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam có
những đặc điểm riêng:
+)Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc
+)Kế thừa truyền thống yêu nước
+)Bị ba tầng áp bức: đế quốc, phong kiến, tư bản
Do vậy lực lượng công nhân VN tuy còn ít nhưng đã sớm tiếp thu những tư tưởng tiên
tiến của thời đại, nhanh chóng phát triển từ tự phát đến tự giác, thể hiện là giai cấp có
năng lực lãnh đạo cách mạng. 4.Giai cấp tư sản
Xuất hiện muộn hơn giai cấp công nhân VN. Một bộ phận gắn liền với lợi ích của thực
dân Pháp trở thành tầng lớp tư sản mại bản. Một bộ phận là giai cấp tư sản dân tộc, bị
thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm, lệ thuộc, yếu ớt về kinh tế. Phần lớn tư sản dân tộc VN
có tinh thần dân tộc, nhưng không có khả năng tập hợp các giai tầng để tiến hành cách mạng.
Kết luận: Trong lòng chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã hình
thành những mâu thuẫn đan xen nhau, song mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu là mâu
thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động. Sự thống
trị, áp bức và bóc lột càng tăng thì mâu thuẫn đó càng sâu sắc, sự phản kháng
và đấu tranh vì sự tồn vong của dân tộc càng phát triển mạnh mẽ, gay gắt về tính
chất, đa dạng về nội dung và hình thức.
3. Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
- Vào những năm cuối thế kỉ XIX đầu XX kế tục truyền thống yêu nước bất khuất, kiên
cường chống ngoại xâm, các phong trào chống thực dân Pháp theo ngọn cờ phong kiến,
ngọn cờ dân chủ tư sản của nhân dân Việt Nam diễn ra quyết liệt liên tục và rộng khắp.
Dù với nhiều cách thức tiến hành khác nhau song đều hướng tới đánh đổ chế độ thuộc
địa, giành độc lập cho dân tộc. Tuy nhiên các phong trào đều lần lượt thất bại. Phong
trào yêu nước VN lâm vào khủng hoảng bế tắc về đường lối I)Nguyên nhân
1.1) Nguyên nhân khách quan
- Cuộc đấu tranh của ta nằm trong tình thế bị động nên pháp đã dập tắt nhanh chóng
- Lực lượng ta và địch không cân xứng khi địch vẫn còn mạnh, trang vũ khí hiện đại hơn ta
- Khuynh hướng lỗi thời, bế tắc về đường lối đấu tranh. 1.2)Nguyên nhân chủ quan
- Do thiếu đường lối chính trị đúng đắn để giải quyết triệt để những mâu thuẫn cơ bản
chủ yếu của xã hội, chưa có một tổ chức vững mạnh để tập hợp, giác ngộ, và lãnh đạo
toàn dân tộc, chưa xác định được phương pháp đấu tranh thích hợp để đánh đổ kẻ thù…
- Ta gặp phải sai lầm trong quá trình đấu tranh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương,
phản đối chiến tranh và cầu viện nước ngoài.
- Những cuộc khởi nghĩa diễn ra lẻ tẻ, đa số các phong trào mang tính tự phát, trong nội bộ chia rẽ
- Ta chưa tập hợp được sức mạnh quần chúng nhân dân, chưa thấy được khả năng lãnh
đạo của giai cấp công nhân và chưa đoàn kết được họ
- Chưa có chính Đảng lãnh đạo. (Các phong trào thất bại như: Phong trào cần vương,
cuộc khởi nghĩa yên thế, phong trào đông du, duy tân) II)Ý nghĩa
Tuy thất bại song các phong trào yêu nước đã góp phòng cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu
nước của nhân dân bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức
tiên tiến chọn lựa một con đường mới để cứu nước giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại. III)Bài học
Phải có một tổ chức cách mạng tiên phong có đường lối cứu nước đúng đắn để giải
phóng dân tộc thì cách mạng mới thành công
4: Quá trình chuẩn bị của Nguyễn Ái Quốc về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho sự ra
đời Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại thời điểm khi cả dân tộc ta hiện đang đứng trước cuộc khủng hoảng về đường
lối cứu nước, nhiều chủ thể là những nhà yêu nước đương thời đã tiếp tục con
đường cứu nước theo lối cũ và chưa đem đến kết quả thành công thì vào ngày
5/6/1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí
Minh sau này) đã ra đi tìm đường cứu nước tại bến cảng Nhà Rồng theo phương
hướng mới. Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này)
trong quá trình tìm đường cứu nước của mình đã đi qua nhiều nước của châu Âu,
châu Phi, châu Mỹ và đã phát hiện ra một chân lý: Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế
quốc thực dân chính là cội nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dân lao
động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa.
Năm 1917, Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) đã
trở lại nước Pháp, đến Paris và năm 1919 gia nhập Đảng Xã hội Pháp.
Tháng 6/1919, Nguyễn Tất Thành đã thay mặt những người yêu nước Việt Nam,
với tên gọi mới là Nguyễn Ái Quốc, Người gửi bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Vécxây.
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc
địa” của Lênin và từ tư tưởng đó, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.
Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán
thành Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập) và tham gia thành lập
Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Đó là
một sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước chuyển quan trọng của con đường
giải phóng dân tộc Việt Nam.
Từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã không ngừng ra sức truyền bá
chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước tại Việt
Nam, chuẩn bị về lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn này cũng đã viết nhiều bài báo, tham gia nhiều
tham luận tại các đại hội, hội nghị quốc tế. Đó là sự chuẩn bị về đường lối chính
trị tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc cũng từng
khẳng định, muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo, Đảng có
vững, cách mạng mới thành công cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy.
Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc cũng tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức và cán bộ.
Dựa vào những hoạt động không mệt mỏi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều
đồng chí cách mạng tiền bối mà những điều kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam cũng đã ngày càng chín muồi.
Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã
nhận thức được sự cần thiết và cấp bách đó là cần phải nhanh chóng thành lập
một Đảng Cộng sản thống nhất, từ đó chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào
cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc cũng đã chủ động tổ chức và chủ trì Hội
nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930.
Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc đã quyết định hợp nhất các
tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông
Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược
vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản. Những văn
kiện đó do chính Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị hợp nhất Đảng thông qua.
Hội nghị hợp nhất Đảng thông qua lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc thay mặt
Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến đồng bào, đồng chí trong
cả nước nhân dịp thành lập Đảng.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập
Đảng. Những văn kiện được thông qua tại
Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc chủ trì chính là Cương lĩnh chính trị đầu
tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam và có những ý nghĩa cũng như vai trò quan trọng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2
dương lịch hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.
5. Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nội dung Cương lĩnh chính trị
đầu tiên của Đảng (2/1930).
I) Hội nghị thành lập ĐCSVN
- Đến cuối năm 1929, những người cách mạng trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức
được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một đảng cộng sản thống nhất, chấm dứt sự
chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam.
- Ngày 27/10/1929 Quốc tế Cộng sản gửi những người cộng sản Đông Dương tài liệu về
việc thành một Đảng Cộng sản ở DD yêu cầu những người cộng sản DD phải khắc phục
ngay sự chia rẽ giữa các nhóm cộng sản và thành lập một đảng của giai cấp vô sản.
Quốc tế cộng sản chỉ rõ phương thức để tiến tới thành lập đảng là phải bắt đầu từ việc
xây dựng các chi bộ trong các nhà máy, xí nghiệp, chỉ rõ mối quan hệ giữa ĐCSDD với
phong trào cộng sản quốc tế.
- Nhận được tin về sự chia rẽ của những người cộng sản ở DD, NAQ rời xiêm về TQ.
Người chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng, họp từ ngày 6/1 -> 7/2/1930 tại Hương Cảng,
Trung Quốc Thành phần Hội nghị hợp nhất gồm: 1 đại biểu của Quốc tế Cộng sản; 2 đại
biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng; 2 đại biểu của ANCSD.
- Hội nghị thảo luận đề nghị của NAQ gồm năm điểm lớn, với nội dung: Bỏ thành kiến
xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản ở Đông Dương; Định
tên Đảng là ĐCSVN; Chính cương và điều lệ sơ lược của Đảng; Định kế hoạch và thực
hiện việc thống nhất trong nước; Cử một ban trung ương lâm thời gồm 9 người trong đó
có hai đại biểu chi bộ cộng sản TQ ở Đông Dương; Hội nghị nhất trí với Năm điểm lớn
theo đề nghị của NAQ và quyết định hợp nhất các tổ chức cộng sản lấy tên là Đảng
cộng sản VN; Hội Nghị thảo luận và thông quan các văn kiện: Chánh cương vắn tắt của
Đảng, sách lược vắn tắt của Đảng, chương trình tóm tắt của Đảng và điều lệ vắn tắt của
Đảng CSVN; Hội nghị quyết định phương châm, kế hoạch thống nhất các tổ chức cộng
sản trong nước, quyết định ra báo, tạp chí của ĐCSVN.
- Ngày 24/2/1930 theo yêu cầu của ĐDCSLĐ, ban chấp hành trung ương lâm thời họp và
ra nghị quyết chấp nhận DDCSLD gia nhập ĐCSVN. Như vậy đến ngày 24/2/1930
ĐCSVN đã hoàn thành việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở VN
II) Cương lĩnh chính trị đầu tiên của ĐCSVN
Cương lĩnh xác định các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam:
Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là: Tư sản dân quyền cách
mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.
Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng:
Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước
Việt Nam được hoàn toàn độc lập, lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông.
Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái, tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn(như
công nghiệp, vận tải, ngân hàng,…)của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao
cho Chính phủ công nông binh quản lý, tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế
quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo, bỏ sưu thuế cho dân cày
nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp, thi hành luật ngày làm 8 giờ.
Về văn hoá-xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ thông
giáo dục theo công nông hoá ∙ Về lực lượng cách mạng: Đảng thu phục cho được
đại bộ phận dân cày phải dựa vào hạng dân nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh
đổ bọn đại địa chủ và phong kiến, làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày
khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hương của bọn tư bản quốc gia, phải hết sức liên lạc
với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt,… để kéo họ đi vào
phe vô sản giai cấp. Đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà
chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung
lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ
Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt
Nam. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản phải thu phục cho được bộ phận
giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng trong khi liên
lạc với các giai cấp phải rất cẩn thận không khi nào nhượng bộ một chút ích lợi gì
của công nông mà đi vào con đường thoả hiệp
Về quan hệ cách mạng VN với phong trào cách mạng thế giới: cách mạng VN là
một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với các dân tộc bị áp
bác và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
6. Nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (10/1930).
I) Nội dung luận cương
- Mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử
lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc.Phương hướng chiến lược
của cách mạng Đông Dương: Tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách
mạng, sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ phát triển bỏ qua thời kỳ tư bản
chủ nghĩa đấu tranh thẳng lên con đường XHCN. Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân
quyền: đánh đổ phong kiến, thực hành triệt để thổ địa cách mạng; đánh đổ đế quốc chủ
nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai nhiệm vụ có quan hệ khăng
khít với nhau, trong đó thổ đại cách mạng là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền. -
Về lực lượng cách mạng: Vô sản là động lực chính, nông dân là động lực mạnh và bộ
phận phần tử lao khổ.Về phương pháp cách mạng: Phải dùng võ trang bạo động và theo
khuôn phép nhà binh.Về quan hệ quốc tế: Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của
cách mạng thế giới.Về vai trò lãnh đạo của Đảng: Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cốt
yếu cho thắng lợi của cách mạng.
II) Ý nghĩa luận cương
Khẳng định lại nhiều vấn đề căn bản thuộc chiến lược cách mạng mà chính cương
vắn tắt và sách lược vắn tắt đã nêu ra. Chưa xác định mâu thuẫn chủ yếu của xã
hội thuộc địa, nên không nêu được vấn đề dân tộc lên hàng đầu mà nặng về vấn
đề giai cấp và đấu tranh giai cấp. Không đánh giá đúng khả năng cách mạng, lòng
yêu nước chống Pháp của tư sản dân tộc và tiểu tư sản. Những hạn chế đó mang
tính chất “tả khuynh” giáo điều.
*) Phân biệt cương lĩnh và luận cương Giống nhau:
- Đường lối chiến lược: đều tiến hành cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng xã hội chủ nghĩa
- Nhiệm vụ cách mạng: chống đế quốc và phong kiến. - Lực lượng cách mạng: công nhân
và nông dân - Lãnh đạo cách mạng: giai cấp công nhân với đội tiên phong là Đảng cộng Sản
- Mối quan hệ với cách mạng thế giới: là một bộ phận của cách mạng thế giới Khác nhau:
- Nội dung cách mạng tư sản dân quyền
+) Cương lĩnh: chỉ thực hiện nhiệm vụ chống đế quốc
+) Luận cương: bao gồm cả nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến
- Mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc dân chủ +) Cương lĩnh: đánh đổ đế quốc phong
kiến, tư sản phản cách mạng (nhiệm vụ dân tộc được nhấn mạnh) +) Luận cương: đánh
đổ phong kiến và đế quốc có quan hệ khăng khít với nhau (nhiệm vụ chống phong kiến được nhấn mạnh) - Lực lượng cách mạng
+) Cương lĩnh: công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trung tiểu địa chủ
+) Luận cương: chỉ bao gồm công nhân và nông dân
7. Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong những năm 1939 – 1941.
A) Hoàn cảnh lịch sử
– Thế giới: Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ. + 01/09/1939 Đức tấn công Ba Lan, 2
ngày sau Anh Pháp tuyên chiến với Đức.
+ 06/1940 Đức tấn công Pháp, chính phủ Pháp đầu hàng Đức.
+ 22/06/1941 Đức tấn công LX, lúc này cuộc chiến chuyển thành phe phát xít do Đức
cầm đầu đối đầu với lực lượng dân chủ do LX làm trụ cột.
– Trong nước: Chiến tranh thế giới thứ 2 đã ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến Đông
Dương và VN. + Pháp đã thi hành các chính sách thời chiến rất trắng trợn, chúng thủ tiêu
quyền tự do, dân chủ mà ta giành được trong thời kỳ 1936 – 1939.
+ 28/09/1939 Toàn quyền Pháp ra nghị định cấm tuyên truyền Cộng Sản, đóng của các
tờ báo và nhà sản xuất, cấm hội họp và tụ tập đông người.
+ Lợi dụng Pháp đầu hàng Đức, 22/09/1940 Nhật tiến vào Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng.
+ 23/09/1940 Pháp ký hiệp định đầu hàng Nhật. + Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc,
phát xít Pháp –Nhật trở nên gay gắt, đặt nhân dân ta dưới 1 cổ 2 tròng áp bức.
– Tình hình kinh tế – xã hội trong nước:
+ Thực dân Pháp thi hành chính sách “kinh tế chỉ huy” nhằm huy động tối đa sức người
sức của phục vụ chiến tranh + Khi Nhật vào Đông Dương, P – N cấu kết để bóc lột nhân
dân ta cướp đoạt ruộng đất, bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay…
¬ Đẩy nhân dân ta vào cảnh cùng cực, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt.
¬ Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước. Đảng CS Đông Dương đã thực
hiện chuyển hướng chỉ đạo chiến lược.
B, Nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng: – Được hoàn chỉnh qua 3 hội nghị:
+ Hội nghị BCHTW Đảng lần 6 (11/1939): mở đầu sự chuyển hướng.
+ Hội nghị BCHTW Đảng lần 7 (11/1940): tiếp tục bổ sung nội dung chuyển hướng.
+ Hội nghị BCHTW Đảng lần 8 (05/1941): hoàn chỉnh nội dung chuyển hướng.
– Nội dung chuyển hướng chỉ đạo:
+ Đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. + Thành lập VN độc lập đồng minh
(Việt Minh) đổi tên các hội phản đế thành hội cứu quốc. Ở Lào: thành lập Ailao độc lập
đồng minh, ở Campuchia thành lập Cao Miên độc lập đồng minh
+ Xác định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm.
+ Xác định phương châm và hình thái khởi nghĩa ở nước ta: Lãnh đạo khởi nghĩa từng
phần trong từng địa phương giành thắng lợi mở đường cho 1 cuộc tổng khởi nghĩa to
lớn. + Chú trọng công tác xây dựng Đảng và đẩy mạnh công tác vận động quần chúng.
¬ Đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhận thức nhiệm vụ giải phóng dân
tộc lên cao hơn hết, tập hợp rộng rãi mọi người VN yêu nước trong mặt trận Việt Minh,
xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, xây dựng căn
cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang. Nâng cao hơn nữa năng lực tổ chức và lãnh đạo
là tinh thần chung của quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. C, Ý nghĩa:
– Góp phần giải quyết mục tiêu hàng đầu của CMVN là độc lập dân tộc, đưa đến những
chủ trương, sự chỉ đạo đúng đắn để thực hiện mục tiêu đó.
– Giúp cho nhân dân ta có đường hướng đúng đắn để tiến tiến lên giành thắng lợi trong
sự nghiệp đánh Pháp đuổi Nhật giành độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân.
– Giúp cho công tác chuẩn bị giành độc lập ở khắp các địa phương, cỗ vũ và thúc đẩy
mạnh mẽ phong trào CM quần chúng.
– Từng bước xây dựng lực lượng vũ trang trong nhân dân là cơ sở cho sự ra đời của VN
tuyên truyền giải phóng quân sau này.
– Xác lập các chiến khu và căn cứ địa CM như căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai và căn cứ Cao Bằng.
8. Tính chất, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945. a) Tính chất
- Là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mang tính chất dân chủ mới
1. Là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình.
- Mục đích là làm cho dân tộc VIệt Nam thoát khỏi ách đế quốc, làm cho nước VN
thành một nước độc lập tự do thể hiện:
- Tập trung hoàn thành nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là giải phóng dân tộc, tập
trung giải quyết mâu thuẫn chủ yếu giữa toàn thể dân tộc với đế quốc xâm lược tay sai;
đáp ứng đúng yêu cầu khách quan của lịch sử và ý chí, nguyện vọng độc lập, tự do của quần chúng nhân dân.
- Lực lượng cách mạng bao gồm toàn thể dân tộc, đoàn kết chặt chẽ trong mặt trận Việt
Minh. Cuộc tổng khởi nghĩa T8 1945 là sự vùng dậy của toàn dân tộc
- Thành lập chính quyền nhà nước của chung toàn dân tộc theo chủ trương của Đảng, với
hình thức cộng hoà dân chủ, chỉ trừ tay sai của đế quốc và những kẻ phản quốc
2. Cách mạng tháng 8 năm 1945 có tính chất dân chủ thể hiện
- Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là một bộ phận tiến bộ của phe dân chủ chống Phát xít
- Cách mạng đã giải quyết một số quyền lợi cho nông dân lực lượng đông đảo nhất trong
dân tộc. Sau cách mạng tháng 8, một phần ruộng đất của đế quốc và Việt gian đã bị tịch
thu, địa tô tuyên bố được giảm 25% một số nợ của nông dân được xoá bỏ
- Cuộc cách mạng đã thành công, chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở
Việt Nam đã được thành lập, xoá bỏ chế độ quân chủ phong kiến. Các tầng lớp nhân dân
được hưởng quyền tự do dân chủ.
- Cách mạng tháng chưa làm cách mạng ruộng đất, chưa thực hiện khẩu hiệu người cày
có ruộng, chưa xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất và những tàn dư phong
kiến để công nghiệp có điều kiện phát triển mạnh…quan hệ giữa địa chủ và nông dân
vẫn như cũ. Chính vì thế CMT8 có tính dân chủ, nhưng tính dân chủ đó vẫn chưa sâu sắc và đầy đủ. b) Ý nghĩa
- Khẳng định ý nghĩa của CMT8, HCM viết: Chẳng những giai cấp lao động mà nhân
dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác
cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc
thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã
nắm chính quyền toàn quốc
- Đối với Việt Nam, CMT8 1945 đã đập tan xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc trong
gần một thế kỉ, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế, lập lên nước Việt
Nam Dân chủ cộng hoà, nhà nước của nhân dân đầu tiên ở ĐNA, giải quyết vấn đề cơ
bản của một cuộc cách mạng xã hội là vấn đề chính quyền. Với thắng lợi ấy nhân dân
VN từ thân phận nô lệ bước lên địa vị người chủ đất nước, có quyền quyết định vận mệnh của mình
- Nước VN từ một nước thuộc địa trở thành quốc gia độc lập có chủ quyền, vươn lên
cùng các dân tộc trên thế giới đấu tranh cho những mục tiêu cao cả của thời địa là hòa
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
- ĐCS Đông Dương từ hoạt động bí mật trở thành một đảng cầm quyền. Từ đây đất
nước, xã hội, con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
- Về mặt quốc tế, mở đầu thời kỳ suy sụp và tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ. Thắng lợi
của CMT8 không chỉ là chiến công của dân tộc VN mà còn là chiến công chung của các
dân tộc thuộc địa đang đấu tranh vì độc lập, tự do, vì thế nó có sức cổ vũ mạnh mẽ
phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
- CMT8 là thắng lợi của đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn sáng tạo của Đảng và tư
tưởng độc lập, tự do của HCM. Chứng tỏ rằng: một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
do ĐCS lãnh đạo hoàn toàn có khả năng thắng lợi ở một nước thuộc địa trước khi giai
cấp công nhân ở chính quốc lên nắm chính quyền.
- CMT8 đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác lênin về
cách mạng giải phóng dân tộc.
c) Bài học kinh nghiệm
- Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi đã để lại cho Đảng và nhân dân Việt Nam
nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, làm phong phú thêm hệ thống lý luận của cách
mạng Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
+ Một là, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế
quốc và chống phong kiến. Con đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Cương
lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định cách mạng nước ta trải qua hai giai đoạn,
trước hết là cách mạng dân tộc dân chủ, sau đó chuyển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng ta đã xác định nhiệm vụ chống đế quốc và
nhiệm vụ chống phong kiến không thể tách rời nhau. Trải qua ba cao trào cách mạng,
Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ đó và xác định: tuy hai
nhiệm vụ không tách rời nhau nhưng nhiệm vụ chống đế quốc là chủ yếu nhất, nhiệm vụ
chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc và phải thực hiện từng bước
để chĩa mũi nhọn của cách mạng vào đế quốc phát xít và bè lũ tay sai nhằm tập trung
giải quyết yêu cầu chủ yếu cấp bách của cách mạng là giải phóng dân tộc. Thắng lợi của
Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của đường lối gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa
xã hội, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến.
+ Hai là, thực hiện khởi nghĩa toàn dân trên nền tảng khối liên minh công - nông. Hồ Chí
Minh cho rằng: “Vì bị áp bức mà sinh ra cách mệnh, cho nên ai mà bị áp bức càng nặng
thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết” [3], vì thế “công nông là gốc
cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không
cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi” [3].
Thực tiễn đã chứng minh chân lý đó. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi là kết quả cuộc
đấu tranh của hơn 20 triệu người Việt Nam yêu nước là lực lượng cách mạng, trong đó
động lực cách mạng là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Liên minh công - nông được xây dựng, củng cố qua ba cao trào cách mạng, đến
đỉnh cao là Tổng khởi nghĩa thì liên minh công - nông đã lớn mạnh vượt bậc. Dựa trên
nền tảng của khối liên minh này, Đảng xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc, động
viên toàn dân tổng khởi nghĩa thắng lợi. Mặt khác, trên cơ sở nhắm đúng mục tiêu chiến
lược hàng đầu của cách mạng và khối đại đoàn kết toàn dân, Đảng ta đã lợi dụng được
mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa đế quốc phát xít, mâu thuẫn giữa chủ
nghĩa đế quốc và một bộ phận thế lực địa chủ phong kiến, mâu thuẫn trong hàng ngũ
ngụy quyền tay sai của Pháp và của Nhật, cô lập cao độ kẻ thù chính là bọn đế quốc phát
xít và bọn tay sai phản động; tranh thủ hoặc trung lập những phần tử lừng chừng. Nhờ
vậy, Cách mạng Tháng Tám giành được thắng lợi nhanh gọn, ít đổ máu.
+ Ba là, kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách
thích hợp. Nắm vững quan điểm cách mạng bạo lực của chủ nghĩa Mác - Lênin: “bạo lực
còn là bà đỡ cho mọi xã hội cũ đang thai nghén một xã hội mới, bạo lực là công cụ mà
sự vận động xã hội dùng để tự mở đường cho mình và đập tan những hình thức chính trị
cứng đờ và chết” [1], Đảng ta đã kiên trì xây dựng lực lượng cách mạng, biết cách sử
dụng linh hoạt các hình thức tổ chức, hình thức đấu tranh phù hợp với từng hoàn cảnh,
từng giai đoạn lịch sử, tập dượt đấu tranh từ thấp đến cao. Trong Cách mạng Tháng
Tám, bạo lực của cách mạng là sự kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị với lực
lượng vũ trang; kết hợp nổi dậy của quần chúng với tiến công của lực lượng vũ trang
cách mạng ở cả nông thôn và thành thị, trong đó, vai trò quyết định là các cuộc tổng
khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Cách mạng Tháng Tám là kết quả của sự kết hợp tất
cả các hình thức đấu tranh kinh tế và chính trị, hợp pháp và không hợp pháp của quần
chúng, từ thấp đến cao, từ ở vài địa phương lan ra cả nước, từ khởi nghĩa từng phần tiến
lên tổng khởi nghĩa. Khi thời cơ đến, Đảng đã biết sử dụng tối đa sức mạnh cách mạng
theo nguyên tắc “tập trung, thống nhất, kịp thời” đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp
thống trị, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân.
+ Bốn là, nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, chọn đúng thời cơ. Hồ Chí Minh và Đảng ta
đã vừa vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm của cách mạng
thế giới, vừa tổng kết những kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa ở nước ta để lãnh đạo, chỉ
đạo Cách mạng Tháng Tám. Trong rất nhiều văn kiện của Đảng từ năm 1939 đến nửa
đầu năm 1945, Đảng đã vạch ra những điều kiện làm thời cơ cho tổng khởi nghĩa thắng
lợi. Nghệ thuật chỉ đạo tài tình của Hồ Chí Minh và Đảng ta trong việc chọn đúng thời
cơ, ra quyết định Tổng khởi nghĩa đúng lúc thể hiện cụ thể trong Chỉ thị của Thường vụ
Trung ương Đảng tháng 03/1945 “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và
bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc phát đi vào đêm 13/8/1945. Cách
mạng Tháng Tám thắng lợi chứng tỏ Đảng đã chọn đúng thời cơ. Đó là lúc bọn cầm
quyền phát xít ở Đông Dương hoang mang đến cực độ sau
khi Nhật đầu hàng; nhân dân ta không thể sống nghèo khổ như trước được nữa (khi hơn
hai triệu người đã bị chết đói...). Đảng đã chuẩn bị sẵn sàng các mặt chủ trương, lực
lượng và cao trào chống Nhật, cứu nước làm điều kiện chủ quan cho tổng khởi nghĩa
giành chính quyền trong cả nước. Cũng nhờ chọn đúng thời cơ mà sức mạnh của nhân
dân ta trong Cách mạng Tháng Tám được nhân lên gấp bội, đã tiến hành tổng khởi nghĩa
thành công trong phạm vi cả nước trong thời gian ngắn.
+ Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của
Cách mạng Tháng Tám. Cách mạng Tháng Tám được một đảng tiên phong thật sự cách
mạng lãnh đạo. Đảng ta là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong
trào công nhân và phong trào yêu nước, ngay từ đầu Đảng đã xác định đúng đường lối
chiến lược và sách lược cách mạng, không ngừng bổ sung và phát triển đường lối chiến
lược và sách lược đó. Đảng ta rất coi trọng việc quán triệt đường lối chiến lược và sách
lược, chủ trương của Đảng trong đảng viên và quần chúng cách mạng, không ngừng đấu
tranh khắc phục những khuynh hướng lệch lạc. Đảng có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán
bộ, đảng viên gắn bó với nhân dân. Đảng chăm lo công tác tổ chức, cán bộ, giáo dục rèn
luyện cán bộ, đảng viên về ý chí bất khuất, phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng,
gắn bó máu thịt với nhân dân. Đảng biết phát huy triệt để vai trò của Mặt trận Việt Minh
với hàng triệu hội viên và thông qua Mặt trận để lãnh đạo nhân dân đấu tranh. Đảng biết
nắm bắt thời cơ, xây dựng lực lượng và tổ chức, sử dụng lực lượng đúng lúc; phát huy
được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để dẫn dắt quần chúng tiến lên giành và
giữ chính quyền. Với những yếu tố như trên, nền tuy chỉ mới được tôi luyện qua 15 năm
đấu tranh và mặc dù chỉ có 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám
thành công, một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và mang tầm vóc thời đại. Thực tiễn lãnh
đạo của Đảng đã khẳng định rằng, một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng,
có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn
bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ thì đảng có sức mạnh vô địch, không
thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên.
- Hiện nay, đất nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức lớn trong quá trình
phát triển. Bên cạnh những thuận lợi, thì đất nước ta cũng đang gặp phải những khó
khăn, trong đó có sự xuất hiện của dịch bệnh COVID - 19, đặc biệt là đợt bùng phát
dịch bệnh lần thứ tư vẫn còn đang diễn biến hết sức phức tạp. Sự tác động của dịch bệnh
đã làm đất nước ta phải chịu thiệt hại lớn. “Từ thành thị tới nông thôn, những con đường
vắng người qua lại, những khu chợ sầm uất, sân bay, bến cảng, sân trường, nhà máy, xí
nghiệp... náo nhiệt giờ lặng lẽ; trong khi đó bệnh viện, khu điều trị ở một số nơi có dịch
lại trở nên đông đúc hơn bao giờ hết. Những chung cư, sân vận động, nhà thi đấu, ký túc
xá, doanh trại quân đội bất đắc dĩ trở thành bệnh viện dã chiến, thành khu cách ly. Bao
nhiêu cuộc hội ngộ, đoàn tụ vui buồn trở thành dang dở... Sản xuất kinh doanh bị ảnh
hưởng tiêu cực, thu nhập, tích lũy của người dân giảm sút... Đám mây đen COVID - 19
đã phủ nghịch cảnh lên cuộc sống của chúng ta” [10]. Bên cạnh đó, thế giới đang bị
khủng hoảng lớn về kinh tế và nhiều mặt khác, tình hình an ninh khu vực và thế giới còn
nhiều diễn biến phức tạp, khó dự báo… Trước tình hình ấy, những bài học kinh nghiệm
của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa tích
cực đối với sự nghiệp đổi mới đất nước Việt Nam giai đoạn hiện nay, nhất là trong việc
đối phó với dịch bệnh. Với phương châm “chống dịch như chống giặc”, chúng ta tin
tưởng việc phát huy những bài học kinh nghiệm đã có được từ Cách mạng Tháng Tám
sẽ góp phần giúp Việt Nam “đẩy lùi cho được đại dịch COVID - 19, “sớm đưa nước ta
trở về “trạng thái bình thường mới”” [9] mà nhân dân cả nước đang mong đợi như đã
từng mong đợi thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tiếp tục phát triển kinh
tế - xã hội, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. \
9. Hoàn cảnh lịch sử, nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử Chỉ thị “kháng chiến, kiến
quốc” (25/11/1945) của Đảng.
a, Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam sau CM T8/1945 - Thuận lợi:
+ Chính quyền giành được trong toàn quốc, nhân dân phấn khởi xây dựng cuộc sống mới
+ Uy tín của Đảng và Chủ tịch HCM được khẳng định với nhân dân Việt Nam
+ Toàn Đảng, toàn dân quyết tâm xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. - Khó khăn:
+ Miền Bắc: 20 vạn quân Tưởng vào Việt Nam với danh nghĩa đồng minh tước vũ khí
của Nhật thực chất muốn lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ.
+ Miền Nam: Quân Anh vào tước vũ khí của Nhật nhưng thực chất giúp Pháp xâm lược
nam bộ 23/9/1945: Pháp xâm lược Nam Bộ
+ Tàn quân Nhật còn chiếm đóng ở nhiều nơi chờ quân đồng minh vào tước vũ khí
+ Nhiều tổ chức đảng phái phản động ra sức chống phá Cách mạng.
+ Nạn đói làm hơn 2 triệu người chết, thiên tai khắc nghiệt dẫn đến nguy cơ 1 nạn đói
mới đến gần. Tài chính kiệt quệ, ngân sách trống rỗng.
+ Văn hóa: Hơn 90% người dân mù chữ
+ Quân sự: Lực lượng mỏng, trang thiết bị, vũ khí còn thô sơ
+ Ngoại giao: Chưa có nước nào công nhận sự độc lập và thiết đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Nhận xét:
+ Sau CMT8 chính quyền non trẻ đứng trước nhiều khó khăn to lớn và thử thách vô cùng
lớn, khó khăn chồng chất khó khăn, vận mệnh của dân tộc trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.
+ Hai khả năng đặt ra: mất chính quyền phải quay trở lại kiếp người nô lệ hoặc có thế
xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng.
+ Thuận lợi hết sức cơ bản, khó khăn to lớn, chồng chất nhưng có thể khắc phục được vì
vậy trung ương Đảng quyết định lựa chọn con đường xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng.
Đảng đề ra những chủ trương và biện pháp cụ thể thông qua chỉ thị “Kháng chiến – Kiến quốc” ngày 25/11/1945.
b) Nội dung chủ trương “kháng chiến ‒ kiến quốc” (Chỉ thị là văn kiện quan trọng của
Đảng, đặt dấu đầu tiên về tư duy chính trị của Đảng cầm quyền. Chỉ thị phân tích sâu
sắc sự biến đổi tình hình thế giới và trong nước, nhất là tình hình Nam Bộ)
‒ Nêu rõ mục tiêu của cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là: Dân tộc giải phóng
cuộc cách mạng ấy vẫn đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước ta chưa được hoàn toàn độc lập
Về chỉ đạo chiến lược: ‒
+ Xác định mục tiêu phải nêu cao của CMVN vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng,
nhưng không phải là giảnh độc lập mà là giữ vững độc lập. Về xác định kẻ thù: ‒
+ Kẻ thù chính là Pháp cần tập trung mũi nhọn vào chúng vì: Pháp đã thống trị VN gần
90 năm; Pháp được quân Anh giúp sức; Pháp không từ bỏ dã tâm xâm lược VN.
+ Đối với các tổ chức Đảng phái phản động TW Đảng đánh giá thái độ và đề ra đối sách phù hợp
+ Mở rộng mặt trận Việt Minh nhằm thu hút mọi tầng lớp nhân dân, thống nhất mặt trận Việt Miên ‒ Lào. ‒
Về phương hướng, nhiệm vụ: ‒
+ Nêu lên 4 nhiệm vụ cơ bản trước mắt là: Xây dựng, bảo vệ chính quyền; chống thực
dân Pháp ở Nam Bộ, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân.
+ Kiên trì nguyên tắc thêm bạn bớt thù, với Tưởng thực hiện khẩu hiệu “Hoa‒ Việt thân
thiện”, với Pháp thực hiện “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế”.
Chỉ thị đề ra các biện pháp cụ thể: ‒
+ Chính trị: Củng cố chính quyền cách mạng; xúc tiến cho tổng tuyển cử 6/1/1946 bầu
Quốc hội, lập chính phủ tri thức; đề ra hiến pháp năm 1946
+ Kinh tế: Diệt giặc đói bằng cách tăng gia sản xuất, nhường cơm sẻ áo, lá lành đùm lá
rách; Phát động “tuần lễ vàng”,ủng
hộ “quỹ độc lập” (thu được 370 kg vàng 20 triệu cho “quỹ độc lập”)
+ Văn hóa: Diệt giặc dốt, bài trừ văn hóa ngu dân, xóa nạn mù chữ, xây dựng nền văn hóa mới
+ Quân sự: Động viên toàn dân tham gia kháng chiến
+ Ngoại giao: Cứng rắn về nguyên tắc nhưng mềm dẻo về chính sách, nhân nhượng bên
trên, dồn áp lực của quần chúng bên dưới để chống lại chúng; nhân nhượng với Tưởng
và hòa hoãn với Pháp ( ký hiệp định sơ bộ, ký tạm ước);...
c, Ý nghĩa của chủ trương
Chỉ đúng kẻ thù chính để tập trung đấu tranh. ‒
Xác định đúng những vấn đề cơ bản về chiến lược và sách ‒ lược của cách mạng.
Soi sáng con đường xây dựng và bảo vệ chính quyền cách ‒ mạng
‒ Thể hiện 1 quy luật của VN sau CM T8/1945 là xây dựng chế độ mới phải đi đôi với
bảo vệ chế độ mới đó cũng chính là quy luật dựng nước và giữ nước của dân tộc
10. Kết quả, ý nghĩa của quá trình xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng
trong giai đoạn 1945 – 1946.
- Cuộc đấu tranh thực hiện chủ trương kháng chiến kiến quốc của Đảng giai đoạn 1945-
1946 đã diễn ra rất gay go, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,
quân sự, ngoại giao và đã giành được những kết quả hết sức to lớn.
- Về chính trị - xã hội: Đã xây dựng được nền móng cho một chế độ xã hội mới - chế độ
dân chủ nhân dân với đầy đủ các yếu tố cấu thành cần thiết. Quốc hội, Hội đồng nhân
dân các cấp được thành lập thông qua phổ thông bầu cử. Hiến pháp dân chủ nhân dân
được Quốc hội thông qua và ban hành. Bộ máy chính quyền từ Trung ương đến làng, xã
và các cơ quan tư pháp, tòa án, các công cụ chuyên chính như Vệ quốc toàn, Công an
nhân dân được thiết lập và tăng cường. Các đoàn thể nhân dân như Mặt trận Việt Minh,
Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, Tổng Công đoàn Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam được xây dựng và mở rộng. Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam được thành lập.
- Về kinh tế, văn hóa: Đã phát động phong trào tăng gia sản xuất, cứu đói, xóa bỏ các thứ
thuế vô lý của chế độ cũ, ra sắc lệnh giảm tô 25%, xây dựng ngân quỹ quốc gia. Các lĩnh
vực sản xuất được hồi phục. Cuối năm 1945, nạn đói cơ bản được đẩy lùi, năm 1946 đời
sống nhân dân được ổn định và có cải thiện. Tháng 11-1946, giấy bạc "Cụ Hồ" được
phát hành. Đã mở lại các trường lớp và tổ chức khai giảng năm học mới. Cuộc vận động
toàn dân xây dựng nền văn hóa mới đã bước đầu xóa bỏ được nhiều tệ nạn xã hội và tập
tục lạc hậu. Phong trào diệt dốt, bình dân học vụ được thực hiện sôi nổi. Cuối năm 1946,
cả nước đã có thêm 2.5 triệu người biết đọc, biết viết.
- Về bảo vệ chính quyền cách mạng: Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài
Gòn và mở rộng phạm vi chiếm đóng ra các tỉnh Nam Bộ, Đảng đã kịp thời lãnh đạo
nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến và phát động phong trào Nam tiến chi viện
Nam Bộ, ngăn không cho quân Pháp đánh ra Trung Bộ. Ở miền Bắc, bằng chủ trương lợi
dụng mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù, Đảng và Chính phủ ta đã thực hiện sách lược nhân
nhượng với quân đội. Tưởng tay sai của chúng để giữ vững chính quyền, tập trung lực
lượng chống Pháp ở miền Nam. Khi Pháp - Tưởng ký Hiệp ước Trùng Khánh (28-2-
1946), thỏa thuận mua bán quyền lợi với nhau, cho Pháp kéo quân ra miền Bắc, Đảng lại
mau lẹ chỉ đạo chọn giải pháp hòa hoãn, dàn xếp với Pháp để buộc quân Tưởng phải rút
về nước. Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, cuộc đàm phán ở Đà Lạt, ở Phôngtennơblô
(Phôngtennơblô, Pháp), Tạm ước 14-9- 1946 đã tạo điều kiện cho quân dân ta có thêm
thời gian để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới.
- Ý nghĩa của những thành quả đấu tranh nói trên là đã bảo vệ được nền độc lập của đất
nước, giữ vững chính quyền cách mạng; xây dựng được những nền móng đầu tiên và cơ
bản cho một chế độ mới, chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chuẩn bị được những
điều kiện cần thiết, trực tiếp cho cuộc kháng chiến toàn quốc sau đó.
- Nguyên nhân thắng lợi: Có được những thắng lợi quan trọng đó là do Đảng đã đánh giá
đúng tình hình nước ta sau Cách mạng Tháng Tám, kịp thời đề ra chủ trương kháng
chiến, kiến quốc đứng đắn; xây dựng và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết
dân tộc; lợi dụng được mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch, V.V..
- Bài học kinh nghiệm: trong hoạch định và chỉ đạo thực hiện chủ trương kháng chiến
kiến quốc giai đoạn 1945-1946 là: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, dựa vào dân
để xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong nội
bộ kẻ thù, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chính, coi sự nhân nhượng có nguyên tắc với kẻ
địch cũng là một biện pháp đấu tranh cách mạng cần thiết trong hoàn cảnh, cụ thể. Tận
dụng khả năng hòa hoãn để xây dựng lực lượng, củng cố chính quyền nhân dân, đồng
thời đề cao cảnh giác, sẵn sàng ứng phó với khả năng chiến tranh lan ra cả nước khi kẻ địch bội ước.
11: Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của Đảng (1945 – 1954)
- Hoàn cảnh lịch sử:
+ Với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, Pháp đã có những hành động trắng trợn, vi
phạm các điều đã ký kết với chính phủ ta như: hiệp định Sơ bộ (6-3), tạm ước (14- 9).
Sau khi được đưa quân ra miền Bắc , Pháp đã có những hành động như: đánh chiếm Hải
Phòng, Lạng Sơn, tước vũ khí ở Hà Nội.
+ Mặc dù chúng ta đã nhân nhượng với Pháp, nhưng chúng ta càng nhân nhượng, Pháp
càng lấn tới, đến lúc chúng ta không thể nhân nhượng được nữa, toàn Đảng toàn dân ta
quyết tâm kháng chiến quốc bùng nổ để bảo vệ nền độc lập dân tộc của mình. Đêm 19-
12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.
+ Đường lối toàn quốc kháng chiến của Đảng được thể hiện tập trung trong 3 văn kiện:
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh; Chỉ thị toàn dân kháng
chiến của trung ương Đảng; Tác phẩm: “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh.
- Nội dung đường lối kháng chiến:
+ Tính chất của đường lối kháng chiến: Là cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, dân
chủ và hòa bình, cuộc kháng chiến có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới, là
cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân VN.
+ Phương châm của đường lối kháng chiến: tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực
hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.
* K/c toàn dân: thể hiện qua lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch HCM “bất
kỳ đàn ông đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già người trẻ, hễ
là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp”, thực hiện mỗi người dân
thành chiến sĩ đánh giặc, mỗi đường phố làng mạc trở thành pháo đài.
* K/c Toàn diện: tức là đánh giặc trên tất cả các mặt từ kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, ngoại giao.
+ Kinh tế: thực hiện xây dựng kinh tế tự cung tự cấp, tập trung phát triển nông nghiệp,
thủ công nghiệp, thương mại, công nghiệp quốc phòng.
+ Chính trị: thực hiện đoàn kết toàn dân, đoàn kết với nhân dân yêu chuộng tự do hòa bình trên thế giới.
+ Quân sự: thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiêu diệt
địch, giải phóng nhân dân và đất đai. Thực hiện du kích chiến, tiến lên vận động chiến, đánh chính quy.
+ Văn hóa: xóa bỏ văn hóa thực dân phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ mới theo
3 nguyên tắc: dân tộc, khoa học và đại chúng.
+ Ngoại giao: thực hiện thêm bạn bớt thù, biểu dương thực lực, sẵn sàng đàm phán nếu
Pháp công nhận Việt Nam độc lập.
* Kháng chiến lâu dài: chống âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của Pháp để có thời gian
phát huy ưu thế mạnh của ta như: thiên thời địa lợi nhân hòa, lâu dài để chuyển hóa
tương quan lực lượng từ chỗ ta yếu hơn đích đến chỗ ta mạnh hơn địch và đánh thắng địch.
* Dựa vào sức mình là chính: tự cấp, tự túc về mọi mặt vì ta bị bao vây tứ phía, chưa
được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh. Khi nào có điều kiện sẽ tranh thủ sự
giúp đỡ của các nước, xong lúc đó cũng không được ỷ lại.
* Triển vọng k/c: mặc dù lâu dài, gian khổ, khó khăn song nhất định thắng lợi.
- Ý nghĩa: Đường lối k/c công bố sớm cho thấy sự chủ động, không bất ngờ trước tình
hình đã có tác dụng đưa cuộc k/c nhanh chóng đi vào ổn định, phát triển đúng hướng,
từng bước đi tới thắng lợi cho dân tộc Việt Nam.
12. Hoàn cảnh lịch sử, nội dung cơ bản và ý nghĩa Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ II (2/1951) của Đảng.
a)Hoàn cảnh lịch sử
- Từ những năm 50, phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh mẽ. Hệ thống XHCN
được củng cố và tăng cường về mọi mặt. Phong trào giải phóng dân tộc vẫn tiếp tục phát
triển làm rung chuyển hậu phương của chủ nghĩa đế quốc.
- Về phía chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ. Cho tới lúc này, Mỹ đã căn bản hoàn
thành việc chia lại thị trường thế giới tư bản dưới sự khống chế của Mỹ. Chúng còn ra
sức tiếp tay cho các đế quốc khác trong cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa, chuẩn bị
điều kiện hất cẳng bọn thực dân cũ, thay bằng chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Mâu
thuẫn giữa Mỹ và các nước đế quốc ngày càng sâu sắc. Trong quan hệ với Đông Dương,
để cứu nguy cho Phap đang sa lầy trong cuộc chiến tranh và thực hiện ý đồ can thiệp sâu
vào Đông Dương, Mỹ đã quyết định tăng cường viện trợ cho Pháp và quân đội bù nhìn
- Tình hình quốc tế có tác động vào DD về hai mặt. Sự ủng hộ về mặt tinh thần và giúp
đỡ về vật chất của các nước XHCN cho cuộc kháng chiến của ba nước DD là một nhân
tố tích cực. Song song với những nhân tố mới tích cực, việc Mỹ cấu kết với Pháp, tăng
cường vào can thiệp DD… cũng gây cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhiều khó
khăn. Điều đó đòi hỏi Đảng ta phải có những chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình mới.
- Ở trong nước, sau 16 năm kể từ Đại hội lần thứ I của Đảng, tình hình có những chuyển
biến căn bản. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã đưa nhân dân ta từ người mất
nước lên người làm chủ đất nước. Nhưng do dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, nhân
dân ta lại phải tiếp tục cầm súng đứng lên đánh giặc để bảo vệ nền tự do, độc lập. Qua
hơn 5 năm chiến đấu, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã liên
tiếp thu được nhiều thắng lợi, thực dân Pháp ngày càng sa lầy vào cuộc chiến khó tránh
khỏi thất bại. Thế và lực của cuộc kháng chiến từ sau chiến thắng Biên giới có bước
phát triển vượt bậc. Tuy nhiên, cuộc kháng chiến bước sang giai đoạn mới lại có những
yêu cầu mới, đòi hỏi Đảng ta phải giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách
để đưa cách mạng tiến lên. b) Nội dung
- Từ ngày 11 đến 19/2/1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần II của Đảng Cộng sản Đông
Dương họp ở Vinh Quang - Chiêm Hóa (Tuyên Quang), thông qua hai bản báo cáo quan trọng:
+ Báo cáo chính trị do Hồ Chủ tịch trình bày tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của Đảng
qua các thời kỳ, khẳng định đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng.
+ Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày, nêu rõ
nhiệm vụ cơ bản của cách mạng VN là đánh đuổi đế quốc, tay sai, giành độc lập và
thống nhất hoàn toàn dân tộc, thực hiện “Người cày có ruộng” phát triển chế độ dân chủ
nhân dân, gây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Tách Đảng Cộng sản Đông Dương, thành lập ở Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia mỗi nước
một Đảng Mác - Lênin riêng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng dân tộc.
- Ở Việt Nam, Đảng ra hoạt động công khai với tên Đảng Lao động Việt Nam.
- Thông qua Tuyên ngôn, Chính cương, Điều lệ mới; xuất bản báo Nhân dân, cơ quan Trung ương của Đảng.
- Bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị do Hồ Chí Minh làm Chủ
tịch và Trường Chinh làm Tổng Bí thư. c) Ý nghĩa
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Đảng đánh một dấu mốc quan trọng trong quá
trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta. Đại hội đã đưa ĐCSVN từ việc hoạt động bí
mật ra hoạt động công khai trở lại dưới tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam. Đường
lối do Đại hội vạch ra không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt của kháng chiến và yêu cầu
lâu dài của cách mạng mà còn thể hiện tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, long quả
cảm sắc son: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, với một khát vọng cháy bỏng về độc
lập, tự do cho dân tộc: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước,