CHU NGHIA XA HOI KHOA HOC ĐE CUONG GIUA KI 1
Chủ nghĩa xã hội khoa học (Trường Đại học Ngoại thương)
Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
CHU NGHIA XA HOI KHOA HOC ĐE CUONG GIUA KI 1
Chủ nghĩa xã hội khoa học (Trường Đại học Ngoại thương)
Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
CHƯƠNG 2: SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN
Câu 1: So sánh GCCN hiện nay và GCCN thế kỷ XX (Liên hệ)
a. Khái niệm
- GCCN là một tập đoàn xã hội, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp
hiện đại; họ lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng hiện đại gắn liền với quá trình sản xuất vật
chất hiện đại; là đại biểu cho phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao. Họ là người làm
thuê do không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và bị GCTS bóc lột.
b. Đặc điểm
+ GCCN lao động bằng phương thức công nghiệp với đặc trưng công cụ lao động là máy móc, tạo ra năng
suất lao động cao
+ GCCN là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến phương thức sản xuất
hiện đại.
+ GCCN có những phẩm chất đặc biệt về tính tổ chức, kỷ luật lao động và tinh thần
hợp tác và tâm lý lao động công nghiệp. Đó là giai cấp cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để
c. So sánh
* Điểm tương đồng
- GCCN hiện nay có sự tương đồng nhất định với GCCN trong thời kỳ đầu, GCCN hiện nay vẫn là LLSX
hàng đầu của xã hội -> là chủ thể của quá trị sản xuất. Sự phát triển của GCCN tỉ lệ thuận với sự phát triển
kinh tế
- Bên cạnh đó, GCCN hiện nay vẫn bị giai cấp tư sản và CNTB bóc lột giá trị thặng dư. Dù họ được cải
thiện rất nhiều về lợi ích, cuộc sống, an sinh xã hội nhưng xung đột vẫn tồn tại, mức sống của họ tăng nhưng
không tương xứng với mức của cải vật chất họ tạo ra. Xung đột hiện nay lắng dịu hơn, nhưng luôn tồn tại.
Đồng thời, phong trào cộng sản và công nhân hiện nay vẫn là lực lượng tiên phong đi đầu trong phong
trào đứng lên đấu tranh vì dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội.
* Điểm tiến bộ, khác biệt
Tuy có những điểm tương đồng nhưng theo thời gian, GCCN hiện nay cũng đã có những bước tiến
bộ, khác biệt rất nhiều so với GCCN trước đây ở thế kỷ XIX
- Điều này được thể hiện qua xu hướng tri thức hóa của GCCN tăng nhanh; mọi thành viên trong GCCN
hiện nay đều có những hiểu biết rất nhiều về xã hội; công nhân dần dần làm chủ được TLSX; đặc biệt là tri
thức và công nghệ. Họ có thể chủ động hơn với cuộc sống, với cơ hội việc làm của mình. Họ có thể chuyển
đổi ngành nghề, nơi làm việc khi cảm thấy không hài lòng với môi trường làm việc, mức lương… Họ có khả
năng dễ dàng hơn trong việc tập hợp những con người có cùng mục tiêu với mình để phản kháng lại những
bất công.
- Vấn đề đấu tranh trở nên phong phú hơn. Đấu tranh vũ trang lắng dịu xuống, GCCN đấu tranh với mục
tiêu giành lại quyền lợi trong những vấn đề nảy sinh trực tiếp trong đời sống thông qua phương thức đấu
tranh phong phú như biểu tình, bãi công… Một trong những lý do của sự lắng dịu đó là sự trung lưu hóa
tăng nhanh. Họ được tham gia vào sở hữu cổ phần trong công ty, doanh nghiệp, nhà máy. Họ cũng được tạo
điều kiện vay vốn, mua sắm, đầu tư… Điều này ràng buộc GCCN về mặt kinh tế với ông chủ tư bản, ảnh
hưởng đến sự đấu tranh của họ.
- GCCN vẫn giữ vai trò lãnh đạo tiên phong trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Hiện nay, hao phí LĐ trí tuệ là nguồn chủ yếu tạo thành GTTD, trình độ XH hóa của NDLĐ có biểu hiện
hoàn toàn mới thông qua xu hướng toàn cầu hóa; GCCN cũng tăng nhanh về số lượng, thay đổi lớn về cơ
cấu trong nền sx hiện đại.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
- Bên cạnh đó, xu hướng chuyên môn thuần túy đồng hành với tích cực hóa chính trị - xã hội của
GCCN. Nếu như trước đây, các hoạt động chính trị xã hội của họ chủ yếu là vấn đề đấu tranh, thì hiện nay,
đó chủ yếu là tham gia vào quá trình thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của các nước tư bản đề ra.
- Xu hướng bản địa hóa, dân tộc hóa đồng hành với chủ nghĩa quốc tế của GCCN: Nhiều người luôn
muốn trở thành 1 công dân của xã hội phương Tây, điều đó ảnh hưởng đến an sinh xã hội. Do đó, giai cấp
công nhân ở các nước tư bản có xu hướng bản địa hóa, dân tộc hóa, bảo vệ chính mình, muốn giữ được tình
hình chính trị xã hội ổn định không bị ảnh hưởng bởi những vấn đề bên ngoài quốc gia. Không giống với
quan hệ giữa công nhân thế giới trước đây, chỉ quan hệ với nhau để đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột.
GCCN hiện nay có nhiều sự chuyển biến, có tốt lên, và cũng có những biểu hiện suy thoái, lung lay trong
lập trường
Cần có tỉnh táo và nhận thức rõ hơn về vấn đề áp bức bóc lột, ý chí và sự đoàn kết
Câu 2: Phân tích sự khác nhau trong việc thực hiện Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam
hiện nay so với thời kỳ đầu thế kỷ XX. Cần có giải pháp gì để phát huy vai trò lực lượng sản xuất đi đầu
của giai cấp công nhân trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước gắn với cách mạng công
nghiệp hiện nay?
a. Khái niệm và đặc điểm
- Khái niệm: GCCN là một tập đoàn xã hội, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền
công nghiệp hiện đại; họ lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng hiện đại gắn liền với quá trình
sản xuất vật chất hiện đại; là đại biểu cho phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao. Họ
là người làm thuê do không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và bị GCTS bóc lột
- Đặc điểm:
+ GCCN lao động bằng phương thức công nghiệp với đặc trưng công cụ lao động là máy móc, tạo ra năng
suất lao động cao
+ GCCN là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến và phương thức sản xuất hiện đại.
+ GCCN có những phẩm chất đặc biệt về tính tổ chức, kỷ luật lao động và tinh thần hợp tác và tâm lý lao
động công nghiệp. Đó là giai cấp cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để.
b. SMLS của GCCN VN
- Tại Hội nghị 6 BCHTW khoá X, Đảng ta xác định “GCCN VN là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát
triển, bao gồm những người lao động chân tay và lao động trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình
sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp.
- Phân tích sự khác nhau (câu 1)
- Đặc điểm:
+ Về sự ra đời: Gắn liền với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, ra đời trước giai cấp tư sản
+ Về nguồn gốc xã hội: Chủ yếu xuất thân từ nông dân và các tầng lớp lao động khác -> có sự gắn bó mật
thiết
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
+ Về quan hệ với các giai tầng khác: Có lợi ích đối kháng với tư bản thực dân Pháp và bè lũ tay sai, liên
minh với nông dân, tri thức.
+ Về tư tưởng chính trị: Là lực lượng chính trị tiên phong để lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
- Nội dung
+ Kinh tế:
GCCN là nguồn nhân lực lao động chủ yếu tham gia phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, lấy khoa học công nghệ làm động lực quan trọng.
GCCN có sứ mệnh đảm bảo tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,
thực hiện hài hòa lợi ích cá nhân - tập thể và xã hội.
GCCN là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, thực hiện thắng lợi mục
tiêu CNH-HĐH
Phát triển nền kinh tế CNH-HĐH phải gắn liền với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên và
môi trường
Thực hiện khối liên minh công - nông - tri thức để tạo ra động lực phát triển
+ Chính trị - xã hội
Giữ vững bản chất GCCN của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên
Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ (sự hội nhập, môi trường sống, internet,
mxh, trình độ nhận thức,….). VD: Đồng bào ở Tây Nguyên đã nổi loạn cuộc chiến Đề ga TN vì trình
độ nhận thức và mức sống thấp.
Yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nâng cao trách nhiệm tiên phong, đi đầu, góp phần củng cố
và phát triển cơ sở chính trị - xã hội quan trọng của Đảng, đồng thời tích cực xây dựng, chỉnh đốn
Đảng
+ Văn hóa tư tưởng
Xây dựng nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, có nội dung cốt lõi là xây dựng con
người mới xã hội chủ nghĩa. Văn hóa là sợi chỉ đỏ gắn kết con người VN trong thời đại mới
Tích cực đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của con người Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Yêu cầu giai cấp công nhân phải thường xuyên giáo dục cho thế hệ công nhân và lao động trẻ ở
nước ta về ý thức giai cấp, bản lĩnh chính trị, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống lại sự xuyên tạc chống phá của các thế lực thù địch
c. Giải pháp
Từ việc phân tích sứ mệnh lịch sử của GCCN VN, chúng ta rút ra những giải pháp để phát huy vai
trò lực lượng sản xuất đi đầu của GCCN trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với
cách mạng công nghiệp hiện nay như sau:
1. Nâng cao nhận thức, kiên định quan điểm GCCN là giai cấp lãnh đạo thông qua đội tiền phong là ĐCS
VN
- Sự lớn mạnh của GCCN là 1 điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
2. Xây dựng GCCN lớn mạnh, gắn với xây dựng và phát huy sức mạnh của khối liên minh công - nông - trí
thức.
- Đảng đề ra phát huy vai trò GCCN trong khối đại đoàn kết dân tộc - là động lực chủ yếu của sự phát triển
đất nước, đồng thời tăng cường quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế với GCCN trên toàn thế giới.
3. Thực hiện chiến lược xây dựng GCCN lớn mạnh gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế
- Đảng đẩy mạnh xử lý đúng đắn MQH giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và
chăm lo xây dựng GCCN, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân, quan tâm giải
quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của GCCN.
4. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt cho giai cấp công nhân, không ngừng trí thức hoá giai cấp
công nhân.
- Đảng chú trọng quan tâm đến việc xây dựng thế hệ công nhân trẻ, có học vấn, chuyên môn và kỹ năng
nghề nghiệp cao, ngang tầm khu vực và quốc tế, có lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng, trở
thành bộ phận nòng cốt của GCCN.
5. Xây dựng GCCN lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và là sự nỗ lực vươn
lên của bản thân mỗi người công nhân.
- Sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước có vai trò quyết định, công đoàn có vai trò quan trọng
trực tiếp trong chăm lo xây dựng GCCN
Cách mạng công nghiệp 4.0 với những tiền đề mà nó tạo ra sẽ cho thấy những bước tiến mới của chủ
nghĩa xã hội hiện thực. Hiện nay, hầu hết các quốc gia đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa đều
rất quan tâm và quyết tâm mạnh mẽ hướng tới Cách mạng công nghiệp 4.0. Đây cũng là một con đường để
phát triển rút ngắn, để xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra nhiều vấn đề mới, từ quá trình vận động tự thân và
việc bị các thế lực lợi dụng vào những mưu đồ phản tiến bộ, phản văn hóa. Tuy nhiên, tiến bộ xã hội có đủ
sức mạnh để lựa chọn biện pháp tối ưu để giải quyết. Như Giáo Sư K. Sô-áp khẳng định: “Tôi vững tin rằng
kỷ nguyên công nghệ mới, nếu được định hình một cách tích cực và có trách nhiệm, sẽ có thể là một chất
xúc tác cho một cuộc phục hưng văn hóa mới”. Cũng có thể nói như vậy với sứ mệnh lịch sử toàn thế giới
của giai cấp công nhân và chủ nghĩa xã hội ở thế kỷ XXI
Câu 3:Tại sao nói Đảng là nhân tố tiên quyết quan trọng cho việc thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử
của gc công nhân. Liên hệ Việt Nam
Khái niệm: GCCN là một tập đoàn xã hội, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển
của nền công nghiệp hiện đại; họ lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng hiện đại gắn liền với
quá trình sản xuất vật chất hiện đại; là đại biểu cho phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng
cao. Họ là người làm thuê do không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và bị GCTS bóc
lột
Đặc điểm: Đặc điểm nổi bật của GCCN là lao động bằng phương thức công nghiệp với đặc trưng
công cụ lao động là máy móc, tạo ra năng suất lao động cao, quá trình lao động mang tính chất xã hội hóa
cao. GCCN là sản phẩm của nền đại công nghiệp, là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất hiện đại. Do đó,
họ là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến và phương thức sản xuất hiện đại, quyết định sự tồn tại và
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
phát triển của xã hội hiện đại. Nền sản xuất đại công nghiệp và phương thức sản xuất tiên tiến đã rèn luyện
cho giai cấp công nhân những phẩm chất đặc biệt về tính tổ chức, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác và tâm
lý lao động công nghiệp. Đó là một giai cấp cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để Những đặc
điểm ấy chính là những phẩm chất cần thiết để GCCN có vai trò lãnh đạo cách mạng.
Nội dung SMLS:
Một giai cấp mang sứ mệnh lịch sử có nghĩa là:
+ Giai cấp đứng ở vị trí trọng của thời đại
+ Đại diện cho phương thức sản xuất hiện đại
+ Đứng đầu về số lượng và nâng cao về chất lượng
ND khái quát: Sứ mệnh lịch sử tổng quát của GCCN (chỉ có ở GCCN thế kỷ 19)
+ Xóa bỏ tận gốc chế độ người bóc lột người, xóa bỏ xã hội Tư bản chủ nghĩa
+ Giải phóng GCCN và toàn thể nhân dân lao động vì họ là lực lượng chính trong xã hội. Chỉ khi họ
được trả lại sự tự do và có được tư liệu sản xuất thì họ mới có thể hoàn thành sứ mệnh của mình
+ Xây dựng xã hội cộng sản văn minh
ND cụ thể: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp này quy
định, nhưng để biến khả năng khách quan đó thành hiện thực thì phải thông qua nhân tố chủ quan của giai
cấp công nhân. Trong những nhân tố chủ quan đó thì việc thành lập Đảng Cộng sản, một đảng trung thành
với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức là nhân tố giữ
vai trò quyết định nhất bảo đảm cho giai cấp công nhân hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình.
Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiê
n thắng lợi sứ
nh lịch sử của mình.
a. Tính tất yếu của sự hình thành và phát triển chính đảng của giai cấp công nhân
Trong thực tế lịch sử, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản đã nổ ra
ngay từ khi chủ nghĩa tư bản hình thành và phát triển, theo quy luật có áp bức có đấu tranh. Mặc dù phong
trào công nhân có thể phát triển về số lượng, quy mô cuộc đấu tranh có thể được mở rộng nhưng cuối cùng
đều bị thất bại vì thiếu một lý luận khoa học và cách mạng soi đường. Chỉ khi nào giai cấp công nhân đạt
đến trình độ tự giác bằng cách tiếp thu lý luận khoa học và cách mạng thì lúc đó phong trào đấu tranh của
giai cấp này mới thật sự là phong trào mang tính chất chính trị. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ khi đi
vào phong trào công nhân mới được biến thành sức mạnh vật chất để lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây
dựng xã hội mới. Như vậy, đảng cộng sản là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân.
Khi đảng cộng sản ra đời, thông qua sự lãnh đạo của đảng, giai cấp công nhân nhận thức được vai
trò, vị trí của mình trong xã hội, hiểu được con đường, biện pháp đấu tranh cách mạng, từ đó tập hợp được
đông đảo quần chúng nhân dân lao động, thực hiện việc lật đổ chủ nghĩa tư bản, giải phóng giai cấp mình,
giải phóng toàn xã hội và tổ chức xây dựng xã hội mới về mọi mặt.
Đảng cộng sản muốn hoàn thành vai trò lãnh đạo cách mạng thì trước hết phải luôn luôn chăm lo xây
dựng về tư tưởng và tổ chức, phải luôn luôn làm cho đảng vững mạnh về chính trị, không ngừng nâng cao về
trí tuệ, gắn bó với quần chúng nhân dân, có năng lực lãnh đạo và hoạt động thực tiễn.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
b) Mối quan hệ giữa đảng cộng sản và giai cấp công nhân
Đảng cộng sản là tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích và trí tuệ của
giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: "Những người
cộng sản không phải là một đảng riêng biệt, đối lập với các đảng công nhân khác. Họ tuyệt nhiên không có
một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản" .
Đảng Cô
ng sản – đô
i tiên phong của giai cấp công nhân ra đời và đảm nhâ
n vai trò lãnh đạo cuô
c
cách mạng là dấu hiê
u về sự trưởng thành vượt bâ
c của giai cấp công nhân với tư cách là giai cấp cách
mạng.
Quy luâ
t chung, phổ biến cho sự ra đời của Đảng Cô
ng sản là sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hô
i khoa
học, tức chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân.
Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội của đảng cộng sản, là nguồn bổ sung lực lượng phong phú cho
đảng cộng sản. Những đảng viên của đảng là những người công nhân giác ngộ lý tưởng cách mạng, được
trang bị lý luận cách mạng, tự giác gia nhập đảng và được các tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công
nhân giới thiệu cho đảng. Trong hàng ngũ của đảng có những đảng viên không phải là công nhân, nhưng
phải là người giác ngộ về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và luôn luôn phải đứng trên lập trường,
trên lợi ích của giai cấp công nhân.
Với một đảng cộng sản chân chính thi sự lãnh đạo của đảng cũng chính là sự lãnh đạo của giai cấp
công nhân. Giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo của mình thông qua đảng cộng sản. Tuy nhiên,
không thể đồng nhất đảng cộng sản với giai cấp công nhân. Đảng là một tổ chức chính trị chỉ tập trung
những công nhân tiên tiến, giác ngộ lý tưởng cách mạng, được trang bị lý luận cách mạng, do vậy đảng trở
thành đội tiên phong chiến đấu, lãnh tụ chính trị và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân.
Là đội tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đảng cộng sản có sự tiên
phong về lý luận và hành động. Trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, căn cứ vào thực tiễn của đất nước
trong mỗi giai đoạn cách mạng, đảng cộng sản phải đưa ra được cương lĩnh, đường lối cách mạng phù hợp
với mỗi giai đoạn cách mạng. Cán bộ, đảng viên phải nắm được quan điểm, đường lối của đảng để phổ biến
tuyên truyền tới quần chúng nhân dân, phải thông qua hành động tiên phong gương mẫu mà lôi kéo quần
chúng và các phong trào cách mạng.
GCCN là cơ sở xã hô
i và nguồn bổ sung lực lượng quan trọng nhất của Đảng, làm cho Đảng mang
bản chất giai cấp công nhân trở thành đô
i tiên phong, bô
tham mưu chiến đấu của giai cấp. Đảng Cô
ng sản
đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tô
c và xã hô
i. Sức mạnh của Đảng không
chỉ thể hiê
n ở bản chất giai cấp công nhân mà còn ở mối liên hê
t thiết giữa Đảng với nhân dân, với quần
chúng lao đô
ng đông đảo trong xã hô
i, thực hiê
n cuô
c cách mạng do Đảng lãnh đạo để giải phóng giai cấp
và giải phóng xã hô
i.
Đảng cộng sản là lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng viên là những
người được trang bị lý luận, nắm được quan điểm, đường lối của đảng, do vậy "họ hơn bộ phận còn lại của
giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản". Cán
bộ, đảng viên phải tuyên truyền phổ biến quan điểm, đường lối của đảng tới các tầng lớp nhân dân làm cho
quần chúng nhân dân hiểu và phải bằng hành động gương mẫu của mình để tập hợp, lôi cuốn quần chúng
nhân dân vào các phong trào cách mạng.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
Đảng cộng sản có những lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của giai cấp công nhân và quần chúng
nhân dân lao động, vì thế đảng có thể thực hiện giác ngộ quần chúng nhân dân, đưa họ tham gia các phong
trào cách mạng. Có tập hợp được quần chúng nhân dân, huy động được quần chúng tham gia các phong trào
cách mạng thì những chủ trương, đường lối của đảng mới được thực hiện và khi đó đảng mới có sức mạnh,
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mới thực hiện được.
Đảng cộng sản là bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và cả dân tộc. Khi nói tới vai trò
tham mưu chiến đấu của đảng là muốn nói tới vai trò đưa ra những quyết định của đảng, nhất là trong những
thời điểm lịch sử quan trọng. Những quyết định đúng đắn sẽ tạo điều kiện đưa phong trào cách mạng tiến
lên, ngược lại có thể gây ra những tổn thất cho cách mạng. Sở dĩ đảng cộng sản trở thành đội tham mưu
chiến đấu của giai cấp công nhân vì đảng bao gồm những người tiên tiến trong giai cấp công nhân, được
trang bị lý luận khoa học, cách mạng và là những người được tôi luyện từ trong thực tiễn phong trào cách
mạng.
Câu 4: Trình bày về nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và những điều kiện khách quan,
nhân tố chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Liên hệ công nhân Việt Nam.
Phương hướng xây dựng GCCN Việt Nam
B1: Khái niệm GCCN -> Nội dung (khái quát + cụ thể) sứ mệnh lịch sử GCCN
B2: Những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử của GCCN:
a. Điều kiện khách quan
- Do địa vị kinh tế của GCCN
+ GCCN là sản phẩm và chủ thể của nền công nghiệp hiện đại, số lượng, chất lượng và cơ cấu giai
cấp công nhân tăng lên không ngừng. Vì thế, GCCN là bộ phận quan trọng nhất, CM nhất trong các bộ phận
cấu thành nên LLSX của CNTB. Lênin khẳng định “LLSX hàng đầu của toàn nhân loại là công nhân, là
người LĐ”
+ GCCN đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, PTSX mới, tiến bộ và là lực lượng quyết định đến
việc phá vỡ QHSX tư bản chủ nghĩa, xây dựng QHSX mới.
- Thứ hai: Do địa vị CT - XH của GCCN
+ Lợi ích: đối lập trực tiếp với lợi ích của giai cấp tư sản thống nhất với lợi ích cơ bản của đa số nhân
dân lao động. Trong nền sản xuất TBCN, GCCN là những người không có hoặc về cơ bản là không có
TLSX, họ phải bán SLĐ cho nhà tư bản và bị bóc lột GTTD. Vì vậy GCCN có lợi ích cơ bản đối lập trực
tiếp với lợi ích của GCTS, dẫn đến mâu thuẫn giữa GCCN và GCTS. Mâu thuẫn này ngày càng gay gắt,
không thể điều hòa được, đòi hỏi GCCN phải đứng lên đấu tranh chống lại GCTS
+ GCCN có tính kỉ luật tốt, tự giác và đoàn kết trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải
phóng xã hội bởi họ LĐ trong nền sx đại công nghiệp với hệ thống sản xuất mang tính chất dây chuyền và
nhịp độ khẩn trương nên họ phải tuân thủ nghiêm ngặt kỉ luật LĐ cùng với cuộc sống đô thị tập trung tạo
nên tính kỷ luật chặt chẽ cho GCCN.
+ GCCN là giai cấp tiên phong cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để. Điều này xuất phát từ
sự ra đời của GCCN, họ là LLSX chính trong các nhà máy xí nghiệp, làm việc trong điều kiện công nghiệp,
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
họ là những người LĐ không SH bất kì TLSX nào, bị CNTB bóc lột triệt để GTTD. Chính vì vậy, GCCN
luôn mang trong mình tinh thần đấu tranh triệt để bởi họ không có gì để mất ngoài SLĐ và nỗi khổ nếu họ
vùng lên đấu tranh
+ GCCN có bản chất quốc tế bởi ở đâu thì họ cũng đều bị áp bức bóc lột như nhau nên họ phải đoàn
kết với nhau để đấu tranh thay vì đứng riêng lẻ làm CM ở mỗi quốc gia của mình.
b. Điều kiện chủ quan
- Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng. Nền sx vật chất hiện đại trên
nền tảng của công nghiệp, kỹ thuật và công nghệ đang ngày càng mở rộng quy mô, kéo theo đó là sự lớn
mạnh về số lượng của GCCN. Sự phát triển về số lượng phải gắn liền với sự phát triển về chất lượng, đó là
phải nâng cao cả về ý thức chính trị và về trình độ chuyên môn. GCCN phải tự giác nhận thức được vai trò
và trọng trách của giai cấp mình đối với lịch sử, do đó GCCN phải thấy được tình trạng của mình là đang bị
bóc lột và phải được giác ngộ về lý luận khoa học và CM CN MLN. Bên cạnh đó, chất lượng của GCCN
còn được thể hiện ở năng lực và trình độ làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Trình độ học
vấn, tay nghề, bậc thợ của công nhân, văn hóa sx, vh LĐ đáp ứng yêu cầu kinh tế tri thức là những thước đo
quan trọng về sự phát triển chất lượng của GCCN hiện đại.
- Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để GCCN thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của
mình
- Liên minh giai cấp giữa các giai cấp trong xã hội
B3: Liên hệ:
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, là những nhận thức mới về giai cấp công nhân hiện
nay, cụ thể:
Thứ nhất: Quá trình công nghiệp hóa cùng với cải cách, đổi mới đang tạo ra nhiều đặc điểm mới cho giai
cấp công nhân.
– Sự phát triển của giai cấp công nhân ở “các nước đang chuyển đổi” hiện nay còn là kết quả của sự kết hợp
các cơ chế, quy luật của kinh tế thị trường với vai trò của nhà nước và thành phần kinh tế nhà nước. Công
nhân không chỉ là sản phẩm của công nghiệp hóa mà còn là kết quả tổng thành của chế độ chính trị và cơ
chế kinh tế thị trường.
– Tư duy mới về chính trị có thể thúc đẩy sự phát triển của giai cấp công nhân. Chế độ Xã hội chủ nghĩa đã
tạo ra một chất lượng mới, quy mô và tốc độ mới cho công nghiệp hóa.
Thứ hai: Kinh tế thị trường làm cho cơ cấu giai cấp công nhân ngày càng đa dạng hơn.
– Nhận thức mới về vai trò của kinh tế thị trường là tạo a một không gian rộng mở hơn cho sự phát triển về
nhiều mặt của giai cấp công nhân với nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia quá trình công nghiệp hóa.
Thứ ba: Một bộ phận lớn công nhân hiện nay xuất thân từ đô thị.
– Đô thị hóa làm xuất hiện ngày càng đông đảo hơn đội ngũ lao động làm thuê, vốn có mặt từ thời “Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản”, gồm: bác sĩ, luật gia, tu sĩ, thi sĩ, bác học đều bị giai cấp tư sản biến thành người
làm thuê… Song hiện nay họ đông đúc hơn, đa dạng hơn với hàng nghìn ngành, nghề khác nhau. Xét về cơ
cấu nghề nghiệp, các nhà nghiên cứu đều thấy sự tăng lên của những nhóm lao động dịch vụ mới.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
– Họ là những người kết hợp cả lao động chân tay với lao động trí óc. Trong các quốc gia phát triển đã xuất
hiện một cơ cấu xã hội mới với vai trò mới của trí thức, công nhân trí thức. Cũng bởi thế, ở nhiều nước phát
triển hiện nay (những nước G& lao động nông nghiệp hoặc nông dân chỉ chiếm từ 2% – 3% lực lượng lao
động) liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân đã không còn cơ sở xã hội như thế kỷ XIX và
thay vào đó là liên minh giữa những người lao động, mà chủ yếu là hai nhóm lao động đông đảo ở đô thị là
sản xuất công nghiệp và dịch vụ bằng phương thức công nghiệp.
Thứ tư: Đô thị là nơi mà đấu tranh giai cấp hiện đại bộc lộ tính điển hình của nó. Ph.Ăngghen viết: “Các
thành phố lớn là nơi bắt nguồn của phong trào công nhân: nơi đây công nhân lần đầu tiên đã bắt đầu suy
nghĩ về tình cảnh của mình và đấu tranh dể thanh đổi nó, nơi đây sự đối lập về lợi ích giữa giai cấp vô sản và
giai cấp tư bản lần đầu đã biểu lộ ra, nơi đây những liên đoàn lao động, phong trào Hiến chương và chủ
nghĩa xã hội đã ra đời…”
B4: Về Phương hướng: (Nêu ra trong Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam)
- Phát triển GCCN cả về mặt số lượng và chất lượng, nâng cao bản lĩnh chính trị.
- Giải quyết việc làm, giảm tối đa công nhân thiếu việc làm và tốt nghiệp.
- Thực hiện tốt chính sách và pháp luật về lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
- Xây dựng tổ chức, phát triển đoàn viên, công đoàn, nghiệp đoàn ở các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các
thành phần kinh tế.
- Chăm lo, đào tạo cán bộ và kết nạp Đảng viên từ những công nhân ưu tú
CHƯƠNG III: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Câu 1: Phân tích tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH? Tại sao nói đi lên XHCN ở Việt Nam là tất
yếu lịch sử?
- Quan niệm thời kỳ quá độ: TKQĐ từ CNTB lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc toàn diện
trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần cần thiết để hình thành một
xã hội mà trong đó những nguyên tắc căn bản của xã hội XHCN sẽ được thực hiện.
Tính khách quan của thời kỳ quá độ lên CNXH:
- XH còn tồn tại rất nhiều tàn dư của XH cũ (XH cũ và mới tồn tại đan xen), Trong XH cũ còn tồn tại những
phong tục lạc hậu, vẫn ăn sâu bám rễ vào tư tưởng của quần chúng nhân dân
- Là thời kì lâu dài, khó khăn, phức tạp và mỗi quốc gia xây dựng CNXH có con đường và thời gian khác
nhau
- Đòi hỏi GCCN cần làm 1 cuộc cải biến trên tất cả các lĩnh vực để thực hiện mục tiêu của CNXH
* Tất yếu khách quan
- Một là, CNXH và CNTB là 2 chế độ xã hội khác nhau về bản chất.
Trên lĩnh vực kinh tế, trong khi CNTB được xây dựng trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất,
thì CNXH dựa trên sự công hữu về tư liệu sản xuất,
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
Trên lĩnh vực chính trị, CNTB duy trì áp bức, bóc lột và tồn tại những mâu thuẫn đối kháng về giai
cấp, CNXH không còn tình trạng áp bức, bóc lột, các mâu thuẫn đối kháng được giải quyết hài hòa.
Trên lĩnh vực văn hóa, CNTB xây dựng hệ tư tưởng GCVS còn CNXH theo hệ tư tưởng GCCN Rõ
ràng là bản chất của 2 xã hội đã rất khác nhau, vì thế không thể ngay lập tức xóa bỏ CNTB để đi lên CNXH
mà cần phải có 1 thời kỳ lịch sử nhất định ở giữa 2 chế độ xã hội khác nhau. Bất kỳ quá trình chuyển biến từ
một xã hội này lên một xã hội khác đều nhất định phải trải qua một thời kỳ gọi là thời kỳ quá độ. Đó là thời
kỳ còn có sự đan xen lẫn nhau giữa các yếu tố mới và cũ trong cuộc đấu tranh với nhau.
- Hai là, sự ra đời của một xã hội mới bao giờ cũng có những sự kế thừa nhất định từ những nhân tố
do xã hội cũ tạo ra. Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là sự kế thừa đối với chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là trên
phương diện kế thừa cơ sở vật chất kỹ thuật đã được tạo ra bởi sự phát triển của nền đại công nghiệp tư bản
chủ nghĩa. Tuy nhiên, cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội mặc dù cũng là nền sản xuất đại công nghiệp
nhưng đó là nền sản xuất đại công nghiệp xã hội chủ nghĩa chứ không phải là nền đại công nghiệp tư bản
chủ nghĩa. Do đó nó cũng cần phải có thời kỳ quá độ của bước cải tạo, kế thừa và tái cấu trúc nền công
nghiệp tư bản chủ nghĩa.
- Ba là, các quan hệ xã hội của CNXH (đặc biệt là QH sản xuất) không tự phát nảy sinh trong lòng
chủ nghĩa tư bản, chúng là kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của chủ
nghĩa tư bản, dù đã ở trình độ cao cũng chỉ có thể tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự hình thành các quan
hệ xã hội mới xã hội chủ nghĩa, đo vậy cũng cần phải có thời gian nhất định để xây dựng và phát triển những
quan hệ đó.
- Bốn là, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một công việc mới mẻ, khó khăn và phức tạp. Với tư cách
là người chủ của xã hội mới, giai cấp công nhân và nhân dân lao động không thể ngay lập tức có thể đảm
đương được công việc ấy, nó cần phải có thời gian nhất định.
=> Thuận theo quy luật “ tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội"
* Đi lên XHCN ở Việt Nam là tất yếu lịch sử vì:
Theo Mác – Lênin, có 2 cách thức quá độ lên CNXH: cách trực tiếp là các nước CNTB phát triển ở trình độ
cao quá độ lên CNXH, cách gián tiếp từ CNTB lên CNXH đối với những nước chưa trải qua chủ nghĩa tư
bản phát triển. Việt Nam đã chọn con đường gián tiếp quá độ từ nước thuộc địa nửa pk, nông nghiệp lạc hậu.
Thời kỳ quá độ lên CNXH của Việt Nam có những đặc điểm như sau:
- Xuất phát từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp. Đất nước trải qua
chiến tranh ác liệt, kéo dài nhiều thập kỷ, hậu quả để lại còn nặng nề. Những tàn dư thực dân, phong kiến
còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa và nền độc lập dân
tộc của nhân dân ta. Trong bối cảnh lịch sử ấy, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước, qua quan sát
và tìm hiểu chủ nghĩa tư bản, tìm hiểu cuộc sống của người dân ở chính quốc và các nước thuộc địa. Người
đi đến kết luận, cách mạng giải phóng dân tộc Mỹ, cách mạng tư sản Pháp đều là những cuộc cách mạng
đại, nhưng chưa đến nơi, vì cách mạng thành công chỉ đem lại lợi ích cho thiểu số, còn đông đảo quần chúng
lao động vẫn chịu áp bức, bóc lột. Từ tiếng vang của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc đã
tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Qua nghiên cứu, phân tích một cách thấu đáo, Người đi đến kết luận:
Con đường cứu nước giải phóng dân tộc Việt Nam chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản.
- Trên thế giới, Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các
nước ở mức độ khác nhau. Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hoá sâu
sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời cơ
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt. Những quốc gia chưa có sự chuẩn bị kỹ
cho quá trình toàn cầu hóa dễ dàng bị tụt lại phía sau, và ngày càng lạc hậu do không theo kịp nhịp điệu phát
triển của các quốc gia khác. Căn cứ vào quan điểm của Chủ nghĩa Mác -Lênin, ở những nước nghèo nàn lạc
hậu, chậm phát triển về kinh tế vẫn có khả năng tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội mà không phải trải qua chế
độ tư bản chủ nghĩa.
- Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, cho dù chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng
tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân
dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách
thức, song theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội. Do đó, con
đường lựa chọn của Việt Nam là đi lên xây dựng hình thái KT - XH cộng sản CN là sự lựa chọn đúng đắn,
đúng quy luật phát triển khách quan
- Thực tiễn cũng cho thấy, từ khi có Đảng Cộng sản, với đường lối cách mạng đúng đắn – độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên đánh bại thực dân, đế quốc xâm lược,
giành độc lập tự do cho dân tộc, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Tiếp đó,
Đảng lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa
lịch sử, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao với mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; đất nước ta chưa bao giờ có được vận hội và cơ đồ như ngày
hôm nay.
=> Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng, khoa học,
phản ánh đúng quy luật phát triển khách quan của cách mạng Việt Nam trong thời đại ngày nay. Cương lĩnh
năm 1930 của Đảng đã chỉ rõ: Sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, sẽ tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn dứt khoát và đúng đắn của Đảng, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của dân
tộc, nhân dân, phản ánh xu thế phát triển của thời đại, phù hợp với quan điểm khoa học, cách mạng và sáng
tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin
Câu 2: Phân tích những đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH. Những đặc điểm ấy thể hiện ở Việt
Nam như thế nào?
* Là thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội tiền TBCN và TBCN sang xã hội XHCN. Xã hội của thời kỳ quá
độ là xã hội có sự đan xen của nhiều tàn dư về mọi phương diện Kinh tế, đạo đức, tinh thần của chủ nghĩa tư
bản và những yếu tố mới mang tính chất XHCN của CNXH mới phát sinh
a. Lĩnh vực kinh tế
Còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong đó có cả những thành phần kinh tế đối lập với KT XHCN
Cái mới Tàn dư
Thành phần kinh tế nhà nước phải giữ vai
trò chủ đạo để dẫn dắt nền kinh tế phát triển
theo đúng định hướng XHCN, thành phần
kinh tế tập thể phải giữ vai trò nền tảng
Còn tồn tại những thành phần kinh tế đối lập
với CNXH: Kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế
cá thể tiểu chủ, kinh tế hộ gia đình, kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài
=> Tồn tại đan xen nhiều thành phần kinh tế
=> Các thành phần kinh tế này luôn đấu tranh và cạnh tranh nhau khốc liệt trong đó kinh tế nhà nước XHCN
giữ vai trò chủ đạo
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
b. Lĩnh vực chính trị
Thiết lập và tăng cường chuyên chính vô sản -> Thực hiện dân chủ với nhân dân, chuyên chính thế
lực thù địch, chống lại nhân dân
Cái mới Tàn dư
- Nhà nước XHCN dần đến được hình thành
và củng cố, hoàn thiện
- Trong xã hội còn tồn tại nhiều giai cấp,
tầng lớp; xã hội do cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần quyết định; do nhiều hình thức
sở hữu quyết định; các giai cấp vừa liên
minh hợp tác, vừa đấu tranh với nhau
Các tồn tại của giai cấp thống trị mới bị
đánh đổ nhưng vẫn duy trì âm mưu khôi
phục lại địa vị cũ
=> Là thời kỳ mà cuộc đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra quyết liệt phức tạp giữa giai cấp công nhân và
nhân dân lao động với giai cấp tư sản, giữa con đường đi lên CNXH hay CNTB
c. Lĩnh vực văn hóa tư tưởng
Còn tồn tại những tàn dư của nền văn hóa cũ và nhân tố của nền văn hóa mới. XHCN đan xen, đấu
tranh với nhau, trong đó nền văn hóa mới XHCN ngày càng phát triển và giữ vai trò chủ đạo
Cái mới Tàn dư
Hệ tư tưởng GCCN dần dần giữ vai trò chủ
đạo trong đời sống tinh thần của xã hội
Nền văn hóa mới, lối sống mới, con người
mới XHCN đang được hình thành
Còn tồn tại các tư tưởng phản động trong xã
hội, các phong tục tập quán, hủ tục lạc hậu
* Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam (hoặc đề hỏi NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ QUÁ ĐỘ
LÊN CNXH Ở VIỆT NAM)
Đại Hội IX của ĐCSVN xác định: con đường đi lên của nước ta là quá độ lên CNXH bỏ qua tư
bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng
tư bản chủ nghĩa nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới tư bản chủ
nghĩa, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh
tế hiện đại.
Thứ nhất, quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là con đường Cách mạng tất yếu khách quan.
Thứ hai, quá độ lên cnxh bỏ qua cđ tbcn tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản
xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN. Điều đó có nghĩa là trong thời kỳ quá độ còn nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế, song sở hữu tư nhân tbcn và thành phần kinh tế tư nhân tbcn không chiếm vai
trò chủ đạo; TKQĐ còn nhiều hình thức phân phối, ngoài phân phối theo lao động là chủ đạo còn phân
phối theo mức độ đóng góp và quỹ phúc lợi xã hội; thời kỳ quá độ vẫn còn quan hệ bóc lột, song quan hệ
bóc lột tbcn không giữ vai trò thống trị
Thứ ba, quá độ lên CNXH bỏ qua TBCN đòi hỏi phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân
loại đã đạt được dưới cntb, đbl những thành tựu về khoa học công nghệ, thành tựu về quản lý để phát triển
xã hội, đặc biệt là nền kinh tế hiện đại, phát triển nhanh lực lượng sản xuất.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
Thứ tư, quá độ lên CNXH bỏ qua TBCN là tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh
vực, là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế,
xã hội có tính chất quá độ, đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị cao và khát vọng lớn của toàn Đảng, toàn
dân.
Câu 3: Trình bày những đặc trưng bản chất của CNXH. Liên hệ với công cuộc xây dựng CNXH
ở VN và trách nhiệm của sinh viên.
* Trình bày:
1. Chủ nghĩa xã hội giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng con người, tạo
điều kiện để con người phát triển toàn diện.
V.I.Lênin, trong điều kiện mới của đời sống chính trị - xã hội thế giới đầu thế kỷ XX, đồng thời từ
thực tiễn của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga xô - viết đã cho rằng, mục đích cao nhất,
cuối cùng của những cải tạo xã hội chủ nghĩa là thực hiện nguyên tắc: làm theo năng lực, hưởng theo nhu
cầu.
V.I.Lênin cũng khẳng định mục đích cao cả của chủ nghĩa xã hội cần đạt đến là xóa bỏ sự phân chia
xã hội thành giai cấp, biến tất cả thành viên trong xã hô i thành người lao động, tiêu diệt cơ sở của mọi tình
trạng người bóc lột người. V.I.Lênin còn chỉ rõ trong quá trình phấn đấu để đạt mục đích cao cả đó, giai cấp
công nhân, chính Đảng Cộng sản phải hoàn thành nhiều nhiệm vụ của các giai đoạn khác nhau, trong đó có
mục đích, nhiệm vụ cụ thể của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội - tạo ra các điều kiện về cơ sở vật chất -
kỹ thuật và đời sống tinh thần để thiết lập xã hội cộng sản.
2. Chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về
tư liệu sản xuất chủ yếu
Đây là đặc trưng về phương diện kinh tế của CNXH. CNXH là xã hội có nền kinh tế phát triển cao
với lực lượng sản xuất hiện đại, quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, được tổ chức
quản lý có hiệu quả, năng suất lao động cao và phân phối chủ yếu theo lao động. Tuy nhiên, trong giai đoạn
đầu của xã hội XHCN thì không thể lập tức thủ tiêu chế độ tư hữu mà phải từng bước xác lập chế độ công
hữu về TLSX và phải tạo ra quan hệ sản xuất tiến bộ, thích ứng với trình độ phát triển của LLSX.
3. Chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội do nhân dân lao động làm chủ.
Đây là đặc trưng thể hiện thuộc tính, bản chất của xã hội XHCN, xã hội vì con người và do con
người; nhân dân mà nòng cốt là nhân dân lao động là chủ thể xã hội thực hiện quyền làm chủ ngày càng
rộng rãi và đầy đủ trong quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Chủ nghĩa xã hội là một chế độ
chính trị dân chủ. Nhà nước xã hội chủ nghĩa với hệ thống pháp luật và hệ thống tổ chức ngày càng hoàn
thiện sẽ quản lý xã hội ngày càng hiệu quả.
4. Chủ nghĩa xã hội có nhà nước kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, đại diện cho lợi ích, quyền lực
và ý chí của nhân dân lao động
Theo Lênin, chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản là một chính quyền do giai cấp vô sản
giành được từ tay giai cấp tư sản. Chính quyền này chính là nhà nước kiểu mới thực hiện dân chủ cho tuyệt
đại đa số nhân dân và trấn áp bằng vũ lực đối với bọn bóc lột, áp bức nhân dân. Nhà nước vô sản phải là một
nhà nước pháp quyền của nhân dân làm chủ, do nhân dân ủy thác và vì lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
5. Chủ nghĩa xã hội có nền văn hóa phát triển cao, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc và
tinh hoa văn hóa nhân loại
Trong chủ nghĩa xã hội, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, mục tiêu và động lực của phát triển
xã hội, trọng tâm là phát triển kinh tế; văn hóa đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh con người, biến
con người thành con người chân thiện mỹ. Quá trình xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa phải biết kế
thừa những giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa nhân loại, đồng thời cần chống tư tưởng văn hóa phi vô sản,
trái với những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của loài người, trái với phương hướng đi lên xã hội
chủ nghĩa.
6. Chủ nghĩa xã hội đảm bảo bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân
dân các nước trên thế giới
Bảo đảm bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và có quan hệ hợp tác, hữu nghị với nhân dân tất cả
các nước trên thế giới, chủ nghĩa xã hội mở rộng được ảnh hưởng và góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh
chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
* Liên hệ:
Việt Nam đang trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Qua hơn 30 năm Đổi mới, bằng việc vận
dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, nhận thức của Đảng
và nhân dân ta về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng rõ. Qua từng thời kỳ
Đại hội, nhận thức của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường phát triển cách mạng nước ta bắt đầu từ
mức độ định hướng, định tính rồi phát triển lên trình độ định hình, định lượng. Đến Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (2011) đã phát triển mô hình CNXH ở Việt Nam với tám đặc trưng cơ
bản:
1. Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
2. Do nhân dân làm chủ
3. Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên LLSX hiện đại và QHSX tiến bộ phù hợp
4. Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát triển toàn diện
5. Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
6. Các dân tộc trong cộng đồng dân tộc VN bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển
7. Có nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo
8. Có mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới.
Đồng thời, Cương lĩnh cũng xác định các phương hướng cơ bản xây dựng đất nước, bao gồm:
1. Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường
2. Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
3. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân
dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
4. Bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội
5. Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động
tích cực hội nhập quốc tế
6. Xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân
tộc thống nhất
7. Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do dân và vì dân
8. Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
* Trách nhiệm:
Sinh viên là lực lượng kế tục, phát huy nguồn trí tuệ nước nhà, là nguồn lực chủ yếu trong thời đại kinh tế tri
thức, khoa học công nghệ, đóng vai trò then chốt trong phát triển đất nước, là lực lượng to lớn trong việc giữ
gìn và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Kế thừa những giá trị của Chủ nghĩa Mác – Lênin, trong quá trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách
mạng, Hồ Chí Minh luôn đề cao vị trí, vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của
dân tộc. Người biểu lộ niềm tin vững chắc vào thế hệ trẻ, là lớp người “xung phong trong công cuộc phát
triển kinh tế và văn hóa, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” và khẳng định, thanh niên là lực lượng
cách mạng hùng hậu, bộ phận quan trọng của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh.
Thanh niên Việt Nam cần có 3 nhóm phẩm chất là: Trình độ chuyên môn và tay nghề cao, đạo đức và lối
sống trong sáng, sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần cường tráng mới đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thời kỳ kinh tế tri thức, thời kỳ hội nhập quốc tế. Để đạt được tiêu
chí và phẩm chất trên đòi hỏi bản thân thanh niên phải tự học, tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự tin, tự chịu trách
nhiệm để trở thành nguồn lao động chất lượng cao, trở thành người thừa kế trung thành sự nghiệp của Đảng
và dân tộc.
Thứ nhất, thanh niên phải tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi đắp lý
tưởng cách mạng trong sáng. Bối cảnh trong nước và quốc tế đang tác động lên tất cả các đối tượng
thanh niên, tác động một cách toàn diện lên tư tưởng, tình cảm, lối sống, nhu cầu của từng thanh
niên. Do đó, thanh niên phải rèn luyện để có lập trường tư tưởng vững vàng, có lòng yêu nước, có
niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng
và lối sống lành mạnh; tích cực tham gia vào các cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ
cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh chống lại âm mưu
“Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và các tiêu cực, tệ nạn xã hội, tham nhũng…
Thứ hai, thanh niên cần tích cực học tập và tự học tập để nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn,
khoa học, kỹ thuật và tay nghề. Trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội trong nước và hội nhập
quốc tế, thanh niên nước ta cần nâng cao trình độ học vấn, tay nghề khả năng thực tế, kỹ năng lao
động để thích ứng với thị trường lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế. Thanh niên
phải tích cực tham gia xây dựng xã hội học tập với phương châm: người thanh niên nào cũng phải
học ở đâu, làm gì, thời gian nào cũng phải học, người thanh niên nào cũng phải xác định tham gia
học tập thường xuyên, suốt đời là quyền và nghĩa vụ của bản thân
Thứ ba, thanh niên phải tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các đoàn thể nhân dân. Thanh niên phải tích cực tham gia bảo vệ và xây dựng hệ thống chính trị
ở các cấp vững mạnh và tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc. Các đối tượng
thanh niên tự nguyện, tự giác tham gia vào các hội của thanh niên, phấn đấu trở thành đoàn viên,
đảng viên của Đảng và hội viên của các quần chúng nhân dân.
Thứ tư, thanh niên phải tích cực tham gia vào việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh và môi
trường sinh thái trong lành, sạch đẹp. Tích cực tham gia phòng chống ô nhiễm môi trường, suy
thoái môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.
Thứ năm, thanh niên cần chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế; tham gia giải quyết
các vấn đề toàn cầu như giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi
trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu; tham gia vào công tác ngoại giao nhân dân để nâng
tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
Để kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc ta, mỗi thanh niên Việt Nam hãy ra
sức học tập, trau dồi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ra sức thi đua lao động và rèn luyện để
hình thành một thế hệ thanh niên tân tiến, xứng tầm đòi hỏi của đất nước và thời đại
Câu 4: Phân tích đặc trưng của CNXH theo học thuyết Mác-Lênin: "xã hội xã hội chủ nghĩa là giải
phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng con người, tạo điều kiện để con người
phát triển toàn diện." và liên hệ với quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam”.
Câu nói trên đã khái quát một trong những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội khi nhân mạnh “xã
hội xã hội chủ nghĩa là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng con người, tạo
điều kiện để con người phát triển toàn diện." và liên hệ với quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam”.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, khi dự báo về xã hội tương lai, xã hội cộng sản chủ
nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Thay cho xã hội tư bản cũ, với những giai cấp và đối kháng
giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển
tự do của tất cả mọi người” 1; khi đó “con người, cuối cùng làm chủ tồn tại xã hội của chính mình, thì cũng
do đó làm chủ tự nhiên, làm chủ cả bản thân mình trở thành người tự do”2.. Đây là sự khác biệt về chất giữa
hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa so với các hình thái kinh tế - xã hội ra đời trước, thể hiện ở bản
chất nhân văn, nhân đạo, vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đương
nhiên, để đạt được mục tiêu tổng quát đó, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, cách mạng xã hội chủ nghĩa
phải tiến hành triệt để, trước hết là giải phóng giai cấp, xóa bỏ tình trạng giai cấp này bóc lột, áp bức giai
cấp kia, và một khi tình trạng người áp bức, bóc lột người bị xóa bỏ thì tình trạng dân tộc này đi bóc lột dân
tộc khác cũng bị xóa bỏ” 3.
V.I.Lênin, trong điều kiện mới của đời sống chính trị - xã hội thế giới đầu thế kỷ XX, đồng thời từ
thực tiễn của công cuôc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga xô - viết đã cho rằng, mục đích cao nhất,
cuối cùng của những cải tạo xã hội chủ nghĩa là thực hiện nguyên tắc: làm theo năng lực, hưởng theo nhu
cầu: “khi bắt đầu những cải tạo xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải đặt rõ cái mục đích mà những cải tạo xã hội
chủ nghĩa đó rút cục nhằm tới, cụ thể là thiết lập một xã hội cộng sản chủ nghĩa, một xã hội không chỉ hạn
chế ở việc tước đoạt các công xưởng, nhà máy, ruộng đất và tư liệu sản xuất, không chỉ hạn chế ở việc kiểm
kê, kiểm soát một cách chặt chẽ việc sản xuất và phân phối sản phẩm, mà còn đi xa hơn nữa, đi tới việc thực
hiện nguyên tắc: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu.
Vì thế cái tên gọi “Đảng Cộng sản là duy nhất chính xác về mặt khoa học” 4V.I.Lênin cũng khẳng
định mục đích cao cả của chủ nghĩa xã hội cần đạt đến là xóa bỏ sự phân chia xã hội thành giai cấp, biến tất
cả thành viên trong xã hội thành người lao động, tiêu diệt cơ sở của mọi tình trạng người bóc lột người.
V.I.Lênin còn chỉ rõ trong quá trình phấn đấu để đạt mục đích cao cả đó, giai cấp công nhân, chính Đảng
Cộng sản phải hoàn thành nhiều nhiệm vụ của các giai đoạn khác nhau, trong đó có mục đích, nhiệm vụ cụ
thể của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội - tạo ra các điều kiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật và đời sống tinh
thần để thiết lập xã hội cộng sản.
CHƯƠNG 4: DÂN CHỦ XHCN VÀ NHÀ NƯỚC XHCN
Câu 1: Phân tích sự ra đời, bản chất, chức năng của NN XHCN? Liên hệ xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN ở VN
a. Khái niệm và sự ra đời
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
* Khái niệm: Nhà nước XHCN là tổ chức chính trị mà thông qua đó Đảng của giai cấp công nhân giữ
vai trò lãnh đạo, cùng với quần chúng nhân dân lao động xây dựng chế độ xã hội công bằng dân chủ văn
minh.
* Sự ra đời:
- NN XHCN ra đời là kết quả của cuộc CM XHCN, tùy theo đặc điểm, đk của quốc gia, sự ra đời của NN
XHCN cũng như việc tổ chức chính quyền có những đặc điểm, hình thức và phương pháp phù hợp. Song,
hai nhân tố chính quyết định đến sự ra đời của NN XHCN là Kinh tế và Xã hội.
+ Kinh tế
Chế độ tư hữu về TLSX xuất hiện
Tình trạng bất bình đẳng về kinh tế, người này có thể chiếm đoạt lợi ích kinh tế của người khác
+ Xã hội
Tổ chức thị tộc bị phá vỡ -> Nhà nước đầu tiên là nhà nước chủ nô
Xuất hiện giai cấp, xuất hiện sự khác biệt về mặt giai cấp và đấu tranh giai cấp và đấu tranh giai cấp
không thể điều hòa
→ Theo Lênin: Nhà nước không phải cơ quan điều hòa mâu thuẫn giai cấp
- Hai yếu tố quyết định sự ra đời của NN XHCN
+ Kinh tế
Chế độ công hữu về TLSX xuất hiện
Giải quyết lợi ích kinh tế tương đối bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội
+ Xã hội: Do nhân dân lao động lên địa vị làm chủ trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội
b. Bản chất
- Bản chất của Nhà nước: Bản chất của nhà nước chính là bản chất của giai cấp cầm quyền trong xã hội nhất
định
- Bản chất của NN XHCN: NN XHCN mang bản chất của GCCN
- Về chính trị: nhà nước XHCN mang bản chất của giai cấp công nhân, giai cấp mà có lợi ích phù hợp với
lợi ích chung của quần chúng nhân dân lao động. Trong xã hội XHCN, giai cấp vô sản là lực lượng giữ địa
vị thống trị về chính trị. Đó là sự thống trị của đa số đối với thiểu số giai cấp bóc lột nhằm giải phóng giai
cấp mình và giải phóng tất cả nhân dân lao động trong xã hội. Nhà nước XHCN thể hiện ý chí, quyền lực và
nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
- Về mặt kinh tế, bản chất của nhà nước XHCN chịu sự quy định của cơ sở kinh tế của xã hội XHCN, đó là
chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất. Do đó không còn tồn tại quan hệ sản xuất bóc lột (chế độ tư
hữu về TLSX). Việc chăm lo cho lợi ích của đại đa số nhân dân lao động trở thành mục tiêu hàng đầu của
nhà nước CNXH. Nhà nước XHCN vừa là bộ máy chính trị - hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế xã
hội của nhân dân lao động
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
- Về mặt văn hóa – xã hội, nhà nước XHCN được xây dựng trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin
và những giá trị văn hóa tiến bộ của nhân loại, đồng thời mang những bản sắc riêng của dân tộc. Sự phân
hóa giữa các giai cấp, tầng lớp từng bước được thu hẹp, trở nên bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn
lực và cơ hội để phát triển.
c. Chức năng
Chức năng của nhà nước: là phương diện hoạt động cơ bản, quan trọng của Nhà nước, phù hợp với
bản chất, mục đích, quản lý của Nhà nước
- Căn cứ vào phạm vi tác động của quyền lực nhà nước, chức năng của nhà nước được chia thành chức
năng đối nội và chức năng đối ngoại.
+ Chức năng đối nội của Nhà nước: là những mặt hoạt động chủ yếu của Nhà nước trong nội bộ đất
nước
+ Chức năng đối ngoại của Nhà nước: thể hiện vai trò của Nhà nước trong quan hệ với các nhà nước
và dân tộc khác
- Căn cứ vào lĩnh vực tác động, chức năng nhà nước được chia thành chức năng kinh tế, chức năng chính
trị, chức năng văn hóa – xã hội.
- Căn cứ vào tính chất của quyền lực nhà nước: chức năng giai cấp (chức năng trấn áp) và chức năng xã
hội (tổ chức và quản lý).
d. Liên hệ (hoặc đề liên quan đến “Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam”)
- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên cnxh đã nêu ra những nội dung khái quát liên quan
đến nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Nhận thức của Đảng ta về nhà nước pháp quyền xhcn tiếp tục được làm sáng rõ tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ
(tháng 1/1994), Đảng ta đã sử dụng khái niệm “nhà nước pháp quyền”, Đảng tiếp tục bổ sung tư tưởng về
nhà nước pháp quyền thông qua các kỳ đại hội.
- Quan niệm chung: Nhà nước pháp quyền là nhà nước thượng tôn pháp luật, nhà nước hướng tới các giá trị
về phúc lợi cho con người, tạo điều kiện phát huy tối đa khả năng, năng lực của con người cho cá nhân
- Hiện nay: Đó là nhà nước mà tất cả công dân được giáo dục pháp luật và phải hiểu biết pháp luật, tuân thủ
pháp luật. Bên cạnh đó, pháp luật phải đảm bảo tính nghiêm minh. Trong hoạt động của cơ quan nhà nước,
phải có sự phân công, phối hợp lẫn nhau.
Đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền xhcn Việt Nam (6)
Xây dựng nhà nước do nhân dân lao động làm chủ: nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở hiến pháp và pháp luật (pháp luật đặt ở vị trí tối
thượng để điều chỉnh quan hệ xã hội).
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rõ ràng, phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan:
lập pháp, hành pháp và tư pháp
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tôn trọng quyền con người, coi con người là
trung tâm của sự phát triển. Quyền dân chủ của nhân dân được thực hành một cách rộng rãi; “nhân
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819
dân có quyền bầu và bãi miễn những đại biểu không xứng đáng”; đồng thời tăng cường thực hiện sự
nghiêm minh của pháp luật
Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công,
phân cấp, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau, nhưng bảo đảm quyền lực là thống nhất và sự chỉ đạo
thống nhất của Trung ương
Để phát huy dân chủ XHCN ở Việt Nam hiện nay, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN vững mạnh
là vô cùng quan trọng. Đảng đã đưa ra được những phương pháp sau đây để xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam hiện nay:
1. Xây dựng nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng
2. Cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước
3. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực
4. Đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí; thực hành tiết kiệm
Trách nhiệm: Để góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, mỗi công dân cần
phải:
- Gương mẫu thực hiện và tuyên truyền, vận động mọi người thực hiện đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của nhà nước.
- Tích cực tham gia các hoạt động: xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền, giữ gìn trật tự…
- Phê phán, đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật
- Thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá các thế lực thù địch.
Câu 2: So sánh dân chủ vô sản (dân chủ XHCN) và dân chủ tư bản
* Khái quát
- Khái niệm
+ Dân chủ?
Sự ra đời của nền dân chủ XHCN là một bước tiến dài so với nền dân chủ tư sản. Dân chủ XHCN
thuộc về đại đa số, là nền dân chủ rộng rãi nhất trong lịch sử có giai cấp: rộng rãi cho đa số các tầng lớp, giai
cấp, đặc biệt là người dân lao động, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là chính trị. Trong nền dân chủ
vô sản, quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân ngày càng tham gia vào công việc của nhà nước và quản lý
xã hội → nhấn mạnh bản chất và mục tiêu của XHCN → đó là nền dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản.
* So sánh
- Giống nhau
+ Trên lĩnh vực chính trị: Cơ sở chính trị là mặt biểu hiện trực tiếp của dân chủ. Đó chính là quyền
lực chính trị, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân.
+ Trên lĩnh vực kinh tế: Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế gắn liền với hoạt động mang tính bản chất
của con người là hoạt động lao động sản xuất, thực hiện lợi ích và thỏa mãn các nhu cầu. Dân chủ trong lĩnh
vực kinh tế là làm cho người lao động được đảm bảo các quyền dân chủ về kinh tế. Dân chủ trong lĩnh vực
kinh tế là tạo nên mối quan hệ hợp tác, tôn trọng, bình đẳng giữa các chủ thể. làm cho sự phân hóa giàu
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)
lOMoARcPSD|48232819

Preview text:

lOMoARcPSD|48232819
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC ĐỀ CƯƠNG GIỮA KÌ 1
Chủ nghĩa xã hội khoa học (Trường Đại học Ngoại thương) Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
CHƯƠNG 2: SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN
Câu 1: So sánh GCCN hiện nay và GCCN thế kỷ XX (Liên hệ) a. Khái niệm
- GCCN là một tập đoàn xã hội, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp
hiện đại; họ lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng hiện đại gắn liền với quá trình sản xuất vật
chất hiện đại; là đại biểu cho phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao. Họ là người làm
thuê do không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và bị GCTS bóc lột. b. Đặc điểm
+ GCCN lao động bằng phương thức công nghiệp với đặc trưng công cụ lao động là máy móc, tạo ra năng suất lao động cao
+ GCCN là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến phương thức sản xuất hiện đại.
+ GCCN có những phẩm chất đặc biệt về tính tổ chức, kỷ luật lao động và tinh thần
hợp tác và tâm lý lao động công nghiệp. Đó là giai cấp cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để c. So sánh * Điểm tương đồng
- GCCN hiện nay có sự tương đồng nhất định với GCCN trong thời kỳ đầu, GCCN hiện nay vẫn là LLSX
hàng đầu của xã hội
-> là chủ thể của quá trị sản xuất. Sự phát triển của GCCN tỉ lệ thuận với sự phát triển kinh tế
- Bên cạnh đó, GCCN hiện nay vẫn bị giai cấp tư sản và CNTB bóc lột giá trị thặng dư. Dù họ được cải
thiện rất nhiều về lợi ích, cuộc sống, an sinh xã hội nhưng xung đột vẫn tồn tại, mức sống của họ tăng nhưng
không tương xứng với mức của cải vật chất họ tạo ra. Xung đột hiện nay lắng dịu hơn, nhưng luôn tồn tại.
Đồng thời, phong trào cộng sản và công nhân hiện nay vẫn là lực lượng tiên phong đi đầu trong phong
trào đứng lên đấu tranh vì dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội
.
* Điểm tiến bộ, khác biệt
Tuy có những điểm tương đồng nhưng theo thời gian, GCCN hiện nay cũng đã có những bước tiến
bộ, khác biệt rất nhiều so với GCCN trước đây ở thế kỷ XIX
- Điều này được thể hiện qua xu hướng tri thức hóa của GCCN tăng nhanh; mọi thành viên trong GCCN
hiện nay đều có những hiểu biết rất nhiều về xã hội; công nhân dần dần làm chủ được TLSX; đặc biệt là tri
thức và công nghệ. Họ có thể chủ động hơn với cuộc sống, với cơ hội việc làm của mình. Họ có thể chuyển
đổi ngành nghề, nơi làm việc khi cảm thấy không hài lòng với môi trường làm việc, mức lương… Họ có khả
năng dễ dàng hơn trong việc tập hợp những con người có cùng mục tiêu với mình để phản kháng lại những bất công.
- Vấn đề đấu tranh trở nên phong phú hơn. Đấu tranh vũ trang lắng dịu xuống, GCCN đấu tranh với mục
tiêu giành lại quyền lợi trong những vấn đề nảy sinh trực tiếp trong đời sống thông qua phương thức đấu
tranh phong phú như biểu tình, bãi công… Một trong những lý do của sự lắng dịu đó là sự trung lưu hóa
tăng nhanh. Họ được tham gia vào sở hữu cổ phần trong công ty, doanh nghiệp, nhà máy. Họ cũng được tạo
điều kiện vay vốn, mua sắm, đầu tư… Điều này ràng buộc GCCN về mặt kinh tế với ông chủ tư bản, ảnh
hưởng đến sự đấu tranh của họ.
- GCCN vẫn giữ vai trò lãnh đạo tiên phong trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Hiện nay, hao phí LĐ trí tuệ là nguồn chủ yếu tạo thành GTTD, trình độ XH hóa của NDLĐ có biểu hiện
hoàn toàn mới thông qua xu hướng toàn cầu hóa; GCCN cũng tăng nhanh về số lượng, thay đổi lớn về cơ
cấu trong nền sx hiện đại.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
- Bên cạnh đó, xu hướng chuyên môn thuần túy đồng hành với tích cực hóa chính trị - xã hội của
GCCN.
Nếu như trước đây, các hoạt động chính trị xã hội của họ chủ yếu là vấn đề đấu tranh, thì hiện nay,
đó chủ yếu là tham gia vào quá trình thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của các nước tư bản đề ra.
- Xu hướng bản địa hóa, dân tộc hóa đồng hành với chủ nghĩa quốc tế của GCCN: Nhiều người luôn
muốn trở thành 1 công dân của xã hội phương Tây, điều đó ảnh hưởng đến an sinh xã hội. Do đó, giai cấp
công nhân ở các nước tư bản có xu hướng bản địa hóa, dân tộc hóa, bảo vệ chính mình, muốn giữ được tình
hình chính trị xã hội ổn định không bị ảnh hưởng bởi những vấn đề bên ngoài quốc gia. Không giống với
quan hệ giữa công nhân thế giới trước đây, chỉ quan hệ với nhau để đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột. G
⇒ CCN hiện nay có nhiều sự chuyển biến, có tốt lên, và cũng có những biểu hiện suy thoái, lung lay trong lập trường Cầ ⇒
n có tỉnh táo và nhận thức rõ hơn về vấn đề áp bức bóc lột, ý chí và sự đoàn kết
Câu 2: Phân tích sự khác nhau trong việc thực hiện Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam
hiện nay so với thời kỳ đầu thế kỷ XX. Cần có giải pháp gì để phát huy vai trò lực lượng sản xuất đi đầu
của giai cấp công nhân trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước gắn với cách mạng công nghiệp hiện nay?

a. Khái niệm và đặc điểm
- Khái niệm: GCCN là một tập đoàn xã hội, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền
công nghiệp hiện đại; họ lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng hiện đại gắn liền với quá trình
sản xuất vật chất hiện đại; là đại biểu cho phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao. Họ
là người làm thuê do không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và bị GCTS bóc lột - Đặc điểm:
+ GCCN lao động bằng phương thức công nghiệp với đặc trưng công cụ lao động là máy móc, tạo ra năng suất lao động cao
+ GCCN là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến và phương thức sản xuất hiện đại.
+ GCCN có những phẩm chất đặc biệt về tính tổ chức, kỷ luật lao động và tinh thần hợp tác và tâm lý lao
động công nghiệp. Đó là giai cấp cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để. b. SMLS của GCCN VN
- Tại Hội nghị 6 BCHTW khoá X, Đảng ta xác định “GCCN VN là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát
triển, bao gồm những người lao động chân tay và lao động trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình
sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp.
- Phân tích sự khác nhau (câu 1) - Đặc điểm:
+ Về sự ra đời: Gắn liền với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, ra đời trước giai cấp tư sản
+ Về nguồn gốc xã hội: Chủ yếu xuất thân từ nông dân và các tầng lớp lao động khác -> có sự gắn bó mật thiết
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
+ Về quan hệ với các giai tầng khác: Có lợi ích đối kháng với tư bản thực dân Pháp và bè lũ tay sai, liên
minh
với nông dân, tri thức.
+ Về tư tưởng chính trị: Là lực lượng chính trị tiên phong để lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc - Nội dung + Kinh tế:
● GCCN là nguồn nhân lực lao động chủ yếu tham gia phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, lấy khoa học công nghệ làm động lực quan trọng.
● GCCN có sứ mệnh đảm bảo tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,
thực hiện hài hòa lợi ích cá nhân - tập thể và xã hội.
● GCCN là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH-HĐH
● Phát triển nền kinh tế CNH-HĐH phải gắn liền với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên và môi trường
● Thực hiện khối liên minh công - nông - tri thức để tạo ra động lực phát triển + Chính trị - xã hội
● Giữ vững bản chất GCCN của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên
● Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ (sự hội nhập, môi trường sống, internet,
mxh, trình độ nhận thức,….). VD: Đồng bào ở Tây Nguyên đã nổi loạn cuộc chiến Đề ga TN vì trình
độ nhận thức và mức sống thấp.
● Yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nâng cao trách nhiệm tiên phong, đi đầu, góp phần củng cố
và phát triển cơ sở chính trị - xã hội quan trọng của Đảng, đồng thời tích cực xây dựng, chỉnh đốn Đảng + Văn hóa tư tưởng
● Xây dựng nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, có nội dung cốt lõi là xây dựng con
người mới xã hội chủ nghĩa. Văn hóa là sợi chỉ đỏ gắn kết con người VN trong thời đại mới
● Tích cực đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của con người Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh
● Yêu cầu giai cấp công nhân phải thường xuyên giáo dục cho thế hệ công nhân và lao động trẻ ở
nước ta về ý thức giai cấp, bản lĩnh chính trị, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế.
● Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống lại sự xuyên tạc chống phá của các thế lực thù địch c. Giải pháp
Từ việc phân tích sứ mệnh lịch sử của GCCN VN, chúng ta rút ra những giải pháp để phát huy vai
trò lực lượng sản xuất đi đầu của GCCN trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với
cách mạng công nghiệp hiện nay như sau:
1. Nâng cao nhận thức, kiên định quan điểm GCCN là giai cấp lãnh đạo thông qua đội tiền phong là ĐCS VN
- Sự lớn mạnh của GCCN là 1 điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
2. Xây dựng GCCN lớn mạnh, gắn với xây dựng và phát huy sức mạnh của khối liên minh công - nông - trí thức.
- Đảng đề ra phát huy vai trò GCCN trong khối đại đoàn kết dân tộc - là động lực chủ yếu của sự phát triển
đất nước, đồng thời tăng cường quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế với GCCN trên toàn thế giới.
3. Thực hiện chiến lược xây dựng GCCN lớn mạnh gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế
- Đảng đẩy mạnh xử lý đúng đắn MQH giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và
chăm lo xây dựng GCCN, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân, quan tâm giải
quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của GCCN.
4. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt cho giai cấp công nhân, không ngừng trí thức hoá giai cấp công nhân.
- Đảng chú trọng quan tâm đến việc xây dựng thế hệ công nhân trẻ, có học vấn, chuyên môn và kỹ năng
nghề nghiệp cao, ngang tầm khu vực và quốc tế, có lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng, trở
thành bộ phận nòng cốt của GCCN.
5. Xây dựng GCCN lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và là sự nỗ lực vươn
lên của bản thân mỗi người công nhân.
- Sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước có vai trò quyết định, công đoàn có vai trò quan trọng
trực tiếp trong chăm lo xây dựng GCCN
Cách mạng công nghiệp 4.0 với những tiền đề mà nó tạo ra sẽ cho thấy những bước tiến mới của chủ
nghĩa xã hội hiện thực. Hiện nay, hầu hết các quốc gia đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa đều
rất quan tâm và quyết tâm mạnh mẽ hướng tới Cách mạng công nghiệp 4.0. Đây cũng là một con đường để
phát triển rút ngắn, để xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra nhiều vấn đề mới, từ quá trình vận động tự thân và
việc bị các thế lực lợi dụng vào những mưu đồ phản tiến bộ, phản văn hóa. Tuy nhiên, tiến bộ xã hội có đủ
sức mạnh để lựa chọn biện pháp tối ưu để giải quyết. Như Giáo Sư K. Sô-áp khẳng định: “Tôi vững tin rằng
kỷ nguyên công nghệ mới, nếu được định hình một cách tích cực và có trách nhiệm, sẽ có thể là một chất
xúc tác cho một cuộc phục hưng văn hóa mới”. Cũng có thể nói như vậy với sứ mệnh lịch sử toàn thế giới
của giai cấp công nhân và chủ nghĩa xã hội ở thế kỷ XXI
Câu 3:Tại sao nói Đảng là nhân tố tiên quyết quan trọng cho việc thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử
của gc công nhân. Liên hệ Việt Nam

Khái niệm: GCCN là một tập đoàn xã hội, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển
của nền công nghiệp hiện đại; họ lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng hiện đại gắn liền với
quá trình sản xuất vật chất hiện đại; là đại biểu cho phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng
cao. Họ là người làm thuê do không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và bị GCTS bóc lột
Đặc điểm: Đặc điểm nổi bật của GCCN là lao động bằng phương thức công nghiệp với đặc trưng
công cụ lao động là máy móc, tạo ra năng suất lao động cao, quá trình lao động mang tính chất xã hội hóa
cao. GCCN là sản phẩm của nền đại công nghiệp, là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất hiện đại. Do đó,
họ là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến và phương thức sản xuất hiện đại, quyết định sự tồn tại và
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
phát triển của xã hội hiện đại. Nền sản xuất đại công nghiệp và phương thức sản xuất tiên tiến đã rèn luyện
cho giai cấp công nhân những phẩm chất đặc biệt về tính tổ chức, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác và tâm
lý lao động công nghiệp. Đó là một giai cấp cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để N ⇒ hững đặc
điểm ấy chính là những phẩm chất cần thiết để GCCN có vai trò lãnh đạo cách mạng. Nội dung SMLS:
Một giai cấp mang sứ mệnh lịch sử có nghĩa là:
+ Giai cấp đứng ở vị trí trọng của thời đại
+ Đại diện cho phương thức sản xuất hiện đại
+ Đứng đầu về số lượng và nâng cao về chất lượng
ND khái quát: Sứ mệnh lịch sử tổng quát của GCCN (chỉ có ở GCCN thế kỷ 19)
+ Xóa bỏ tận gốc chế độ người bóc lột người, xóa bỏ xã hội Tư bản chủ nghĩa
+ Giải phóng GCCN và toàn thể nhân dân lao động vì họ là lực lượng chính trong xã hội. Chỉ khi họ
được trả lại sự tự do và có được tư liệu sản xuất thì họ mới có thể hoàn thành sứ mệnh của mình
+ Xây dựng xã hội cộng sản văn minh
ND cụ thể: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp này quy
định, nhưng để biến khả năng khách quan đó thành hiện thực thì phải thông qua nhân tố chủ quan của giai
cấp công nhân. Trong những nhân tố chủ quan đó thì việc thành lập Đảng Cộng sản, một đảng trung thành
với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức là nhân tố giữ
vai trò quyết định nhất bảo đảm cho giai cấp công nhân hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình.
Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiê ̣n thắng lợi sứ
mê ̣nh lịch sử của mình.
a. Tính tất yếu của sự hình thành và phát triển chính đảng của giai cấp công nhân
Trong thực tế lịch sử, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản đã nổ ra
ngay từ khi chủ nghĩa tư bản hình thành và phát triển, theo quy luật có áp bức có đấu tranh. Mặc dù phong
trào công nhân có thể phát triển về số lượng, quy mô cuộc đấu tranh có thể được mở rộng nhưng cuối cùng
đều bị thất bại vì thiếu một lý luận khoa học và cách mạng soi đường. Chỉ khi nào giai cấp công nhân đạt
đến trình độ tự giác bằng cách tiếp thu lý luận khoa học và cách mạng thì lúc đó phong trào đấu tranh của
giai cấp này mới thật sự là phong trào mang tính chất chính trị. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ khi đi
vào phong trào công nhân mới được biến thành sức mạnh vật chất để lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây
dựng xã hội mới. Như vậy, đảng cộng sản là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân.
Khi đảng cộng sản ra đời, thông qua sự lãnh đạo của đảng, giai cấp công nhân nhận thức được vai
trò, vị trí của mình trong xã hội, hiểu được con đường, biện pháp đấu tranh cách mạng, từ đó tập hợp được
đông đảo quần chúng nhân dân lao động, thực hiện việc lật đổ chủ nghĩa tư bản, giải phóng giai cấp mình,
giải phóng toàn xã hội và tổ chức xây dựng xã hội mới về mọi mặt.
Đảng cộng sản muốn hoàn thành vai trò lãnh đạo cách mạng thì trước hết phải luôn luôn chăm lo xây
dựng về tư tưởng và tổ chức, phải luôn luôn làm cho đảng vững mạnh về chính trị, không ngừng nâng cao về
trí tuệ, gắn bó với quần chúng nhân dân, có năng lực lãnh đạo và hoạt động thực tiễn.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
b) Mối quan hệ giữa đảng cộng sản và giai cấp công nhân
Đảng cộng sản là tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích và trí tuệ của
giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: "Những người
cộng sản không phải là một đảng riêng biệt, đối lập với các đảng công nhân khác. Họ tuyệt nhiên không có
một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản" .
Đảng Cô ̣ng sản – đô ̣i tiên phong của giai cấp công nhân ra đời và đảm nhâ ̣n vai trò lãnh đạo cuô ̣c
cách mạng là dấu hiê ̣u về sự trưởng thành vượt bâ ̣c của giai cấp công nhân với tư cách là giai cấp cách mạng.
Quy luâ ̣t chung, phổ biến cho sự ra đời của Đảng Cô ̣ng sản là sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hô ̣i khoa
học, tức chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân.
Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội của đảng cộng sản, là nguồn bổ sung lực lượng phong phú cho
đảng cộng sản. Những đảng viên của đảng là những người công nhân giác ngộ lý tưởng cách mạng, được
trang bị lý luận cách mạng, tự giác gia nhập đảng và được các tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công
nhân giới thiệu cho đảng. Trong hàng ngũ của đảng có những đảng viên không phải là công nhân, nhưng
phải là người giác ngộ về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và luôn luôn phải đứng trên lập trường,
trên lợi ích của giai cấp công nhân.
Với một đảng cộng sản chân chính thi sự lãnh đạo của đảng cũng chính là sự lãnh đạo của giai cấp
công nhân. Giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo của mình thông qua đảng cộng sản. Tuy nhiên,
không thể đồng nhất đảng cộng sản với giai cấp công nhân. Đảng là một tổ chức chính trị chỉ tập trung
những công nhân tiên tiến, giác ngộ lý tưởng cách mạng, được trang bị lý luận cách mạng, do vậy đảng trở
thành đội tiên phong chiến đấu, lãnh tụ chính trị và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân.
Là đội tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đảng cộng sản có sự tiên
phong về lý luận và hành động. Trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, căn cứ vào thực tiễn của đất nước
trong mỗi giai đoạn cách mạng, đảng cộng sản phải đưa ra được cương lĩnh, đường lối cách mạng phù hợp
với mỗi giai đoạn cách mạng. Cán bộ, đảng viên phải nắm được quan điểm, đường lối của đảng để phổ biến
tuyên truyền tới quần chúng nhân dân, phải thông qua hành động tiên phong gương mẫu mà lôi kéo quần
chúng và các phong trào cách mạng.
GCCN là cơ sở xã hô ̣i và nguồn bổ sung lực lượng quan trọng nhất của Đảng, làm cho Đảng mang
bản chất giai cấp công nhân trở thành đô ̣i tiên phong, bô ̣ tham mưu chiến đấu của giai cấp. Đảng Cô ̣ng sản
đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tô ̣c và xã hô ̣i. Sức mạnh của Đảng không
chỉ thể hiê ̣n ở bản chất giai cấp công nhân mà còn ở mối liên hê ̣ mâ ̣t thiết giữa Đảng với nhân dân, với quần
chúng lao đô ̣ng đông đảo trong xã hô ̣i, thực hiê ̣n cuô ̣c cách mạng do Đảng lãnh đạo để giải phóng giai cấp và giải phóng xã hô ̣i.
Đảng cộng sản là lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng viên là những
người được trang bị lý luận, nắm được quan điểm, đường lối của đảng, do vậy "họ hơn bộ phận còn lại của
giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản". Cán
bộ, đảng viên phải tuyên truyền phổ biến quan điểm, đường lối của đảng tới các tầng lớp nhân dân làm cho
quần chúng nhân dân hiểu và phải bằng hành động gương mẫu của mình để tập hợp, lôi cuốn quần chúng
nhân dân vào các phong trào cách mạng.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
Đảng cộng sản có những lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của giai cấp công nhân và quần chúng
nhân dân lao động, vì thế đảng có thể thực hiện giác ngộ quần chúng nhân dân, đưa họ tham gia các phong
trào cách mạng. Có tập hợp được quần chúng nhân dân, huy động được quần chúng tham gia các phong trào
cách mạng thì những chủ trương, đường lối của đảng mới được thực hiện và khi đó đảng mới có sức mạnh,
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mới thực hiện được.
Đảng cộng sản là bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và cả dân tộc. Khi nói tới vai trò
tham mưu chiến đấu của đảng là muốn nói tới vai trò đưa ra những quyết định của đảng, nhất là trong những
thời điểm lịch sử quan trọng. Những quyết định đúng đắn sẽ tạo điều kiện đưa phong trào cách mạng tiến
lên, ngược lại có thể gây ra những tổn thất cho cách mạng. Sở dĩ đảng cộng sản trở thành đội tham mưu
chiến đấu của giai cấp công nhân vì đảng bao gồm những người tiên tiến trong giai cấp công nhân, được
trang bị lý luận khoa học, cách mạng và là những người được tôi luyện từ trong thực tiễn phong trào cách mạng.
Câu 4: Trình bày về nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và những điều kiện khách quan,
nhân tố chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Liên hệ công nhân Việt Nam.
Phương hướng xây dựng GCCN Việt Nam

B1: Khái niệm GCCN -> Nội dung (khái quát + cụ thể) sứ mệnh lịch sử GCCN
B2: Những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử của GCCN:
a. Điều kiện khách quan
- Do địa vị kinh tế của GCCN
+ GCCN là sản phẩm và chủ thể của nền công nghiệp hiện đại, số lượng, chất lượng và cơ cấu giai
cấp công nhân tăng lên không ngừng. Vì thế, GCCN là bộ phận quan trọng nhất, CM nhất trong các bộ phận
cấu thành nên LLSX của CNTB. Lênin khẳng định “LLSX hàng đầu của toàn nhân loại là công nhân, là người LĐ”
+ GCCN đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, PTSX mới, tiến bộ và là lực lượng quyết định đến
việc phá vỡ QHSX tư bản chủ nghĩa, xây dựng QHSX mới.
- Thứ hai: Do địa vị CT - XH của GCCN
+ Lợi ích: đối lập trực tiếp với lợi ích của giai cấp tư sản thống nhất với lợi ích cơ bản của đa số nhân
dân lao động. Trong nền sản xuất TBCN, GCCN là những người không có hoặc về cơ bản là không có
TLSX, họ phải bán SLĐ cho nhà tư bản và bị bóc lột GTTD. Vì vậy GCCN có lợi ích cơ bản đối lập trực
tiếp với lợi ích của GCTS, dẫn đến mâu thuẫn giữa GCCN và GCTS. Mâu thuẫn này ngày càng gay gắt,
không thể điều hòa được, đòi hỏi GCCN phải đứng lên đấu tranh chống lại GCTS
+ GCCN có tính kỉ luật tốt, tự giác và đoàn kết trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải
phóng xã hội bởi họ LĐ trong nền sx đại công nghiệp với hệ thống sản xuất mang tính chất dây chuyền và
nhịp độ khẩn trương nên họ phải tuân thủ nghiêm ngặt kỉ luật LĐ cùng với cuộc sống đô thị tập trung tạo
nên tính kỷ luật chặt chẽ cho GCCN.
+ GCCN là giai cấp tiên phong cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để. Điều này xuất phát từ
sự ra đời của GCCN, họ là LLSX chính trong các nhà máy xí nghiệp, làm việc trong điều kiện công nghiệp,
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
họ là những người LĐ không SH bất kì TLSX nào, bị CNTB bóc lột triệt để GTTD. Chính vì vậy, GCCN
luôn mang trong mình tinh thần đấu tranh triệt để bởi họ không có gì để mất ngoài SLĐ và nỗi khổ nếu họ vùng lên đấu tranh
+ GCCN có bản chất quốc tế bởi ở đâu thì họ cũng đều bị áp bức bóc lột như nhau nên họ phải đoàn
kết với nhau để đấu tranh thay vì đứng riêng lẻ làm CM ở mỗi quốc gia của mình.
b. Điều kiện chủ quan
- Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng. Nền sx vật chất hiện đại trên
nền tảng của công nghiệp, kỹ thuật và công nghệ đang ngày càng mở rộng quy mô, kéo theo đó là sự lớn
mạnh về số lượng của GCCN. Sự phát triển về số lượng phải gắn liền với sự phát triển về chất lượng, đó là
phải nâng cao cả về ý thức chính trị và về trình độ chuyên môn. GCCN phải tự giác nhận thức được vai trò
và trọng trách của giai cấp mình đối với lịch sử, do đó GCCN phải thấy được tình trạng của mình là đang bị
bóc lột và phải được giác ngộ về lý luận khoa học và CM CN MLN. Bên cạnh đó, chất lượng của GCCN
còn được thể hiện ở năng lực và trình độ làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Trình độ học
vấn, tay nghề, bậc thợ của công nhân, văn hóa sx, vh LĐ đáp ứng yêu cầu kinh tế tri thức là những thước đo
quan trọng về sự phát triển chất lượng của GCCN hiện đại.
- Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để GCCN thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình
- Liên minh giai cấp giữa các giai cấp trong xã hội B3: Liên hệ:
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, là những nhận thức mới về giai cấp công nhân hiện nay, cụ thể:
Thứ nhất: Quá trình công nghiệp hóa cùng với cải cách, đổi mới đang tạo ra nhiều đặc điểm mới cho giai cấp công nhân.
– Sự phát triển của giai cấp công nhân ở “các nước đang chuyển đổi” hiện nay còn là kết quả của sự kết hợp
các cơ chế, quy luật của kinh tế thị trường với vai trò của nhà nước và thành phần kinh tế nhà nước. Công
nhân không chỉ là sản phẩm của công nghiệp hóa mà còn là kết quả tổng thành của chế độ chính trị và cơ
chế kinh tế thị trường.
– Tư duy mới về chính trị có thể thúc đẩy sự phát triển của giai cấp công nhân. Chế độ Xã hội chủ nghĩa đã
tạo ra một chất lượng mới, quy mô và tốc độ mới cho công nghiệp hóa.
Thứ hai: Kinh tế thị trường làm cho cơ cấu giai cấp công nhân ngày càng đa dạng hơn.
– Nhận thức mới về vai trò của kinh tế thị trường là tạo a một không gian rộng mở hơn cho sự phát triển về
nhiều mặt của giai cấp công nhân với nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia quá trình công nghiệp hóa.
Thứ ba: Một bộ phận lớn công nhân hiện nay xuất thân từ đô thị.
– Đô thị hóa làm xuất hiện ngày càng đông đảo hơn đội ngũ lao động làm thuê, vốn có mặt từ thời “Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản”, gồm: bác sĩ, luật gia, tu sĩ, thi sĩ, bác học đều bị giai cấp tư sản biến thành người
làm thuê… Song hiện nay họ đông đúc hơn, đa dạng hơn với hàng nghìn ngành, nghề khác nhau. Xét về cơ
cấu nghề nghiệp, các nhà nghiên cứu đều thấy sự tăng lên của những nhóm lao động dịch vụ mới.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
– Họ là những người kết hợp cả lao động chân tay với lao động trí óc. Trong các quốc gia phát triển đã xuất
hiện một cơ cấu xã hội mới với vai trò mới của trí thức, công nhân trí thức. Cũng bởi thế, ở nhiều nước phát
triển hiện nay (những nước G& lao động nông nghiệp hoặc nông dân chỉ chiếm từ 2% – 3% lực lượng lao
động) liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân đã không còn cơ sở xã hội như thế kỷ XIX và
thay vào đó là liên minh giữa những người lao động, mà chủ yếu là hai nhóm lao động đông đảo ở đô thị là
sản xuất công nghiệp và dịch vụ bằng phương thức công nghiệp.
Thứ tư: Đô thị là nơi mà đấu tranh giai cấp hiện đại bộc lộ tính điển hình của nó. Ph.Ăngghen viết: “Các
thành phố lớn là nơi bắt nguồn của phong trào công nhân: nơi đây công nhân lần đầu tiên đã bắt đầu suy
nghĩ về tình cảnh của mình và đấu tranh dể thanh đổi nó, nơi đây sự đối lập về lợi ích giữa giai cấp vô sản và
giai cấp tư bản lần đầu đã biểu lộ ra, nơi đây những liên đoàn lao động, phong trào Hiến chương và chủ
nghĩa xã hội đã ra đời…”
B4: Về Phương hướng: (Nêu ra trong Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam) ̣
- Phát triển GCCN cả về mặt số lượng và chất lượng, nâng cao bản lĩnh chính trị.
- Giải quyết việc làm, giảm tối đa công nhân thiếu việc làm và tốt nghiệp.
- Thực hiện tốt chính sách và pháp luật về lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
- Xây dựng tổ chức, phát triển đoàn viên, công đoàn, nghiệp đoàn ở các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế.
- Chăm lo, đào tạo cán bộ và kết nạp Đảng viên từ những công nhân ưu tú
CHƯƠNG III: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Câu 1: Phân tích tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH? Tại sao nói đi lên XHCN ở Việt Nam là tất yếu lịch sử?
- Quan niệm thời kỳ quá độ: TKQĐ từ CNTB lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc toàn diện
trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần cần thiết để hình thành một
xã hội mà trong đó những nguyên tắc căn bản của xã hội XHCN sẽ được thực hiện.
Tính khách quan của thời kỳ quá độ lên CNXH:
- XH còn tồn tại rất nhiều tàn dư của XH cũ (XH cũ và mới tồn tại đan xen), Trong XH cũ còn tồn tại những
phong tục lạc hậu, vẫn ăn sâu bám rễ vào tư tưởng của quần chúng nhân dân
- Là thời kì lâu dài, khó khăn, phức tạp và mỗi quốc gia xây dựng CNXH có con đường và thời gian khác nhau
- Đòi hỏi GCCN cần làm 1 cuộc cải biến trên tất cả các lĩnh vực để thực hiện mục tiêu của CNXH
* Tất yếu khách quan
- Một là, CNXH và CNTB là 2 chế độ xã hội khác nhau về bản chất.
Trên lĩnh vực kinh tế, trong khi CNTB được xây dựng trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất,
thì CNXH dựa trên sự công hữu về tư liệu sản xuất,
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
Trên lĩnh vực chính trị, CNTB duy trì áp bức, bóc lột và tồn tại những mâu thuẫn đối kháng về giai
cấp, CNXH không còn tình trạng áp bức, bóc lột, các mâu thuẫn đối kháng được giải quyết hài hòa.
Trên lĩnh vực văn hóa, CNTB xây dựng hệ tư tưởng GCVS còn CNXH theo hệ tư tưởng GCCN Rõ
ràng là bản chất của 2 xã hội đã rất khác nhau, vì thế không thể ngay lập tức xóa bỏ CNTB để đi lên CNXH
mà cần phải có 1 thời kỳ lịch sử nhất định ở giữa 2 chế độ xã hội khác nhau. Bất kỳ quá trình chuyển biến từ
một xã hội này lên một xã hội khác đều nhất định phải trải qua một thời kỳ gọi là thời kỳ quá độ. Đó là thời
kỳ còn có sự đan xen lẫn nhau giữa các yếu tố mới và cũ trong cuộc đấu tranh với nhau.
- Hai là, sự ra đời của một xã hội mới bao giờ cũng có những sự kế thừa nhất định từ những nhân tố
do xã hội cũ tạo ra. Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là sự kế thừa đối với chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là trên
phương diện kế thừa cơ sở vật chất kỹ thuật đã được tạo ra bởi sự phát triển của nền đại công nghiệp tư bản
chủ nghĩa. Tuy nhiên, cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội mặc dù cũng là nền sản xuất đại công nghiệp
nhưng đó là nền sản xuất đại công nghiệp xã hội chủ nghĩa chứ không phải là nền đại công nghiệp tư bản
chủ nghĩa. Do đó nó cũng cần phải có thời kỳ quá độ của bước cải tạo, kế thừa và tái cấu trúc nền công
nghiệp tư bản chủ nghĩa.
- Ba là, các quan hệ xã hội của CNXH (đặc biệt là QH sản xuất) không tự phát nảy sinh trong lòng
chủ nghĩa tư bản, chúng là kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của chủ
nghĩa tư bản, dù đã ở trình độ cao cũng chỉ có thể tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự hình thành các quan
hệ xã hội mới xã hội chủ nghĩa, đo vậy cũng cần phải có thời gian nhất định để xây dựng và phát triển những quan hệ đó.
- Bốn là, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một công việc mới mẻ, khó khăn và phức tạp. Với tư cách
là người chủ của xã hội mới, giai cấp công nhân và nhân dân lao động không thể ngay lập tức có thể đảm
đương được công việc ấy, nó cần phải có thời gian nhất định.
=> Thuận theo quy luật “ tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội"
* Đi lên XHCN ở Việt Nam là tất yếu lịch sử vì:
Theo Mác – Lênin, có 2 cách thức quá độ lên CNXH: cách trực tiếp là các nước CNTB phát triển ở trình độ
cao quá độ lên CNXH, cách gián tiếp từ CNTB lên CNXH đối với những nước chưa trải qua chủ nghĩa tư
bản phát triển. Việt Nam đã chọn con đường gián tiếp quá độ từ nước thuộc địa nửa pk, nông nghiệp lạc hậu.
Thời kỳ quá độ lên CNXH của Việt Nam có những đặc điểm như sau:
- Xuất phát từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp. Đất nước trải qua
chiến tranh ác liệt, kéo dài nhiều thập kỷ, hậu quả để lại còn nặng nề. Những tàn dư thực dân, phong kiến
còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa và nền độc lập dân
tộc của nhân dân ta. Trong bối cảnh lịch sử ấy, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước, qua quan sát
và tìm hiểu chủ nghĩa tư bản, tìm hiểu cuộc sống của người dân ở chính quốc và các nước thuộc địa. Người
đi đến kết luận, cách mạng giải phóng dân tộc Mỹ, cách mạng tư sản Pháp đều là những cuộc cách mạng vĩ
đại, nhưng chưa đến nơi, vì cách mạng thành công chỉ đem lại lợi ích cho thiểu số, còn đông đảo quần chúng
lao động vẫn chịu áp bức, bóc lột. Từ tiếng vang của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc đã
tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Qua nghiên cứu, phân tích một cách thấu đáo, Người đi đến kết luận:
Con đường cứu nước giải phóng dân tộc Việt Nam chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản.
- Trên thế giới, Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các
nước ở mức độ khác nhau. Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hoá sâu
sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời cơ
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt. Những quốc gia chưa có sự chuẩn bị kỹ
cho quá trình toàn cầu hóa dễ dàng bị tụt lại phía sau, và ngày càng lạc hậu do không theo kịp nhịp điệu phát
triển của các quốc gia khác. Căn cứ vào quan điểm của Chủ nghĩa Mác -Lênin, ở những nước nghèo nàn lạc
hậu, chậm phát triển về kinh tế vẫn có khả năng tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội mà không phải trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
- Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, cho dù chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng
tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân
dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách
thức, song theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội. Do đó, con
đường lựa chọn của Việt Nam là đi lên xây dựng hình thái KT - XH cộng sản CN là sự lựa chọn đúng đắn,
đúng quy luật phát triển khách quan
- Thực tiễn cũng cho thấy, từ khi có Đảng Cộng sản, với đường lối cách mạng đúng đắn – độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên đánh bại thực dân, đế quốc xâm lược,
giành độc lập tự do cho dân tộc, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Tiếp đó,
Đảng lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa
lịch sử, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao với mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; đất nước ta chưa bao giờ có được vận hội và cơ đồ như ngày hôm nay.
=> Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng, khoa học,
phản ánh đúng quy luật phát triển khách quan của cách mạng Việt Nam trong thời đại ngày nay. Cương lĩnh
năm 1930 của Đảng đã chỉ rõ: Sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, sẽ tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn dứt khoát và đúng đắn của Đảng, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của dân
tộc, nhân dân, phản ánh xu thế phát triển của thời đại, phù hợp với quan điểm khoa học, cách mạng và sáng
tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin
Câu 2: Phân tích những đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH. Những đặc điểm ấy thể hiện ở Việt Nam như thế nào?
* Là thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội tiền TBCN và TBCN sang xã hội XHCN. Xã hội của thời kỳ quá
độ là xã hội có sự đan xen của nhiều tàn dư về mọi phương diện Kinh tế, đạo đức, tinh thần của chủ nghĩa tư
bản và những yếu tố mới mang tính chất XHCN của CNXH mới phát sinh
a. Lĩnh vực kinh tế
Còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong đó có cả những thành phần kinh tế đối lập với KT XHCN Cái mới Tàn dư
Thành phần kinh tế nhà nước phải giữ vai
Còn tồn tại những thành phần kinh tế đối lập
trò chủ đạo để dẫn dắt nền kinh tế phát triển với CNXH: Kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế
theo đúng định hướng XHCN, thành phần
cá thể tiểu chủ, kinh tế hộ gia đình, kinh tế
kinh tế tập thể phải giữ vai trò nền tảng
có vốn đầu tư nước ngoài
=> Tồn tại đan xen nhiều thành phần kinh tế
=> Các thành phần kinh tế này luôn đấu tranh và cạnh tranh nhau khốc liệt trong đó kinh tế nhà nước XHCN giữ vai trò chủ đạo
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
b. Lĩnh vực chính trị
Thiết lập và tăng cường chuyên chính vô sản -> Thực hiện dân chủ với nhân dân, chuyên chính thế
lực thù địch, chống lại nhân dân Cái mới Tàn dư
- Nhà nước XHCN dần đến được hình thành Các tồn tại của giai cấp thống trị mới bị và củng cố, hoàn thiện
đánh đổ nhưng vẫn duy trì âm mưu khôi
- Trong xã hội còn tồn tại nhiều giai cấp, phục lại địa vị cũ
tầng lớp; xã hội do cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần quyết định; do nhiều hình thức
sở hữu quyết định; các giai cấp vừa liên
minh hợp tác, vừa đấu tranh với nhau
=> Là thời kỳ mà cuộc đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra quyết liệt phức tạp giữa giai cấp công nhân và
nhân dân lao động với giai cấp tư sản, giữa con đường đi lên CNXH hay CNTB
c. Lĩnh vực văn hóa tư tưởng
Còn tồn tại những tàn dư của nền văn hóa cũ và nhân tố của nền văn hóa mới. XHCN đan xen, đấu
tranh với nhau, trong đó nền văn hóa mới XHCN ngày càng phát triển và giữ vai trò chủ đạo Cái mới Tàn dư
Hệ tư tưởng GCCN dần dần giữ vai trò chủ Còn tồn tại các tư tưởng phản động trong xã
đạo trong đời sống tinh thần của xã hội
hội, các phong tục tập quán, hủ tục lạc hậu
Nền văn hóa mới, lối sống mới, con người
mới XHCN đang được hình thành
* Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam (hoặc đề hỏi NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở VIỆT NAM)
Đại Hội IX của ĐCSVN xác định: con đường đi lên của nước ta là quá độ lên CNXH bỏ qua tư
bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng
tư bản chủ nghĩa
nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới tư bản chủ
nghĩa
, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.
Thứ nhất, quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là con đường Cách mạng tất yếu khách quan.
Thứ hai, quá độ lên cnxh bỏ qua cđ tbcn tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản
xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN. Điều đó có nghĩa là trong thời kỳ quá độ còn nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế
, song sở hữu tư nhân tbcn và thành phần kinh tế tư nhân tbcn không chiếm vai
trò chủ đạo;
TKQĐ còn nhiều hình thức phân phối, ngoài phân phối theo lao động là chủ đạo còn phân
phối theo mức độ đóng góp và quỹ phúc lợi xã hội; thời kỳ quá độ vẫn còn quan hệ bóc lột, song quan hệ
bóc lột tbcn không giữ vai trò thống trị
Thứ ba, quá độ lên CNXH bỏ qua TBCN đòi hỏi phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân
loại đã đạt được dưới cntb, đbl những thành tựu về khoa học công nghệ, thành tựu về quản lý để phát triển
xã hội, đặc biệt là nền kinh tế hiện đại, phát triển nhanh lực lượng sản xuất.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
Thứ tư, quá độ lên CNXH bỏ qua TBCN là tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh
vực, là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế,
xã hội có tính chất quá độ, đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị cao và khát vọng lớn của toàn Đảng, toàn dân.
Câu 3: Trình bày những đặc trưng bản chất của CNXH. Liên hệ với công cuộc xây dựng CNXH
ở VN và trách nhiệm của sinh viên. * Trình bày:
1. Chủ nghĩa xã hội giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng con người, tạo
điều kiện để con người phát triển toàn diện.
V.I.Lênin, trong điều kiện mới của đời sống chính trị - xã hội thế giới đầu thế kỷ XX, đồng thời ̣từ
thực tiễn của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga xô - viết đã cho rằng, mục đích cao nhất,
cuối cùng của những cải tạo xã hội chủ nghĩa là thực hiện nguyên tắc: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu.
V.I.Lênin cũng khẳng định mục đích cao cả của chủ nghĩa xã hội cần đạt đến là xóa bỏ sự phân ̣ chia
xã hội thành giai cấp, biến tất cả thành viên trong xã hô ̣ i thành người lao động, tiêu diệt cơ ̣ sở của mọi tình
trạng người bóc lột người. V.I.Lênin còn chỉ rõ trong quá trình phấn đấu để đạt ̣ mục đích cao cả đó, giai cấp
công nhân, chính Đảng Cộng sản phải hoàn thành nhiều nhiệm vụ ̣ của các giai đoạn khác nhau, trong đó có
mục đích, nhiệm vụ cụ thể của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội - tạo ra các điều kiện về cơ sở vật chất -
kỹ thuật và đời sống tinh thần để thiết lập xã hội cộng sản. ̣
2. Chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về
tư liệu sản xuất chủ yếu
Đây là đặc trưng về phương diện kinh tế của CNXH. CNXH là xã hội có nền kinh tế phát triển cao
với lực lượng sản xuất hiện đại, quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, được tổ chức
quản lý có hiệu quả, năng suất lao động cao và phân phối chủ yếu theo lao động. Tuy nhiên, trong giai đoạn
đầu của xã hội XHCN thì không thể lập tức thủ tiêu chế độ tư hữu mà phải từng bước xác lập chế độ công
hữu về TLSX và phải tạo ra quan hệ sản xuất tiến bộ, thích ứng với trình độ phát triển của LLSX.
3. Chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội do nhân dân lao động làm chủ.
Đây là đặc trưng thể hiện thuộc tính, bản chất của xã hội XHCN, xã hội vì con người và do con
người; nhân dân mà nòng cốt là nhân dân lao động là chủ thể xã hội thực hiện quyền làm chủ ngày càng
rộng rãi và đầy đủ trong quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Chủ nghĩa xã hội là một chế độ
chính trị dân chủ. Nhà nước xã hội chủ nghĩa với hệ thống pháp luật và hệ thống tổ chức ngày càng hoàn
thiện sẽ quản lý xã hội ngày càng hiệu quả.
4. Chủ nghĩa xã hội có nhà nước kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, đại diện cho lợi ích, quyền lực
và ý chí của nhân dân lao động
Theo Lênin, chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản là một chính quyền do giai cấp vô sản
giành được từ tay giai cấp tư sản. Chính quyền này chính là nhà nước kiểu mới thực hiện dân chủ cho tuyệt
đại đa số nhân dân và trấn áp bằng vũ lực đối với bọn bóc lột, áp bức nhân dân. Nhà nước vô sản phải là một
nhà nước pháp quyền của nhân dân làm chủ, do nhân dân ủy thác và vì lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
5. Chủ nghĩa xã hội có nền văn hóa phát triển cao, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc và
tinh hoa văn hóa nhân loại
Trong chủ nghĩa xã hội, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, mục tiêu và động lực của phát triển
xã hội, trọng tâm là phát triển kinh tế; văn hóa đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh con người, biến
con người thành con người chân thiện mỹ. Quá trình xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa phải biết kế
thừa những giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa nhân loại, đồng thời cần chống tư tưởng văn hóa phi vô sản,
trái với những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của loài người, trái với phương hướng đi lên xã hội chủ nghĩa.
6. Chủ nghĩa xã hội đảm bảo bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân
dân các nước trên thế giới
Bảo đảm bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và có quan hệ hợp tác, hữu nghị với nhân dân tất cả
các nước trên thế giới, chủ nghĩa xã hội mở rộng được ảnh hưởng và góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh
chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. * Liên hệ:
Việt Nam đang trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Qua hơn 30 năm Đổi mới, bằng việc vận
dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, nhận thức của Đảng
và nhân dân ta về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng rõ. Qua từng thời kỳ
Đại hội, nhận thức của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường phát triển cách mạng nước ta bắt đầu từ
mức độ định hướng, định tính rồi phát triển lên trình độ định hình, định lượng. Đến Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (2011) đã phát triển mô hình CNXH ở Việt Nam với tám đặc trưng cơ bản:
1. Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
2. Do nhân dân làm chủ
3. Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên LLSX hiện đại và QHSX tiến bộ phù hợp
4. Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát triển toàn diện
5. Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
6. Các dân tộc trong cộng đồng dân tộc VN bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển
7. Có nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
8. Có mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới.
Đồng thời, Cương lĩnh cũng xác định các phương hướng cơ bản xây dựng đất nước, bao gồm:
1. Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường
2. Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
3. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân
dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
4. Bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội
5. Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động
tích cực hội nhập quốc tế
6. Xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất
7. Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do dân và vì dân
8. Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819 * Trách nhiệm:
Sinh viên là lực lượng kế tục, phát huy nguồn trí tuệ nước nhà, là nguồn lực chủ yếu trong thời đại kinh tế tri
thức, khoa học công nghệ, đóng vai trò then chốt trong phát triển đất nước, là lực lượng to lớn trong việc giữ
gìn và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Kế thừa những giá trị của Chủ nghĩa Mác – Lênin, trong quá trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách
mạng, Hồ Chí Minh luôn đề cao vị trí, vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của
dân tộc. Người biểu lộ niềm tin vững chắc vào thế hệ trẻ, là lớp người “xung phong trong công cuộc phát
triển kinh tế và văn hóa, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” và khẳng định, thanh niên là lực lượng
cách mạng hùng hậu, bộ phận quan trọng của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh.
Thanh niên Việt Nam cần có 3 nhóm phẩm chất là: Trình độ chuyên môn và tay nghề cao, đạo đức và lối
sống trong sáng, sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần cường tráng mới đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thời kỳ kinh tế tri thức, thời kỳ hội nhập quốc tế. Để đạt được tiêu
chí và phẩm chất trên đòi hỏi bản thân thanh niên phải tự học, tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự tin, tự chịu trách
nhiệm để trở thành nguồn lao động chất lượng cao, trở thành người thừa kế trung thành sự nghiệp của Đảng và dân tộc.
● Thứ nhất, thanh niên phải tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi đắp lý
tưởng cách mạng trong sáng. Bối cảnh trong nước và quốc tế đang tác động lên tất cả các đối tượng
thanh niên, tác động một cách toàn diện lên tư tưởng, tình cảm, lối sống, nhu cầu của từng thanh
niên. Do đó, thanh niên phải rèn luyện để có lập trường tư tưởng vững vàng, có lòng yêu nước, có
niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng
và lối sống lành mạnh; tích cực tham gia vào các cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ
cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh chống lại âm mưu
“Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và các tiêu cực, tệ nạn xã hội, tham nhũng…
● Thứ hai, thanh niên cần tích cực học tập và tự học tập để nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn,
khoa học, kỹ thuật và tay nghề. Trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội trong nước và hội nhập
quốc tế, thanh niên nước ta cần nâng cao trình độ học vấn, tay nghề khả năng thực tế, kỹ năng lao
động để thích ứng với thị trường lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế. Thanh niên
phải tích cực tham gia xây dựng xã hội học tập với phương châm: người thanh niên nào cũng phải
học ở đâu, làm gì, thời gian nào cũng phải học, người thanh niên nào cũng phải xác định tham gia
học tập thường xuyên, suốt đời là quyền và nghĩa vụ của bản thân
● Thứ ba, thanh niên phải tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các đoàn thể nhân dân. Thanh niên phải tích cực tham gia bảo vệ và xây dựng hệ thống chính trị
ở các cấp vững mạnh và tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc. Các đối tượng
thanh niên tự nguyện, tự giác tham gia vào các hội của thanh niên, phấn đấu trở thành đoàn viên,
đảng viên của Đảng và hội viên của các quần chúng nhân dân.
● Thứ tư, thanh niên phải tích cực tham gia vào việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh và môi
trường sinh thái trong lành, sạch đẹp. Tích cực tham gia phòng chống ô nhiễm môi trường, suy
thoái môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.
● Thứ năm, thanh niên cần chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế; tham gia giải quyết
các vấn đề toàn cầu như giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi
trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu; tham gia vào công tác ngoại giao nhân dân để nâng
tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế.
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
Để kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc ta, mỗi thanh niên Việt Nam hãy ra
sức học tập, trau dồi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ra sức thi đua lao động và rèn luyện để
hình thành một thế hệ thanh niên tân tiến, xứng tầm đòi hỏi của đất nước và thời đại
Câu 4: Phân tích đặc trưng của CNXH theo học thuyết Mác-Lênin: "xã hội xã hội chủ nghĩa là giải
phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng con người, tạo điều kiện để con người
phát triển toàn diện." và liên hệ với quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam”.

Câu nói trên đã khái quát một trong những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội khi nhân mạnh “xã
hội xã hội chủ nghĩa là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng con người, tạo
điều kiện để con người phát triển toàn diện." và liên hệ với quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam”.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, khi dự báo về xã hội tương lai, xã hội cộng sản chủ
nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Thay cho xã hội tư bản cũ, với những giai cấp và đối kháng
giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi ̣ người là điều kiện phát triển
tự do của tất cả mọi người” ̣ 1; khi đó “con người, cuối cùng làm chủ tồn tại xã hội của chính mình, thì cũng
do đó làm chủ tự nhiên, làm chủ cả bản thân mình trở thành người tự do”2.. Đây là sự khác biệt về chất giữa
hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa so với các hình thái kinh tế - xã hội ra đời trước, thể hiện ở bản
chất nhân văn, nhân đạo, vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đương
nhiên, để đạt ̣ được mục tiêu tổng quát đó, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, cách mạng xã hội chủ nghĩa
phải tiến hành triệt để, trước hết là giải phóng giai cấp, xóa bỏ tình trạng giai cấp này bóc lột, áp bức ̣ giai
cấp kia, và một khi tình trạng người áp bức, bóc lột người bị xóa bỏ thì tình trạng dân tộc này đi bóc lột dân
tộc khác cũng bị xóa bỏ” ̣ 3.
V.I.Lênin, trong điều kiện mới của đời sống chính trị - xã hội thế giới đầu thế kỷ XX, đồng thời từ
thực tiễn của công cuôc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga xô - viết đã cho rằng, mục đích cao nhất,
cuối cùng của những cải tạo xã hội chủ nghĩa là thực hiện nguyên tắc: làm theo năng lực, hưởng theo nhu
cầu: “khi bắt đầu những cải tạo xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải đặt rõ cái mục đích mà những cải tạo xã hội
chủ nghĩa đó rút cục nhằm tới, cụ thể là thiết lập một xã hội cộng sản chủ nghĩa, một xã hội không chỉ hạn
chế ở việc tước đoạt các công xưởng, nhà máy, ruộng đất và tư liệu sản xuất, không chỉ hạn chế ở việc kiểm
kê, kiểm soát một cách chặt chẽ việc sản xuất và phân phối sản phẩm, mà còn đi xa hơn nữa, đi tới việc thực
hiện nguyên tắc: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu.
Vì thế cái tên gọi “Đảng Cộng sản là duy nhất chính xác về mặt khoa học” ̣ 4V.I.Lênin cũng khẳng
định mục đích cao cả của chủ nghĩa xã hội cần đạt đến là xóa bỏ sự phân chia xã hội thành giai cấp, biến tất
cả thành viên trong xã hội thành người lao động, tiêu diệt cơ sở của mọi tình trạng ̣ người bóc lột người.
V.I.Lênin còn chỉ rõ trong quá trình phấn đấu để đạt mục đích cao cả đó, giai cấp công nhân, chính Đảng
Cộng sản phải hoàn thành nhiều nhiệm vụ của các giai đoạn khác nhau, trong đó có mục đích, nhiệm vụ cụ
thể của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội - tạo ra các điều kiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật và đời sống tinh
thần để thiết lập xã hội cộng sản.
CHƯƠNG 4: DÂN CHỦ XHCN VÀ NHÀ NƯỚC XHCN
Câu 1: Phân tích sự ra đời, bản chất, chức năng của NN XHCN? Liên hệ xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở VN
a. Khái niệm và sự ra đời
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
* Khái niệm: Nhà nước XHCN là tổ chức chính trị mà thông qua đó Đảng của giai cấp công nhân giữ
vai trò
lãnh đạo, cùng với quần chúng nhân dân lao động xây dựng chế độ xã hội công bằng dân chủ văn minh. * Sự ra đời:
- NN XHCN ra đời là kết quả của cuộc CM XHCN, tùy theo đặc điểm, đk của quốc gia, sự ra đời của NN
XHCN cũng như việc tổ chức chính quyền có những đặc điểm, hình thức và phương pháp phù hợp. Song,
hai nhân tố chính quyết định đến sự ra đời của NN XHCN là Kinh tế và Xã hội. + Kinh tế
● Chế độ tư hữu về TLSX xuất hiện
● Tình trạng bất bình đẳng về kinh tế, người này có thể chiếm đoạt lợi ích kinh tế của người khác + Xã hội
● Tổ chức thị tộc bị phá vỡ -> Nhà nước đầu tiên là nhà nước chủ nô
● Xuất hiện giai cấp, xuất hiện sự khác biệt về mặt giai cấp và đấu tranh giai cấp và đấu tranh giai cấp không thể điều hòa
→ Theo Lênin: Nhà nước không phải cơ quan điều hòa mâu thuẫn giai cấp
- Hai yếu tố quyết định sự ra đời của NN XHCN + Kinh tế
● Chế độ công hữu về TLSX xuất hiện
● Giải quyết lợi ích kinh tế tương đối bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội
+ Xã hội: Do nhân dân lao động lên địa vị làm chủ trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội b. Bản chất
- Bản chất của Nhà nước: Bản chất của nhà nước chính là bản chất của giai cấp cầm quyền trong xã hội nhất định
- Bản chất của NN XHCN: NN XHCN mang bản chất của GCCN
- Về chính trị: nhà nước XHCN mang bản chất của giai cấp công nhân, giai cấp mà có lợi ích phù hợp với
lợi ích chung của quần chúng nhân dân lao động. Trong xã hội XHCN, giai cấp vô sản là lực lượng giữ địa
vị thống trị về chính trị
. Đó là sự thống trị của đa số đối với thiểu số giai cấp bóc lột nhằm giải phóng giai
cấp mình và giải phóng tất cả nhân dân lao động trong xã hội. Nhà nước XHCN thể hiện ý chí, quyền lực và
nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
- Về mặt kinh tế, bản chất của nhà nước XHCN chịu sự quy định của cơ sở kinh tế của xã hội XHCN, đó là
chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất. Do đó không còn tồn tại quan hệ sản xuất bóc lột (chế độ tư
hữu về TLSX). Việc chăm lo cho lợi ích của đại đa số nhân dân lao động trở thành mục tiêu hàng đầu của
nhà nước CNXH. Nhà nước XHCN vừa là bộ máy chính trị - hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế xã
hội của nhân dân lao động
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
- Về mặt văn hóa – xã hội, nhà nước XHCN được xây dựng trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin
và những giá trị văn hóa tiến bộ của nhân loại, đồng thời mang những bản sắc riêng của dân tộc. Sự phân
hóa
giữa các giai cấp, tầng lớp từng bước được thu hẹp, trở nên bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn
lực và cơ hội để phát triển. c. Chức năng
Chức năng của nhà nước: là phương diện hoạt động cơ bản, quan trọng của Nhà nước, phù hợp với
bản chất, mục đích, quản lý của Nhà nước
- Căn cứ vào phạm vi tác động của quyền lực nhà nước, chức năng của nhà nước được chia thành chức
năng đối nội và chức năng đối ngoại.
+ Chức năng đối nội của Nhà nước: là những mặt hoạt động chủ yếu của Nhà nước trong nội bộ đất nước
+ Chức năng đối ngoại của Nhà nước: thể hiện vai trò của Nhà nước trong quan hệ với các nhà nước và dân tộc khác
- Căn cứ vào lĩnh vực tác động, chức năng nhà nước được chia thành chức năng kinh tế, chức năng chính
trị, chức năng văn hóa – xã hội.
- Căn cứ vào tính chất của quyền lực nhà nước: chức năng giai cấp (chức năng trấn áp) và chức năng xã
hội (tổ chức và quản lý).
d. Liên hệ (hoặc đề liên quan đến “Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam”)
- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên cnxh đã nêu ra những nội dung khái quát liên quan
đến nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Nhận thức của Đảng ta về nhà nước pháp quyền xhcn tiếp tục được làm sáng rõ tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ
(tháng 1/1994), Đảng ta đã sử dụng khái niệm “nhà nước pháp quyền”, Đảng tiếp tục bổ sung tư tưởng về
nhà nước pháp quyền thông qua các kỳ đại hội.
- Quan niệm chung: Nhà nước pháp quyền là nhà nước thượng tôn pháp luật, nhà nước hướng tới các giá trị
về phúc lợi cho con người, tạo điều kiện phát huy tối đa khả năng, năng lực của con người cho cá nhân
- Hiện nay: Đó là nhà nước mà tất cả công dân được giáo dục pháp luật và phải hiểu biết pháp luật, tuân thủ
pháp luật. Bên cạnh đó, pháp luật phải đảm bảo tính nghiêm minh. Trong hoạt động của cơ quan nhà nước,
phải có sự phân công, phối hợp lẫn nhau.
Đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền xhcn Việt Nam (6)
Xây dựng nhà nước do nhân dân lao động làm chủ: nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở hiến pháp và pháp luật (pháp luật đặt ở vị trí tối
thượng để điều chỉnh quan hệ xã hội).
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rõ ràng, phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan:
lập pháp, hành pháp và tư pháp
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tôn trọng quyền con người, coi con người là
trung tâm của sự phát triển. Quyền dân chủ của nhân dân được thực hành một cách rộng rãi; “nhân
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com) lOMoARcPSD|48232819
dân có quyền bầu và bãi miễn những đại biểu không xứng đáng”; đồng thời tăng cường thực hiện sự
nghiêm minh của pháp luật

Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công,
phân cấp, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau, nhưng bảo đảm quyền lực là thống nhất và sự chỉ đạo
thống nhất của Trung ương

Để phát huy dân chủ XHCN ở Việt Nam hiện nay, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN vững mạnh
là vô cùng quan trọng. Đảng đã đưa ra được những phương pháp sau đây để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay:
1. Xây dựng nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng
2. Cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước
3. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực
4. Đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí; thực hành tiết kiệm
Trách nhiệm: Để góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, mỗi công dân cần phải:
- Gương mẫu thực hiện và tuyên truyền, vận động mọi người thực hiện đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của nhà nước.
- Tích cực tham gia các hoạt động: xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền, giữ gìn trật tự…
- Phê phán, đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật
- Thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá các thế lực thù địch.
Câu 2: So sánh dân chủ vô sản (dân chủ XHCN) và dân chủ tư bản * Khái quát - Khái niệm + Dân chủ?
Sự ra đời của nền dân chủ XHCN là một bước tiến dài so với nền dân chủ tư sản. Dân chủ XHCN
thuộc về đại đa số, là nền dân chủ rộng rãi nhất trong lịch sử có giai cấp: rộng rãi cho đa số các tầng lớp, giai
cấp, đặc biệt là người dân lao động, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là chính trị. Trong nền dân chủ
vô sản, quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân ngày càng tham gia vào công việc của nhà nước và quản lý
xã hội → nhấn mạnh bản chất và mục tiêu của XHCN → đó là nền dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản. * So sánh - Giống nhau
+ Trên lĩnh vực chính trị: Cơ sở chính trị là mặt biểu hiện trực tiếp của dân chủ. Đó chính là quyền
lực chính trị, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân.
+ Trên lĩnh vực kinh tế: Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế gắn liền với hoạt động mang tính bản chất
của con người là hoạt động lao động sản xuất, thực hiện lợi ích và thỏa mãn các nhu cầu. Dân chủ trong lĩnh
vực kinh tế là làm cho người lao động được đảm bảo các quyền dân chủ về kinh tế. Dân chủ trong lĩnh vực
kinh tế là tạo nên mối quan hệ hợp tác, tôn trọng, bình đẳng giữa các chủ thể. làm cho sự phân hóa giàu
Downloaded by Hien Nguyen (hienthanh2336@gmail.com)