



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA TÀI CHÍNH TIÊN TIẾN -------***------- BÀI TẬP LỚN
MÔN HỌC: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ BÀI: Anh, chị hãy tìm hiểu và phân tích quan điểm của Hồ Chí
Minh về cơ cấu nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH? Đảng
Cộng sản Việt Nam đã vận dụng quan điểm nêu trên như thế nào trong xây
dựng nền kinh tế nước ta hiện nay?
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Minh Khôi MSV: 11233082
Lớp tín chỉ: 65C Tài chính Tiên tiến
Giảng viên: TS. Nguyễn Chí Thiện HÀ NỘI – 2024 MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CƠ CẤU NỀN KINH TẾ
NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH.........................................3
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nền kinh tế trong thời kỳ quá độ
lên CNXH........................................................................................................3
1.1. Bản chất thời kỳ quá độ..........................................................................3
1.2. Đặc điểm nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH..............................3
2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên
CNXH ở Việt Nam...........................................................................................5
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam..............5
2.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu nền kinh tế trong thời kỳ quá độ
lên CNXH ở Việt Nam..................................................................................5
2.2.1. Phát triển kinh tế nhiều thành phần................................................6
2.2.2. Xây dựng cơ cấu ngành kinh tế hợp lí..............................................7
CHƯƠNG 2. VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG XÂY
DỰNG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY...................................................8
1. Quá trình vận dụng của Đảng ta trong xây dựng nền kinh tế nước ta hiện
nay..................................................................................................................8
1.1. Quá trình xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần...................................8
1.2. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.........................................10
2. Hạn chế trong quá trình vận dụng.............................................................12
3. Đề xuất giải pháp.......................................................................................13
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................15 1 MỞ ĐẦU
Trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và tiến tới xây dựng chủ nghĩa
xã hội, Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, đã để lại những dấu ấn
sâu đậm không chỉ về mặt tư tưởng chính trị mà còn về chiến lược kinh tế. Quan điểm
của Người về cơ cấu nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) đã
trở thành nền tảng tư tưởng lý luận vô cùng quan trọng, hướng dẫn sự nghiệp xây dựng
và phát triển kinh tế của Việt Nam sau này.
Trải qua hơn 60 năm lịch sử của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam, toàn dân ta đã cùng nhau trải qua giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, cùng nhau
chứng kiến giai đoạn lịch sử chuyển mình sang một hình thái kinh tế xã hội mới tiến
lên cộng sản chủ nghĩa. Đi lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan theo đúng
quy luật tiến hóa của lịch sử. Không thể không kể đến muôn vàn khó khăn, thách thức
mà nước ta đã trải qua khi bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội với một nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển.
Để vực dậy khỏi tình cảnh đó, điều quan trọng nhất là phải xây dựng một nền
cơ cấu kinh tế hợp lí. Muốn làm được điều này đòi hỏi phải có sự phân tích, nghiên
cứu sâu sắc, có cái nhìn toàn cảnh về điều kiện và khả năng của quốc gia, và Hồ Chí
Minh đã làm được điều đó. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá
độ lên CNXH đã chứng minh tầm nhìn chiến lược, khả năng tư duy vượt thời đại của
Người. Đảng và Chính Phủ ta vẫn luôn học tập theo quan điểm này, áp dụng khéo léo
vào thực tiễn, và không ngừng nghiên cứu, sáng tạo để phát triển trong thời đại hiện
nay. Và để có cái nhìn chi tiết cũng như hiểu rõ ý nghĩa lớn lao mà tư tưởng này đem
lại cho bao thế hệ, đề tài: “Anh, chị hãy tìm hiểu và phân tích quan điểm của Hồ Chí
Minh về cơ cấu nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH? Đảng Cộng sản
Việt Nam đã vận dụng quan điểm nêu trên như thế nào trong xây dựng nền kinh tế
nước ta hiện nay?” sẽ được trình bày trong bài tiểu luận này. 2 NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CƠ CẤU
NỀN KINH TẾ NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH
1.1. Bản chất thời kỳ quá độ
Khi phân kỳ lịch sử thành xã hội này và xã hội kia, chúng ta dễ dàng nhận thấy
rằng, giữa xã hội này và xã hội kia bao giờ cũng có một thời kỳ quá độ. Xã hội tư bản
chủ nghĩa là giai đoạn cao nhất của xã hội dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất,
xã hội thay thế xã hội tư bản chủ nghĩa là xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất, hay còn gọi là xã hội cộng sản chủ nghĩa. C.Mác đã khẳng định giữa xã hội
tư bản chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản là một thời kỳ chuyển hóa cách mạng từ xã hội
nọ thành xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy sẽ là một thời kỳ quá độ chính trị, trong
đó nhà nước không thể là cái gì khác hơn là chuyên chính cách mạng của giai cấp vô
sản. Hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa ra đời có quá trình phát triển qua các
giai đoạn, từ thấp đến cao: giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản; giai đoạn cao hơn
của chủ nghĩa cộng sản. Thời kỳ Mác và Ăngghen trong bối cảnh của thế kỷ XIX ở
phương Tây vấn đề kinh tế của thời kỳ quá độ chưa đặt ra nên các ông chỉ mới đề cập
đến nội dung chính trị.
Kế thừa và phát huy tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, Lênin đã cụ thể hóa
việc phân kỳ hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa thành ba giai đoạn. Giai
đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản gọi là chủ nghĩa xã hội. Giai đoạn cao được gọi là
chủ nghĩa cộng sản hay xã hội cộng sản. Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội là tất yếu và lâu dài vì cải tổ sản xuất là một việc khó khăn, bởi vậy ông
chỉ ra rằng phải cần nhiều thời gian để thực hiện được những thay đổi căn bản trong
mọi lĩnh vực của cuộc sống.
1.2. Đặc điểm nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Lênin đã chỉ rõ đặc điểm kinh tế nổi bật nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, quan điểm này được Lênin đưa ra
trong Chính sách kinh tế mới, để thay thế cho Chính sách cộng sản thời chiến đã lạc 3
hậu và kìm hãm sự phát triển kinh tế. Cùng với đó, Lênin đưa ra các thành phần kinh
tế chủ yếu trong thời kỳ quá độ lên CNXH là: Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng; sản
xuất hàng hóa nhỏ; chủ nghĩa tư bản tư nhân; chủ nghĩa tư bản nhà nước và chủ nghĩa
xã hội. Trong đó, chủ nghĩa tư bản nhà nước được Lênin đánh giá cao về vị trí và vai
trò, vì phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước không chỉ là biện pháp “quá độ đặc biệt”
mà còn là khâu “trung gian” để chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội. Về
kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ, điểm xuất phát trong quá trình xây dựng nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần là phải đáp ứng lợi ích kinh tế cho đại đa số nông dân, mà
trước hết là từ nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dựa vào khôi phục và phát triển kinh
tế tiểu nông để khôi phục và phát triển đại công nghiệp. Về kinh tế tư bản tư nhân, tư
bản tư nhân sẽ tạo ra nhiều hàng hóa tiêu dùng cho xã hội - cơ sở ổn định chính trị. Về
kinh tế chủ nghĩa xã hội, Lênin đánh giá rất cao vị trí, vai trò của thành phần kinh tế
này, đây là xương sống của nền kinh tế - những mạch máu kinh tế cơ bản như công
nghiệp, ngân hàng, tài chính tín dụng luôn thuộc sở hữu nhà nước.
Về thứ tự các thành phần kinh tế, Lênin đã cố tình sắp xếp các thành phần kinh
tế theo thứ tự, cấp độ tăng lên về tính chất xã hội chủ nghĩa của mỗi thành phần kinh
tế; tỷ trọng của các thành phần kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử; sự biến đổi tỷ
trọng các thành phần kinh tế phải theo hướng xã hội chủ nghĩa; tính đan xen, mâu
thuẫn, đấu tranh và thống nhất giữa các thành phần kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế
bền vững, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế của đất nước và tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội.
Bên cạnh đó, những yếu tố của xã hội cũ bên cạnh những nhân tố mới của chủ
nghĩa xã hội trong mối quan hệ vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau. Đây là bước
quá độ trung gian tất yếu trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thể dùng ý
chí để xóa bỏ ngay kết cấu nhiều thành phần của nền kinh tế, nhất là đối với những
nước còn ở trình độ chưa trải qua sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa. Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được
xác lập trên cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất
với những hình thức tổ chức kinh tế đa dạng, đan xen hỗn hợp và tương ứng với nó là
những hình thức phân phối khác nhau, trong đó hình thức phân phối theo lao động tất
yếu ngày càng giữ vai trò là hình thức phân phối chủ đạo. 4
2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
Kế thừa những quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng không ngừng
và thời kỳ quá độ lên CNXH; xuất phát từ đặc điểm, điều kiện của Việt Nam, Hồ Chí
Minh đã khẳng định: Thời kỳ quá độ “là thời kỳ dân chủ mới”, tiến dần lên CNXH. Ở
Việt Nam là hình thái quá độ gián tiếp với: “Đặc điểm to nhất là từ một nước nông
nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản
chủ nghĩa”. Đặc điểm này chi phối tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,
nhằm từng bước xóa bỏ triệt để các tàn tích của chế độ thực dân, phong kiến, đồng
thời từng bước gây dựng các mầm mống cho CNXH phát triển, đó là một tất yếu.
Những nội dung tư tưởng về thời kỳ quá độ lên CNXH của Hồ Chí Minh không
chỉ là sự tiếp thu, kế thừa những giá trị trong hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin
về thời kỳ quá độ, mà còn được bổ sung, phát triển trong điều kiện lịch sử mới; qua đó,
tiếp tục khẳng định và làm sáng rõ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
2.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
Hồ Chí Minh đã kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm của Mác - Ăngghen,
Lênin về những vấn đề kinh tế - chính trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH, trong đó
Người rất quan tâm đến việc phát triển kinh tế của nước nhà trong thời kỳ quá độ lên
CNXH. Từ quan điểm của Lênin về kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH, phải phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần, phát triển lực lượng sản xuất là vấn đề mấu chốt,
tăng năng suất lao động trên cơ sở công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, cùng với thiết
lập quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, ngành, vùng,
lãnh thổ trong thời kỳ quá độ. Hồ Chí Minh rất coi trọng quan hệ phân phối và quản lý
kinh tế. Theo Người, quản lý kinh tế phải dựa trên cơ sở hạch toán, đem lại hiệu quả
cao, sử dụng tốt các đòn bẩy để phát triển sản xuất.
Trong hoàn cảnh kinh tế vẫn còn khó khăn, công nghệ còn kém phát triển, Hồ
Chí Minh nhận định rằng mục tiêu hàng đầu của giai đoạn quá độ là tái cơ cấu nền
kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới với sự hiện đại hóa trong cả lĩnh vực công nghiệp
và nông nghiệp. Đây được coi là quá trình xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật cho chủ
nghĩa xã hội. Trong sự phân định giữa việc cải tạo và xây dựng, việc xây dựng được 5
coi là trọng tâm chiến lược và bền vững, luôn đi đôi với việc thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.
2.2.1. Phát triển kinh tế nhiều thành phần
Cơ cấu các thành phần của một nền kinh tế phụ thuộc vào sự tồn tại của các
hình thức sở hữu, các kiểu quan hệ sản xuất, vào trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, của sản xuất hàng hoá thời kỳ quá độ. Như Lênin đã chỉ rõ: Nền kinh tế trong
thời kỳ quá độ, xét về toàn bộ, nó là nền kinh tế quá độ, còn tồn tại nhiều hình thức sở
hữu, do đó sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác nhau là một tất yếu khách quan.
Mỗi thành phần kinh tế còn phát huy tác dụng tích cực, có đóng góp vào quốc kế dân
sinh thì không thể dùng mệnh lệnh hành chính mà xoá bỏ ngay một lúc được.
Khi nghiên cứu Chính sách kinh tế mới của Lênin để vận dụng vào hoàn cảnh
cụ thể của Việt Nam, ngay từ trong kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nói rõ, ở vùng tự do của ta, còn tồn tại 6 thành phần kinh tế. Trong tác phẩm "Thường
thức chính trị" (1953), Hồ Chí Minh đã nêu rõ bản chất của chế độ công hữu xã hội
chủ nghĩa và đã cụ thể hoá các thành phần kinh tế bao gồm:
- Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô - Kinh tế quốc doanh
- Các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp
- Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ
- Kinh tế tư bản của tư nhân
- Kinh tế tư bản quốc gia
Nền kinh tế Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 xuất hiện với đặc
điểm là sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Bên cạnh các thành phần
kinh tế xã hội chủ nghĩa, vẫn còn tồn tại thành phần kinh tế phong kiến. Thành phần
này đặc thù bởi nó phản ánh mức độ phát triển kinh tế thấp với chế độ sở hữu phong
kiến về ruộng đất. Trong hoàn cảnh đặc biệt của cuộc kháng chiến giành độc lập dân
tộc và xây dựng chế độ dân chủ, việc tiếp tục đấu tranh với thành phần kinh tế phong
kiến là cần thiết. Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ vị trí và vai trò của từng thành phần
kinh tế trong nền kinh tế, từ đó có cơ sở để đề ra chính sách đảm bảo ổn định nền kinh
tế và đóng góp quan trọng vào chiến thắng trong cuộc kháng chiến.
Khi nước ta hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí
Minh chỉ rõ, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước tiền tư bản phải “kinh
qua chế độ dân chủ mới”. Trong chế độ dân chủ mới có 5 loại kinh tế khác nhau: 6 - Kinh tế quốc doanh - Các hợp tác xã
- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ - Tư bản của tư nhân - Tư bản của Nhà nước
Như vậy, cơ cấu thành phần kinh tế trong chế độ dân chủ mới ở Miền Bắc Việt
Nam sau năm 1954 so với cơ cấu kinh tế Việt Nam trong vùng tự do 1945-1954 ở
những điểm thống nhất và có những điểm thay đổi sau:
- Điểm thống nhất: Trong nền kinh quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì đặc điểm
kinh tế cơ bản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam là sự
tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế. Và tồn tại các thành phần kinh tế phổ
biến: Kinh tế quốc doanh; Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ; Tư bản của
tư nhân. Thành phần kinh tế quá độ: Các hợp tác xã; Tư bản của Nhà nước. - Điểm thay đổi:
Một là, khác với thời kháng chiến, trong chế độ dân chủ mới không còn thành
phần kinh tế phong kiến. Cải cách ruộng đất đã triệt tiêu chế độ sở hữu phong kiến về
ruộng đất. Người nông dân đã trở thành người cày có rộng, chủ sở hữu ruộng đất. Điều
này một lần nữa khẳng định lại nhận định của Hồ Chí Minh: “làm tư sản dân quyền
cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Muốn đi tới chủ nghĩa
cộng sản thì dân tộc phải độc lập và dân cày phải có ruộng.
Hai là, các thành phần kinh tế thay đổi về vị trí và vai trò trong nền kinh tế. Ví
dụ, kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu toàn dân, lãnh đạo nền kinh tế quốc dân,
phát triển thành phần kinh tế quốc doanh tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và
thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Như vậy, vị trí, vai trò của thành phần kinh tế
quốc doanh đã có bước phát triển mới, từ chỗ có tính chất chủ nghĩa xã hội đã trở
thành thành phần kinh tế thực sự đại diện cho chủ nghĩa xã hội và có vai trò “lãnh đạo”
trong nền kinh tế và đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển kinh tế.
2.2.2. Xây dựng cơ cấu ngành kinh tế hợp lí
Trong nền kinh tế quốc dân có ba mặt quan trọng: Nông nghiệp, công nghiệp,
thương nghiệp. Ba mặt công tác quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó, Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn coi công nghiệp và nông nghiệp là hai ngành kinh tế quan trọng nhất và
có tác động qua lại với nhau rất mật thiết. Người đã nhiều lần nhấn mạnh: “Công
nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế”. Người dùng từ “què”, “khập 7
khiễng” để phê phán sự phát triển không đồng bộ giữa công nghiệp và nông nghiệp.
Là “hai chân của nền kinh tế” phải phát triển vững chắc cả hai: “Công nghiệp và nông
nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe và đi đều
thì tiến bước sẽ nhanh, và nhanh chóng đi đến mục đích”.
Đánh giá vị trí, vai trò của nông nghiệp, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi phát triển
nông nghiệp là nhân tố đầu tiên, tiên quyết giải quyết mọi vấn đề xã hội. Nông nghiệp
giải quyết nhu cầu quan trọng nhất, cơ bản nhất, cấp thiết nhất của con người là nhu
cầu ăn, mặc, ở. Vì vậy, phát triển nông nghiệp ở nước ta lúc đó là thực sự quan trọng,
không chỉ để đảm bảo lương thực, thực phẩm cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân,
bảo đảm việc làm cho người lao động, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, mà điều quan
trọng hơn là nó sẽ là cơ sở ban đầu cho các ngành kinh tế khác, cũng như cơ sở cho
vấn đề công nghiệp hóa nước nhà.
Có thể thấy, tư tưởng kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa
nông nghiệp và công nghiệp trong thời kỳ quá độ thể hiện quan điểm xuyên suốt là:
Tập trung phát triển nông nghiệp trong mối quan hệ tác động biện chứng với phát triển
công nghiệp, phát triển công nghiệp trước hết cũng để phục vụ nông nghiệp. Muốn cho
nông nghiệp phát triển, công nghiệp phải được phát triển và công nghiệp muốn phát
triển phải nhằm phục vụ cho nông nghiệp. Giải quyết đúng đắn, hợp lý mối quan hệ
này thì kinh tế xã hội chủ nghĩa mới phát triển, đời sống nhân dân mới không ngừng được cải thiện.
CHƯƠNG 2. VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TRONG XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY
1. Quá trình vận dụng của Đảng ta trong xây dựng nền kinh tế nước ta hiện nay
1.1. Quá trình xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần
Đại hội ĐBTQ lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã hoạch định và thực hiện
chính sách kinh tế nhiều thành phần nhằm khai thác sức mạnh toàn dân trong các
thành phần kinh tế, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Đại hội lần thứ VII của
Đảng (năm 1991) tiếp tục chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế gia đình tuy không phải là một thành phần
kinh tế độc lập nhưng được khuyến khích phát triển. Đại hội lần thứ VIII của Đảng 8
(năm 1996) xác định nền kinh tế nước ta gồm các thành phần: kinh tế nhà nước; kinh
tế hợp tác; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân.
Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) chỉ rõ: “Đảng và Nhà nước
ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa”, với các thành phần: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể;
kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài. Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là sự bổ sung
mới, thể hiện rõ tầm quan trọng của sự thu hút các nguồn lực bên ngoài cho sự phát
triển kinh tế Việt Nam. Đây là sự vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
nguyên tắc "lưu thông trong - ngoài".
Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), Nghị quyết Đại hội lần
thứ X của Đảng (năm 2006) chỉ ra các thành phần kinh tế gồm: kinh tế nhà nước; kinh
tế tập thể; kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân); kinh tế tư bản nhà nước;
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; và khẳng định: “Các thành phần kinh tế hoạt động
theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và
cạnh tranh lành mạnh”. Nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, song Đảng
cũng chỉ rõ “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của
nền kinh tế”. Quan điểm này thể hiện sự đổi mới, kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ
Chí Minh trong tư duy kinh tế của Đảng ta, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát
triển của kinh tế tư nhân trong chiến lược phát triển chung của nền kinh tế nước nhà.
Đại hội lần thứ XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục chủ trương phát triển nhanh,
hài hòa các thành phần kinh tế. Đặc biệt, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh: “Các thành
phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền
kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành
mạnh”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tổ chức năm 2016 trên cơ sở
tổng kết quá trình 30 năm đổi mới, Đảng khái quát lại những lý luận của mình: “Nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, có nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư
nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, các chủ thể thuộc các thành phần
kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”. Và cho tới Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII của Đảng mới diễn ra gần đây đã một lần nữa giúp chúng ta 9