











Preview text:
THỰC TIỄN
Câu 1: Câu chuyện “đè” lãi suất cho vay
Câu 2: Câu chuyện lợi nhuận ngân hàng và nợ xấu
Câu 3: Câu chuyện tăng vốn
Câu 1: Câu chuyện “đè” lãi suất cho vay Câu 4: E- Banking Câu 5: NGÂN HÀNG SỐ
Câu 6: DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CÂU 7:Rủi ro tín dụng… CÂU 8: Ngân hàng tư nhân:
Câu 9: DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CÂU 10: SMS BANKING CÂU 11: Internet Banking CÂU 12: Mobile Banking
- 2020: dịch bệnh kéo dài, để hỗ trợ các doanh nghiệp, kích thích nền kinh tế tăng trưởng,
NHNN chỉ đạo các NHTM các gói hỗ trợ tín dụng và giảm lãi suất cho vay.
- Để giảm lãi suất cho vay, lãi suất huy động đầu vào giảm, với lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 6
tháng tối đa ở mức 4%/năm (9/2020):
+ Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND với các lĩnh vực ưu tiên giảm xuống 0,5%/năm từ 5%/năm xuống 4,5%/năm.
+ Theo đó, giảm lãi suất tái cấp vốn từ 4,5%/năm xuống 4%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ
3%/năm xuống 2,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng
và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước đối với các
ngân hàng từ 5,5%/năm xuống 5%/năm.
+ Ngân hàng Nhà nước cũng giảm lãi suất chào mua giấy tờ có giá thông qua nghiệp vụ thị
trường mở từ 3%/năm xuống 2,5%/năm.
Quyết định giảm lãi suất lần này được Ngân hàng Nhà nước đưa ra trong bối cảnh lãi suất huy
động trên thị trường của các ngân hàng giảm mạnh, trong đó lãi suất kỳ hạn 1, 2 tháng đã về
mức thấp chưa từng có: 2,55%/năm.
Lãi suất kỳ hạn 1 tháng ở "nhóm Big 4" (Vietcombank, VietinBank, Agribank và BIDV) và
các ngân hàng cổ phần lớn chỉ dao động trên dưới 3%/năm. Ở kỳ hạn 5 tháng, mức lãi suất
cao nhất của các ngân hàng nhóm này mới ở mức 4,05%/năm.
Tăng trưởng tín dụng cũng ở mức thấp nhất trong nhiều năm qua. Tính đến ngày 22-9, tăng
trưởng tín dụng toàn hệ thống mới đạt 5,12%.
- 10/7/2021: NHNN giao Hiệp hội Ngân hàng vận động sự đồng thuận của các TCTD giảm
lãi suất tín dụng ngay trong tháng 7/2021:
Trong tình hình dịch Covid-19 vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, Đại diện lãnh đạo Hiệp hội
Ngân hàng, các NHTM đề xuất tiếp tục đẩy mạnh triển khai đồng bộ giải pháp tháo gỡ khó
khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 phục hồi sản xuất - kinh doanh; tiếp tục
tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong việc tiếp cận tín dụng.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sẽ ban hành các yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể để toàn ngành
triển khai thực hiện; đồng thời, giao Hiệp hội Ngân hàng vận động sự đồng thuận của các tổ
chức tín dụng để giảm lãi suất với những mức cụ thể ngay trong tháng 7-2021 này.
Vietcombank cho biết đã triển khai các gói hỗ trợ lãi suất, giảm lãi suất cho vay, tái cơ cấu dư
nợ hiện hữu theo Thông tư 01 và Thông tư 03 cho khách hàng cá nhân, doanh nghiệp và hộ
gia đình với tổng dư nợ hỗ trợ giảm lãi suất cho vay khoảng 398.223 tỉ đồng. Tổng số tiền lãi
hỗ trợ khách hàng do giảm lãi suất 6 tháng đầu năm là 2.115 tỉ đồng.
Theo ghi nhận, hiện một số NHTM cũng triển khai các gói tín dụng ưu đãi cho khách hàng cá
nhân, doanh nghiệp trong giai đoạn Covid-19. Agribank vừa triển khai gói tín dụng 20.000 tỉ
đồng cho vay tiêu dùng với lãi suất từ 6,5%-7%/năm.
Khách hàng cá nhân ở khu vực đô thị có nhu cầu mua sắm, sinh hoạt sẽ được vay vốn đặc biệt
trong bối cảnh kinh tế khó khăn do dịch bệnh Covid-19, đồng thời nhằm hạn chế nạn tín dụng đen.
- 12/7/2021: Hiệp hội ngân hàng tổ chức họp với các TCTD (hội viên) để thống nhất phương
thức và thời gian thực hiện việc giảm lãi suất cho vay đối với các khoản vay hiện hữu trong 5 tháng cuối 2021:
Có 16 tổ chức tín dụng hội viên gồm: Vietcombank, Agribank, Vietinbank, BIDV, MB,
Techcombank, SHB, LienVietPostBank, VPBank, VIB, TPBank, SeABank, MSB,
Sacombank, ACB, HDBank cùng đại diện của NHNN tham dự cuộc họp.
+ Từ năm 2020 đến nay, Techcombank liên tục giảm lãi suất, trong đó nhóm lĩnh vực ưu tiên
có lãi suất cho vay là dưới 4,5%/năm; các lĩnh vực kinh tế thiết yếu vào khoảng 6-7%/năm,
thậm chí có khách hàng thấp hơn…Ngân hàng sẽ tập trung hỗ trợ cho các DN sản xuất thiết
yếu cho nền kinh tế, DN có lực lượng lao động lớn…, còn các DN bất động sản đang lãi lớn,
các DN xuất khẩu hay các cá nhân vay tiền mua ô tô… thì không nên hỗ trợ lãi suất.
+ Agribank sẽ giảm lãi suất để hỗ trợ DN. HĐTV của Agribank sẽ họp để đưa ra mức giảm
lãi suất, có khoản sẽ giảm 0,5%, có khoản sẽ giảm 2-2,5%, trung bình lãi suất cho vay của
ngân hàng sẽ giảm khoảng 1%.
+ MB sẽ hỗ trợ trực tiếp các DN gặp khó khăn không có doanh thu hoặc doanh thu giảm (ví
dụ như DN trong lĩnh vực lưu trú, dịch vụ…) với mức lãi suất có thể giảm 1% hoặc hơn. Tuy
vậy, MB sẽ căn cứ vào từng tệp khách hàng của mình để lựa chọn DN khó khăn hơn, từ đó có
chính sách hỗ trợ lãi suất phù hợp.
Tuy nhiên việc giảm lãi suất có thể gây ra rủi ro và làm giảm lợi nhuận, các ngân hàng nên
linh hoạt trong việc giảm lãi suất, tùy theo “sức khỏe” của mình để có mức giảm phù hợp.
Các ngân hàng cũng đề nghị NHNN cấp thêm giới hạn cho vay “room” tín dụng trong những
tháng cuối năm để ngân hàng có dư địa tín dụng hỗ trợ khách hàng tốt hơn. Đối với việc áp
dụng "room" tín dụng, NHNN xem xét cách giao chỉ tiêu tín dụng hằng năm. Đặc biệt, với
các ngân hàng đã áp dụng tốt Basel II và Basel III, nên được tạo thuận lợi khi cấp "room" tín dụng.
Các cơ quan quản lý cần tiếp tục đồng hành với các tổ chức hội viên trong việc tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt liên quan đến góp ý về các văn bản
pháp luật có liên quan. Để từ đó, các chính sách khi được ban hành sẽ hài hòa lợi ích giữa các
TCTD và nhà nước, bảo đảm an toàn hệ thống.
Câu 2: Câu chuyện lợi nhuận ngân hàng và nợ xấu
- Lợi nhuận năm 2020 và quý 1/2021 tăng mạnh:
Thống kê mới nhất từ 18 NHTM niêm yết đã công bố báo cáo tài chính kiểm toán (chiếm
khoảng 70% tổng tài sản hệ thống NHTM cuối năm 2020, ngoại trừ Agribank và một số ngân
hàng quy mô nhỏ chưa công bố báo cáo tài chính) cho thấy tăng trưởng lợi nhuận trước thuế
ngành Ngân hàng năm 2020 là 15,8%.
Con số này ở mức khá cao so với nhiều ngành kinh tế khác nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với
mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế khoảng 25% của năm 2019 và cũng một phần là do
Thông tư 01 (tháng 3/2020) của NHNN cho phép cơ cấu lại nợ và giữ nguyên nhóm nợ, chưa
phải trích lập dự phòng rủi ro (DPRR).
Cơ cấu lợi nhuận của NHTM năm 2020 đến từ 4 nguồn chính:
* Một là, thu nhập từ lãi: Thu nhập từ lãi mặc dù vẫn là nguồn thu nhập chính của các ngân
hàng (chiếm 75,9% tổng thu nhập trước DPRR năm 2020) nhưng mức đóng góp có xu hướng
giảm. Thu nhập lãi thuần (thu lãi trừ đi chi phí lãi) năm 2020 tăng 12,3% và sau trích DPRR
chỉ tăng 8,2%. Hai chỉ tiêu tăng trưởng về lãi này đều thấp hơn so với cùng kỳ và thấp hơn
mức tăng lợi nhuận trước thuế trong cùng năm 2020 (15,8%).
*Hai là, thu nhập từ hoạt động phi tín dụng (dịch vụ, kinh doanh ngoại tệ và thu/chi khác):
thu ròng từ hoạt động phi tín dụng tăng 14,4%, khá gần với mức tăng trưởng lợi nhuận chung
15,8%. Trong năm 2020, cấu phần thu nhập này chiếm khoảng 24,1% tổng thu nhập trước
trích lập DPRR và 31,9% tổng thu ròng sau khi trích lập DPRR, tăng nhẹ so với mức 23,8%
và 30,7% tương ứng của năm 2019.
*Ba là, tiết giảm chi phí: chi phí hoạt động năm 2020 chỉ tăng 3,3%, thấp hơn khá nhiều so
với mức tăng 10% của năm 2019, góp phần đáng kể cho việc gia tăng lợi nhuận của ngành.
*Bốn là, kết quả tích cực từ các công ty con. Phần lớn các NHTM hiện nay đều có công ty
con hoặc gián tiếp tham gia hoạt động chứng khoán (như cho vay ký quỹ, cho vay công ty
chứng khoán...), bảo hiểm (như liên kết bán bảo hiểm Bancassurance…). Năm 2020, hoạt
động bảo hiểm, chứng khoán đều tăng trưởng khá, trong đó doanh thu chứng khoán tăng 40%
(tổng hợp từ BCTC các công ty chứng khoán), doanh thu bảo hiểm tăng 15% (theo Bộ Tài chính).
Bên cạnh đó, để đánh giá khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên
(NIM - Net Interest Margin) thường được xem xét. NIM là phần chênh lệch giữa thu nhập lãi
và chi phí lãi của ngân hàng, sau đi đã trừ đi các chi phí trích lập DPRR, chi phí dự trữ bắt
buộc và chi phí quản lý… Theo đó, nếu chỉ lấy lãi suất cho vay trừ đi lãi suất huy động thì sẽ
không chính xác (và NIM thường thấp hơn phần chênh lệch này).
Do không có tổ chức kinh tế hay đơn vị nghiên cứu nào đưa ra thống kê về NIM của ngành
Ngân hàng các nước, số liệu về chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra thường được sử dụng
thay thế. Số liệu thống kê cho thấy chênh lệch lãi suất của hệ thống ngân hàng Việt Nam có
sự cải thiện đáng kể trong năm 2020 nhưng vẫn chưa phải ở mức cao trong khu vực.
Cụ thể, theo số liệu mới nhất từ World Bank, chênh lệch lãi suất 2019 của Việt Nam ở mức
2,7% thấp hơn trung bình khu vực Đông Nam Á (3,1%) và các quốc gia có thu nhập tương
đồng Việt Nam (6,7%). Bước sang 2020, theo tổng hợp từ IMF, chênh lệch lãi suất của Việt
Nam có cải thiện hơn và tăng lên mức 3,5% nhưng vẫn thấp hơn so với các nước trong khu
vực như Indonesia (4%) và Singapore (5,1%).
Ngoài ra, chênh lệch lãi suất của các ngân hàng Việt Nam còn được hỗ trợ đáng kể bởi tỷ lệ
cho vay trung dài hạn luôn duy trì ở mức cao (cũng đồng nghĩa với rủi ro cao), chiếm khoảng
49 -50% tổng dư nợ và tăng trưởng tương đương với dư nợ toàn ngành khoảng 12,6 -
16%/năm trong 3 năm qua. Điều này cũng cho thấy nguồn vốn trung dài hạn của nền kinh tế
Việt Nam phụ thuộc khá nhiều vào vốn vay ngân hàng.
Tóm lại, tăng trưởng thu nhập ngoài tín dụng (chủ yếu là mảng dịch vụ) và tiết giảm chi phí
hoạt động có đóng góp ngày càng cao trong lợi nhuận ngành ngân hàng, và như vậy, mức độ
đóng góp của thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm trong năm 2020. Nếu trừ đi
số trích lập DPRR trong điều kiện không có Thông tư 01/2020/TT-NHNN, thì đóng góp của
thu nhập ròng từ tín dụng có thể còn giảm khá mạnh.
Dự báo lợi nhuận ngành ngân hàng 2021
Triển vọng tích cực của kiểm soát dịch COVID-19 cùng với tiến trình sản xuất, cung ứng
vaccine tại Việt Nam cũng như trên toàn cầu sẽ kéo theo sức cầu tiêu dùng và tín dụng, dịch
vụ tài chính tăng lên trong năm 2021.
Theo đó, tăng trưởng tín dụng toàn ngành sẽ tích cực hơn năm năm 2020 và có thể tăng
khoảng 12-14%. Ngoài ra, thu dịch vụ sẽ tiếp tục tăng trưởng cao trong năm 2021 nhờ động
lực đến từ dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng số và kinh doanh trái phiếu, ngoại tệ.
Bên cạnh đó, chi phí hoạt động cũng sẽ tiếp tục được kiểm soát tốt hơn nhờ đẩy mạnh chuyển
đổi số, cải tiến qui trình và cơ cấu lại màng lưới, tổ chức – bộ máy. Cùng với gánh nặng trích
lập DPRR không quá lớn (theo Thông tư 03/2021/TT-NHNN hiệu lực từ ngày 17/5/2021, lộ
trình trích lập DPRR của các khoản nợ được cơ cấu lại sẽ thực hiện trong 3 năm, với năm 2021 trích 30%).
Theo tính toán sơ bộ, tổng mức DPRR cần trích thêm của toàn hệ thống ngân hàng sẽ vào
khoảng 40 - 45.000 tỷ đồng. Theo đó, lợi nhuận trước thuế ngành ngân hàng năm 2021 dự
báo sẽ đạt mức tăng trưởng khả quan, khoảng 20- 25% (so với mức tăng 15,8% của năm 2020).
Một số ngân hàng đã công bố lợi nhuận trước thuế quý I/2021, với mức tăng khá cao (MSB
tăng 300%, VietinBank tăng 150%, MB tăng 100%, ACB tăng 61%, VCB tăng 35%... so với
cùng kỳ năm 2020). Tuy nhiên, cần thận trọng với con số này với 4 lý do chính:
Một là, lợi nhuận quý I/2021 không phản ảnh đầy đủ, chính xác xu hướng lợi nhuận của cả
năm do chưa trích lập đủ DPRR. Dẫn chứng số liệu lịch sử cho thấy, trích lập DPRR của các
ngân hàng rất khác nhau theo quý và có xu hướng tăng vào thời điểm cuối năm.
Hai là, Thông tư 03 mới ban hành và có hiệu lực từ ngày 17/5/2021 nên nhiều ngân hàng
chưa trích lập DPRR (30%) theo tinh thần của Thông tư này.
Ba là, lợi nhuận quý I/2021 so với nền lợi nhuận rất thấp của quý I/2020, nên tỷ lệ tăng
trưởng cao nhưng số tuyệt đối lớn hơn không nhiều.
Bốn là, nếu diễn biến dịch bệnh phức tạp và nhiều doanh nghiệp còn rất khó khăn (trong quý
1/2021, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động kinh doanh là 23.837 doanh nghiệp, tăng
28,2% so với cùng kỳ năm 2020); khiến nợ xấu (gồm cả nợ nhóm 2) có thể tăng lên và như
vậy, lợi nhuận các quý còn lại sẽ bị ảnh hưởng đáng kể.
- Động lực tăng trưởng lợi nhuận là gì?
Báo cáo tài chính quý I của các ngân hàng cũng cho thấy có sự khác biệt về xu hướng trích
lập dự phòng rủi ro và chi phí hoạt động. Đơn cử, tại VietinBank, chi phí dự phòng rủi ro
giảm mạnh 70% nhưng chi phí hoạt động lại tăng 8,6%. Tại MSB, chi phí dự phòng rủi ro
tăng mạnh 156% nhưng chi phí hoạt động giảm 20%. Tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương
Việt Nam (Vietcombank), chi phí dự phòng rủi ro tăng 5,8% và chi phí hoạt động giảm 3%.
Nếu diễn biến dịch bệnh Covid-19 phức tạp và nhiều doanh nghiệp khó khăn có thể khiến nợ
xấu tăng lên, ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận các quý còn lại.
+ Biên lãi ròng (NIM) cải thiện: so với quý I/2020, thu nhập lãi thuần tăng 30% với NIM cải
thiện do lãi suất huy động giảm nhưng lãi suất cho vay không giảm tương ứng.
+ Tăng trưởng phi dịch vụ: thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng 10,1%, chủ yếu đến từ dịch vụ
bảo hiểm, ngân hàng số, kinh doanh trái phiếu, ngoại tệ.
+ Giảm chi phí dự phòng rủi ro tín dụng: giảm 12% cũng hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận của
ngành ngân hàng trong quý I/2021.
⇨Bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng năm 2020 và 2021 cần nhìn nhận toàn diện, đầy
đủ hơn thay vì chỉ tập trung vào hoạt động tín dụng và số liệu công bố quý I. Mặc dù
vậy, lợi nhuận ngành ngân hàng năm 2021 sẽ khả quan hơn, trong đó đà tăng thu nhập
từ các hoạt động phi tín dụng (đặc biệt là dịch vụ), tiết giảm chi phí và từ các công ty
con sẽ tiếp tục chiếm ưu thế so với nguồn thu từ hoạt động tín dụng. Lợi nhuận cao, nợ
xấu thấp khiến chúng ta lạc quan hơn về nền kinh tế, nhưng rõ ràng một phần lợi
nhuận của ngân hàng là ảo và nợ xấu chưa được nhìn nhận đúng mức.
Câu 3: Câu chuyện tăng vốn
- Mục tiêu: đáp ứng Basel 2, đáp ứng hệ số an toàn vốn CAR, nâng cao khả năng chịu rủi ro.
- Phương án tăng vốn: chia cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành cổ phiếu cho nhà đầu tư chiến lược.
Thống kê từ Công ty Chứng khoán VNDirect cho thấy, năm 2020 đã có 12 ngân hàng được
chấp thuận tăng thêm 160 nghìn tỷ đồng vốn điều lệ. Tuy nhiên, từ các báo cáo tài chính cuối
quý 4/2020 lại cho thấy, tổng cộng chỉ có khoảng 33 nghìn tỷ đồng vốn điều lệ được bổ sung
trong năm 2020. Phương thức tăng chủ yếu từ chia cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành cổ phiếu
riêng lẻ, hoặc thông qua phát hành trái phiếu chuyển đổi.
+TĂNG VỐN CHIẾM SÓNG MÙA ĐẠI HỘI
Tại mùa đại hội đồng cổ đông năm nay, đa phần các ngân hàng đều có thêm tờ trình kế hoạch tăng vốn điều lệ.
Cụ thể, Đại hội đồng cổ đông thường niên 2021 của BIDV đã thông qua phương án tăng vốn
điều lệ lên hơn 48.500 tỷ đồng, tương đương tăng 20,6% trong giai đoạn 2021 – 2022. Trong
đó, ngân hàng sẽ phát hành 207,3 triệu cổ phiếu để trả cổ tức năm 2019 (tỷ lệ 5,2%), phát
hành 281,5 triệu cổ phiếu để trả cổ tức năm 2020 (tỷ lệ 7%). Đồng thời, BIDV dự kiến phát
hành thêm 341,5 triệu cổ phần mới theo hình thức chào bán ra công chúng hoặc chào bán riêng lẻ.
Cũng trong giai đoạn hai năm 2021 - 2022, kế hoạch tăng vốn điều lệ của Vietcombank là đạt
50.401 tỷ đồng, tức tăng 3.076 tỷ đồng. Tại VietinBank, ngân hàng dự kiến đẩy vốn điều lệ
lên mức 54.134 tỷ đồng trong năm nay.
Cùng với nhóm “Big 4” ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước, nhóm các ngân hàng
thương mại cổ phần khác như TPBank, đại hội đồng cổ đông ngân hàng này đã thông qua kế
hoạch tăng vốn bằng cách phát hành tối đa 100 triệu cổ phiếu riêng lẻ, tương đương 9,33%
vốn điều lệ tại thời điểm chào bán.
Đối với MB, ngân hàng muốn theo mô hình tập đoàn nên việc tăng vốn điều lệ là rất cần thiết
trong thời gian này. Do đó, đại hội đồng cổ đông 2021 của MB đã thông qua phương án tăng
vốn điều lệ lên 38.676 tỷ đồng.
Riêng với Sacombank, dù ngân hàng này vẫn đang trong giai đoạn tái cơ cấu nhưng cũng toan
tính để tăng vốn sau nhiều năm dậm chân tại chỗ. Kế hoạch trình đại hội đồng cổ đông 2021
của ngân hàng này là sử dụng 6.500 tỷ đồng lợi nhuận từ các năm trước để chia cổ tức bằng cổ phiếu.
Một số ngân hàng khác, tờ trình tăng vốn điều lệ tại đại hội đồng cổ đông 2021 đều được
thông qua như HDBank, NCB, Vietbank, ABBank, LienVietPostBank, MSB, VIB...
+NGƯỜI TĂNG MẠNH, KẺ KHÔNG MÀNG
Với diễn biến như trên, đa phần các ngân hàng đều có mong muốn được tăng vốn trong năm nay.
Đáng chú ý nhất, Chủ tịch VPBank khá tự tin khi tuyên bố về kế hoạch tăng vốn điều lệ đầy
tham vọng, lên tối thiểu 75.000 tỷ đồng ngay trong năm 2022 và giành ngôi vị số một về vốn
điều lệ ngành ngân hàng. Riêng về cổ tức, cổ đông VPBank đồng ý không chia cổ tức năm
2020 bằng cổ phiếu hay bằng tiền mặt, mà muốn để 8.825 tỷ đồng lợi nhuận để có vốn phục
vụ hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, ngân hàng lại có hai phương án phát hành cổ phiếu cho
cán bộ nhân viên theo chương trình lựa chọn người lao động (ESOP). Trong đó, tại phương
án phát hành mới 15 triệu cổ phiếu (tương đương tỷ lệ phát hành 0,593%), vốn điều lệ
VPBank dự kiến tăng tối đa thêm 150 tỷ đồng, lên gần 25.450 tỷ đồng.
Trái lại, cũng có ngân hàng không đặt mục tiêu tăng vốn nhiều, như Techcombank. Tại đại
hội đồng cổ đông 2021 của ngân hàng này, cổ đông đồng thuận cao với kế hoạch giữ lại lợi
nhuận để tiếp tục tạo đà tăng trưởng trong tương lai. Đồng thời, với việc cho phép phát hành 6
triệu cổ phiếu ESOP, vốn điều lệ ngân hàng chỉ tăng vỏn vẹn thêm 60 tỷ đồng, tức tăng 0,17%
để lên mức 35.109 tỷ đồng.
+ TĂNG VỐN KHÔNG PHẢI TẤT CẢ
Về cơ bản, câu chuyện tăng vốn điều lệ của ngành ngân hàng những năm qua thường gắn chặt
với việc đảm bảo hệ số an toàn vốn (CAR), tức tăng vốn để chịu được những khoản vay rủi ro
theo tiêu chuẩn Basel 2 (tối thiểu đạt 8%).
Hiểu đơn giản, nếu vốn thấp mà lỗ nặng thì ngân hàng dễ rơi vào tình trạng phá sản và rất dễ
tạo nên hiệu ứng "domino" gây ảnh hưởng đến toàn hệ thống ngân hàng. Trong khi ngân hàng
luôn là ngành xương sống của mỗi nền kinh tế. Vì vậy, phía nhà điều hành buộc các ngân
hàng thương mại phải đáp ứng một tiêu chuẩn về mức độ “chịu trận” khi lỗ để không ảnh
hướng tới hệ thống cũng như không ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế.
Quan trọng là hệ số CAR theo Basel 2 bị ảnh hưởng bởi hai cấu phần: tử số là vốn tự có, mẫu
số là tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng. Như vậy, để tăng mức độ an toàn thì ngân
hàng buộc phải tăng vốn hoặc không được tăng tài sản quá cao. Trường hợp không được tăng
tài sản đồng nghĩa việc mất thị phần nên đa số ngân hàng chọn phương án tăng vốn.
Vấn đề nào cũng có mặt tích cực và tiêu cực. Tích cực là như trên đã nói. Còn tiêu cực, khi
ngân hàng tăng vốn, áp lực đảm bảo mức lợi nhuận cũng phải tăng theo. Và con đường mà
các ngân hàng đều hướng tới là tăng trưởng tín dụng bằng mọi giá do lợi nhuận các ngân hàng
tại Việt Nam vẫn chủ yếu đến từ hoạt động cho vay. Điều này rất dễ khiến chất lượng tài sản suy giảm.
Thực tế, tại đại hội thường niên của MB vừa qua, ông Lưu Trung Thái chia sẻ, cổ đông ngân
hàng đã thông qua con số 35% của tỷ lệ chia cổ tức năm 2020 bằng cổ phiếu. “Nhưng với cá
nhân tôi, chỉ xin đề xuất chia cổ tức tỷ lệ 20%, vì chia cổ tức bằng cổ phiếu nhiều thì sức ép
lên ban điều hành càng lớn, phải nỗ lực hết mình mới có thể giữ được tỷ suất sinh lời và đảm
bảo an toàn ngân hàng”, ông Thái nói.
Hay như ở trường hợp Techcombank, lãnh đạo ngân hàng này cho biết, do lợi nhuận để lại
nhiều năm nên vốn chủ sở hữu của ngân hàng rất tốt. Hệ số CAR của Techcombank đang đạt
16,1% nên ngân hàng cũng chưa vội phải tăng mạnh vốn điều lệ.
Bên cạnh đó, cứ cho rằng các ngân hàng thành công tăng CAR trên mức tối thiểu, nhưng nếu
nợ xấu vẫn được giấu kỹ thì hệ số an toàn vốn mà các ngân hàng báo cáo chỉ là số ảo, con số
thực sẽ thấp hơn nhiều và rủi ro tiềm ẩn cao hơn nhiều.
Ở khía cạnh khác, tính toán vốn kinh tế và phân bổ vốn tự có là một trong những yếu tố vô
cùng quan trọng để điều hành ngân hàng. Cuộc chạy đua tăng vốn điều lệ sẽ khiến công việc
phân bổ vốn trong hoạt động gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra, hiện có nhiều ngân hàng dự kiến tăng vốn qua phát hành riêng lẻ cho cổ đông hiện
hữu. Tăng vốn qua phương pháp này phụ thuộc nhiều vào khả năng tài chính của các cổ đông,
chưa kể đến những quy định ràng buộc về pháp lý có liên quan đến việc đầu tư của các tổ chức.
Vì vậy, theo một lãnh đạo của ngân hàng thương mại lớn chia sẻ: “Tăng vốn điều lệ không
phải là tất cả. Nó chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Tăng trưởng bền vững, đa dạng, duy trì
liên tục mới đưa vị thế ngân hàng lên một tầm cao mới”. Câu 4: E- Banking
a. E- Banking giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí, đạt những phân khúc thị trường mới,
nâng cao hiệu quả hoạt động, uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng….. SV kể
tên một số sản phẩm dịch vụ e -banking: thanh toán hóa đơn điện nước hàng tháng, mua vé máy bay….
b. Hoạt động cho vay có vai trò:
- Thể hiện chức năng trung gian tài chính của NHTM
- Mang lại nguồn thu chủ yếu cho các NHTM
- Mở rộng đối tượng khách hàng, cung ứng đa dạng các dịch vụ tài chính, bán chéo sản
phẩm Sinh viên trình bày hiểu biết cơ bản về anh hưởng của đại dịch Covid-19 tới hoạt
động tín dụng, bao gồm: Rủi ro tín dụng gia tăng; Tăng trưởng tín dụng suy giảm; Giảm lợi nhuận Câu 5: NGÂN HÀNG SỐ
Nêu KN về ngân hàng số. Cụ thể NHS là mô hình hoạt động ngân hàng dựa trên nền tảng công nghệ số.
Xu hướng phát triển NHS ở Việt Nam:
+ Việt Nam là thị trường tiềm năng cho các dịch vụ ngân hàng số do dân trí trẻ, xu hướng
thay đổi hành vi của các KH và xu hướng không dùng tiền mặt ngày càng rõ ràng.
+ Các NHTM đã và đang thực hiện số hóa hoạt động ngân hàng, ứng dụng các công nghệ
hiện đại trong hoạt động kinh doanh như: Điện toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ
nhân tạo, máy học… Liệt kê một số dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam như:
VD: Sử dụng các giải pháp E-banking, Mobile Banking, CDM... như: dịch vụ chuyển tiền qua
mạng xã hội (Facebook, Zalo, các ví điện tử...), rút tiền tại ATM không cần dùng thẻ của
(Techcombank) và NHTMCP Quốc tế (VIB); ứng dụng MyVIB của VIB; ứng dụng ngân
hàng điện tử My Ebank của (Sacombank); ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu của Tập
đoàn IBM để đồng bộ hóa dữ liệu khách hàng, hỗ trợ nhận diện phân tích hành vi khách hàng
nhanh chóng của VPBank; ứng dụng CDM (Agribank)...
+ Xu hướng phát triển NHS cũng mang lại những rủi ro mà NHTM cần chú ý như bảo mật
thông tin, rủi ro công nghệ, (Sự cố mạng và vấn đề kỹ thuật), chứng thực khách hàng, sơ suất
trong kỹ thuật của nhân viên, tính chính xác…
Câu 6: DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
DVNH bao gồm những dịch vụ ngoài chức năng truyền thống như huy động tiền gửi và cho vay.
Vai trò của việc cung cấp dịch vụ ngân hàng: Tăng thu nhập, đa dạng hóa hoạt động kinh
doanh, tăng cường tiếp cận khách hàng.
Xu hướng gia tăng tỷ trọng thu nhập phí lãi từ dịch vụ tại các NHTM Việt Nam
- Thu nhập từ dịch vụ có xu hướng tăng nhanh tại hầu hết các NHTM
- Các dịch vụ ngân hàng hướng tới tăng trải nghiệm khách hàng, đa kênh và ứng dụng
công nghệ trong phát triển sản phẩm
- Bên cạnh các dịch vụ truyền thống như thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế,
nguồn thu từ phí dịch vụ có xu hướng chuyển dịch sang các dịch vụ hiện đại như tư vấn, bảo hiểm. CÂU 7:
a. Rủi ro tín dụng: Là khả năng một người vay hay một đối tác của ngân hàng không
thực hiện được các nghĩa vụ nợ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận.
Gợi ý trả lời về tác động của dịch Covid đến rủi ro tín dụng tại các NHTM:
- Ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp:
+ Dịch bệnh Covid làm cho việc lưu thông hàng hóa ách tắc, sản xuất kinh doanh đình trệ + Doanh thu sụt giảm
- Ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân: Thất nghiệp suy tăng, thu nhập suy giảm
b. Dịch vụ ngân hàng: là những hoạt động nghiệp vụ ngân hàng thực hiện ngoài chức
năngtruyền thống như huy động tiền gửi và cho vay
Thực tế các dịch vụ ngân hàng đang được triển khai tại các ngân hàng thương mại Việt Nam:
- Các ngân hàng ngày càng chú trọng cung cấp thêm nhiều dịch vụ thu phí cho khách hàng
- Một số dịch vụ tiêu biểu: Dịch vụ thanh toán, dịch vụ e-banking, dịch vụ ngân quỹ,
dịch vụ bảo hiểm... (Sinh viên có thể nêu tổng quát của cả hệ thống hoặc liên hệ cụ thể
về dịch vụ tại 1 ngân hàng thương mại) CÂU 8: Ngân hàng tư nhân:
a. Ngân hàng tư nhân: Cung ứng các dịch vụ chất lượng cao cho tầng lớp khách hàng
giàu có, tức là các khách hàng cá nhân có khối tài sản lớn (HNWIs-High Net Worth
Individuals). Các khách hàng này thường quan tâm đếnviệc quản lý tài sản và đầu tư đúng cách.
Liên hệ xu hướng mới trong phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng tại các NHTM VN:
Phát triển ngân hàng bán lẻ, chuyển đổi số hoá ngân hàng => tiện ích dịch vụ ngày sàng
hiện đại, cho vay theo chuỗi, giao thoa của sản phẩm dịch vụ ngân hàng với các sản phẩm dịch vụ khác...
b. Digital Banking hay ngân hàng số là ngân hàng có thể thực hiện hầu hết các giao
dịch ngân hàng bằng hình thức trực tuyến thông qua internet.
Giao dịch của ngân hàng số không phải đến chi nhánh ngân hàng và giảm thiểu đến mức tối
đa những thủ tục giấy tờ liên quan. Đồng thời tính năng của ngân hàng số có thể thực hiện
mọi lúc mọi nơi không phụ vào thời gian không gian nên khách hàng hoàn toàn chủ động.
- Liên hệ xu hướng ứng dụng ngân hàng số tại các NHTM Việt Nam:
Chú trọng đáp ứng nhu cầu và trải nghiệm cho khách hàng theo hướng tăng cường cá nhân
hóa, đa dạng hóa lựa chọn của khách hàng. công nghệ phi tiếp xúc, ứng dụng sinh trắc học
trong xác thực khách hàng, tích hợp các dịch vụ khác nhau trên cùng một ứng dụng, giao dịch từ xa, ..
Câu 9: DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
DVNH bao gồm những dịch vụ ngoài chức năng truyền thống như huy động tiền gửi và cho vay.
Gợi ý trả lời ảnh hưởng COVID-19 đến xu hướng phát triển các dịch vụ tài chính của NHTM:
+ Thay đổi hành vi của KH, sẵn sàng sử dụng các dịch vụ tài chính hơn, giúp NHTM có cơ
hội mở rộng các dịch vụ tài chính cung cấp
+ Đẩy mạnh chuyển đổi số, cung cấp các dịch vụ tài chính dựa trên công nghệ
+ Tăng thu từ dịch vụ tài chính, đa dạng hóa nguồn thu, giảm sự phụ thuộc vào thu lãi cho vay.
Liên hệ Các dịch vụ tài chính được cung cấp bởi một số NHTM VN CÂU 10: SMS BANKING
Là DVNH được thực hiện qua tin nhắn của điện thoại
Các tính năng: + Cho phép truy cập số dư hiện tại
+ Thông báo các giao dịch như: rút tiền, chuyển tiền online, nhận tiền…
+ Các tiện ích như: tra cứu tỷ gí ngoại tệ, tra cứu lãi suất ngân hàng, tra cứu vị trí đặt ATM, dịch vụ hỗ trợ
+ Có thể sử dụng theo ý muốn của bản thân bất kể không gian, thời gian nào. CÂU 11: Internet Banking
Là một dịch vụ ngân hàng trực tuyến cho phép khách quản lý tài khoản và thực hiện các giao
dịch như chuyển tiền, gửi tiền tiết kiệm online, thanh toán hóa đơn, các dịch vụ tài chính, nạp
tiền nộp thuế …thông qua thiết bị kết nối Internet Những tiện ích:
+ Dịch vụ tài chính như lãi vay, phí bảo hiểm, các khoản đầu tư chứng khoán
+ Nộp thuế: Các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu ngân sách Nhà nước
+ Gửi tiết kiệm trực tuyến và rút giao dịch chuyển nhận tiền quốc tế, nội địa
+ Thanh toán hóa đơn trực tuyến: Thanh toán điện nước, tiền điện thoại, cước viễn thông, nộp
thuế, thanh toán học phí, nạp ví điện tử…
+ Thanh toán các tiền gửi mội lúc mọi nơi mà khoogn cần thủ tục
+ Giao dịch mọi lúc mọi nơi mà chỉ cần internet, không cần tơi ngân hàng hay ra cây ATM. CÂU 12: Mobile Banking
Là một dịch vụ được cung cấp bởi ngân hàng hoặc là những tổ chức tài chính khác cho phép
khách hàng giao dịch từ xa bằng cách sử dụng những thiết bị như là điện thoại di động, máy
tính bảng dưới dạng phần mềm.
Những tiện ích của mobile banking:
+ Thực hiện giao dịch chuyển khoản, quản lý biến động số dư mọi lúc mọi nơi
+ Thanh toán hóa đơn dịch vụ, thanh toán tiền điện thoại điện nước
+ Mở tài khoản tiết kiệm
+ Giao dịch dễ dàng, 24/7, không tốn thời gian chờ tài ngân hàng
+ Giao dịch không giấy tờ, không thủ tục phức tạp.