lOMoARcPSD| 58707906
lOMoARcPSD| 58707906
MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................................................................ 2
DANH MỤC VIẾT TẮT .................................................................................................................. 3
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 4
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................................................... 4
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI
VIỆT NAM ................................................................................................................................... 4
1. Cơ sở lý luận ........................................................................................................................ 4
1.1. Một số khái niệm nền tảng ............................................................................................ 4
1.2. Mối quan hệ giữa hoạt động đầu tư nước ngoài và hoạt động đầu tư trong nước ........ 5
2. Thực trạng của hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ................................................. 5
2.1. Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo ngành kinh tế .................. 6
2.2. Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo đối tác ............................. 6
2.3. Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo địa phương ...................... 7
II. ẢNH HƯỞNG, TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN HOẠT
ĐỘNG ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC ............................................................................................... 7
1. Thị trường tài chính và thị trường vốn ................................................................................. 7
1.1. Tích cực ......................................................................................................................... 8
1.2. Tiêu cực ....................................................................................................................... 10
2. Trong vấn đề công nghệ và quản lý ................................................................................... 11
2.1. Trong vấn đề công nghệ .............................................................................................. 11
2.1.2. Thúc đẩy phát triển hệ sinh thái công nghệ cao, xây dựng các trung tâm nghiên cứu
và phát triển R&D .............................................................................................................. 13
2.1.3. Thách thức và giải pháp ........................................................................................... 14
2.2. Ảnh hưởng, tác động của hoạt động đầu tư ớc ngoài lên đầu tư trong nước về năng
suất ...................................................................................................................................... 14
2.3. Ảnh hưởng, tác động của hoạt động đầu nước ngoài lên đầu trong nước về mặt
quản lý ................................................................................................................................ 16
3. Trong vấn đề chất lượng nguồn nhân lực .......................................................................... 17
3.1. Hoạt động đầu tư nước ngoài giúp nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng .......... 17
3.2. Hoạt động đầu nước ngoài tạo động lực cạnh tranh thúc đẩy sự cải thiện chất
lượng đào tạo ...................................................................................................................... 19
3.3. Hoạt động đầu nước ngoài giúp hình thành mạng lưới chuyên gia chuyên gia
quốc tế ................................................................................................................................. 19
4. Trong vấn đề chuỗi cung ứng ............................................................................................ 20
4.1. Hợp tác với doanh nghiệp FDI .................................................................................... 20
4.2. Tiêu chuẩn hóa và nâng cao chất lượng ...................................................................... 21
lOMoARcPSD| 58707906
4.3. Phát triển các ngành công nghiệp liên quan ................................................................ 22
4.4. Thách thức và giải pháp .............................................................................................. 24
5. Trong vấn đề thể chế và môi trường kinh doanh ............................................................... 24
5.1. Cải thiện hệ thống pháp lý ........................................................................................... 24
5.2. Nâng cấp cơ sở hạ tầng ................................................................................................ 25
III. ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU NƯỚC NGOÀI TỚI HOẠT
ĐỘNG ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC ............................................................................................. 26
1. Cơ hội ................................................................................................................................. 26
2. Thách thức ......................................................................................................................... 27
3. Kiến nghị ............................................................................................................................ 27
PHẦN KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................................. 28
DANH MỤC VIẾT TẮT
STT
Danh mục viết tắt
Định nghĩa
1
FPI
Đầu tư gián tiếp nước ngoài
2
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
3
TTCK
Thị trường chứng khoán
4
GVMCP
Điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần
vốn góp
5
NDT
Nhà đầu tư
lOMoARcPSD| 58707906
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ như hiện nay,
hoạt động đầu nước ngoài đã đang đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, chuyển dịch cấu ngành nghề nâng cao năng lực cạnh tranh của nhiều quốc gia, không
chỉ ở các nước nghèo mà kể cả các nước công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ...
Đối với Việt Nam, hoạt động đầu nước ngoài không chỉ bổ sung nguồn vốn quan trọng
mà còn là động lực kích thích hoạt động đầu tư trong nước thông qua việc chuyển giao công nghệ,
nâng cao năng suất lao động trình độ quản lý, mở rộng thị trường, cải thiện chất lượng nguồn
nhân lực, tạo ra các hiệu ứng lan tỏa tích cực trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, không phải lúc nào, mối quan hệ giữa hoạt động đầu nước ngoài đầu
trong nước cũng rõ ràng đồng nhất. Nghiên cứu đề tài “Hoạt động đầu nước ngoài động
lực thúc đẩy cho hoạt động đầu tư trong nước, hãy chứng minh điều đó có dẫn chứng số liệu”
chúng tôi sẽ tiến hành phân tích tác động của hoạt động đầu tư nước ngoài đến nền kinh tế nội địa
trên khía cạnh kinh tế: công nghệ, năng suất quản lý, chuỗi cung ứng, chất lượng nguồn nhân
lực, thể chế môi trường kinh doanh. Đồng thời đưa ra các dẫn chứng số liệu cụ thể từ các nghiên
cứu, báo cáo kinh tế thực tiễn tại Việt Nam cũng như một số quốc gia khác trên thế giới. Qua
đó, không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động đầu tư nước ngoài trong việc thúc đẩy
đầu tư trong nước mà còn đề xuất các giải pháp nhằm tối ưu hóa hiệu quả của nguồn vốn này, góp
phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng.
PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1. Cơ sở lý luận
1.1.Một số khái niệm nền tảng
1.1.1. Hoạt động đầu tư nước ngoài
“Hoạt động đầu nước ngoài hoạt động đầu được thực hiện bằng nguồn vốn đầu
trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài”
1
Nguồn vốn của hoạt động đầu tư nước ngoài bao gồm:
- Tài trợ phát triển chính thức (ODF Official Development Finance): bao gồm Viện trợ
Phát triển Chính thức (ODA - Official Development Assistance) các nh thức tài trợ
khác. Trong đó ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu nên trong báo cáo này, khi đề cập đến nguồn
tài trợ phát triển chính thức chỉ đề cập đến nguồn ODA.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment): vốn bằng tiền hoặc bất kỳ
tài sản nào mà nhà đầu tư đưa vào một quốc gia khác để được quyền sở hữu, quản lý hoặc
kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
1
Từ Quang Phương&Phạmn Hùng. (2022). Kinh tế đầu tư. Đại học Kinh tế Quốc Dân. Đại học Kinh tế Quốc
dân.
2
Từ Quang Phương&Phạm Văn Hùng. (2022). Kinh tế đầu tư. Đại học Kinh tế Quốc Dân. Đại học Kinh tế
Quốc dân.
lOMoARcPSD| 58707906
- Nguồn tín dụng từ các ngân ngàng thương mại quốc tế: khoản vốn vay hoặc các hình thức
cấp tín dụng mà các ngân hàng thương mại nước ngoài (hoặc ngân hàng quốc tế) cung cấp
cho nhân, tổ chức, doanh nghiệp, hoặc chính phủ của một quốc gia khác để tài trợ cho
các hoạt động kinh doanh, thương mại, đầu tư, hoặc phát triển dự án.
- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế: dòng vốn đầu tư vốn cổ phẩn của nhà đầu tư
nước ngoài trên thị trường chứng khoán, dòng vốn từ việc phát hành trái phiếu chình phủ
và trái phiếu doanh nghiệp ra nước ngoài.
1.1.2. Hoạt động đầu tư trong nước.
“Hoạt động đầu tư trong nước là các hoạt động đầu tư được tài trợ từ nguồn vốn tích lũy của
ngân sách, của doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của dân cư”
2
Nguồn vốn của hoạt động đầu tư trong nước bao gồm:
- Nguồn vốn nhà nước: nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát
triển của nhà nước, nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp trong nước.
- Nguồn vốn của khu vực dân doanh: tiết kiệm của dân cư, tích lũy của tư nhân.
1.2.Mối quan hệ giữa hoạt động đầu tư nước ngoài và hoạt động đầu tư trong nước
- Đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước là hai kênh huy động vốn quan trọng cho sự phát
triển kinh tế quốc gia.
- Đầu nước ngoài đóng vai trò bổ trợ, kích thích lan tỏa tác động tích cực lên hoạt động
đầu tư trong nước qua các kênh sau:
+ Chuyển giao công nghệ và nâng cao năng suất lao động, hiệu quả quản lý.
+ Phát triển chuỗi cung ứng nội địa
+ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nội địa
+ Cải thiện thể chế và môi trường kinh doanh trong nước
2. Thực trạng của hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện tính tới 20/12/2023, ước tính đạt 23,18 tỷ USD, tăng 3,5% so
với năm trước, tăng nhẹ 0,6 điểm phần trăm so với 11 tháng năm 2023.
Tổng vốn đăng cấp mới, điều chỉnh góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu
tư nước ngoài hơn 36,6 tỷ USD, tăng 32,1% so với năm trước. Ngoài vốn đầu tư điều chỉnh giảm
thì vốn đầu tư mới và góp vốn mua cổ phần tăng mạnh hơn so với năm trước. Cụ thể:
Đầu tư mới: Có 3.188 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (tăng 56,6% so
với năm trước), tổng vốn đăng ký đạt gần 20,19 tỷ USD (tăng 62,2% so với năm trước).
Điều chỉnh vốn: Có 1.262 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (tăng 14% so với
năm trước), tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt hơn 7,88 tỷ USD (giảm 22,1% so với năm trước).
Góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp: Có 3.451 giao dịch GVMCP của nhà đầu tư nước
ngoài (giảm 3,2% so với năm trước), tổng giá trị vốn góp đạt hơn 8,5 tỷ USD (tăng 65,7% so với
năm rước).
Hình 1: Vốn đầu tư nước ngoài các năm 2019 – 2023
lOMoARcPSD| 58707906
(nguồn: Tổng cục thống kê)
2.1.Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo ngành kinh tế
Các nhà đầu nước ngoài đã đầu vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân.
Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt hơn 23,5 tỷ USD,
chiếm 64,2% tổng vốn đầu đăng tăng 39,9% so với năm trước. Ngành kinh doanh bất
động sản đứng thứ 2 với tổng vốn đầu gần 4,67 tỷ USD, chiếm hơn 12,7% tổng vốn đầu tư đăng
ký, tăng 4,8% so với năm trước. Các ngành sản xuất, phân phối điện; tài chính ngân hàng xếp thứ
3 4 với tổng vốn đăng đạt lần lượt hơn 2,37 tỷ USD (tăng 4,9%) gần 1,56 tỷ USD (gấp
gần 27 lần). Còn lại là các ngành khác.
Hình 2: Đầu tư nước ngoài năm 2023 theo ngành kinh tế
(nguồn: Tổng cục thống kê)
2.2.Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo đối tác
Trong năm 2023, đã 111 quốc gia vùng lãnh thổ đầu tại Việt Nam. Trong đó,
Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu hơn 6,8 tỷ USD, chiếm 18,6% tổng vốn đầu vào Việt
Nam, tăng 5,4% so với năm trước; Nhật Bản đứng thứ hai với gần 6,57 tỷ USD, chiếm hơn 17,9%
tổng vốn đầu tư, tăng 37,3% so với năm trước. Đặc khu hành chính Hồng Kông đứng thứ 3 với
tổng vốn đầu đăng hơn 4,68 tỷ USD, chiếm gần 12,8% tổng vốn đầu tư, gấp 2,1 lần so với
năm trước. Tiếp theo là Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan…
Xét về số dự án, Trung Quốc dẫn đầu về số dự án mới (chiếm 22,2%). Hàn Quốc dẫn đầu về số
lượt điều chỉnh vốn (chiếm 25,9%) và góp vốn mua cổ phần (chiếm 27,8%).
Hình 3: Đầu tư nước ngoài năm 2023 theo đối tác
lOMoARcPSD| 58707906
(nguồn: Tổng cục thống kê)
2.3.Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo địa phương
Các nhà đầu nước ngoài đã đầu vào 56 tỉnh, thành phố trên cả nước trong năm 2023.
Trong đó, TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu về vốn đầu tư thu hút được với tổng vốn đầu đăng ký hơn
5,85 tỷ USD, chiếm gần 16% tổng vốn đầu đăng ký, tăng 48,5% so với năm trước năm 2022.
Hải Phòng xếp thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng hơn 3,26 tỷ USD, chiếm 8,9% tổng vốn đầu tư
cả nước, tăng 66,2% so với năm trước. Tiếp theo lần lượt là Quảng Ninh đạt 3,11 tỷ USD, chiếm
8,5% và tăng 31,3% Bắc Giang đạt 3,01 tỷ USD, chiếm 8,2%, tăng 148,3%…
Nếu xét về số dự án, TP. Hồ Chí Minh là địa bàn dẫn đầu cả nước cả về số dự án mới (37,7%), số
lượt dự án điều chỉnh (23,5%) và góp vốn mua cổ phần (67,1%).
Hình 4: Đầu tư nước ngoài năm 2023 phân theo địa phương
(nguồn: Tổng cục thống kê)
II. ẢNH HƯỞNG, TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU NƯỚC NGOÀI
ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TRONG NƯỚC.
1. Thị trường tài chính và thị trường vốn
Đầu gián tiếp nước ngoài (FPI) vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung, cũng
như tăng trưởng kinh tế nói riêng. Để bổ sung sự thiếu hụt về nguồn vốn trong nước, thúc đẩy phát
triển sản xuất, kích thích tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm cải thiện đời sống của người
lOMoARcPSD| 58707906
dân, thì thu hút đầu nước ngoài một nhiệm vụ quan trọng đối với các nước đang phát triển
như Việt Nam. Dưới đây những tác động của đầu tư nước ngoài thông qua cổ phiếu, trái phiếu
đến hoạt động đầu tư trong nước:
1.1.Tích cực
- FPI làm tăng quy mô GDP
Khi FPI chảy vào một nền kinh tế, nó trực tiếp làm tăng quy mô GDP. Số tiền đầu tư này được
sử dụng để mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc các tài sản tài chính khác của các công ty trong nước.
Năm 2007 một dụ điển hình, bởi đây năm đánh dấu Luật Chứng khoán bắt đầu có hiệu
lực thi hành và năm đánh dấu TTCK Việt Nam bắt đầu có những biến đổi về chất và có dòng vốn
ngoại đổ vào TTCK tăng rõ rệt. o giữa năm 2007, lúc tổng vốn hóa TTCK Việt Nam khoảng 20
tỷ USD (HOSE khoảng 15,5 tỷ USD, HASTC khoảng 4,5 tỷ USD), thì giá trị vốn hóa tính riêng
cho đầu tư nước ngoài là gần 5 tỷ USD (khoảng 25% tổng thị trường). Đến hết năm 2007, số quỹ
đầu nước ngoài vào thị trường Việt Nam khoảng trên 60 tỷ USD, với số vốn khoảng 6 tỷ USD.
Trong số đó, chỉ riêng 3 quỹ là: Dragon Capital, Vina Capital Indochina Capital đã số vốn
khoảng 4 tỷ USD (nguồn: tạp chí tài chính). Những thông tin vừa nêu cho thấy, nguồn vốn đầu tư
tài chính nước ngoài đã tăng nhanh đáng kể.
FPI vào Việt Nam một phần quan trọng trong trcột vốn đầu toàn hội đều đang
những tín hiệu triển vọng khác nhau. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến 20/4/2024,
tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư
nước ngoài đạt hơn 9,27 tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2023. Vốn thực hiện của dự án
đầu tư nước ngoài ước đạt khoảng 6,28 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2023.
- FPI thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, nâng cao tính thanh khoản của thị trường
Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài thông qua FPI làm tăng khối lượng giao dịch trên thị
trường chứng khoán, từ đó nâng cao tính thanh khoản. Khi thanh khoản dồi dào, các dự án khởi
nghiệp trong nước hội nhận được tài trợ triển khai. Việc mua bán chứng khoán diễn ra
nhanh chóng cũng giúp đầu tư dài hạn trở nên hấp dẫn hơn.
Số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán của NĐT nước ngoài đã không ngừng tăng qua
các năm. Hình 1 cho thấy tính đến tháng 12/2022, NĐT nước ngoài đã mở 42.711 tài khoản, tăng
hơn 10 lần chỉ trong vòng 6 năm (tính từ năm 2016). Trong đó, số lượng tài khoản của NĐT
nhân chiếm tới 90% tổng số tài khoản của NĐT nước ngoài. Ngay cả trong và sau thời kỳ diễn ra
đại dịch COVID-19, NĐT nước ngoài vẫn không ngừng thể hiện sự quan tâm đến TTCK Việt Nam
bằng cách mở thêm nhiều tài khoản hơn so với trước. Tuy nhiên, nếu so với tổng số lượng tài khoản
giao dịch chứng khoán được mở thì tỷ trọng đóng góp của NĐT nước ngoài lại khá khiêm tốn
(chưa đến 2%) xu hướng giảm trong 3 năm gần đây. Điều này phản ánh phần nào sự tham
gia tích cực vào TTCK của các NĐT trong nước.
Cùng với sự gia tăng hiện diện của NĐT nước ngoài thông qua số lượng tài khoản giao
dịch, TTCK Việt Nam trong những năm gần đây cũng phát triển khá ấn tượng. Mức vốn hóa toàn
thị trường (tính trên GDP) đã tăng từ 69% vào năm 2016 lên 150% vào năm 2021. Đóng góp chủ
yếu vào sự thay đổich cực này là sự gia tăng giá trị vốn hóa của các cổ phiếu niêm yết đăng
ký giao dịch (chiếm gần 80% tổng giá trị vốn hóa thị trường). Tuy nhiên, vốn hóa thị trường năm
2022 lại sụt giảm đáng kể, chỉ còn 83% GDP, và nguyên nhân chủ yếu cũng là do sự sụt giảm của
quy mô thị trường cổ phiếu.
- Huy động vốn cho doanh nghiệp
lOMoARcPSD| 58707906
Đầu gián tiếp từ các quỹ đầu tư, quỹ tài sản, và các cơ cấu đầu tư trung gian cung cấp nguồn
vốn cần thiết cho các dự án phát triển kinh doanh tại Việt Nam. FPI đã giúp các công ty Việt
Nam tiếp cận thị trường vốn toàn cầu, cho phép họ huy động vốn mở rộng hoạt động kinh doanh.
Nguồn vốn này đã thu hút được nguồn vốn nước ngoài đáng kể vào Việt Nam, góp phần gia tăng
đáng kể nguồn FDI và FPI.
Ví dụ hội đồng quản trị Tập đoàn Đất Xanh (mã DXG) vừa công bố kế hoạch sử dụng vốn của
đợt phát hành 300 triệu USD trái phiếu ra thị trường quốc tế, tương ứng khoảng 6.959 tỷ đồng đã
trình cổ đông thông qua tại ĐHĐCĐ năm 2022.
Bất động sản Hà An được biết đến là chủ đầu tư dự án Gem Sky World trên khu đất hơn 92 ha
gần khu vực Dự án cảng hàng không quốc tế Long Thành (Đồng Nai). Theo thiết kế, dự án tổng
vốn đầu 5.725 tỷ đồng, bao gồm 6 khu chức năng khu phố thương mại, nhà liên kế, khu
thương mại dịch vụ, khu công viên cây xanh và các công trình hạ tầng kỹ thuật hiện đại, cung cấp
hơn 4.022 sản phẩm, dự kiến dân số khu đô thị vào khoảng 18.000 người. Đây cũng là dự án trọng
điểm, đang trong quá trình bàn giao cho khách trong năm nay của Đất Xanh.
Bất động sản An phát hành trái phiếu, huy động được 210 tỷ đồng, thông qua phát hành
2.100 trái phiếu, mệnh giá 100 triệu đồng/tp. Kỳ hạn trái phiếu là 48 tháng, phát hành vào ngày
20/7/2022 và đáo hạn vào ngày 20/7/2024. Lô trái phiếu này đã được mua trọn vào cùng ngày phát
hành. (nguồn: tạp chí điện tử MEKONG ASEAN)
Sự tham gia ngày càng tăng của nhà đầu nước ngoài đã nâng cao tính thanh khoản thị trường,
ngoài ra còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện để các công ty doanh nghiệp trong
nước tiếp cận với công nghệ tiên tiến, hiện đại
FPI đã áp dụng các chiến lược giao dịch và kỹ thuật quản lý rủi ro mới, giúp cải thiện hiệu quả
thị trường giảm chi phí giao dịch. Từ đó, nguồn vốn này đã mở rộng phạm vi lựa chọn đầu
cho các nhà đầu tư Việt Nam, giúp họ tiếp cận nhiều loại tài sản và hội đầu tư hơn. Không chỉ
vậy, FPI còn khuyến khích các công ty Việt Nam áp dụng các thông lệ quốc tế tốt nhất về quản trị
doanh nghiệp, báo cáo tài chính minh bạch, điều này đã cải thiện niềm tin của nhà đầu
giảm nguy thao túng thị trường. Sự phát triển của FPI đã dẫn đến việc thiết lập một khung thể
chế mạnh mẽ hơn, bao gồm các quan quản lý, sở giao dịch chứng khoán kho lưu ký, giúp cải
thiện hiệu suất hiệu suất tổng thể của thị trường vốn. Phát triển thị trường FPI mang lại cơ hội
mới và đa dạng hóa các phương thức đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước
- Phát triển ngành tài chính và thị trường vốn
Dòng vốn FDI không chỉ làm gia tăng nguồn vốn đầu trực tiếp còn thúc đẩy sự phát
triển của ngành tài chính ngân hàng. Sự tham gia của các nhà đầu nước ngoài tạo động lực cho
các ngân hàng thương mại mở rộng dịch vụ tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế n dụng
doanh nghiệp.
+ Gia tăng nhu cầu đối với các dịch vụ tài chính
Sự tham gia của các tập đoàn FDI tại Việt Nam làm tăng nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng, từ
quản lý dòng tiền, tín dụng doanh nghiệp, đến tài trợ chuỗi cung ứng. Các ngân hàng thương mại
trong nước đã nhanh chóng nắm bắt xu hướng này phát triển các sản phẩm tài chính chuyên biệt
nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp FDI cũng như c nhà cung ứng trong nước.
Techcombank đã đầu tư mạnh vào công nghệ số và phát triển các giải pháp tài trợ thương mại, tài
trợ chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Việt Nam liên kết với các tập đoàn FDI. Năm 2024,
Techcombank được tạp chí Asian Banking & Finance vinh danh là "Ngân hàng tài trợ thương mại
lOMoARcPSD| 58707906
tốt nhất Việt Nam", ghi nhận nỗ lực của ngân hàng trong việc hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nội địa
tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
+ Thúc đẩy sự cạnh tranh và nâng cao chất lượng dịch vụ tài chính
Sự xuất hiện của các tổ chức tài chính nước ngoài như HSBC, Standard Chartered hay
Citibank tại Việt Nam không chỉ mang lại nguồn vốn còn tạo ra sức ép cạnh tranh, buộc các
ngân hàng trong nước phải nâng cấp chất lượng dịch vụ. Điều này thể hiện rõ qua việc nhiều ngân
hàng Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ tài chính (fintech) vào các sản phẩm
ngân hàng số, giúp doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ tài chính nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Vietcombank BIDV đã mở rộng dịch vụ tài trợ thương mại, cho vay tín chấp, hỗ trợ
thanh toán quốc tế nhằm phục vụ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu liên quan đến FDI. Bên cạnh
đó, hệ thống pháp lý về tài chính cũng được điều chỉnh nhằm tăng nh minh bạch và bảo vệ quyền
lợi của các nhà đầu tư nước ngoài.
+ Phát triển thị trường vốn và chứng khoán
FDI không chỉ tác động đến lĩnh vực ngân hàng còn thúc đẩy sự phát triển của thị trường
chứng khoán. Nhiều doanh nghiệp FDI lựa chọn huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán
Việt Nam, qua đó góp phần làm tăng thanh khoản và đa dạng hóa sản phẩm đầu tư.
Trong năm 2023, số lượng nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam tăng
mạnh, với giá trị mua ròng đạt 1,7 tỷ USD – mức cao nhất trong vòng 5 năm qua. Việc các doanh
nghiệp FDI niêm yết trên sàn chứng khoán cũng giúp nâng cao tính minh bạch, tạo động lực để
các doanh nghiệp trong nước cải thiện quản trị tài chính và thu hút thêm vốn đầu tư.
+ Định hướng phát triển tài chính bền vững
Ngoài tác động trực tiếp đến thị trường tài chính, dòng vốn FDI còn góp phần định hình xu
hướng tài chính xanh và phát triển bền vững. Nhiều doanh nghiệp FDI khi đầu vào Việt Nam đã
yêu cầu các ngân hàng cung cấp các khoản vay ưu đãi cho các dự án xanh, hướng tới phát triển
bền vững. Các ngân hàng như HSBC Việt Nam Standard Chartered đã triển khai các gói tín
dụng xanh nhằm hỗ trợ các dự án sử dụng năng lượng tái tạo, giảm phát thải carbon, phù hợp với
cam kết của Việt Nam tại COP26.
HSBC Việt Nam: Ngân hàng này đã cam kết hỗ trợ thu xếp nguồn vốn lên tới 12 tỷ USD
cho các dự án bền vững và các doanh nghiệp tại Việt Nam đến năm 2030. Tính đến tháng
8/2022, HSBC Việt Nam đã tham gia thu xếp được hơn 1,3 tỷ USD tài chính xanh, đạt 10%
mục tiêu đề ra, đồng thời hỗ trợ các dự án xanh bền vững quan trọng, góp phần giảm
phát thải carbon cho nền kinh tế.
Standard Chartered Việt Nam: Ngân hàng này đã cung cấp hạn mức tín dụng trị giá 13,5
triệu USD cho Công ty TNHH Sản phẩm giấy Leo (Việt Nam) nhằm đáp ứng nhu cầu vốn
lưu động của công ty, với cam kết giảm khối lượng chất thải nguy hại tổng cường độ
chất thải. Bên cạnh đó, Standard Chartered Việt Nam đã ký biên bản ghi nhớ với tổng giá
trị 8,5 tỷ USD cho ba doanh nghiệp Việt Nam để hỗ trợ các dự án bền vững.
1.2.Tiêu cực
- Thị trường không ổn định
Vốn FPI có đặc điểm di chuyển (vào ra) rất nhanh, nên nó sẽ khiến cho hệ thống tài chính
trong nước dễ bị tổn thương rơi vào khủng hoảng tài chính một khi gặp phải các cú sốc từ bên
trong cũng như bên ngoài nền kinh tế.
lOMoARcPSD| 58707906
Khi dòng vốn bị rút đột ngột, thị trường chứng khoán lao dốc, doanh nghiệp mất nguồn tài trợ,
nền kinh tế đối mặt với bất ổn tài chính. Ví dụ Việt Nam 2022: FPI rút vốn khi FED tăng lãi
suất.
Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) thuộc Fed đã ra quyết định chính sách tiền tệ thắt
chặt nâng lãi suất bản đồng USD, với mức tăng 0,75% lên mức 2,25% - 2,5%. Đây mức
cao nhất kể từ tháng 12/2018. Ngoài ra, Fed cho biết, có thể còn tăng thêm một đợt lãi suất 0,75%
vào cuối năm 2022.
Lãi suất USD tăng cũng gây áp lực trả nợ nước ngoài, khiến Chính phủ và doanh nghiệp Việt
Nam khó huy động vốn và chịu chi phí tài chính cao hơn. Việc Fed thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ
làm tăng lãi suất cho vay bằng đồng USD, từ đó làm giảm nhu cầu tiêu dùng và đầu tư khiến dòng
vốn rút khỏi Việt Nam. Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam thể chậm lại do nhu cầu tiêu dùng
tại Mỹ và châu Âu giảm.
Lãi suất USD tăng gây áp lực lên nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ và DN Việt Nam.
Theo ước tính, nợ nước ngoài của Việt Nam chiếm gần 40% GDP vào cuối năm 2021. Chính phủ
các DN Việt Nam sẽ khó huy động vốn trên thị trường quốc tế phải chịu mức chi phí tài chính
cao hơn.
- FPI làm giảm tính độc lập của chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái
Dòng vốn đầu gián tiếp nước ngoài (FPI) thể làm giảm tính độc lập của chính sách tiền
tệ và tỷ giá hối đoái, khiến Ngân hàng Trung ương gặp khó khăn trong việc kiểm soát nền kinh tế.
Khi FPI vào nhiều, áp lực tăng giá nội tệ xuất hiện; khi FPI rút đi, đồng tiền mất giá nhanh chóng,
buộc chính phủ phải có những chính sách, biện pháp để can thiệp.
Cũng như dụ trên việc Fed thắt chặt chính sách tiền tệ Đồng USD mạnh gây áp lực lên tỷ
giá hối đoái của Việt Nam, dẫn đến tỷ giá tăng, tác động tiêu cực tới các DN nhập khẩu nguyên vật
liệu trong nước, làm cho giá cả hàng hóa có thể tăng mạnh hơn từ đó tác động lạm phát gia tăng.
2. Trong vấn đề công nghệ và quản lý
2.1. Trong vấn đề công nghệ
Đầu gián tiếp nước ngoài (FPI) thường được xem các khoản đầu tài chính ngắn hạn,
như mua cổ phiếu hoặc trái phiếu, và ít liên quan trực tiếp đến chuyển giao công nghệ. Ngược lại,
đầu trực tiếp nước ngoài (FDI) thường liên quan đến việc thiết lập hoặc mua lại các cơ sở sản
xuất, kinh doanh tại nước nhận đầu tư, qua đó thể dẫn đến chuyển giao công nghệ và nâng cao
trình độ công nghệ của nước tiếp nhận. FDI có những tác động sau đến công nghệ:
- Chuyển giao công nghệ và kỹ thuật tiên tiến:
Chuyển giao công nghệ được thực hiện nhờ sự đầu trực tiếp của các công ty nước ngoài vào
Việt Nam: Các công ty đầu trực tiếp từ nước ngoài thường mang theo công nghệ tiên tiến khi
xây dựng các nhà máy và cơ sở sản xuất tại các quốc gia tiếp nhận. Tạo điều kiện cho các công ty
trong nước dễ dàng tiếp cận với các công nghệ mới, hiện đại hơn, nâng cao trình độ sản xuất, cải
thiện chất lượng sản phẩm phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Intel đã
đầu hơn 1,5 tỷ USD vào nhà máy lắp ráp và thnghiệm chip lớn nhất của mình tại TP.HCM:
Intel Products Vietnam (IPV) tại Khu công nghệ cao TP.HCM, một trong những nhà máy lắp ráp
kiểm định chip máy nh lớn nhất của Intel. Tính từ năm 2010 đến nay, Tập đoàn này đã xuất
khẩu 85 tỷ USD sản phẩm sản xuất tại Việt Nam ra thế giới, chiếm khoảng 60% tổng giá trị xuất
khẩu của Khu CNC TP.HCM. Riêng trong năm 2023, tổng kim ngạch xuất khẩu của Intel ước đạt
10-11 tỷ USD (nguồn: tạp chí công nghệ và tiêu dùng)
lOMoARcPSD| 58707906
Dự án Dự án Lô B Ô Môn với quy đầu gần 12 tỷ USD cho toàn vòng đời dự án.
Dự án có sự góp mặt của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam - PVN), Tổng Công ty Thăm
dò và Khai thác Dầu khí (PVEP), Công ty Thăm dò Dầu khí Mitsui (MOECO) Nhật Bản, Công
ty Thăm dò và Khai thác Dầu khí PTT (PTTEP) của Thái Lan. (nguồn: Cafe F)
Nhà máy LG Innotek Hải Phòng giai đoạn 2023 - 2025 với số vốn 1 tỷ USD, nâng tổng vốn đầu
của dự án lên hơn 2 tUSD, để xây dựng nhà máy V3 sản xuất mô-đun camera xuất khẩu tại
Hải Phòng (nguồn: Tạp chí kinh tế và dự báo)
Công ty Luxshare - ICT Việt Nam tháng 11/2023 đã đầu tư thêm 330 triệu USD để mở rộng
nhà máy sản xuất tại Bắc Giang, nâng tổng số vốn của công ty này tại tỉnh Bắc Giang lên 504 triệu
USD (nguồn: Tạp chí kinh tế và dự báo)
- Chuyển giao công nghệ bằng việc doanh nghiệp trong nước mua công nghệ, dây chuyền
sản xuất từ nước ngoài, liên doanh giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài:
Việc doanh nghiệp trong nước mua công nghệ, dây chuyền sản xuất từ nước ngoài, liên doanh
giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài tạo điều kiện tiếp cận công nghệ tiên tiến một cách
nhanh chóng, tránh mất thời gian, lãng phí tiền bạc và nguy cơ phải đối mặt với rủi ro cao khi tự
nghiên cứu và phát triển.
Ví dụ VinFast mua bản quyền của BMW để sản xuất ôtô. Tớc BMW, hãng xe của ông
Vượng cho biết hợp tác với Bosch, Siemens, Magna Steyr, AVL... để làm ôtô
- Chuyển giao công nghệ thông qua đào tạo nhân lực, quy trình quản lý, và hợp tác với các
doanh nghiệp nội địa:
Ví dụ ở trên, Intel đầu tư vào các nhà máy sản xuất điện tử và công nghệ cao tại Việt Nam, tạo
điều kiện để các kỹ sư, công nhân Việt Nam có cơ hội làm việc và học hỏi từ các chuyên gia quốc
tế.
Intel đã đầu khoảng 22 triệu USD để hiện đại hóa chương trình học về công nghệ tại Việt
Nam. (nguồn: Cafe F)
Ngoài ra, mới đây Samsung Chung Tay Cùng Việt Nam Đào Tạo Nhân Tài Công Nghệ Thông
Qua Lớp Học SIC
Việc chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI vào Việt Nam thời gian qua đã đạt được một
số kết quả nhất định.
Theo thông tin từ Bộ KH&CN, từ tháng 7/2018 đến hết năm 2023, cả nước 579 thỏa
thuận chuyển giao công nghệ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký. Trong đó, 493 hợp đồng
chuyển giao công nghệ tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
Nhiều công nghệ mới, hiện đại được du nhập vào nước ta trong các lĩnh vực như: Dầu khí,
linh kiện điện tử, chíp n dẫn, viễn thông... Đặc biệt nổi trội đó là Công nghiệp bán dẫn Việt Nam:
bước vào thời kỳ khởi sắc mới. Hiện nay, Việt Nam thu hút hàng loạt ông lớn trong việc thiết kế
bán dẫn hàng đầu đầu vào nước ta góp phần giúp ngành công nghiệp bán dẫn trong nước rộng
mở. Theo dữ liệu từ Statista Market Insights, doanh thu thị trường bán dẫn trong nước dự kiến sẽ
đạt 18,23 tỷ USD vào năm 2024, dự báo đạt 31,39 tỷ USD vào năm 2029 với tốc độ tăng trưởng
kép hàng năm (CAGR) là 11,48% trong giai đoạn 2024-2029.
2.1.1. Tạo áp lực cạnh tranh, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mới, sáng
tạo về công nghệ.
Khi các tập đoàn nước ngoài mang theo công nghệ tiên tiến cùng quy trình quản hiện đại
vào thị trường, doanh nghiệp trong nước buộc phải đổi mới để không bị tụt hậu, đồng thời thúc
lOMoARcPSD| 58707906
đẩy các công ty trong nước đẩy mạnh đầu vào nghiên cứu và phát triển (R&D) nhằm nâng cao
năng lực công nghệ
Cụ thể nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đã mạnh dạn đầu vào nghiên cứu phát
triển (R&D) cũng như hợp tác quốc tế để nắm bắt công nghệ thiết kế chip tiên tiến, dần từng bước
đưa Việt Nam vào sâu hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu của ngành bán dẫn.
FPT đã ra mắt sản phẩm IoT đầu tiên ứng dụng trong ngành y tế, trong khi Viettel đã thiết kế
thành công hai dòng chip 5G trên công nghệ 28nm. Không chỉ dừng lại thiết kế, với vai trò đầu
tàu dẫn dắt ngành bán dẫn Việt Nam tiến lên, FPT Viettel còn định hướng tự chủ sản xuất
đóng gói chip trong tương lai.
* Sự đổi mới trong công nghệ tại các doanh nghiệp Việt
Công ty May 10 đã đầu tư vào hệ thống máy may tự động và đạt được những kết quả ấn tượng
về hiệu quả sản xuất trong năm 2023.
Vinatex cũng công ty đã thành công trong việc áp dụng hệ thống quản sản xuất thông minh
để cải thiện hiệu quả và giảm chi phí.
Rạng Đông đã đầu tư, nghiên cứu chuyển đổi, số hóa, đưa công nghệ vào các khâu, tích hợp trí
tuệ nhân tạo AI vào Hệ sinh thái sản phẩm và dịch vụ của mình bằng công nghệ Machine Learning,
trí tuệ nhân tạo xtại biên (Edge AI); từ đó, phát huy được năng lực lõi thế mạnh truyền
thống kỹ thuật chiếu ng. Nhiều năm qua, Rạng Đông đã dành 15% lợi nhuận sau thuế cho công
tác nghiên cứu và phát triển (R&D) và 7% lợi nhuận sau thuế thành lập Quỹ Đầu tư mạo hiểm.
Hợp tác xã sản xuất rau, củ, quả an toàn Văn Giang (Văn Giang, Hưng Yên) đã đầu lắp đặt
1 bộ điều khiển thông minh giúp kiểm soát lượng nước, chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng
và kiểm soát chất lượng đất trồng.
2.1.2. Thúc đẩy phát triển hệ sinh thái công nghệ cao, xây dựng các trung tâm nghiên cứu
phát triển R&D
Khi có nhiều tập đoàn lớn trên quốc tế, mang những thiết bị, kỹ thuật hiện đại vào đầu tư nước
ta, đòi hỏi nước ta phải một môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI. Bởi vậy, để thu
hút các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thì việc xây dựng các khu công nghệ cao là
rất quan trọng.
Ngoài ra, để nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam, đòi hỏi chúng ta cần phải phát triển
một hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ, liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Hiện nay, Việt Nam bốn khu công nghệ cao, bao gồm: Khu công nghệ cao Hòa Lạc (Hà Nội),
Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, Khu công nghệ cao Đà Nẵng và Khu công nghệ cao
công nghệ sinh học Đồng Nai. Trong đó hiện nay, khu Công nghệ cao TP HCM (SHTP) đang bước
vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ với kế hoạch khởi công 12 dự án trong năm 2025, bao gồm
10 dự án trong nước 2 dự án đầu trực tiếp nước ngoài (FDI), với tổng vốn đầu hơn 1 tỷ
USD.
Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI thường đầu vào nghiên cứu phát triển (R&D) góp
phần xây dựng, mở rộng các trung tâm nghiên cứu và thúc đẩy sáng tạo công nghệ.
Điển hình việc Việt Nam đang trở thành cứ điểm chiến lược R&D của Samsung.: Từ năm
2023, bằng việc chuyển giao AI - là công nghệ tiên tiến nhất và quan trọng nhất của tập đoàn cho
Việt Nam, Samsung đã giữ đúng lời hứa với Chính phủ Việt Nam khi quyết m đưa Việt Nam
vượt qua vai trò cứ điểm sản xuất để trở thành cứ điểm chiến lược về R&D của Samsung trên
toàn cầu
lOMoARcPSD| 58707906
2.1.3. Thách thức và giải pháp
Những tác động nêu trên đã góp phần nâng cao năng lực công nghệ của quốc gia tiếp nhận FDI,
thúc đẩy năng lực cạnh tranh và hội nhập toàn cầu của các doanh nghiệp nội địa, khiến thị trường
nội địa mở rộng một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, bên cạnh đó sự hiện diện của FDI cũng đem
lại thách thức không nhỏ khi mà:
Chuyển giao công nghệ chưa thực sự hiệu quả
Sự đầu tư trung tâm R&D còn chưa nhiều
Việc tiếp thu học hỏi công nghệ cũng như kinh nghiệm quản của cán bộ Việt Nam chưa
đạt được như mong muốn
Nguy cơ phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài ⁻
Tạo ra sự chênh lệch về trình độ công nghệ
Những giải pháp đặt ra:
Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách ưu đãi để khuyến khích các DN FDI công nghệ
cao vào Việt Nam
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực công nghiệp
Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu phát triển, cải tiến kỹ thuật
Các trường đại học, viện nghiên cứu và đội ngũ các nhà khoa học phối hợp với các DN FDI
tổ chức khảo sát thực tế, học hỏi kinh nghiệm
Xây dựng ban hành các chính sách hỗ trợ DN trong nước trong việc mua lại và sáp nhập
các đối tác nước ngoài.
2.2. Ảnh ởng, tác động của hoạt động đầu nước ngoài lên đầu trong nước về năng suất
- Chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo
Một trong những lợi ích lớn nhất từ đầu nước ngoài khả năng tiếp nhận công nghệ tiên
tiến và quy trình sản xuất hiện đại. Các doanh nghiệp trong nước có thể học hỏi thông qua hợp tác
với doanh nghiệp nước ngoài hoặc qua quá trình cạnh tranh trực tiếp. Việc đầu tư nước ngoài mang
theo công nghệ tiên tiến từ các quốc gia phát triển vào Việt Nam giúp cải thiện trình độ công nghệ
sản xuất trong nước. Việc chuyển giao này diễn ra qua nhiều kênh: liên doanh hợp tác (các
doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với doanh nghiệp VN chia sẻ công nghệ, quyết sản xuất);
đào tạo nhân lực (chuyên gia nước ngoài đào tạo nhân viên địa phương, nâng cao kỹ năng và kiến
thức công nghệ); hiệu ứng lan tỏa (doanh nghiệp trong nước học hỏi áp dụng công nghệ mới
thông qua quan sát và cạnh tranh với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài).
Ví dụ, sự tham gia của các tập đoàn đa quốc gia trong ngành công nghệ cao như Samsung, LG
tại Việt Nam đã thúc đẩy sự đổi mới trong ngành sản xuất điện tử, giúp doanh nghiệp nội địa cải
thiện quy trình sản xuất và nâng cao năng suất.
Theo Bộ Tài chính, thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài, trình độ công nghệ sản xuất trong
nước đã được cải thiện rệt so với trước đây, giúp hạn chế khoảng ch công nghệ giữa Việt Nam
và các nước phát triển.
Bên cạnh đó, sự hiện diện của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tạo áp lực cạnh tranh, thúc
đẩy trong nước đổi mới để nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm, tạo cơ hội cho doanh nghiệp
trong nước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, tiếp cận thị trường quốc tế, nâng cao khả năng đổi
mới. - Cải thiện kĩ năng lao động và quản lý
Các doanh nghiệp nước ngoài thường mang đến môi trường làm việc chuyên nghiệp tiêu
chuẩn đào tạo cao hơn, giúp nâng cao trình độ của lao động trong nước. Khi nhân sự kinh
lOMoARcPSD| 58707906
nghiệm làm việc trong các công ty FDI chuyển sang các doanh nghiệp nội địa, họ mang theo kiến
thức và kỹ năng quản lý hiện đại, góp phần nâng cao hiệu suất lao động.
Theo Cục Thống kê, khu vực doanh nghiệp FDI đã và đang tạo công ăn việc làm cho 3,8 triệu
lao động, chiếm 7% tổng số lao động 54 triệu lao động nước ta. Con số này tương đương 15% tổng
số lao động làm công ăn lương ở VN.
Ngoài ra, FDI còn gián tiếp tạo việc làm cho nhiều lao động trong các ngành công nghiệp phụ
trợ và các doanh nghiệp khác trong chuỗi cung ứng hàng hóa.
Sự tham gia của các doanh nghiệp đầu nước ngoài đã góp phần nâng cao năng suất lao động
trong nền kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động từ các ngành thâm dụng lao động tay nghề
thấp sang các ngành sử dụng nhiều lao động chất lượng hơn.
- Tăng cường cạnh tranh và động lực đổi mới
Sự xuất hiện của các doanh nghiệp nước ngoài với công nghệ tiên tiến, quy trình quản lý hiện
đại và nguồn lực tài chính mạnh mẽ tạo áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp nội địa. Điều
này buộc doanh nghiệp trong nước phải nâng cao hiệu quả hoạt động, cải tiến công nghệ và tối
ưu hóa quy trình sản xuất để duy trì thị phần.
Các doanh nghiệp FDI thường mang theo công nghệ tiên tiến quy trình quản lý hiện đại, tạo
điều kiện cho doanh nghiệp trong nước học hỏi và áp dụng, từ đó nâng cao năng lực công nghệ và
khả năng đổi mới.
Sự tham gia của FDI góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua việc đào tạo và
chuyển giao kỹ năng, giúp lao động trong nước tiếp cận với công nghệ và quy trình sản xuất hiện
đại.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã phải đầu vào R&D tự động hóa để theo kịp các doanh
nghiệp FDI, từ đó nâng cao hiệu suất sản xuất và chất lượng sản phẩm.
Ví dụ điển hình là các ngành bán lẻ tại Việt Nam. Sự gia nhập của các tập đoàn bán lẻ nước ngoài
như Aeon (Nhật Bản), Lotte (Hàn Quốc) và Central Group (Thái Lan) đã làm thay đổi cục diện thị
trường bán lẻ tại Việt Nam. Trước áp lực cạnh tranh, các doanh nghiệp nội địa như Vinmart (nay
Winmart), Co.opmart và Bách Hóa Xanh buộc phải đổi mới để nâng cao chất lượng dịch vụ, tối
ưu hóa chuỗi cung ứng và đầu tư mạnh vào công nghệ bán hàng trực tuyến. - Mở rộng chuỗi cung
ứng và thị trường
Đầu tư nước ngoài đòi hỏi nhu cầu lớn về nguyên vật liệu, linh kiện dịch vụ hỗ trợ, từ đó thúc
đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp cung ứng trong nước. Khi các tập đoàn quốc tế mở rộng
hoạt động tại Việt Nam, họ thường tìm kiếm nguồn cung ứng nội địa để giảm chi phí vận chuyển
tăng cường hiệu quả chuỗi giá trị. Điều này tạo hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia
vào chuỗi cung ứng toàn cầu, từ đó cải thiện năng suất và mở rộng thị trường, nâng cao năng lực
sản xuất và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp trong nước.
Ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam minh chứng ng nhất cho tác động này. Với sự đầu
tư của các tập đoàn như Samsung, Intel, LG, Việt Nam không chỉ trở thành trung tâm sản xuất linh
kiện điện tử mà còn nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế. Điều này đã giúp doanh nghiệp nội địa
mở rộng thị trường, nâng cao tay nghề lao động và tăng cường liên kết với các tập đoàn đa quốc
gia.
Một số thách thức đối mặt:
lOMoARcPSD| 58707906
- Cạnh tranh không cân xứng và nguy cơ bị thâu tóm - Chảy máu chất xám và mất
nhân lực chủ chốt - Phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài
2.3. Ảnh hưởng, tác động của hoạt động đầu tư nước ngoài lên đầu tư trong nước về mặt quản
- Chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý
Các doanh nghiệp đầu nước ngoài thường mang theo công nghệ tiên tiến phương pháp
quản lý hiện đại vào Việt Nam. Sự hiện diện của họ tạo ra hiệu ứng lan tỏa, giúp các doanh nghiệp
trong nước học hỏi và áp dụng những tiến bộ này.
Theo Bộ Tài chính, vốn FDI đã góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của
nền kinh tế như viễn thông, khai thác chế biến dầu khí, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Các doanh nghiệp nước ngoài thường áp dụng các phương pháp quản tiên tiến. Nhân viên
Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp này có cơ hội học hỏi và áp dụng những kỹ năng quản
lý hiện đại, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong nước.
Sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI thúc đẩy nhu cầu về lao động có kỹ năng cao, khuyến
khích các chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị
trường lao động hiện đại.
- Thúc đẩy cải thiện quản trị doanh nghiệp
Các doanh nghiệp FDI thường mang theo các tiêu chuẩn quản trị tiên tiến và thông lệ quốc tế
khi hoạt động tại Việt Nam. Sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp FDI buộc các doanh nghiệp trong
nước phải nâng cao hiệu quả quản lý để tồn tại và phát triển. Việc áp dụng các tiêu chuẩn này giúp
doanh nghiệp nội địa cải thiện cấu trúc quản lý, tăng tính minh bạch nâng cao hiệu quả hoạt
động.
Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài yêu cầu mức độ minh bạch cao hơn trong quản trị
doanh nghiệp. Điều này dẫn đến việc các công ty trong nước phải cải thiện hệ thống báo cáo tài
chính, quản rủi ro trách nhiệm giải trình, từ đó tăng cường niềm tin của cổ đông các bên
liên quan.
Các doanh nghiệp FDI tạo ra môi trường cạnh tranh khốc liệt, buộc các doanh nghiệp trong
nước phải nâng cao năng lực quản lý để tồn tại và phát triển. Ngoài ra, việc hợp tác với các doanh
nghiệp FDI cũng tạo hội cho doanh nghiệp nội địa học hỏi áp dụng các phương pháp quản
lý hiện đại.
Các doanh nghiệp FDI thường chú trọng đến việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực, đặc
biệt là đội ngũ quản lý. Nhân sự Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp này có cơ hội tiếp cận
với các chương trình đào tạo chuyên sâu, nâng cao kỹ năng quản lý và lãnh đạo. Khi chuyển sang
làm việc cho các doanh nghiệp trong nước, họ mang theo những kiến thức kinh nghiệm quý
báu, góp phần nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp nội địa.
Sự gia tăng đầu tư nước ngoài tạo áp lực lên Chính phủ trong việc cải cách thể chế, đơn giản
hóa thủ tục hành chính và cải thiện môi trường kinh doanh. Điều này không chỉ tạo điều kiện thuận
lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài còn giúp các doanh nghiệp trong nước hoạt động hiệu
quả hơn, nâng cao khả năng quản trị và cạnh tranh.
Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo, khu vực FDI với các hiệu ứng lan tỏa về công nghệ và quản
đã mang lại lợi ích nhất định cho các doanh nghiệp tư nhân trong nước, khi khu vực tư nhân Việt
Nam ngày càng tích cực hướng đến gia nhập các chuỗi cung toàn cầu.
lOMoARcPSD| 58707906
- Tăng cường liên kết và hợp tác kinh doanh
Mặc dù FDI đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam trong hơn 30 năm qua, mối liên
kết giữa doanh nghiệp đầu nước ngoài doanh nghiệp trong nước vẫn còn mờ nhạt. Nhiều
doanh nghiệp trong nước chưa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI, dẫn
đến hạn chế trong việc tận dụng các cơ hội hợp tác kinh doanh.
Sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI thúc đẩy mối liên kết giữa doanh nghiệp nước ngoài
doanh nghiệp trong nước, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Đối với doanh nghiệp
trong nước, hợp tác giúp tiếp cận và nhận chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh,
mở rộng thị trường và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đối với doanh nghiệp nước ngoài, hợp
tác giúp tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định với chất lượng tốt và chi phí hợp lý, đồng thời
hiểu rõ hơn về thị trường địa phương.
Theo Ban Kinh tế Trung ương, việc tăng cường liên kết giữa FDI doanh nghiệp nội địa giúp
phát triển công nghiệp hỗ trợ, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.
Bên cạnh đó là những thách thức:
- Nguy cơ phụ thuộc vào công nghệ và quản lý nước ngoài - Cạnh tranh nhân lực quản lý -
Cạnh tranh không lành mạnh và chuyển giá
3. Trong vấn đề chất lượng nguồn nhân lực
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư nước ngoài đã trở thành một
trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia, trong đó
Việt Nam. Một trong những yếu tố then chốt để thu hút tận dụng hiệu quả nguồn vốn đầu
nước ngoài chính là chất lượng nguồn nhân lực. Hoạt động đầu tư nước ngoài không chỉ mang lại
nguồn vốn dồi dào mà còn có tác động sâu sắc đến việc nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng,
và năng lực cạnh tranh của người lao động trong nước.
Cụ thể, hoạt động đầu nước ngoài góp phần nâng cao trình độ chuyên môn thông qua việc
đào tạo chuyển giao công nghệ, tạo động lực cạnh tranh để các sở đào tạo và doanh nghiệp
trong nước không ngừng cải tiến, đồng thời thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo trong môi trường làm
việc. Những tác động tích cực này không chỉ giúp người lao động nâng cao năng lực cá nhân
còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
3.1.Hoạt động đầu tư nước ngoài giúp nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng.
Hoạt động đầu nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ chuyên môn
và kỹ năng của lực lượng lao động trong nước. Khi c doanh nghiệp nước ngoài đầu vào một
quốc gia, họ thường mang theo công nghệ tiên tiến, quy trình quản hiện đại và tiêu chuẩn làm
việc cao. Điều này tạo cơ hội cho người lao động tiếp cận với những phương pháp làm việc mới,
học hỏi kỹ năng chuyên sâu nâng cao năng lực thông qua các chương trình đào tạo chuyên
nghiệp. Bên cạnh đó, môi trường làm việc đa quốc gia cũng giúp nhân viên phát triển kỹ năng giao
tiếp, hợp tác thích nghi với văn hóa làm việc quốc tế. Nhờ vậy, hoạt động đầu nước ngoài
không chỉ thúc đẩy kinh tế mà còn góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo nền tảng
vững chắc cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Theo số liệu thể hiện tổng số lao động làm trong khu vực đầu tư nước ngoài có thể thấy:
- Từ năm 2014 đến năm 2022, số lượng lao động trong khu vực FDI liên tục ng, từ 2.868,1
nghìn người lên 5.076,5 nghìn người. Điều này cho thấy sự mở rộng mạnh mẽ của các
doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và nhu cầu lao động ngày càng tăng.
- Năm 2023 (sơ bộ), số lượng lao động tiếp tục tăng lên 5.261,4 nghìn người, phản ánh xu
hướng tích cực trong thu hút đầu tư nước ngoài.
lOMoARcPSD| 58707906
Bảng số liệu trên thể hiện tổng số lao động làm việc trong khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2014 đến sơ bộ năm 2023
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Khu vực FDI đã và đang góp phần hình thành đội ngũ lao động có chất lượng cao hơn bao
gồm công nhân lành nghề, kỹ sư công nghệ, chuyên gia dịch vụ, cán bộ quản trị doanh nghiệp.
Nhu cầu lao động chuyên môn kỹ thuật trong khu vực FDI đang có xu hướng chuyển mạnh sang
nhóm nghề “Thợ có kỹ thut lp ráp và vn hành máy móc thiết bị” với tỷ lệ lao động làm việc
trong nhóm nghề này trong tổng số việc làm của khu vực FDI đã tăng nhanh từ gần 15% năm
2007 gần 60% trong những năm gần đây.
Trong khi đó, nhóm nghề bậc thấp hơn “Thợ thủ công có kỹ thut/thợ kỹ thut khác đã giảm
mạnh từ 48% năm 2007 xuống còn 17% trong những năm gần đây. Đặc biệt, lao động giản đơn
trong các doanh nghiệp FDI chiếm một tỷ lệ nhỏ có xu hướng giảm nhanh xuống chỉ còn gần
5%.
Các xu hướng này đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam, thúc
đẩy quá trình chuyển từ lao động giản đơn, thu nhập thấp sang lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật và thu nhập cao.
Phân tích từ các dự án đầu tư FDI hoạt động trong thời gian qua, cho thấy, quá trình làm việc
tại các doanh nghiệp FDI, nhiều người lao động đã thay đổi tác phong công nghiệp, tiếp cận và
hiểu biết tốt hơn về văn hóa doanh nghiệp, nâng cao được trình độ kỹ năng và chuyên môn kỹ
thuật, trình độ quản lý, trình độ ngoại ngữ... Hàng vạn người đã trở thành những cán bộ kỹ thuật,
cán bộ quản lý giỏi nòng cốt trong các doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp FDI đã từng bước chuyển giao các công nghệ, các quy trình kỹ thuật,
kinh nghiệm quản lý cho các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý là người Việt Nam và trên
thực tế nhiều vị trí trước đây do các chuyên gia nước ngoài đảm nhiệm, nay đã do lao động Việt
Nam đảm nhiệm. Gần đây, một số doanh nghiệp FDI của Nhật bản và Hàn quốc đã hỗ trợ các
DN phụ trợ trong nước đổi mới công nghệ và đào tạo nhân lực thông qua các chương trình tư vấn
cải tiến để tham gia vào chuỗi sản xuất của họ.
Cùng với lực lượng lao động được đào tạo, huấn luyện tại doanh nghiệp, hàng năm một số
doanh nghiệp FDI đã lựa chọn và cử hàng nghìn lượt lao động, chuyên gia người Việt Nam đi
đào tạo, tập huấn tại các công ty mẹ hoặc tại các cơ sở đào tạo khác ở nước ngoài. Trong những
năm gần đây một số tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như: Canon, Honda, Samsung,
Foxconn, Intel… đã thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực tại doanh
nghiệp, trực tiếp đào tạo cán bộ quản lý và nhân lực chất lượng cao. Một số doanh nghiệp FDI đã
đi đầu trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, nâng cao chất lượng đời sống của
người lao động, đóng góp cho cộng đồng và toàn xã hội phù hợp với quy định của pháp luật nước
ta và các tiêu chuẩn quốc tế.
lOMoARcPSD| 58707906
3.2. Hoạt động đầu tư nước ngoài tạo động lực cạnh tranh và thúc đẩy sự cải thiện chất lượng
đào tạo.
Hoạt động đầu nước ngoài đóng vai tquan trọng trong việc tạo động lực cạnh tranh và
thúc đẩy sự cải thiện chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong nước. Các công ty vốn đầu
nước ngoài thường đặt ra tiêu chuẩn cao về trình độ chuyên môn kỹ năng, buộc các doanh
nghiệp trong nước và sđào tạo phải nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Bên cạnh đó, các công ty này thường đầu vào đào tạo liên tục và phát triển kỹ năng cho nhân
viên, tạo ra văn hóa học tập và đổi mới. Sự hiện diện của hoạt động đầu nước ngoài cũng thúc
đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp các trường đại học, cao đẳng, giúp cập nhật chương trình đào
tạo, cung cấp hội thực tập làm việc thực tế cho sinh viên. Những tác động này không chỉ
giúp nâng cao năng lực của người lao động mà còn lan tỏa kiến thức và kỹ năng tiên tiến đến toàn
bộ nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia.
Bảng thống kê số lượng và tên các ngành đào tạo mới được mở thêm tại một số trường
đại học ở Việt Nam trong 2024
STT
Tên Trường Đại Học
Số Lượng
Ngành Mới
1
Đại học Bách khoa
Hà Nội
1
Quản lý giáo dục
2
Đại học Kinh tế Quốc
dân (NEU)
6
Khoa học dữ liệu, Kỹ thuật phần mềm, Hệ thống
thông tin, Trí tuệ nhân tạo, An toàn thông tin,
Quan hệ lao động.
3
Trường Đại học
Ngoại thương (FTU)
1
Khoa học máy tính.
4
Trường Đại học Ngân
hàng TPHCM
6
Kiểm toán và Quản lý rủi ro trong ngành Kế
toán, ngành Marketing, Công nghệ tài chính,
Kinh doanh quốc tế, Khoa học dữ liệu, Logistics
và quản lý chuỗi cung ứng.
5
Trường ĐH Công
nghiệp Hà Nội
2
An toàn thông tin và Ngôn ngữ Trung Quốc.
6
Trường ĐH Sư phạm
Kỹ thuật TPHCM
2
Kỹ thuật Thiết kế vi mạch và Tâm lý học giáo
dục.
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
3.3. Hoạt động đầu tư nước ngoài giúp hình thành mạng ới chuyên gia chuyên gia quốc
tế.
Hoạt động đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển mạng
lưới chuyên gia chuyên gia quốc tế. Khi các công ty nước ngoài đầu vào một quốc gia, họ
thường mang theo đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm từ nhiều lĩnh vực khác nhau, từ công nghệ,
quản lý đến tài chính và marketing. Sự hiện diện của các chuyên gia này không chỉ giúp nâng cao
năng lực làm việc của nhân viên địa phương thông qua quá trình đào tạo và chuyển giao kiến thức
còn tạo hội đngười lao động trong nước tiếp xúc học hỏi từ những phương pháp làm
việc tiên tiến, tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, hoạt động đầu nước ngoài còn thúc đẩy sự hợp
tác giữa các chuyên gia trong nước và quốc tế, hình thành mạng lưới kết nối chuyên môn rộng lớn.
Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực còn tạo điều kiện để các doanh
lOMoARcPSD| 58707906
nghiệp trong nước tiếp cận với tri thức toàn cầu, từ đó thúc đẩy sự đổi mới và phát triển bền vững
của nền kinh tế.
4. Trong vấn đề chuỗi cung ứng
Một trong những tác động mạnh mẽ nhất của FDI là thúc đẩy sự phát triển của chuỗi cung ứng
nội địa, thông qua việc tạo ra nhu cầu mới, nâng cao chất lượng sản xuất kích thích sự phát triển
của các ngành công nghiệp liên quan.
chế tác động của FDI đến chuỗi cung ứng nội địa: khi các doanh nghiệp FDI đầu vào
một quốc gia, họ không chỉ mang lại nguồn vốn mà còn tạo ra nhu cầu lớn về nguyên vật liệu, linh
kiện, dịch vụ logistics và các ngành công nghiệp phụ trợ khác. Điều này tạo cơ hội cho các doanh
nghiệp nội địa tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thông qua ba kênh chính:
4.1.Hợp tác với doanh nghiệp FDI
Doanh nghiệp nội địa có hội mở rộng hoạt động sản xuất và kinh doanh khi trở thành nhà
cung cấp cho doanh nghiệp FDI. Điều này giúp tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
trong nước, giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp nội
địa.
Tính đến cuối năm 2024, tổng vốn đầu tư lũy kế của Samsung tại Việt Nam đạt khoảng 23,2 tỷ
USD, tăng từ 22,4 tỷ USD vào cuối năm 2023. Sự gia tăng này chủ yếu đến từ khoản đầu bổ
sung 1,8 tỷ USD để xây dựng nhà máy sản xuất màn hình OLED tại khu công nghiệp Yên Phong,
tỉnh Bắc Ninh, nâng tổng vốn đầu tư của Samsung tại Bắc Ninh lên 8,3 tỷ USD. (Vào tháng 9 năm
2024, Samsung Display Co. công bố kế hoạch đầu thêm 1,8 tỷ USD để xây dựng nhà máy sản
xuất màn hình OLED tại khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Dự án này nhằm sản xuất
màn hình OLED cho ô tô thiết bị công nghệ, nâng tổng vốn đầu tư của Samsung tại Bắc Ninh
từ 6,5 tỷ USD lên 8,3 tỷ USD. Động thái này không chỉ củng cố vị thế của Việt Nam trong chuỗi
cung ứng công nghtoàn cầu còn tạo ra nhiều hội việc làm thúc đẩy phát triển kinh tế
địa phương.)
Theo công bố vào tháng 2 năm 2025 của Samsung, trong năm 2024, doanh thu của Samsung
Việt Nam đạt 62,5 tỷ USD xuất khẩu khoảng 54,4 tỷ USD, có giảm nhẹ so với năm 2023 do gặp
những khó khăn về nguồn cung ứng, biến động kinh tế thế giới, nhưng đã đóng góp tích cực vào
kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam phát triển kinh tế nói chung của cả nước. c động
của Samsung không chỉ dừng lại ở con số hợp tác. Sự xuất hiện của Samsung tại Việt Nam đã kéo
theo sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp phụ trợ, đặc biệt là lĩnh vực linh kiện điện tử.
Những năm trước, Samsung Việt Nam cử chuyên gia hỗ trợ trực tiếp cho 3/12 doanh nghiệp
cung ứng Việt Nam trong năm 2017, đồng thời đây cũng là lần đầu tiên, doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực công nghiệp kỹ thuật tham gia vào chương trình tư vấn doanh nghiệp của Samsung.
Kết quả từ chương trình vấn cải tiến doanh nghiệp rất khả quan, đã giúp các doanh nghiệp cải
tổ sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và hoàn thiện chính mình.
Công ty Cphần sản xuất Điện tử Thành Long hiện đang là nhà cung ứng cấp 2 của Khu
Tổ hợp Samsung CE Complex (SEHC), tại TP. HCM và là doanh nghiệp Việt Nam duy nhất trong
hệ sinh thái các nhà cung ứng của Samsung tại Việt Nam, cung cấp bản mạch điện tử PCB thuộc
nhóm những linh kiện phức tạp, có giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ cao. Sau 3 tháng tham
gia chương trình vấn cải tiến, tỷ lệ hàng lỗi nội địa của Thành Long đã giảm 68,5%; tỷ lệ hoạt
động của thiết bị tăng 23,8% và chi phí tồn kho giảm 28,6%.
Công ty Cổ phần Hanel Xốp Nhựa (Hanel Plastics) hiện nhà cung ứng cấp 1 của Samsung
Display Vietnam, chuyên sản xuất xốp, khuôn nhựa và ép nhựa. Kết quả tổng kết của quá trình tư

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58707906 lOMoAR cPSD| 58707906 MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................................................................ 2
DANH MỤC VIẾT TẮT .................................................................................................................. 3
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 4
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................................................... 4
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI
VIỆT NAM ................................................................................................................................... 4
1. Cơ sở lý luận ........................................................................................................................ 4
1.1. Một số khái niệm nền tảng ............................................................................................ 4
1.2. Mối quan hệ giữa hoạt động đầu tư nước ngoài và hoạt động đầu tư trong nước ........ 5
2. Thực trạng của hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ................................................. 5
2.1. Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo ngành kinh tế .................. 6
2.2. Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo đối tác ............................. 6
2.3. Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo địa phương ...................... 7
II. ẢNH HƯỞNG, TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN HOẠT
ĐỘNG ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC ............................................................................................... 7
1. Thị trường tài chính và thị trường vốn ................................................................................. 7
1.1. Tích cực ......................................................................................................................... 8
1.2. Tiêu cực ....................................................................................................................... 10
2. Trong vấn đề công nghệ và quản lý ................................................................................... 11
2.1. Trong vấn đề công nghệ .............................................................................................. 11
2.1.2. Thúc đẩy phát triển hệ sinh thái công nghệ cao, xây dựng các trung tâm nghiên cứu
và phát triển R&D .............................................................................................................. 13
2.1.3. Thách thức và giải pháp ........................................................................................... 14
2.2. Ảnh hưởng, tác động của hoạt động đầu tư nước ngoài lên đầu tư trong nước về năng
suất ...................................................................................................................................... 14
2.3. Ảnh hưởng, tác động của hoạt động đầu tư nước ngoài lên đầu tư trong nước về mặt
quản lý ................................................................................................................................ 16
3. Trong vấn đề chất lượng nguồn nhân lực .......................................................................... 17
3.1. Hoạt động đầu tư nước ngoài giúp nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng .......... 17
3.2. Hoạt động đầu tư nước ngoài tạo động lực cạnh tranh và thúc đẩy sự cải thiện chất
lượng đào tạo ...................................................................................................................... 19
3.3. Hoạt động đầu tư nước ngoài giúp hình thành mạng lưới chuyên gia và chuyên gia
quốc tế ................................................................................................................................. 19
4. Trong vấn đề chuỗi cung ứng ............................................................................................ 20
4.1. Hợp tác với doanh nghiệp FDI .................................................................................... 20
4.2. Tiêu chuẩn hóa và nâng cao chất lượng ...................................................................... 21 lOMoAR cPSD| 58707906
4.3. Phát triển các ngành công nghiệp liên quan ................................................................ 22
4.4. Thách thức và giải pháp .............................................................................................. 24
5. Trong vấn đề thể chế và môi trường kinh doanh ............................................................... 24
5.1. Cải thiện hệ thống pháp lý ........................................................................................... 24
5.2. Nâng cấp cơ sở hạ tầng ................................................................................................ 25
III. ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TỚI HOẠT
ĐỘNG ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC ............................................................................................. 26
1. Cơ hội ................................................................................................................................. 26
2. Thách thức ......................................................................................................................... 27
3. Kiến nghị ............................................................................................................................ 27
PHẦN KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................................. 28
DANH MỤC VIẾT TẮT STT
Danh mục viết tắt Định nghĩa 1 FPI
Đầu tư gián tiếp nước ngoài 2 FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài 3 TTCK
Thị trường chứng khoán 4 GVMCP
Điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp 5 NDT Nhà đầu tư lOMoAR cPSD| 58707906 PHẦN MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ như hiện nay,
hoạt động đầu tư nước ngoài đã và đang đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề và nâng cao năng lực cạnh tranh của nhiều quốc gia, không
chỉ ở các nước nghèo mà kể cả các nước công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ...
Đối với Việt Nam, hoạt động đầu tư nước ngoài không chỉ là bổ sung nguồn vốn quan trọng
mà còn là động lực kích thích hoạt động đầu tư trong nước thông qua việc chuyển giao công nghệ,
nâng cao năng suất lao động và trình độ quản lý, mở rộng thị trường, cải thiện chất lượng nguồn
nhân lực, tạo ra các hiệu ứng lan tỏa tích cực trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, không phải lúc nào, mối quan hệ giữa hoạt động đầu tư nước ngoài và đầu tư
trong nước cũng rõ ràng và đồng nhất. Nghiên cứu đề tài “Hoạt động đầu tư nước ngoài là động
lực thúc đẩy cho hoạt động đầu tư trong nước, hãy chứng minh điều đó và có dẫn chứng số liệu”

chúng tôi sẽ tiến hành phân tích tác động của hoạt động đầu tư nước ngoài đến nền kinh tế nội địa
trên khía cạnh kinh tế: công nghệ, năng suất và quản lý, chuỗi cung ứng, chất lượng nguồn nhân
lực, thể chế và môi trường kinh doanh. Đồng thời đưa ra các dẫn chứng số liệu cụ thể từ các nghiên
cứu, báo cáo kinh tế và thực tiễn tại Việt Nam cũng như một số quốc gia khác trên thế giới. Qua
đó, không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động đầu tư nước ngoài trong việc thúc đẩy
đầu tư trong nước mà còn đề xuất các giải pháp nhằm tối ưu hóa hiệu quả của nguồn vốn này, góp
phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1. Cơ sở lý luận
1.1.Một số khái niệm nền tảng

1.1.1. Hoạt động đầu tư nước ngoài
“Hoạt động đầu tư nước ngoài là hoạt động đầu tư được thực hiện bằng nguồn vốn đầu tư
trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài”1
Nguồn vốn của hoạt động đầu tư nước ngoài bao gồm:
- Tài trợ phát triển chính thức (ODF – Official Development Finance): bao gồm Viện trợ
Phát triển Chính thức (ODA - Official Development Assistance) và các hình thức tài trợ
khác. Trong đó ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu nên trong báo cáo này, khi đề cập đến nguồn
tài trợ phát triển chính thức chỉ đề cập đến nguồn ODA.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment): vốn bằng tiền hoặc bất kỳ
tài sản nào mà nhà đầu tư đưa vào một quốc gia khác để được quyền sở hữu, quản lý hoặc
kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
1 Từ Quang Phương&Phạm Văn Hùng. (2022). Kinh tế đầu tư. Đại học Kinh tế Quốc Dân. Đại học Kinh tế Quốc
dân. 2 Từ Quang Phương&Phạm Văn Hùng. (2022). Kinh tế đầu tư. Đại học Kinh tế Quốc Dân. Đại học Kinh tế Quốc dân. lOMoAR cPSD| 58707906
- Nguồn tín dụng từ các ngân ngàng thương mại quốc tế: khoản vốn vay hoặc các hình thức
cấp tín dụng mà các ngân hàng thương mại nước ngoài (hoặc ngân hàng quốc tế) cung cấp
cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, hoặc chính phủ của một quốc gia khác để tài trợ cho
các hoạt động kinh doanh, thương mại, đầu tư, hoặc phát triển dự án.
- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế: dòng vốn đầu tư vốn cổ phẩn của nhà đầu tư
nước ngoài trên thị trường chứng khoán, dòng vốn từ việc phát hành trái phiếu chình phủ
và trái phiếu doanh nghiệp ra nước ngoài.
1.1.2. Hoạt động đầu tư trong nước.
“Hoạt động đầu tư trong nước là các hoạt động đầu tư được tài trợ từ nguồn vốn tích lũy của
ngân sách, của doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của dân cư”2
Nguồn vốn của hoạt động đầu tư trong nước bao gồm:
- Nguồn vốn nhà nước: nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát
triển của nhà nước, nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp trong nước.
- Nguồn vốn của khu vực dân doanh: tiết kiệm của dân cư, tích lũy của tư nhân.
1.2.Mối quan hệ giữa hoạt động đầu tư nước ngoài và hoạt động đầu tư trong nước
- Đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước là hai kênh huy động vốn quan trọng cho sự phát triển kinh tế quốc gia.
- Đầu tư nước ngoài đóng vai trò bổ trợ, kích thích và lan tỏa tác động tích cực lên hoạt động
đầu tư trong nước qua các kênh sau:
+ Chuyển giao công nghệ và nâng cao năng suất lao động, hiệu quả quản lý.
+ Phát triển chuỗi cung ứng nội địa
+ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nội địa
+ Cải thiện thể chế và môi trường kinh doanh trong nước
2. Thực trạng của hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện tính tới 20/12/2023, ước tính đạt 23,18 tỷ USD, tăng 3,5% so
với năm trước, tăng nhẹ 0,6 điểm phần trăm so với 11 tháng năm 2023.
Tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu
tư nước ngoài hơn 36,6 tỷ USD, tăng 32,1% so với năm trước. Ngoài vốn đầu tư điều chỉnh giảm
thì vốn đầu tư mới và góp vốn mua cổ phần tăng mạnh hơn so với năm trước. Cụ thể:
Đầu tư mới: Có 3.188 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (tăng 56,6% so
với năm trước), tổng vốn đăng ký đạt gần 20,19 tỷ USD (tăng 62,2% so với năm trước).
Điều chỉnh vốn: Có 1.262 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (tăng 14% so với
năm trước), tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt hơn 7,88 tỷ USD (giảm 22,1% so với năm trước).
Góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp: Có 3.451 giao dịch GVMCP của nhà đầu tư nước
ngoài (giảm 3,2% so với năm trước), tổng giá trị vốn góp đạt hơn 8,5 tỷ USD (tăng 65,7% so với năm rước).
Hình 1: Vốn đầu tư nước ngoài các năm 2019 – 2023 lOMoAR cPSD| 58707906
(nguồn: Tổng cục thống kê)
2.1.Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo ngành kinh tế
Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân.
Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt hơn 23,5 tỷ USD,
chiếm 64,2% tổng vốn đầu tư đăng ký và tăng 39,9% so với năm trước. Ngành kinh doanh bất
động sản đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư gần 4,67 tỷ USD, chiếm hơn 12,7% tổng vốn đầu tư đăng
ký, tăng 4,8% so với năm trước. Các ngành sản xuất, phân phối điện; tài chính ngân hàng xếp thứ
3 và 4 với tổng vốn đăng ký đạt lần lượt hơn 2,37 tỷ USD (tăng 4,9%) và gần 1,56 tỷ USD (gấp
gần 27 lần). Còn lại là các ngành khác.
Hình 2: Đầu tư nước ngoài năm 2023 theo ngành kinh tế
(nguồn: Tổng cục thống kê)
2.2.Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo đối tác
Trong năm 2023, đã có 111 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Trong đó,
Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư hơn 6,8 tỷ USD, chiếm 18,6% tổng vốn đầu tư vào Việt
Nam, tăng 5,4% so với năm trước; Nhật Bản đứng thứ hai với gần 6,57 tỷ USD, chiếm hơn 17,9%
tổng vốn đầu tư, tăng 37,3% so với năm trước. Đặc khu hành chính Hồng Kông đứng thứ 3 với
tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 4,68 tỷ USD, chiếm gần 12,8% tổng vốn đầu tư, gấp 2,1 lần so với
năm trước. Tiếp theo là Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan…
Xét về số dự án, Trung Quốc dẫn đầu về số dự án mới (chiếm 22,2%). Hàn Quốc dẫn đầu về số
lượt điều chỉnh vốn (chiếm 25,9%) và góp vốn mua cổ phần (chiếm 27,8%).
Hình 3: Đầu tư nước ngoài năm 2023 theo đối tác lOMoAR cPSD| 58707906
(nguồn: Tổng cục thống kê)
2.3.Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo địa phương
Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 56 tỉnh, thành phố trên cả nước trong năm 2023.
Trong đó, TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu về vốn đầu tư thu hút được với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn
5,85 tỷ USD, chiếm gần 16% tổng vốn đầu tư đăng ký, tăng 48,5% so với năm trước năm 2022.
Hải Phòng xếp thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 3,26 tỷ USD, chiếm 8,9% tổng vốn đầu tư
cả nước, tăng 66,2% so với năm trước. Tiếp theo lần lượt là Quảng Ninh đạt 3,11 tỷ USD, chiếm
8,5% và tăng 31,3% Bắc Giang đạt 3,01 tỷ USD, chiếm 8,2%, tăng 148,3%…
Nếu xét về số dự án, TP. Hồ Chí Minh là địa bàn dẫn đầu cả nước cả về số dự án mới (37,7%), số
lượt dự án điều chỉnh (23,5%) và góp vốn mua cổ phần (67,1%).
Hình 4: Đầu tư nước ngoài năm 2023 phân theo địa phương
(nguồn: Tổng cục thống kê)
II. ẢNH HƯỞNG, TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC.
1. Thị trường tài chính và thị trường vốn
Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung, cũng
như tăng trưởng kinh tế nói riêng. Để bổ sung sự thiếu hụt về nguồn vốn trong nước, thúc đẩy phát
triển sản xuất, kích thích tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống của người lOMoAR cPSD| 58707906
dân, thì thu hút đầu tư nước ngoài là một nhiệm vụ quan trọng đối với các nước đang phát triển
như Việt Nam. Dưới đây là những tác động của đầu tư nước ngoài thông qua cổ phiếu, trái phiếu
đến hoạt động đầu tư trong nước: 1.1.Tích cực - FPI làm tăng quy mô GDP
Khi FPI chảy vào một nền kinh tế, nó trực tiếp làm tăng quy mô GDP. Số tiền đầu tư này được
sử dụng để mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc các tài sản tài chính khác của các công ty trong nước.
Năm 2007 là một ví dụ điển hình, bởi vì đây là năm đánh dấu Luật Chứng khoán bắt đầu có hiệu
lực thi hành và năm đánh dấu TTCK Việt Nam bắt đầu có những biến đổi về chất và có dòng vốn
ngoại đổ vào TTCK tăng rõ rệt. Vào giữa năm 2007, lúc tổng vốn hóa TTCK Việt Nam khoảng 20
tỷ USD (HOSE khoảng 15,5 tỷ USD, HASTC khoảng 4,5 tỷ USD), thì giá trị vốn hóa tính riêng
cho đầu tư nước ngoài là gần 5 tỷ USD (khoảng 25% tổng thị trường). Đến hết năm 2007, số quỹ
đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam là khoảng trên 60 tỷ USD, với số vốn khoảng 6 tỷ USD.
Trong số đó, chỉ riêng 3 quỹ là: Dragon Capital, Vina Capital và Indochina Capital đã có số vốn
khoảng 4 tỷ USD (nguồn: tạp chí tài chính). Những thông tin vừa nêu cho thấy, nguồn vốn đầu tư
tài chính nước ngoài đã tăng nhanh đáng kể.
FPI vào Việt Nam – một phần quan trọng trong trụ cột vốn đầu tư toàn xã hội – đều đang có
những tín hiệu triển vọng khác nhau. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến 20/4/2024,
tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư
nước ngoài đạt hơn 9,27 tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2023. Vốn thực hiện của dự án
đầu tư nước ngoài ước đạt khoảng 6,28 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2023. -
FPI thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, nâng cao tính thanh khoản của thị trường
Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài thông qua FPI làm tăng khối lượng giao dịch trên thị
trường chứng khoán, từ đó nâng cao tính thanh khoản. Khi thanh khoản dồi dào, các dự án khởi
nghiệp trong nước có cơ hội nhận được tài trợ và triển khai. Việc mua bán chứng khoán diễn ra
nhanh chóng cũng giúp đầu tư dài hạn trở nên hấp dẫn hơn.
Số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán của NĐT nước ngoài đã không ngừng tăng qua
các năm. Hình 1 cho thấy tính đến tháng 12/2022, NĐT nước ngoài đã mở 42.711 tài khoản, tăng
hơn 10 lần chỉ trong vòng 6 năm (tính từ năm 2016). Trong đó, số lượng tài khoản của NĐT cá
nhân chiếm tới 90% tổng số tài khoản của NĐT nước ngoài. Ngay cả trong và sau thời kỳ diễn ra
đại dịch COVID-19, NĐT nước ngoài vẫn không ngừng thể hiện sự quan tâm đến TTCK Việt Nam
bằng cách mở thêm nhiều tài khoản hơn so với trước. Tuy nhiên, nếu so với tổng số lượng tài khoản
giao dịch chứng khoán được mở thì tỷ trọng đóng góp của NĐT nước ngoài lại khá khiêm tốn
(chưa đến 2%) và có xu hướng giảm trong 3 năm gần đây. Điều này phản ánh phần nào sự tham
gia tích cực vào TTCK của các NĐT trong nước.
Cùng với sự gia tăng hiện diện của NĐT nước ngoài thông qua số lượng tài khoản giao
dịch, TTCK Việt Nam trong những năm gần đây cũng phát triển khá ấn tượng. Mức vốn hóa toàn
thị trường (tính trên GDP) đã tăng từ 69% vào năm 2016 lên 150% vào năm 2021. Đóng góp chủ
yếu vào sự thay đổi tích cực này là sự gia tăng giá trị vốn hóa của các cổ phiếu niêm yết và đăng
ký giao dịch (chiếm gần 80% tổng giá trị vốn hóa thị trường). Tuy nhiên, vốn hóa thị trường năm
2022 lại sụt giảm đáng kể, chỉ còn 83% GDP, và nguyên nhân chủ yếu cũng là do sự sụt giảm của
quy mô thị trường cổ phiếu. -
Huy động vốn cho doanh nghiệp lOMoAR cPSD| 58707906
Đầu tư gián tiếp từ các quỹ đầu tư, quỹ tài sản, và các cơ cấu đầu tư trung gian cung cấp nguồn
vốn cần thiết cho các dự án phát triển và kinh doanh tại Việt Nam. FPI đã giúp các công ty Việt
Nam tiếp cận thị trường vốn toàn cầu, cho phép họ huy động vốn và mở rộng hoạt động kinh doanh.
Nguồn vốn này đã thu hút được nguồn vốn nước ngoài đáng kể vào Việt Nam, góp phần gia tăng
đáng kể nguồn FDI và FPI.
Ví dụ hội đồng quản trị Tập đoàn Đất Xanh (mã DXG) vừa công bố kế hoạch sử dụng vốn của
đợt phát hành 300 triệu USD trái phiếu ra thị trường quốc tế, tương ứng khoảng 6.959 tỷ đồng đã
trình cổ đông thông qua tại ĐHĐCĐ năm 2022.
Bất động sản Hà An được biết đến là chủ đầu tư dự án Gem Sky World trên khu đất hơn 92 ha
gần khu vực Dự án cảng hàng không quốc tế Long Thành (Đồng Nai). Theo thiết kế, dự án có tổng
vốn đầu tư 5.725 tỷ đồng, bao gồm 6 khu chức năng là khu phố thương mại, nhà ở liên kế, khu
thương mại dịch vụ, khu công viên cây xanh và các công trình hạ tầng kỹ thuật hiện đại, cung cấp
hơn 4.022 sản phẩm, dự kiến dân số khu đô thị vào khoảng 18.000 người. Đây cũng là dự án trọng
điểm, đang trong quá trình bàn giao cho khách trong năm nay của Đất Xanh.
Bất động sản Hà An phát hành trái phiếu, huy động được 210 tỷ đồng, thông qua phát hành lô
2.100 trái phiếu, mệnh giá 100 triệu đồng/tp. Kỳ hạn trái phiếu là 48 tháng, phát hành vào ngày
20/7/2022 và đáo hạn vào ngày 20/7/2024. Lô trái phiếu này đã được mua trọn vào cùng ngày phát
hành. (nguồn: tạp chí điện tử MEKONG ASEAN)
Sự tham gia ngày càng tăng của nhà đầu tư nước ngoài đã nâng cao tính thanh khoản thị trường,
ngoài ra còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện để các công ty doanh nghiệp trong
nước tiếp cận với công nghệ tiên tiến, hiện đại
FPI đã áp dụng các chiến lược giao dịch và kỹ thuật quản lý rủi ro mới, giúp cải thiện hiệu quả
thị trường và giảm chi phí giao dịch. Từ đó, nguồn vốn này đã mở rộng phạm vi lựa chọn đầu tư
cho các nhà đầu tư Việt Nam, giúp họ tiếp cận nhiều loại tài sản và cơ hội đầu tư hơn. Không chỉ
vậy, FPI còn khuyến khích các công ty Việt Nam áp dụng các thông lệ quốc tế tốt nhất về quản trị
doanh nghiệp, báo cáo tài chính và minh bạch, điều này đã cải thiện niềm tin của nhà đầu tư và
giảm nguy cơ thao túng thị trường. Sự phát triển của FPI đã dẫn đến việc thiết lập một khung thể
chế mạnh mẽ hơn, bao gồm các cơ quan quản lý, sở giao dịch chứng khoán và kho lưu ký, giúp cải
thiện hiệu suất và hiệu suất tổng thể của thị trường vốn. Phát triển thị trường FPI mang lại cơ hội
mới và đa dạng hóa các phương thức đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước
- Phát triển ngành tài chính và thị trường vốn
Dòng vốn FDI không chỉ làm gia tăng nguồn vốn đầu tư trực tiếp mà còn thúc đẩy sự phát
triển của ngành tài chính – ngân hàng. Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài tạo động lực cho
các ngân hàng thương mại mở rộng dịch vụ tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế và tín dụng doanh nghiệp.
+ Gia tăng nhu cầu đối với các dịch vụ tài chính
Sự tham gia của các tập đoàn FDI tại Việt Nam làm tăng nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng, từ
quản lý dòng tiền, tín dụng doanh nghiệp, đến tài trợ chuỗi cung ứng. Các ngân hàng thương mại
trong nước đã nhanh chóng nắm bắt xu hướng này và phát triển các sản phẩm tài chính chuyên biệt
nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp FDI cũng như các nhà cung ứng trong nước.
Techcombank đã đầu tư mạnh vào công nghệ số và phát triển các giải pháp tài trợ thương mại, tài
trợ chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Việt Nam liên kết với các tập đoàn FDI. Năm 2024,
Techcombank được tạp chí Asian Banking & Finance vinh danh là "Ngân hàng tài trợ thương mại lOMoAR cPSD| 58707906
tốt nhất Việt Nam", ghi nhận nỗ lực của ngân hàng trong việc hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nội địa
tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
+ Thúc đẩy sự cạnh tranh và nâng cao chất lượng dịch vụ tài chính
Sự xuất hiện của các tổ chức tài chính nước ngoài như HSBC, Standard Chartered hay
Citibank tại Việt Nam không chỉ mang lại nguồn vốn mà còn tạo ra sức ép cạnh tranh, buộc các
ngân hàng trong nước phải nâng cấp chất lượng dịch vụ. Điều này thể hiện rõ qua việc nhiều ngân
hàng Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ tài chính (fintech) vào các sản phẩm
ngân hàng số, giúp doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ tài chính nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Vietcombank và BIDV đã mở rộng dịch vụ tài trợ thương mại, cho vay tín chấp, hỗ trợ
thanh toán quốc tế nhằm phục vụ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu liên quan đến FDI. Bên cạnh
đó, hệ thống pháp lý về tài chính cũng được điều chỉnh nhằm tăng tính minh bạch và bảo vệ quyền
lợi của các nhà đầu tư nước ngoài.
+ Phát triển thị trường vốn và chứng khoán
FDI không chỉ tác động đến lĩnh vực ngân hàng mà còn thúc đẩy sự phát triển của thị trường
chứng khoán. Nhiều doanh nghiệp FDI lựa chọn huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán
Việt Nam, qua đó góp phần làm tăng thanh khoản và đa dạng hóa sản phẩm đầu tư.
Trong năm 2023, số lượng nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam tăng
mạnh, với giá trị mua ròng đạt 1,7 tỷ USD – mức cao nhất trong vòng 5 năm qua. Việc các doanh
nghiệp FDI niêm yết trên sàn chứng khoán cũng giúp nâng cao tính minh bạch, tạo động lực để
các doanh nghiệp trong nước cải thiện quản trị tài chính và thu hút thêm vốn đầu tư.
+ Định hướng phát triển tài chính bền vững
Ngoài tác động trực tiếp đến thị trường tài chính, dòng vốn FDI còn góp phần định hình xu
hướng tài chính xanh và phát triển bền vững. Nhiều doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào Việt Nam đã
yêu cầu các ngân hàng cung cấp các khoản vay ưu đãi cho các dự án xanh, hướng tới phát triển
bền vững. Các ngân hàng như HSBC Việt Nam và Standard Chartered đã triển khai các gói tín
dụng xanh nhằm hỗ trợ các dự án sử dụng năng lượng tái tạo, giảm phát thải carbon, phù hợp với
cam kết của Việt Nam tại COP26. •
HSBC Việt Nam: Ngân hàng này đã cam kết hỗ trợ thu xếp nguồn vốn lên tới 12 tỷ USD
cho các dự án bền vững và các doanh nghiệp tại Việt Nam đến năm 2030. Tính đến tháng
8/2022, HSBC Việt Nam đã tham gia thu xếp được hơn 1,3 tỷ USD tài chính xanh, đạt 10%
mục tiêu đề ra, đồng thời hỗ trợ các dự án xanh và bền vững quan trọng, góp phần giảm
phát thải carbon cho nền kinh tế. •
Standard Chartered Việt Nam: Ngân hàng này đã cung cấp hạn mức tín dụng trị giá 13,5
triệu USD cho Công ty TNHH Sản phẩm giấy Leo (Việt Nam) nhằm đáp ứng nhu cầu vốn
lưu động của công ty, với cam kết giảm khối lượng chất thải nguy hại và tổng cường độ
chất thải. Bên cạnh đó, Standard Chartered Việt Nam đã ký biên bản ghi nhớ với tổng giá
trị 8,5 tỷ USD cho ba doanh nghiệp Việt Nam để hỗ trợ các dự án bền vững. 1.2.Tiêu cực
- Thị trường không ổn định
Vốn FPI có đặc điểm là di chuyển (vào và ra) rất nhanh, nên nó sẽ khiến cho hệ thống tài chính
trong nước dễ bị tổn thương và rơi vào khủng hoảng tài chính một khi gặp phải các cú sốc từ bên
trong cũng như bên ngoài nền kinh tế. lOMoAR cPSD| 58707906
Khi dòng vốn bị rút đột ngột, thị trường chứng khoán lao dốc, doanh nghiệp mất nguồn tài trợ,
và nền kinh tế đối mặt với bất ổn tài chính. Ví dụ Việt Nam 2022: FPI rút vốn khi FED tăng lãi suất.
Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) thuộc Fed đã ra quyết định chính sách tiền tệ thắt
chặt là nâng lãi suất cơ bản đồng USD, với mức tăng 0,75% lên mức 2,25% - 2,5%. Đây là mức
cao nhất kể từ tháng 12/2018. Ngoài ra, Fed cho biết, có thể còn tăng thêm một đợt lãi suất 0,75% vào cuối năm 2022.
Lãi suất USD tăng cũng gây áp lực trả nợ nước ngoài, khiến Chính phủ và doanh nghiệp Việt
Nam khó huy động vốn và chịu chi phí tài chính cao hơn. Việc Fed thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ
làm tăng lãi suất cho vay bằng đồng USD, từ đó làm giảm nhu cầu tiêu dùng và đầu tư khiến dòng
vốn rút khỏi Việt Nam. Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam có thể chậm lại do nhu cầu tiêu dùng
tại Mỹ và châu Âu giảm.
Lãi suất USD tăng gây áp lực lên nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ và DN Việt Nam.
Theo ước tính, nợ nước ngoài của Việt Nam chiếm gần 40% GDP vào cuối năm 2021. Chính phủ
và các DN Việt Nam sẽ khó huy động vốn trên thị trường quốc tế và phải chịu mức chi phí tài chính cao hơn.
- FPI làm giảm tính độc lập của chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái
Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) có thể làm giảm tính độc lập của chính sách tiền
tệ và tỷ giá hối đoái, khiến Ngân hàng Trung ương gặp khó khăn trong việc kiểm soát nền kinh tế.
Khi FPI vào nhiều, áp lực tăng giá nội tệ xuất hiện; khi FPI rút đi, đồng tiền mất giá nhanh chóng,
buộc chính phủ phải có những chính sách, biện pháp để can thiệp.
Cũng như ví dụ trên việc Fed thắt chặt chính sách tiền tệ Đồng USD mạnh gây áp lực lên tỷ
giá hối đoái của Việt Nam, dẫn đến tỷ giá tăng, tác động tiêu cực tới các DN nhập khẩu nguyên vật
liệu trong nước, làm cho giá cả hàng hóa có thể tăng mạnh hơn từ đó tác động lạm phát gia tăng.
2. Trong vấn đề công nghệ và quản lý
2.1. Trong vấn đề công nghệ
Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) thường được xem là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn,
như mua cổ phiếu hoặc trái phiếu, và ít liên quan trực tiếp đến chuyển giao công nghệ. Ngược lại,
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thường liên quan đến việc thiết lập hoặc mua lại các cơ sở sản
xuất, kinh doanh tại nước nhận đầu tư, qua đó có thể dẫn đến chuyển giao công nghệ và nâng cao
trình độ công nghệ của nước tiếp nhận. FDI có những tác động sau đến công nghệ:
- Chuyển giao công nghệ và kỹ thuật tiên tiến:
Chuyển giao công nghệ được thực hiện nhờ sự đầu tư trực tiếp của các công ty nước ngoài vào
Việt Nam: Các công ty đầu tư trực tiếp từ nước ngoài thường mang theo công nghệ tiên tiến khi
xây dựng các nhà máy và cơ sở sản xuất tại các quốc gia tiếp nhận. Tạo điều kiện cho các công ty
trong nước dễ dàng tiếp cận với các công nghệ mới, hiện đại hơn, nâng cao trình độ sản xuất, cải
thiện chất lượng sản phẩm phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Intel đã
đầu tư hơn 1,5 tỷ USD vào nhà máy lắp ráp và thử nghiệm chip lớn nhất của mình tại TP.HCM:
Intel Products Vietnam (IPV) tại Khu công nghệ cao TP.HCM, là một trong những nhà máy lắp ráp
và kiểm định chip máy tính lớn nhất của Intel. Tính từ năm 2010 đến nay, Tập đoàn này đã xuất
khẩu 85 tỷ USD sản phẩm sản xuất tại Việt Nam ra thế giới, chiếm khoảng 60% tổng giá trị xuất
khẩu của Khu CNC TP.HCM. Riêng trong năm 2023, tổng kim ngạch xuất khẩu của Intel ước đạt
10-11 tỷ USD (nguồn: tạp chí công nghệ và tiêu dùng) lOMoAR cPSD| 58707906
Dự án Dự án Lô B – Ô Môn với quy mô đầu tư gần 12 tỷ USD cho toàn vòng đời dự án.
Dự án có sự góp mặt của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam - PVN), Tổng Công ty Thăm
dò và Khai thác Dầu khí (PVEP), Công ty Thăm dò Dầu khí Mitsui (MOECO) – Nhật Bản, Công
ty Thăm dò và Khai thác Dầu khí PTT (PTTEP) của Thái Lan. (nguồn: Cafe F)
Nhà máy LG Innotek Hải Phòng giai đoạn 2023 - 2025 với số vốn 1 tỷ USD, nâng tổng vốn đầu
tư của dự án lên hơn 2 tỷ USD, để xây dựng nhà máy V3 sản xuất mô-đun camera xuất khẩu tại
Hải Phòng (nguồn: Tạp chí kinh tế và dự báo)
Công ty Luxshare - ICT Việt Nam tháng 11/2023 đã đầu tư thêm 330 triệu USD để mở rộng
nhà máy sản xuất tại Bắc Giang, nâng tổng số vốn của công ty này tại tỉnh Bắc Giang lên 504 triệu
USD (nguồn: Tạp chí kinh tế và dự báo)
- Chuyển giao công nghệ bằng việc doanh nghiệp trong nước mua công nghệ, dây chuyền
sản xuất từ nước ngoài, liên doanh giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài:
Việc doanh nghiệp trong nước mua công nghệ, dây chuyền sản xuất từ nước ngoài, liên doanh
giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài tạo điều kiện tiếp cận công nghệ tiên tiến một cách
nhanh chóng, tránh mất thời gian, lãng phí tiền bạc và nguy cơ phải đối mặt với rủi ro cao khi tự
nghiên cứu và phát triển.
Ví dụ VinFast mua bản quyền của BMW để sản xuất ôtô. Trước BMW, hãng xe của ông
Vượng cho biết hợp tác với Bosch, Siemens, Magna Steyr, AVL... để làm ôtô
- Chuyển giao công nghệ thông qua đào tạo nhân lực, quy trình quản lý, và hợp tác với các doanh nghiệp nội địa:
Ví dụ ở trên, Intel đầu tư vào các nhà máy sản xuất điện tử và công nghệ cao tại Việt Nam, tạo
điều kiện để các kỹ sư, công nhân Việt Nam có cơ hội làm việc và học hỏi từ các chuyên gia quốc tế.
Intel đã đầu tư khoảng 22 triệu USD để hiện đại hóa chương trình học về công nghệ tại Việt Nam. (nguồn: Cafe F)
Ngoài ra, mới đây Samsung Chung Tay Cùng Việt Nam Đào Tạo Nhân Tài Công Nghệ Thông Qua Lớp Học SIC
Việc chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI vào Việt Nam thời gian qua đã đạt được một
số kết quả nhất định.
Theo thông tin từ Bộ KH&CN, từ tháng 7/2018 đến hết năm 2023, cả nước có 579 thỏa
thuận chuyển giao công nghệ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký. Trong đó, có 493 hợp đồng
chuyển giao công nghệ tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
Nhiều công nghệ mới, hiện đại được du nhập vào nước ta trong các lĩnh vực như: Dầu khí,
linh kiện điện tử, chíp bán dẫn, viễn thông... Đặc biệt nổi trội đó là Công nghiệp bán dẫn Việt Nam:
bước vào thời kỳ khởi sắc mới. Hiện nay, Việt Nam thu hút hàng loạt ông lớn trong việc thiết kế
bán dẫn hàng đầu đầu tư vào nước ta góp phần giúp ngành công nghiệp bán dẫn trong nước rộng
mở. Theo dữ liệu từ Statista Market Insights, doanh thu thị trường bán dẫn trong nước dự kiến sẽ
đạt 18,23 tỷ USD vào năm 2024, dự báo đạt 31,39 tỷ USD vào năm 2029 với tốc độ tăng trưởng
kép hàng năm (CAGR) là 11,48% trong giai đoạn 2024-2029.
2.1.1. Tạo áp lực cạnh tranh, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mới, sáng tạo về công nghệ.
Khi các tập đoàn nước ngoài mang theo công nghệ tiên tiến cùng quy trình quản lý hiện đại
vào thị trường, doanh nghiệp trong nước buộc phải đổi mới để không bị tụt hậu, đồng thời thúc lOMoAR cPSD| 58707906
đẩy các công ty trong nước đẩy mạnh đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) nhằm nâng cao năng lực công nghệ
Cụ thể nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đã mạnh dạn đầu tư vào nghiên cứu và phát
triển (R&D) cũng như hợp tác quốc tế để nắm bắt công nghệ thiết kế chip tiên tiến, dần từng bước
đưa Việt Nam vào sâu hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu của ngành bán dẫn.
FPT đã ra mắt sản phẩm IoT đầu tiên ứng dụng trong ngành y tế, trong khi Viettel đã thiết kế
thành công hai dòng chip 5G trên công nghệ 28nm. Không chỉ dừng lại ở thiết kế, với vai trò đầu
tàu dẫn dắt ngành bán dẫn Việt Nam tiến lên, FPT và Viettel còn định hướng tự chủ sản xuất và
đóng gói chip trong tương lai.
* Sự đổi mới trong công nghệ tại các doanh nghiệp Việt
Công ty May 10 đã đầu tư vào hệ thống máy may tự động và đạt được những kết quả ấn tượng
về hiệu quả sản xuất trong năm 2023.
Vinatex cũng là công ty đã thành công trong việc áp dụng hệ thống quản lý sản xuất thông minh
để cải thiện hiệu quả và giảm chi phí.
Rạng Đông đã đầu tư, nghiên cứu chuyển đổi, số hóa, đưa công nghệ vào các khâu, tích hợp trí
tuệ nhân tạo AI vào Hệ sinh thái sản phẩm và dịch vụ của mình bằng công nghệ Machine Learning,
trí tuệ nhân tạo xử lý tại biên (Edge AI); từ đó, phát huy được năng lực lõi và thế mạnh truyền
thống là kỹ thuật chiếu sáng. Nhiều năm qua, Rạng Đông đã dành 15% lợi nhuận sau thuế cho công
tác nghiên cứu và phát triển (R&D) và 7% lợi nhuận sau thuế thành lập Quỹ Đầu tư mạo hiểm.
Hợp tác xã sản xuất rau, củ, quả an toàn Văn Giang (Văn Giang, Hưng Yên) đã đầu tư lắp đặt
1 bộ điều khiển thông minh giúp kiểm soát lượng nước, chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng
và kiểm soát chất lượng đất trồng.
2.1.2. Thúc đẩy phát triển hệ sinh thái công nghệ cao, xây dựng các trung tâm nghiên cứu và phát triển R&D
Khi có nhiều tập đoàn lớn trên quốc tế, mang những thiết bị, kỹ thuật hiện đại vào đầu tư nước
ta, đòi hỏi nước ta phải có một môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI. Bởi vậy, để thu
hút các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thì việc xây dựng các khu công nghệ cao là rất quan trọng.
Ngoài ra, để nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam, đòi hỏi chúng ta cần phải phát triển
một hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ, liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Hiện nay, Việt Nam có bốn khu công nghệ cao, bao gồm: Khu công nghệ cao Hòa Lạc (Hà Nội),
Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, Khu công nghệ cao Đà Nẵng và Khu công nghệ cao
công nghệ sinh học Đồng Nai. Trong đó hiện nay, khu Công nghệ cao TP HCM (SHTP) đang bước
vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ với kế hoạch khởi công 12 dự án trong năm 2025, bao gồm
10 dự án trong nước và 2 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với tổng vốn đầu tư hơn 1 tỷ USD.
Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI thường đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) góp
phần xây dựng, mở rộng các trung tâm nghiên cứu và thúc đẩy sáng tạo công nghệ.
Điển hình là việc Việt Nam đang trở thành cứ điểm chiến lược R&D của Samsung.: Từ năm
2023, bằng việc chuyển giao AI - là công nghệ tiên tiến nhất và quan trọng nhất của tập đoàn cho
Việt Nam, Samsung đã giữ đúng lời hứa với Chính phủ Việt Nam khi quyết tâm đưa Việt Nam
vượt qua vai trò là cứ điểm sản xuất để trở thành cứ điểm chiến lược về R&D của Samsung trên toàn cầu lOMoAR cPSD| 58707906
2.1.3. Thách thức và giải pháp
Những tác động nêu trên đã góp phần nâng cao năng lực công nghệ của quốc gia tiếp nhận FDI,
thúc đẩy năng lực cạnh tranh và hội nhập toàn cầu của các doanh nghiệp nội địa, khiến thị trường
nội địa mở rộng một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, bên cạnh đó sự hiện diện của FDI cũng đem
lại thách thức không nhỏ khi mà:
⁻ Chuyển giao công nghệ chưa thực sự hiệu quả
⁻ Sự đầu tư trung tâm R&D còn chưa nhiều
⁻ Việc tiếp thu học hỏi công nghệ cũng như kinh nghiệm quản lý của cán bộ Việt Nam chưa
đạt được như mong muốn
⁻ Nguy cơ phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài ⁻
Tạo ra sự chênh lệch về trình độ công nghệ
Những giải pháp đặt ra:
⁻ Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách ưu đãi để khuyến khích các DN FDI công nghệ cao vào Việt Nam
⁻ Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực công nghiệp
⁻ Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu phát triển, cải tiến kỹ thuật
⁻ Các trường đại học, viện nghiên cứu và đội ngũ các nhà khoa học phối hợp với các DN FDI
tổ chức khảo sát thực tế, học hỏi kinh nghiệm
⁻ Xây dựng và ban hành các chính sách hỗ trợ DN trong nước trong việc mua lại và sáp nhập
các đối tác nước ngoài.
2.2. Ảnh hưởng, tác động của hoạt động đầu tư nước ngoài lên đầu tư trong nước về năng suất
- Chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo
Một trong những lợi ích lớn nhất từ đầu tư nước ngoài là khả năng tiếp nhận công nghệ tiên
tiến và quy trình sản xuất hiện đại. Các doanh nghiệp trong nước có thể học hỏi thông qua hợp tác
với doanh nghiệp nước ngoài hoặc qua quá trình cạnh tranh trực tiếp. Việc đầu tư nước ngoài mang
theo công nghệ tiên tiến từ các quốc gia phát triển vào Việt Nam giúp cải thiện trình độ công nghệ
sản xuất trong nước. Việc chuyển giao này diễn ra qua nhiều kênh: liên doanh và hợp tác (các
doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với doanh nghiệp VN chia sẻ công nghệ, bí quyết sản xuất);
đào tạo nhân lực (chuyên gia nước ngoài đào tạo nhân viên địa phương, nâng cao kỹ năng và kiến
thức công nghệ); hiệu ứng lan tỏa (doanh nghiệp trong nước học hỏi và áp dụng công nghệ mới
thông qua quan sát và cạnh tranh với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài).
Ví dụ, sự tham gia của các tập đoàn đa quốc gia trong ngành công nghệ cao như Samsung, LG
tại Việt Nam đã thúc đẩy sự đổi mới trong ngành sản xuất điện tử, giúp doanh nghiệp nội địa cải
thiện quy trình sản xuất và nâng cao năng suất.
Theo Bộ Tài chính, thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài, trình độ công nghệ sản xuất trong
nước đã được cải thiện rõ rệt so với trước đây, giúp hạn chế khoảng cách công nghệ giữa Việt Nam
và các nước phát triển.
Bên cạnh đó, sự hiện diện của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tạo áp lực cạnh tranh, thúc
đẩy trong nước đổi mới để nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm, tạo cơ hội cho doanh nghiệp
trong nước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, tiếp cận thị trường quốc tế, nâng cao khả năng đổi
mới. - Cải thiện kĩ năng lao động và quản lý
Các doanh nghiệp nước ngoài thường mang đến môi trường làm việc chuyên nghiệp và tiêu
chuẩn đào tạo cao hơn, giúp nâng cao trình độ của lao động trong nước. Khi nhân sự có kinh lOMoAR cPSD| 58707906
nghiệm làm việc trong các công ty FDI chuyển sang các doanh nghiệp nội địa, họ mang theo kiến
thức và kỹ năng quản lý hiện đại, góp phần nâng cao hiệu suất lao động.
Theo Cục Thống kê, khu vực doanh nghiệp FDI đã và đang tạo công ăn việc làm cho 3,8 triệu
lao động, chiếm 7% tổng số lao động 54 triệu lao động nước ta. Con số này tương đương 15% tổng
số lao động làm công ăn lương ở VN.
Ngoài ra, FDI còn gián tiếp tạo việc làm cho nhiều lao động trong các ngành công nghiệp phụ
trợ và các doanh nghiệp khác trong chuỗi cung ứng hàng hóa.
Sự tham gia của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã góp phần nâng cao năng suất lao động
trong nền kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động từ các ngành thâm dụng lao động tay nghề
thấp sang các ngành sử dụng nhiều lao động chất lượng hơn.
- Tăng cường cạnh tranh và động lực đổi mới
Sự xuất hiện của các doanh nghiệp nước ngoài với công nghệ tiên tiến, quy trình quản lý hiện
đại và nguồn lực tài chính mạnh mẽ tạo áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp nội địa. Điều
này buộc doanh nghiệp trong nước phải nâng cao hiệu quả hoạt động, cải tiến công nghệ và tối
ưu hóa quy trình sản xuất để duy trì thị phần.
Các doanh nghiệp FDI thường mang theo công nghệ tiên tiến và quy trình quản lý hiện đại, tạo
điều kiện cho doanh nghiệp trong nước học hỏi và áp dụng, từ đó nâng cao năng lực công nghệ và khả năng đổi mới.
Sự tham gia của FDI góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua việc đào tạo và
chuyển giao kỹ năng, giúp lao động trong nước tiếp cận với công nghệ và quy trình sản xuất hiện đại.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã phải đầu tư vào R&D và tự động hóa để theo kịp các doanh
nghiệp FDI, từ đó nâng cao hiệu suất sản xuất và chất lượng sản phẩm.
Ví dụ điển hình là các ngành bán lẻ tại Việt Nam. Sự gia nhập của các tập đoàn bán lẻ nước ngoài
như Aeon (Nhật Bản), Lotte (Hàn Quốc) và Central Group (Thái Lan) đã làm thay đổi cục diện thị
trường bán lẻ tại Việt Nam. Trước áp lực cạnh tranh, các doanh nghiệp nội địa như Vinmart (nay
là Winmart), Co.opmart và Bách Hóa Xanh buộc phải đổi mới để nâng cao chất lượng dịch vụ, tối
ưu hóa chuỗi cung ứng và đầu tư mạnh vào công nghệ bán hàng trực tuyến. - Mở rộng chuỗi cung
ứng và thị trường

Đầu tư nước ngoài đòi hỏi nhu cầu lớn về nguyên vật liệu, linh kiện và dịch vụ hỗ trợ, từ đó thúc
đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp cung ứng trong nước. Khi các tập đoàn quốc tế mở rộng
hoạt động tại Việt Nam, họ thường tìm kiếm nguồn cung ứng nội địa để giảm chi phí vận chuyển
và tăng cường hiệu quả chuỗi giá trị. Điều này tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia
vào chuỗi cung ứng toàn cầu, từ đó cải thiện năng suất và mở rộng thị trường, nâng cao năng lực
sản xuất và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp trong nước.
Ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam là minh chứng rõ ràng nhất cho tác động này. Với sự đầu
tư của các tập đoàn như Samsung, Intel, LG, Việt Nam không chỉ trở thành trung tâm sản xuất linh
kiện điện tử mà còn nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế. Điều này đã giúp doanh nghiệp nội địa
mở rộng thị trường, nâng cao tay nghề lao động và tăng cường liên kết với các tập đoàn đa quốc gia.
Một số thách thức đối mặt: lOMoAR cPSD| 58707906
- Cạnh tranh không cân xứng và nguy cơ bị thâu tóm -
Chảy máu chất xám và mất
nhân lực chủ chốt -
Phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài
2.3. Ảnh hưởng, tác động của hoạt động đầu tư nước ngoài lên đầu tư trong nước về mặt quản
- Chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý
Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thường mang theo công nghệ tiên tiến và phương pháp
quản lý hiện đại vào Việt Nam. Sự hiện diện của họ tạo ra hiệu ứng lan tỏa, giúp các doanh nghiệp
trong nước học hỏi và áp dụng những tiến bộ này.
Theo Bộ Tài chính, vốn FDI đã góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của
nền kinh tế như viễn thông, khai thác và chế biến dầu khí, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Các doanh nghiệp nước ngoài thường áp dụng các phương pháp quản lý tiên tiến. Nhân viên
Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp này có cơ hội học hỏi và áp dụng những kỹ năng quản
lý hiện đại, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong nước.
Sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI thúc đẩy nhu cầu về lao động có kỹ năng cao, khuyến
khích các chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị
trường lao động hiện đại.
- Thúc đẩy cải thiện quản trị doanh nghiệp
Các doanh nghiệp FDI thường mang theo các tiêu chuẩn quản trị tiên tiến và thông lệ quốc tế
khi hoạt động tại Việt Nam. Sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp FDI buộc các doanh nghiệp trong
nước phải nâng cao hiệu quả quản lý để tồn tại và phát triển. Việc áp dụng các tiêu chuẩn này giúp
doanh nghiệp nội địa cải thiện cấu trúc quản lý, tăng tính minh bạch và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài yêu cầu mức độ minh bạch cao hơn trong quản trị
doanh nghiệp. Điều này dẫn đến việc các công ty trong nước phải cải thiện hệ thống báo cáo tài
chính, quản lý rủi ro và trách nhiệm giải trình, từ đó tăng cường niềm tin của cổ đông và các bên liên quan.
Các doanh nghiệp FDI tạo ra môi trường cạnh tranh khốc liệt, buộc các doanh nghiệp trong
nước phải nâng cao năng lực quản lý để tồn tại và phát triển. Ngoài ra, việc hợp tác với các doanh
nghiệp FDI cũng tạo cơ hội cho doanh nghiệp nội địa học hỏi và áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại.
Các doanh nghiệp FDI thường chú trọng đến việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đặc
biệt là đội ngũ quản lý. Nhân sự Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp này có cơ hội tiếp cận
với các chương trình đào tạo chuyên sâu, nâng cao kỹ năng quản lý và lãnh đạo. Khi chuyển sang
làm việc cho các doanh nghiệp trong nước, họ mang theo những kiến thức và kinh nghiệm quý
báu, góp phần nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp nội địa.
Sự gia tăng đầu tư nước ngoài tạo áp lực lên Chính phủ trong việc cải cách thể chế, đơn giản
hóa thủ tục hành chính và cải thiện môi trường kinh doanh. Điều này không chỉ tạo điều kiện thuận
lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài mà còn giúp các doanh nghiệp trong nước hoạt động hiệu
quả hơn, nâng cao khả năng quản trị và cạnh tranh.
Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo, khu vực FDI với các hiệu ứng lan tỏa về công nghệ và quản
lý đã mang lại lợi ích nhất định cho các doanh nghiệp tư nhân trong nước, khi khu vực tư nhân Việt
Nam ngày càng tích cực hướng đến gia nhập các chuỗi cung toàn cầu. lOMoAR cPSD| 58707906
- Tăng cường liên kết và hợp tác kinh doanh
Mặc dù FDI đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam trong hơn 30 năm qua, mối liên
kết giữa doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước vẫn còn mờ nhạt. Nhiều
doanh nghiệp trong nước chưa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI, dẫn
đến hạn chế trong việc tận dụng các cơ hội hợp tác kinh doanh.
Sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI thúc đẩy mối liên kết giữa doanh nghiệp nước ngoài
và doanh nghiệp trong nước, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Đối với doanh nghiệp
trong nước, hợp tác giúp tiếp cận và nhận chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh,
mở rộng thị trường và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đối với doanh nghiệp nước ngoài, hợp
tác giúp tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định với chất lượng tốt và chi phí hợp lý, đồng thời
hiểu rõ hơn về thị trường địa phương.
Theo Ban Kinh tế Trung ương, việc tăng cường liên kết giữa FDI và doanh nghiệp nội địa giúp
phát triển công nghiệp hỗ trợ, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.
Bên cạnh đó là những thách thức:
- Nguy cơ phụ thuộc vào công nghệ và quản lý nước ngoài - Cạnh tranh nhân lực quản lý -
Cạnh tranh không lành mạnh và chuyển giá
3. Trong vấn đề chất lượng nguồn nhân lực
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư nước ngoài đã trở thành một
trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia, trong đó có
Việt Nam. Một trong những yếu tố then chốt để thu hút và tận dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư
nước ngoài chính là chất lượng nguồn nhân lực. Hoạt động đầu tư nước ngoài không chỉ mang lại
nguồn vốn dồi dào mà còn có tác động sâu sắc đến việc nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng,
và năng lực cạnh tranh của người lao động trong nước.
Cụ thể, hoạt động đầu tư nước ngoài góp phần nâng cao trình độ chuyên môn thông qua việc
đào tạo và chuyển giao công nghệ, tạo động lực cạnh tranh để các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp
trong nước không ngừng cải tiến, đồng thời thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo trong môi trường làm
việc. Những tác động tích cực này không chỉ giúp người lao động nâng cao năng lực cá nhân mà
còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
3.1.Hoạt động đầu tư nước ngoài giúp nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng.
Hoạt động đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ chuyên môn
và kỹ năng của lực lượng lao động trong nước. Khi các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào một
quốc gia, họ thường mang theo công nghệ tiên tiến, quy trình quản lý hiện đại và tiêu chuẩn làm
việc cao. Điều này tạo cơ hội cho người lao động tiếp cận với những phương pháp làm việc mới,
học hỏi kỹ năng chuyên sâu và nâng cao năng lực thông qua các chương trình đào tạo chuyên
nghiệp. Bên cạnh đó, môi trường làm việc đa quốc gia cũng giúp nhân viên phát triển kỹ năng giao
tiếp, hợp tác và thích nghi với văn hóa làm việc quốc tế. Nhờ vậy, hoạt động đầu tư nước ngoài
không chỉ thúc đẩy kinh tế mà còn góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo nền tảng
vững chắc cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Theo số liệu thể hiện tổng số lao động làm trong khu vực đầu tư nước ngoài có thể thấy:
- Từ năm 2014 đến năm 2022, số lượng lao động trong khu vực FDI liên tục tăng, từ 2.868,1
nghìn người lên 5.076,5 nghìn người. Điều này cho thấy sự mở rộng mạnh mẽ của các
doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và nhu cầu lao động ngày càng tăng.
- Năm 2023 (sơ bộ), số lượng lao động tiếp tục tăng lên 5.261,4 nghìn người, phản ánh xu
hướng tích cực trong thu hút đầu tư nước ngoài. lOMoAR cPSD| 58707906
Bảng số liệu trên thể hiện tổng số lao động làm việc trong khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2014 đến sơ bộ năm 2023
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Khu vực FDI đã và đang góp phần hình thành đội ngũ lao động có chất lượng cao hơn bao
gồm công nhân lành nghề, kỹ sư công nghệ, chuyên gia dịch vụ, cán bộ quản trị doanh nghiệp.
Nhu cầu lao động chuyên môn kỹ thuật trong khu vực FDI đang có xu hướng chuyển mạnh sang
nhóm nghề “Thợ có kỹ thuật lắp ráp và vận hành máy móc thiết bị” với tỷ lệ lao động làm việc
trong nhóm nghề này trong tổng số việc làm của khu vực FDI đã tăng nhanh từ gần 15% năm
2007 gần 60% trong những năm gần đây.
Trong khi đó, nhóm nghề bậc thấp hơn “Thợ thủ công có kỹ thuật/thợ kỹ thuật khác” đã giảm
mạnh từ 48% năm 2007 xuống còn 17% trong những năm gần đây. Đặc biệt, lao động giản đơn
trong các doanh nghiệp FDI chiếm một tỷ lệ nhỏ và có xu hướng giảm nhanh xuống chỉ còn gần 5%.
Các xu hướng này đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam, thúc
đẩy quá trình chuyển từ lao động giản đơn, thu nhập thấp sang lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật và thu nhập cao.
Phân tích từ các dự án đầu tư FDI hoạt động trong thời gian qua, cho thấy, quá trình làm việc
tại các doanh nghiệp FDI, nhiều người lao động đã thay đổi tác phong công nghiệp, tiếp cận và
hiểu biết tốt hơn về văn hóa doanh nghiệp, nâng cao được trình độ kỹ năng và chuyên môn kỹ
thuật, trình độ quản lý, trình độ ngoại ngữ... Hàng vạn người đã trở thành những cán bộ kỹ thuật,
cán bộ quản lý giỏi nòng cốt trong các doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp FDI đã từng bước chuyển giao các công nghệ, các quy trình kỹ thuật,
kinh nghiệm quản lý cho các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý là người Việt Nam và trên
thực tế nhiều vị trí trước đây do các chuyên gia nước ngoài đảm nhiệm, nay đã do lao động Việt
Nam đảm nhiệm. Gần đây, một số doanh nghiệp FDI của Nhật bản và Hàn quốc đã hỗ trợ các
DN phụ trợ trong nước đổi mới công nghệ và đào tạo nhân lực thông qua các chương trình tư vấn
cải tiến để tham gia vào chuỗi sản xuất của họ.
Cùng với lực lượng lao động được đào tạo, huấn luyện tại doanh nghiệp, hàng năm một số
doanh nghiệp FDI đã lựa chọn và cử hàng nghìn lượt lao động, chuyên gia người Việt Nam đi
đào tạo, tập huấn tại các công ty mẹ hoặc tại các cơ sở đào tạo khác ở nước ngoài. Trong những
năm gần đây một số tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như: Canon, Honda, Samsung,
Foxconn, Intel… đã thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực tại doanh
nghiệp, trực tiếp đào tạo cán bộ quản lý và nhân lực chất lượng cao. Một số doanh nghiệp FDI đã
đi đầu trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, nâng cao chất lượng đời sống của
người lao động, đóng góp cho cộng đồng và toàn xã hội phù hợp với quy định của pháp luật nước
ta và các tiêu chuẩn quốc tế. lOMoAR cPSD| 58707906
3.2. Hoạt động đầu tư nước ngoài tạo động lực cạnh tranh và thúc đẩy sự cải thiện chất lượng đào tạo.
Hoạt động đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực cạnh tranh và
thúc đẩy sự cải thiện chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong nước. Các công ty có vốn đầu tư
nước ngoài thường đặt ra tiêu chuẩn cao về trình độ chuyên môn và kỹ năng, buộc các doanh
nghiệp trong nước và cơ sở đào tạo phải nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Bên cạnh đó, các công ty này thường đầu tư vào đào tạo liên tục và phát triển kỹ năng cho nhân
viên, tạo ra văn hóa học tập và đổi mới. Sự hiện diện của hoạt động đầu tư nước ngoài cũng thúc
đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp và các trường đại học, cao đẳng, giúp cập nhật chương trình đào
tạo, cung cấp cơ hội thực tập và làm việc thực tế cho sinh viên. Những tác động này không chỉ
giúp nâng cao năng lực của người lao động mà còn lan tỏa kiến thức và kỹ năng tiên tiến đến toàn
bộ nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia.
Bảng thống kê số lượng và tên các ngành đào tạo mới được mở thêm tại một số trường
đại học ở Việt Nam trong 2024
STT Tên Trường Đại Học Số Lượng
Tên Các Ngành Đào Tạo Mới Ngành Mới 1 Đại học Bách khoa 1 Quản lý giáo dục Hà Nội 2
Đại học Kinh tế Quốc 6
Khoa học dữ liệu, Kỹ thuật phần mềm, Hệ thống dân (NEU)
thông tin, Trí tuệ nhân tạo, An toàn thông tin, Quan hệ lao động. 3 Trường Đại học 1 Khoa học máy tính. Ngoại thương (FTU) 4
Trường Đại học Ngân 6
Kiểm toán và Quản lý rủi ro trong ngành Kế hàng TPHCM
toán, ngành Marketing, Công nghệ tài chính,
Kinh doanh quốc tế, Khoa học dữ liệu, Logistics
và quản lý chuỗi cung ứng. 5 Trường ĐH Công 2
An toàn thông tin và Ngôn ngữ Trung Quốc. nghiệp Hà Nội 6 Trường ĐH Sư phạm 2
Kỹ thuật Thiết kế vi mạch và Tâm lý học giáo Kỹ thuật TPHCM dục.
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
3.3. Hoạt động đầu tư nước ngoài giúp hình thành mạng lưới chuyên gia và chuyên gia quốc tế.
Hoạt động đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển mạng
lưới chuyên gia và chuyên gia quốc tế. Khi các công ty nước ngoài đầu tư vào một quốc gia, họ
thường mang theo đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm từ nhiều lĩnh vực khác nhau, từ công nghệ,
quản lý đến tài chính và marketing. Sự hiện diện của các chuyên gia này không chỉ giúp nâng cao
năng lực làm việc của nhân viên địa phương thông qua quá trình đào tạo và chuyển giao kiến thức
mà còn tạo cơ hội để người lao động trong nước tiếp xúc và học hỏi từ những phương pháp làm
việc tiên tiến, tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư nước ngoài còn thúc đẩy sự hợp
tác giữa các chuyên gia trong nước và quốc tế, hình thành mạng lưới kết nối chuyên môn rộng lớn.
Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn tạo điều kiện để các doanh lOMoAR cPSD| 58707906
nghiệp trong nước tiếp cận với tri thức toàn cầu, từ đó thúc đẩy sự đổi mới và phát triển bền vững của nền kinh tế.
4. Trong vấn đề chuỗi cung ứng
Một trong những tác động mạnh mẽ nhất của FDI là thúc đẩy sự phát triển của chuỗi cung ứng
nội địa, thông qua việc tạo ra nhu cầu mới, nâng cao chất lượng sản xuất và kích thích sự phát triển
của các ngành công nghiệp liên quan.
Cơ chế tác động của FDI đến chuỗi cung ứng nội địa: khi các doanh nghiệp FDI đầu tư vào
một quốc gia, họ không chỉ mang lại nguồn vốn mà còn tạo ra nhu cầu lớn về nguyên vật liệu, linh
kiện, dịch vụ logistics và các ngành công nghiệp phụ trợ khác. Điều này tạo cơ hội cho các doanh
nghiệp nội địa tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thông qua ba kênh chính:
4.1.Hợp tác với doanh nghiệp FDI
Doanh nghiệp nội địa có cơ hội mở rộng hoạt động sản xuất và kinh doanh khi trở thành nhà
cung cấp cho doanh nghiệp FDI. Điều này giúp tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
trong nước, giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu và thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp nội địa.
Tính đến cuối năm 2024, tổng vốn đầu tư lũy kế của Samsung tại Việt Nam đạt khoảng 23,2 tỷ
USD, tăng từ 22,4 tỷ USD vào cuối năm 2023. Sự gia tăng này chủ yếu đến từ khoản đầu tư bổ
sung 1,8 tỷ USD để xây dựng nhà máy sản xuất màn hình OLED tại khu công nghiệp Yên Phong,
tỉnh Bắc Ninh, nâng tổng vốn đầu tư của Samsung tại Bắc Ninh lên 8,3 tỷ USD. (Vào tháng 9 năm
2024, Samsung Display Co. công bố kế hoạch đầu tư thêm 1,8 tỷ USD để xây dựng nhà máy sản
xuất màn hình OLED tại khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Dự án này nhằm sản xuất
màn hình OLED cho ô tô và thiết bị công nghệ, nâng tổng vốn đầu tư của Samsung tại Bắc Ninh
từ 6,5 tỷ USD lên 8,3 tỷ USD. Động thái này không chỉ củng cố vị thế của Việt Nam trong chuỗi
cung ứng công nghệ toàn cầu mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.)
Theo công bố vào tháng 2 năm 2025 của Samsung, trong năm 2024, doanh thu của Samsung
Việt Nam đạt 62,5 tỷ USD và xuất khẩu khoảng 54,4 tỷ USD, có giảm nhẹ so với năm 2023 do gặp
những khó khăn về nguồn cung ứng, biến động kinh tế thế giới, nhưng đã đóng góp tích cực vào
kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và phát triển kinh tế nói chung của cả nước. Tác động
của Samsung không chỉ dừng lại ở con số hợp tác. Sự xuất hiện của Samsung tại Việt Nam đã kéo
theo sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp phụ trợ, đặc biệt là lĩnh vực linh kiện điện tử.
Những năm trước, Samsung Việt Nam cử chuyên gia hỗ trợ trực tiếp cho 3/12 doanh nghiệp
cung ứng Việt Nam trong năm 2017, đồng thời đây cũng là lần đầu tiên, doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực công nghiệp kỹ thuật tham gia vào chương trình tư vấn doanh nghiệp của Samsung.
Kết quả từ chương trình tư vấn cải tiến doanh nghiệp rất khả quan, đã giúp các doanh nghiệp cải
tổ sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và hoàn thiện chính mình.
Công ty Cổ phần sản xuất Điện tử Thành Long hiện đang là nhà cung ứng cấp 2 của Khu
Tổ hợp Samsung CE Complex (SEHC), tại TP. HCM và là doanh nghiệp Việt Nam duy nhất trong
hệ sinh thái các nhà cung ứng của Samsung tại Việt Nam, cung cấp bản mạch điện tử PCB thuộc
nhóm những linh kiện phức tạp, có giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ cao. Sau 3 tháng tham
gia chương trình tư vấn cải tiến, tỷ lệ hàng lỗi nội địa của Thành Long đã giảm 68,5%; tỷ lệ hoạt
động của thiết bị tăng 23,8% và chi phí tồn kho giảm 28,6%.
Công ty Cổ phần Hanel Xốp Nhựa (Hanel Plastics) hiện là nhà cung ứng cấp 1 của Samsung
Display Vietnam, chuyên sản xuất xốp, khuôn nhựa và ép nhựa. Kết quả tổng kết của quá trình tư