ĐỀ CƯƠNG CHÍNH SÁCH CÔNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG
1. Hãy nêu khái niệm và phân tích đặc điểm của chính sách công? (tr. 25 Gtr mới)
- Khái niệm Chính sách công:
hoạt động mà Nhà nước chọn thực hiện hoặc không thực hiện
để điều hòa các xung đột trong hội nhằm thúc đẩy hội phát triển theo định hướng nhất
định.
* Đặc điểm của chính sách công:
Chính sách công do các cơ quan nhà nướcthẩm quyền ban
hành để thể hiện thực hóa các mục tiêu của nhà nước, tác động lên xã hội để dẫn dắt xã hội theo
định hướng thống nhất, giúp nhà nước hiện thực hóa đường lối của đảng cầm quyền. Với
cách là một sản phẩm của nhà nước, chính sách công có những đặc điểm chủ yếu sau:
Chính sách công là một công cụ quản lý của nhà nước
+ CSC một trong những công cụ bản được nhà nước sử dụng để thực hiện chức
năng, nhiệm vụ quản nhà nước của mình nhằm thiết lập duy trì trật tự hội
điều hành sự phát triển KT-XH của quốc gia theo định hướng đã được xác định
+ Thông qua CSC, Nhà nước điều chỉnh hành vi của nhân, tổ chức, huy động phân
bổ nguồn lực cho phát triển.
+ CSC luôn tấm gương phản chiếu những đặc điểm riêng về tự nhiên, kinh tế, hội,
truyền thống, văn hóa của mỗi quốc gia.
+ Mỗi chính sách công thể hiện mục tiêu, định hướng của Nhà nước trong từng thời kỳ
nhất định.
+ Việc xây dựng thực hiện chính sách công sự tham gia của nhiều quan, cấp,
ngành khác nhau trong hệ thống chính trị.
VD: Quốc hội ban hành Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14/06/2019 nhằm điều
chỉnh hoạt động giáo dục trong cả nước.
Chính sách công chịu sự chi phối mạnh mẽ của đảng cầm quyền
+ Nhà nước, về bản chất, là một công cụ chính trị, là bộ máy quan trọng nhất để hiện thực
hóa đường lối, chủ trương chính trị của đảng cầm quyền vào thực tiễn cuộc sống.
+ Sự chi phối của đảng cầm quyền đối với CSC thể hiện ngay trong các tiêu chí để đánh
giá CSC.
+ Việc đánh giá CSC không hoàn toàn dựa trên các tiêu chí kinh tế tiêu chí chính tr
hoặc xã hội mới là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá thành công của một chính sách.
+ Việt Nam, Đảng Cộng sản đảng chính trị duy nhất cầm quyền, lực lượng lãnh
đạo nhà nước và xã hội, nên CSC phải cụ thể hóa và phù hợp với đường lối, chủ trương
của Đảng.
VD: Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/04/2025 nêu rõ: “
Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực
tiếp của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật, phát huy cao độ tính Đảng trong xây
dựng và thi hành pháp luật
”.
Chính sách công thể hiện định hướng chung của nhà nước đối với một vấn đề xã hội
+ Cần có sự phân biệt giữa CSC với những quyết định đơn lẻ để thực hiện chính sách của
nhà nước. Khác với quyết định đơn lẻ, CSC gồm hệ thống quyết định của quan
chính quyền, đều hướng tới cùng mục tiêu của nhà nước theo một hướng nhất định.
+ CSC cũng phải đáp ứng được các yêu cầu của sự phát triển hội nói chung của
nhóm đối tượng chính sách nói riêng.
+ Tiêu chuẩn chung để xác định một chính sách công tốt bao gồm: (1) Chính sách tốt phải
hướng tới mục tiêu phát triển chung, phù hợp với định hướng của Đảng Nhà nước;
(2) Chính sách tốt phải tạo nên động lực cho đối tượng chính sách, thúc đẩy trong nhận
thức hành vi theo định hướng nhà nước mong muốn; (3) Chính sách tốt phải
tính khả thi, phải được hoạch định tốt.
VD: Trong bối cảnh các khu vực thành phố đã nhiều thay đổi, phát triển nhanh chóng
thì khu vực nông thôn, nhất vùng miền núi hải đảo, KT-XH phát triển còn chậm,
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn thấp, với mục tiêu phát triển đồng đều giữa
các vùng miền của đất nước, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16
tháng 8 năm 2016 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2016-2020.
* Đặc trưng cơ bản của chính sách công:
+ Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước.
Nhà nước đây được hiểu các quan thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước, bao
gồm Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, quan pháp Trung ương. Chính sách công do
Nhà nước đề ra tổ chức thực thi nên chính sách công luôn phản ánh bản chất của
Nhà nước đó. Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân.
VD: Quốc hội ban hành Luật Giáo dục 2019 nhằm điều chỉnh hoạt động giáo dục trong cả
nước.
+ Chính sách công là những quyết định hành động.
Chính sách công trước hết thể hiện dự định của nhà xây dựng chính sách làm thay đổi
hay duy t một hiện trạng nào đó. Chính sách công được ban hành bởi các quyết định,
đó những quyết định hành động bởi chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn. Nếu
chính sách chỉ là những dự định thì dù dưới dạng một văn bản pháp luật thì nó vẫn chưa
phải là chính sách.
VD: Trước thực trạng hệ thống đường bộ bị xuống cấp nghiêm trọng do nhiều nguyên
nhân khác nhau, Chính phủ đã ban hành chính sách để quản bảo vệ hệ thống đường
bộ. Ngày 24 tháng 02 năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2010/NĐ-CP quy
định về quản lí và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Đây là một quyết định hành
động nhằm ngăn chặn các vi phạm pháp luật trong quản lí, sử dụng hệ thống đường bộ
Việt Nam.
+ Chính sách công bao gồm nhiều quyết định có liên quan chặt chẽ lẫn nhau.
Khái niệm quyết định đây thể được coi như một sự lựa chọn hành động của Nhà
nước. Chính sách một chuỗi hay một loạt các quyết định cùng hướng vào việc giải
quyết một vấn đề đang xuất hiện trong đời sống hội, do một hay nhiều cấp khác
nhau trong bộ máy nhà nước ban hành thực hiện trong một thời gian dài. Một chính
sách có thể được thể chế hóa thành các văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp cho việc
thực thi.
VD: Chính sách “Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước” Việt Nam bắt nguồn từ những
nỗ lực cải cách các doanh nghiệp Nhà nước, được chính thức đề cập đến trong Quyết định
số 217/QĐ-HĐBT ngày 14 tháng 11 năm 1987 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
được tiếp nối bằng một loạt các quyết định của Nhà nước các cấp, các ngành về vấn
đề này. Nghị định số 44/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/6/1998 về Chuyển doanh
nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần, Nghị định số 126/2017/NĐ-CP ngày 16 tháng 11
năm 2017 của Chính phủ về chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước công ty TTHH 1 thành
viên do DN Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần và việc thực hiện.
+ Chính sách công tập trung giải quyết vấn đề cụ thể đang đặt ra trong sự phát triển kinh tế -
xã hội của quốc gia theo những mục tiêu xác định.
Chính sách công là một quá trình hành động nhằm giải quyết một vấn đề nhất định. Các
công cụ quản khác như chiến lược, kế hoạch của Nhà nước những chương trình
hành động tổng quát, bao quát một hoặc nhiều lĩnh vực KT-XH; nhưng chính sách công
nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề liên quan lẫn nhau đang đặt ra trong sự phát
triển KT-XH của quốc gia.
VD: Trong bối cảnh các khu vực thành phố đã nhiều thay đổi, phát triển nhanh chóng
thì khu vực nông thôn, nhất vùng miền núi hải đảo, KT-XH phát triển còn chậm,
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn thấp, với mục tiêu phát triển đồng đều giữa
các vùng miền của đất nước, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16
tháng 8 năm 2016 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2016-2020.
+ Chính sách công bao gồm cả việc Nhà nước không hành động.
Điều đó nghĩa là, không phải tất cả mục tiêu của chính sách công đều dẫn tới hành
động, mà nó có thể là yêu cầu của chủ thể không được hành động.
VD: Trước đây, các trường đại học Việt Nam khi xây dựng chương trình đào tạo các
ngành phải dựa trên sở Chương trình Khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Khi
Luật Giáo dục Đại học hiệu lực (Luật số 08/2012/QH13 được Quốc hội Khóa XIII, kỳ
họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 06 năm 2012), thì sở giáo dục đại học được tự chủ,
tự chịu trách nhiệm. Chính sách này thể hiện Nhà nước không tham gia can thiệp vào việc
các cơ sở giáo dục đại học xây dựng, thẩm định, và ban hành chương trình đào tạo.
+ Chính sách công tác động đến mọi đối tượng của chính sách.
Đối tượng chính sách những người chịu sự tác động hay điều chỉnh của chính sách.
Phạm vi điều tiết của chính sách thể rộng hay hẹp tùy theo nội dung của từng chính
sách.
VD. Chính sách Bảo hiểm hội ở Việt Nam được thể hiện Luật Bảo hiểm hội (Luật
số 58/2014/QH13 thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 20 tháng 11 năm 2014). Đối tượng chịu
sự tác động của chính sách này bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan,
quân nhân, người lao động Việt Nam làm việc tại các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã;
người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, các quan tổ chức liên quan
cũng chịu sự tác động của chính sách này.
+ Chính sách công phục vụ lợi ích chung của dân tộc, quốc gia.
Để thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước, Nhà nước sử dụng chính sách làm công
cụ chủ yếu để giải quyết những vấn đề công. Tuy nhiên, trong thực tiễn cũng những
chính sách công mang lại lợi ích cho nhóm người cộng đồng này nhiều hơn so với
nhóm người ở cộng đồng khác và có thể có những người, cộng đồng không được hưởng
lợi ích gì mà đôi khi còn bị thiệt thòi.
VD. Việt Nam, trước khi xóa bỏ chế bao cấp, người dân khu vực thành phố hàng
tháng được cấp thêm phiếu điện mua thịt, cả, đạu phụ, nước mắm,… với giá cả do Nhà
nước quy định, còn người dân khu vực nông thôn thì không được hưởng các chế độ đó.
Tuy nhiên, khi tiến hành đổi mới thì chính sách bất hợp lý đó đã bị xóa bỏ.
2. Phân tích vai trò của chính sách công? (tr. 34 Gtr mới)
- Chính sách được Nhà nước dùng làm công cụ để định hướng cho các chủ thể khác nhau trong
hội cùng hành động mục tiêu chung bày tỏ thái độ chính trị của Nhà nước với các biến
cố kinh tế - xã hội nảy sinh trong từng giai đoạn phát triển.
+ CSC định hướng cho các quá trình hoạt động kinh tế - hội, thông qua mục tiêu cách
thức hành động
Mục tiêu của CSC định hướng cho các quá trình vận động phù hợp với những giá trị
tương lai Nhà nước theo đuổi. Mục tiêu chính sách phản ánh ý chí nhu cầu
bản của đời sống xã hội.
Quá trình KT-XH hoạt động theo mục tiêu chính sách đề ra, chúng sẽ nhận được những
ưu đãi từ Nhà nước và xã hội.
Các biện pháp chính sách cũng vai trò định hướng cho cách thức hành động của các
chủ thể trong nền KT-XH.
Trong KTTT, CSC giúp phát huy mặt tích cực đồng thời hạn chế những hạn chế của thị
trường.
VD: Để khuyến khích phát triển ngành năng lượng sạch, Nhà nước ban hành Quyết định
số 13/2020/QĐ-TTg ngày 6/4/2020
về chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại
Việt Nam
”.
+ CSC tạo động lực cho các chủ thể trong hội, thông qua tác động định hướng hành vi
khuyến khích hoạt động KT-XH.
Sự tác động này không quy định chỉ tiêu cụ thể chỉ mang tính khuyến khích, nghĩa
thể thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động của các đối tượng phù hợp với mục tiêu
định hướng.
Khuyến khích các hoạt động KT-XH theo định hướng như thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt
động đầu phát triển, nhưng đồng thời kiềm chế tốc độ lạm phát tiền tệ, vừa khuyến
khích tăng ờng trang thiết bị kỹ thuật trong các đơn vị kinh tế để tạo việc làm, tăng
thu nhập cho người lao động.
VD: Để thu hút đầu phát triển vùng khó khăn, Nhà nước ban hành Nghị định số
31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 quy định chi tiết hướng dẫn Luật Đầu 2020, trong
đó chính sách ưu đãi thuế, miễn giảm tiền thuê đất, hỗ trợ đầu sở hạ tầng cho
doanh nghiệp đầu tư vào khu vực ưu tiên.
+ CSC điều tiết các hoạt động trong nền kinh tế thị trường
KTTT mang nhiều đặc trưng của một hội văn minh, trình độ phát triển cao hơn
nhiều so với nền KT hàng hóa. Theo cácthuyết về nền kinh tế thị trường tquy luật
cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị,… những thứ Nhà nước phải tôn
trọng.
Quy luật cạnh tranh cùng tồn tại với các quy luật thị trường khác làm cho các nhà đầu
hay sản xuất kinh doanh không ngừng ng dụng tiến bộ KT CN nhằm tăng
NSLĐ. Tuy nhiên sự chênh lệch giàu nghèo các sự mất cân bằng hội vẫn diễn ra,
Nhà nước vẫn luôn chủ động ban hành những chính sách để phát huy những mặt tích
cực, đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực của KTTT.
VD: Để hạn chế tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đảm bảo công bằng hội,
Nhà nước ban hành Nghị định số 38/2022/NĐ-CP ngày 12/6/2022 quy định mức lương tối
thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng.
+ CSC phân phối hợp lý nguồn lực cho quá trình phát triển
Phân phối nguồn lực vai trò quan trọng của CSC, giúp Nhà nước quản lý, sử dụng
nguồn lực cho phát triển. Mục tiêu là phát triển ổn định, bền vững cả hiện tại và tương
lai.
Nhà nước dùng chính sách để khuyến khích điều tiết các quá trình khai thác sử dụng
tài nguyên theo định hướng.
Trong KTTT, việc phân phối nguồn lực bị chi phối bởi Nhà nước và cơ chế thị trường,
hai bên phối hợp vì mục tiêu phân phối hợp lý các nguồn lực phát triển KT-XH.
VD: Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 4/5/2018 về “
Cơ chế, chính
sách khuyến khích doanh nghiệp đầu vào nông nghiệp, nông thôn
.
Nhà nước hỗ trợ
đất đai, miễn giảm thuế, ưu đãi tín dụng, đầu hạ tầng… cho doanh nghiệp đầu vào
lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt vùng sâu, vùng xa, miền núi… Chính sách góp phần
phân bổ nguồn lực hợp lý, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng..l0’-
+ CSC tạo lập các cân đối vĩ mô trong phát triển
CSC giúp Nhà nước điều chỉnh duy trì các cân đối trong phát triển KT-XH
(giữa sản xuất – tiêu dùng, xuất – nhập khẩu, tăng dân số – tăng trưởng kinh tế...)
Thông qua công cụ chính sách, Nhà nước điều chỉnh nguồn lực để đảm bảo sự phát
triển đồng đều giữa các khu vực của quốc gia.
CSC vai trò khuyến khích các tiềm năng tương lai của những ngành, lĩnh vực
vùng kém phát triển, nhằm tạo sự cân đối tổng thể của nền kinh tế.
VD: Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 6/1/2023 của Chính phủ về
“Nhiệm vụ, giải pháp chủ
yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - hội dự toán ngân sách nhà nước năm
2023”
. Chính sách thể hiện vai trò tạo lập cân đối như: Giữ vững ổn định kinh tế
mô, kiểm soát lạm phát; Bảo đảm cân đối (ngân sách, nợ công, cán cân thương mại,…);
Điều tiết đầu tư công, chi tiêu ngân sách,…
+ CSC tạo lập môi trường thích hợp cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế - xã hội
Môi trường thích hợp giúp các thực thể phát triển theo đúng quy luật.
Chính sách công làm cho môi trường trở nên thuần khiết bằng sự thống nhất trong mục
tiêu và sự phong phú đa dạng của các giải pháp thực hiện.
Thống nhất thái độ ứng xử của chủ thể với các vấn đề KT-XH, giúp các chủ thể xác
định mục tiêu, ứng phó hiệu quả với môi trường cạnh tranh, tạo động lực phát triển.
Khi Nhà nước hệ thống chính sách KT-XH thống nhất phù hợp thực tiễn, sẽ hỗ
trợ tốt cho cơ chế quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội.
Trong trường hợp Nhà nước ban hành một chính sách không đúng thể ảnh hưởng
xấu đến hệ thống chính sách, làm suy yếu năng lực quản hội uy tín của Nhà
nước, ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển KT-XH
VD: Chính phủ ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2023 về cải thiện môi trường kinh
doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, giúp doanh nghiệp hoạt động thuận lợi, thúc
đẩy phát triển KT-XH.
+ Làm cơ sở cho sự phối hợp hoạt động của các chủ thể trong xã hội
Chính sách công được dùng để tăng cường phối hợp giữa các chủ thể quan nhà
nước, các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân trong thực thi chính sách.
Phối hợp hoạt động của các chủ thể tạo nên tính hệ thống chặt chẽ trong quá trình vận
động của chu trình CSC.
Các chủ thể cần thống nhất mục tiêu chung, hiểu rõ vai trò, nhiệm vụ, thời gian, mức độ
hoàn thành để cùng đạt mục tiêu tổng thể.
VD: Quyết định số 263/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ:
Phê duyệt Chương trình mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 2025
huy động sự phối hợp của
các bộ, ngành, địa phương nhân dân, tạo sự đồng thuận trong phát triển nông thôn toàn
diện.
3. Phân tích bản chất cơ bản của chính sách công? Lấy ví dụ minh họa? (tr. 32 Gtr mới)
- Biểu đạt tập trung của lợi ích và ý chí giai cấp
+ Bản chất của CS trước hết sự tập trung thể hiện ý chí lợi ích của một giai cấp hội
nhất định. Do chính sách là sự thể hiện tập trung của lợi ích giai cấp nên bất giai cấp hay
nhà nước nào khi xây dựng chính sách của mình thì trước hết cũng đều cân nhắc tới việc
làm thế nào giữ gìn lợi ích kinh tế của mình, củng cố địa vị chính trị của mình.
+ CSC thể hiện ý chí lợi ích của giai cấp nhưng để phục vụ lợi ích lâu dài tổng thể của
mình, các giai cấp thường nhượng bộ thỏa hiệp với những lợi ích trước mắt hoặc lợi ích
cục bộ. Vì vậy, CSC phản ánh những biến đổi trong tương quan sức mạnh chính trị giữa các
giai cấp trong xã hội
VD: Ở Việt Nam, Nhà nước do ĐCSVN lãnh đạo là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, do đó,
các chính sách của Nhà nước ban hành chính cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng
nhằm phục vụ lợi ích của quốc gia, của dân tộc và nhân dân.
- Phục vụ phát triển kinh tế xã hội
+ Nhà nước với vai trò là công cụ của giai cấp thống trị nhiệm vụ duy trì cả chức năng
chính trị chức năng kinh tế. Chính sách pháp luật vì thế cũng mang đặc thù này. Nhà
nước thường cố gắng kiểm soát đấu tranh giai cấp trong phạm vi trật tự nhất định nhằm duy
trì một cục diện chính trị tương đối ổn định. Như vậy, nhà nước thường căn cứ vào nhu cầu
của giai cấp thống trị để tổ chức các hoạt động kinh tế - hội, phát triển sự nghiệp văn
hóa khoa học.
VD: Chính sách kinh tế mới Rosevelt của Franklin D. Roosevelt đưa nước Hoa thoát ra
khỏi cuộc đại suy thoái kinh tế năm 1929-1933, vừa giảm nhẹ khủng hoảng, đảm bảo uy tín
chính trị, vừa phải giải cứu sự đổ vỡ của nền kinh tế tạo điều kiện cho hội phát triển cân
bằng.
- Điều tiết các mối quan hệ lợi ích
+ Nội dung cốt lõi trong bản chất của CSC giải quyết vấn đề phân phối lợi ích hội. Tất
cả các chính sách cho đến sau cùng vẫn là việc xử lí mối quan hệ lợi ích trong xã hội.
+ Hoạt động quảncủa nhà nước một quá trình phức tạp, trong đó phải điều tiết rất nhiều
loại quan hệ lợi ích (mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội; mối quan hệ quyền lực
chính trị; các quan hệ kinh tế; quan hệ giữa các dân tộc) nhằm đảm bảo sự hài hòa các hoạt
động xã hội trong tiến trình phát triển.
+ Các mối quan hệ tính chất khác nhau đan xen phức tạp ràng không thể điều tiết
bằng ý chí cá nhân lãnh đạo mà phải dựa vào những chính sách đúng đắn của Nhà nước.
VD: Nhà nước Việt Nam ban hành
Chính sách cải cách tiền lương
theo Nghị quyết số 27-
NQ/TW ngày 21/5/2018, nhằm điều tiết mối quan hệ lợi ích giữa người lao động, người sử
dụng lao động Nhà nước. Chính sách này hướng tới việc phân phối lại thu nhập một cách
công bằng hơn.
4. Trình bày các cách phân loại chính sách công? Lấy ví dụ minh hoạ (tr. 50 Gtr mới)
- Phân loại theo lĩnh vực hoạt động
+ Gồm chính sách kinh tế, chính sách an sinh hội, chính sách y tế, chính sách văn
hóa, chính sách giáo dục, chính sách tôn giáo, chính sách phát triển nguồn nhân lực,
chính sách an ninh – quốc phòng, chính sách đối ngoại,…
VD: (1) Hoạt động nhiếp ảnh ở Việt Nam được quy định trong Nghị định số 72/2016/NĐ-CP
ngày 01 tháng 07 năm 2016 của Chính phủ về hoạt động nhiếp ảnh. Chính sách này quy định
cụ thể về hoạt động nhiếp ảnh và quản lí Nhà nước về nhiếp ảnh ở Việt Nam.
(2) Trong lĩnh vực thuế chính sách về lệ phí môn bài được thể hiện trong Nghị định
139/2016/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ. Nội dung của Nghị định này
thể hiện chính sách lệ phí môn bài quy định về người nộp lệ phí, miễn lệ phí môn bài; mức
thu và khai, nộp lệ phí môn bài.
- Phân loại theo chủ thể ban hành
+ Chính sách do Quốc hội/Nghị viện ban hành
+ Chính sách do Chính phủ/Cơ quan hành pháp ban hành
+ Chính sách do Bộ, ngành hoặc Cơ quan chuyên môn ban hành
+ Chính sách do Chính quyền địa phương ban hành
VD: Việt Nam, cùng trong nh vực giáo dục nhưng những chính sách giáo dục thể
do Quốc hội, Chính phủ, Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ Lao động Thương binh hội
hoặc liên bộ ban hành.
- Phân loại theo cấp độ ban hành
+ Chính sách công do Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, cơ quan tư pháp Trung ương ban hành.
Những chính sách này điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong nhiều lĩnh vực khác
nhau trong đời sống xã hội.
VD: Quyết định số 432/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát
triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Đây một chính sách liên quan đến nhiều
lĩnh vực nhiều ngành do Chính phủ ban hành nhằm mục tiêu tăng trưởng bền vững,
hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng hội,…bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất
toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
+ Chính sách do các Bộ hoặc liên Bộ ban hành thì chỉ điều chỉnh những mối quan hệ trong
một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực có liên quan lẫn nhau.
VD: Bộ Giáo dục Đào tạo ban hành Quy chế đào tạo trình độ thạc kèm theo Thông
số 15/2014/TT-BGDĐT ngày 15/5/2014. Đây một chính sách giáo dục trong phạm vi hẹp
(chỉ về lĩnh vực đào tạo trình độ thạc sĩ). Những người tham gia học thạc sĩ, giảng dạy, phục
vụ giảng dạy,… sẽ bị tác động bởi chính sách này. Còn những người không tham gia s
không bị điều chỉnh bởi những quy định này.
- Phân loại theo thời gian thực hiện
+ Bao gồm chính sách dài hạn (thời gian thực hiện từ 10-20 năm), chính sách trung hạn (3-
5 năm) và chính sách ngắn hạn (dưới 3 năm).
VD: (1) Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức chuyên nghiệp, năng động, sáng tạo, liêm chính, TTg Chính phủ yêu cầu các Bộ,
ngành và địa phương tập trung thực hiện các nhiệm vụ cụ thể đã được nêu trong chỉ thị. Đây
một chính ch ngắn hạn nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức trong giai đoạn hiện nay.
(2) Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg của TTg Chính phủ ngày 25 tháng 3 năm 2010 phê
duyệt Đề án phát triển nghề công tác hội giai đoạn 2010-2020, chính sách của Nhà
nước về phát triển nghề công tác hội Việt Nam trong 10 năm (giai đoạn 2010-2020)
nhằm thực hiện chiến lược an sinh xã hội của đất nước trong giai đoạn 2011-2020.
- Phân loại theo tính chất ứng phó của chủ thể:
+ Chính sách chủ động
+ Chính sách thụ động
VD: (1) Chính sách chủ động: Để chủ động phòng ngừa đấu tranh với các loại tội phạm,
giữ trật tự ATXH, ngày 27 tháng 11 năm 2013, Quốc hội khóa 13 đã ban hành Nghị quyết số
63/2013/NQ/QH13 về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm.
(2) Chính sách thụ động: Để nâng cao hiệu quả ứng phó với sự cố tràn dầu trên biển,
khi xảy ra sự cố, Chính phủ đã ban hành về quy chế hoạt động ứng phó tràn dầu trên biển
theo Quyết định số 103/2005/QĐ-TTg ngày 12 tháng 5 năm 2015.
- Phân loại theo tính chất tác động
+ chính sách thúc đẩy kìm hãm, chính sách điều tiết tạo lập môi trường, chính sách
tiết kiệm – tiêu dùng
VD: Quyết định số 1427/QĐ-TTg ngày 02 tháng 10 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về Sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả giai
đoạn 2012-2015.
- Phân loại theo quy mô tác động: Có chính sách vĩ mô và chính sách vi mô
+ Chính sách những chính sách giải quyết những vấn đề KT-XH lớn của quốc gia,
tác động đến những cân đối của nền kinh tế, chi phối nhiều lĩnh vực, ảnh
hưởng đến lợi ích quốc gia và lợi ích của đông đảo nhân dân
VD: Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời 2011-2020 với mục tiêu chung phát
triển nhân lực Việt Nam thời 2011-2020 đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng
lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định hội,
nâng cao trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực Việt Nam,…
+ Chính sách vi những chính sách chỉ giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động
và lợi ích của các tổ chức hoặc một nhóm người riêng biệt trong xã hội.
VD: Thông số 14/2008/TT-BGDĐT ngày 7 tháng 4 năm 2008 của BGD&ĐT ban hành
Điều lệ Trường mầm non. Đây là một chính sách cụ thể của Nhà nước chỉ giải quyết các vấn
đề liên quan đến hoạt động tchức của các trường mầm non bao gồm các quy định về vị
trí, nhiệm vụ, tổ chức quản trường mầm non, nhà trẻ; chương trình các hoạt động
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; tài sản của trường mầm non, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp
mẫu giáo độc lập; giáo viên nhân viên; trẻ em; quan hệ giữa trường mầm non, nhà trẻ,
nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập với gia đình và xã hội.
- Phân loại theo phạm vi quan hệ: có chính sách đối nội và chính sách đối ngoại
+ Chính sách đối nội những chính sách được áp dụng trong lãnh thổ, quốc gia để giải
quyết các vấn đề phát sinh nội tại của một quốc gia. Chính sách đối nội được cơ quan nhà
nước thẩm quyền ban hành nhằm mục đích đảm bảo việc quản đất ớc về con
người, trật tự ATXH; giúp quản sự phát triển nền kinh tế; góp phần đảm bảo cho chính
trị luôn ổn định, hạn chế tham nhũng, bất công.
+ Chính sách đối nội được chia thành chính sách tổng thể, chính sách khu vực hay lĩnh vực.
VD: Điều 5 Hiến pháp 2013 quy định: “Các dân tộc quyền bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
giúp nhau cùng phát triển, nghiêm cấm mọi hành vi thị, chia rẽ dân tộc; Ngôn ngữ
quốc gia tiếng Việt. Các dân tộc quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân
tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của mình; Nhàớc thực
hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực,
cùng phát triển với đất nước.”
+ Chính sách đối ngoại của một quốc gia còn được gọi chính sách ngoại giao, bao gồm
các chiến lược do Nhà nước lựa chọn để bảo vệ lợi ích của quốc gia mình và đạt được các
mục tiêu trong môi trường quan hệ quốc tế. Các phương pháp được sử dụng một cách
chiến lược để tương tác với các quốc gia khác.
VD: Việt Nam, chính sách đối ngoại trong nh vực giáo dục được thể hiện trong Nghị
định số 86/2018/NĐ-CP ngày 06 tháng 06 năm 2018 của Chính phủ quy định về hợp tác, đầu
tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục.
5. Bằng 1 chính sách công cụ thể, phân tích các nội dung bản của chính sách công?
(tr.48)
- Một chính sách công cụ thể: Ngày 19 tháng 04 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã Quyết
định số 579/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kì 2011-2020.
- Nội dung cơ bản của chính sách công:
1) Mục tiêu của chính sách:
- Mục tiêu tổng quát
+ Mục tiêu tổng quát phát triển nguồn nhân lực Việt Nam thời kì 2011-2020đưa nhân
lực Việt Nam trở thành nền tảng lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất
nước, hội nhập quốc tế ổn định hội, nâng cao trình độ năng lực cạnh tranh của
nhân lực Việt Nam lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó
một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới
2) Những giải pháp đột phá
+ Đổi mới nhận thức về phát triển và sử dụng nhân lực
+ Đổi mới căn bản quản lý nhà nước về phát triển và sử dụng nhân lực
+ Tập trung xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm sau
3) Những giải pháp khác
+ Xây dựng triển khai Chiến lược phát triển giáo dục Chiến lược phát triển dạy
nghề thời kỳ 2011-2020
+ Đào tạo nhân lực các vùng, miền và nhóm đặc t
+ Phát triển và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc của người Việt Nam
+ Đổi mới chính sách sử dụng nhân lực
+ Huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển nhân lực đến năm 2020
+ Tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế
1. Mục tiêu của chính sách
Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế.
Phát triển con người Việt Nam toàn diện, tri thức, kỹ năng, kỷ luật, sức khỏe đạo
đức tốt.
2. Chủ thể ban hành và thực thi
Chính phủ (Thủ tướng Chính phủ) ban hành chính sách.
Các bộ, ngành, địa phương, sở đào tạo chịu trách nhiệm tổ chức triển khai theo
chức năng.
3. Đối tượng tác động
Toàn bộ người lao động Việt Nam, đặc biệt lao động trẻ, sinh viên, công nhân kỹ
thuật, cán bộ khoa học – công nghệ.
4. Công cụ chính sách
Giáo dụcđào tạo: đổi mới chương trình, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, mở
rộng hệ thống dạy nghề.
Kinh tế tài chính: hỗ trợ ngân sách, khuyến khích doanh nghiệp đầu cho đào tạo
nhân lực.
Pháp lý – tổ chức: hoàn thiện cơ chế, chính sách sử dụng và đãi ngộ nhân tài.
5. Nguồn lực thực hiện
Ngân sách nhà nước;
Nguồn xã hội hóa từ doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân tham gia phát triển nhân lực.
6. Cơ chế thực hiện
Phân công rõ trách nhiệm giữa các bộ ngành;
Gắn kết giữa đào tạo – sử dụng – thị trường lao động;
Định kỳ kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh phù hợp với thực tiễn.
7. Kết quả và hiệu quả
Góp phần nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề của lực lượng lao động.
Tạo tiền đề cho sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng hiện đại.
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia.
6. Phân tích mối liên hệ giữa mục tiêu và giải pháp chính sách công? (tr.49)
- Cấu trúc của một chính sách bao gồm hai bộ phận hợp thành quan trọng thống nhất với
nhau, đó là mục tiêu chính sách và biện pháp chính sách.
CHÍNH SÁCH CÔNG = MỤC TIÊU + BIỆN PHÁP
-
Mục tiêu chính sách công
là những giá trị hướng tới phù hợp với yêu cầu phát triển chung của
nền kinh tế, xã hội.
-
Biện pháp chính sách
cách thức mà chủ thể sử dụng trong quá trình hành động để tối đa hóa
kết quả về lượng và chất của mục tiêu chính sách.
- Mối liên hệ giữa mục tiêu giải pháp của chính sách: mối quan hệ biện chứng lịch sử gắn
kết chặt chẽ. Mối quan hệ đó được thể hiện ở các khía cạnh:
+
Quan hệ tương đồng
: Để thực hiện một chính sách với những mục tiêu cụ thể, mang nh
chất chiến lược thì cần có một hệ thống giải pháp mang tính chất tương đồng
VD: Ngày 09/6/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách
tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Chính sách trên với mục tiêu khuyến
khích các tổ chức tín dụng cho vay để chuyển dịchcấu kinh tế, xây dựng hạ tầng, xóa đói
giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống người dân. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện,
một số giải pháp của chính sách trên đã bộc lộ những bất cập, hạn chế; chỉ một bộ phận nhỏ
nông dân tiếp cận được nguồn vốn hỗ trợ sản xuất. Để phát huy khả năng của mọi thành
phần kinh tế, ngày 07/09/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2018/NĐ-CP sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/06/2015. Theo đó, Nghị định
mới bao gồm một số giải pháp về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn đã có
những thay đổi phù hợp để tạo điều kiện cho người nông dân dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn
vay.
+
Quan hệ tập hợp
: Để thực hiện một chính sách cụ thể với những mục tiêu nhất định thì
chúng ta phải xây dựng hệ thống giải pháp để thực hiện bằng được mục tiêu của chính
sách
VD: Ngày 19 tháng 04 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã Quyết định số 579/QĐ-TTg
phê duyệt chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kì 2011-2020.
+
Quan hệ vận động
: Mục tiêu của mỗi chính sách mang tính định tính rất cao. Do đó, trong
xây dựng chính sách, các giải pháp của chính sách phải chứa đựng những động lực thúc
đẩy, cân bằng hay kìm hãm theo yêu cầu của mục tiêu chính sách
VD: Chính sách an sinh hội ở Việt Nam được Chính phủ xây dựng ban hành bằng nhiều
quyết định trong đó Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của TTg Chính phủ
phê duyệt Đề án phát triển công tác xã hội giai đoạn 2010-2020.
CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH CÔNG
1. Trình bày khái niệm chủ thể của chính sách công? Hãy nêu các chủ thể của chính sách
công?
- Có 2 phương thức tiếp cận (hai quan điểm khác nhau) về chủ thể chính sách.
+ Phương thức thứ nhất tiếp cận theo hướng hẹp: Chủ thể chính sách hiểu theo nghĩa hẹp
thường chỉ các chủ thể có thẩm quyền ban hành chính sách.
+ Phương thức thứ hai tiếp cận theo hướng rộng: nội dung này tiếp cận theo nghĩa rộng
hơn chủ thể chính sách có thểcác tổ chức hội, tổ chức chính trị -hội, xã hội nghề
nghiệp, các doanh nghiệp, hiệp hội hay thậm chí các tổ chức tôn giáo tham gia vào hoạt
động hoạch định, thực thi, đánh giá và giám sát chính sách.
* Các chủ thể chính sách công:
- Tiếp cận theo hướng rộng nêu trên, tác giả Howlett đã chỉ chủ thể chính sách chính các
tác nhân bao gồm cả nhân các tổ chức. Xét theo thẩm quyền tính chất của các tổ chức,
có thể phân ra thành các loại tổ chức:
+ Tổ chức Quốc tế: Tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức thương mại quốc tế, tổ chức phát
triển, tổ chức phi chính phủ quốc tế, tổ chức liên chính phủ
+ Tổ chức Nhà nước: Tổ chức lập pháp, hành pháp, pháp; tổ chức tự chủ/cung ứng dịch
vụ công
+ Tổ chức nghiên cứu: Các cơ quan nghiên cứu, trường đại học
+ Tổ chức truyền thông: Cơ quan truyền hình – báo chí
+ Tổ chức Công đoàn/Nghiệp đoàn/Hiệp hội: Liên đoàn lao động; Các hiệp hội nghề; Tổ
chức chính trị xã hội
+ Tổ chức kinh doanh: Doanh nghiệp, hợp tác xã
+ Cá nhân/nhóm (nhóm lợi ích): Các cán bộ dân cư, cán bộ được bổ nhiệm, doanh nhân, nhà
nghiên cứu
- Một cách phân loại phổ biến khác đối với chủ thể chính sách được xét theo thẩm quyền vai
trò của chủ thể. Với cách phân loại này, sẽ chủ thể chính thức (Nhà nước) chủ thể phi
chính thức (tổ chức kinh doanh, doanh nhân)
+ Chủ thể chính thức:
- Cấp ủy Đảng Quốc hội, Các Ủy ban của Quốc hội; Đại biểu quốc hội; Hội đồng
- Chính phủ, Bộ trưởng, thủ trưởng quan ngang Bộ, quan thuộc chính phủ (địa
phương), công chức
- Tòa án và Viện kiểm sát nhân dân các cấp
+ Chủ thể phi chính thức:
Nhóm lợi ích
Công chúng, doanh nghiệp
Cơ quan truyền thông, tổ chức nghiên cứu chính sách
Các hiệp hội, mạng lưới chính sách, các chuyên gia
2. Chủ thể chính thức của chính sách công gồm những quan tổ chức nào? (tr. 85 Gtr cũ,
tr. 59 Gtr mới)
- Chínhch công là những công việc Nhà nước thực hiện. Do vậy, chủ thể hoạt động chính
sách bộ máy con người của Nhà nước, hay còn gọi chủ thể chính thức của hoạt động
chính sách công.
+ quan lập pháp: Quyền lập pháp quyền được xây dựng ban hành những văn bản
pháp luật được áp dụng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Cấp ủy Đảng Quốc hội, Các Ủy ban của Quốc hội; Đại biểu quốc hội; Hội đồng: Đề
xuất sáng kiến chính sách; thiết kế nghị trình chính sách; hoạch định, luật hóa giám
sát thực thi chính sách
+ Cơ quan hành pháp: Cơ quan hành chính nhà nước
Chính phủ, Bộ trưởng, thủ trưởng quan ngang Bộ, quan thuộc chính phủ (địa
phương), công chức: Xây dựng nghị trình chính sách; Hoạch định, chỉ đạo thực thi
chính sách
- quan pháp: Quyền pháp quyền bảo vệ luật pháp, đảm bảo cho pháp luật được
thực hiện và chống lại các hành vi vi phạm pháp luật
Tòa án Viện kiểm sát nhân dân các cấp: Thực thi chính sách, áp dụng giám sát
thực thi pháp luật
- Đảng cầm quyền
3. Chủ thể không chính thức của chính sách công gồm những cơ quan tổ chức nào?
- Chủ thể không chính thức: Việc tham gia của họ vào quy trình chính sách không được ghi
chức năng hay nhiệm vụ của họ trong Hiến pháp hay văn bản luật. Điều này không nghĩa
những chủ thể này không quyền hay chỗ đứng trong việc tham gia vào quy trình chính sách,
mà nó có nghĩa là cách thức tham gia của họ không được cụ thể hóa trong văn bản luật.
+ Nhóm lợi ích:
cấu tổ chức của công dân, những người chung mục tiêu muốn gây ảnh
hưởng đến chính sách công.
Nhóm lợi ích có thể là một tập đoàn, một công ty hay một hiệp hội nghề nghiệp.
+ Công chúng, doanh nghiệp:
đông đảo nhân dân không phân biệt theo các đặc trưng dân tộc, nơi trú, tôn giáo,
trình độ văn hoá, giáo dục, chính trị
Cộng đồng các nhóm dân chung một đặc trưng nào đó (VD: cộng đồng người
trú tại một địa phương; cộng đồng người cùng một tôn giáo…)
Cộng đồng trực tiếp chịu tác động của chính sách như tái định cư; mất việc làm; ô
nhiễm; mất một số quan hệ hội; giá trị văn hoá; thiệt hại kinh tế do triển khai chính
sách
Cộng đồng trực tiếp hưởng lợi do chính sách đem lại các lợi ích về kinh tế, văn hoá
xã hội, có môi trường sống được cải thiện do chính sách mang lại
+ quan truyền thông, tổ chức nghiên cứu chính sách: Truyền thông vấn, tham gia vào
các giai đoạn của chu trình chính sách
+ Các hiệp hội, mạng lưới chính sách; các chuyên gia: Tham gia vận động, thực thi đánh
giá chính sách
4. Hãy liệt kê các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay và cho biết vai trò của các
tổ chức này trong quá trình hoạch định, thực thi đánh giá chính sách? Lấy dụ minh
họa, chỉ rõ vai trò của một trong các tổ chức chính trị - xã hội đó?
- Theo Điều 9 Hiến pháp 2013, Việt Nam 6 tổ chức chính trị - xã hội chính thức, bao gồm:
+ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
+ Liên đoàn Lao động Việt Nam Hội Nông dân Việt Nam
+ Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
+ Hội Cựu chiến binh Việt Nam
+ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Vai trò của các tổ chức này trong quá trình hoạch định, thực thi và đánh giá CS:
+ Các tổ chức này vai trò quan trọng trong quá trình hoạch định, thực thi đánh giá
chính sách của Nhà nước. Cụ thể, các tổ chức này thể đóng góp ý kiến, phản biện đối
với các dự thảo chính sách của Nhà nước; tham gia thực thi các chính sách của Nhàớc;
và giám sát việc thực thi các chính sách của Nhà nước.
+ Các tổ chức chính trị - hội thể đóng góp ý kiến, phản biện đối với các dự thảo chính
sách của Nhà nước thông qua các kênh sau:
Tham gia các hội nghị, hội thảo, tọa đàm về chính sách
Gửi ý kiến, phản biện bằng văn bản
Thông qua các phương tiện truyền thông
VD: Trong quá trình xây dựng Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh đã tham gia ý kiến phản biện đối với các quy định của Luật.
Đoàn Thanh niên đã đề xuất bổ sung các quy định về phòng, chống bạo lực gia đình trong
môi trường giáo dục, lao động,...
+ Các tổ chức chính trị - hội thể tham gia thực thi các chính sách của Nhà nước thông
qua các kênh sau:
Tham gia các chương trình, dự án của Nhà ớc
Tuyên truyền, vận động các thành viên thực hiện các chính sách của Nhà nước
Giúp đỡ các đối tượng thụ hưởng chính ch
VD: Trong quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo, Hội Nông dân Việt Nam đã tham
gia các chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ tạo việc làm cho người nghèo ở nông
thôn.
+ Các tổ chức chính trị - hội thể giám sát việc thực thi các chính sách của Nhà nước
thông qua các kênh sau:
Tiếp nhận phản ánh của người dân về việc thực thi chính ch
Tổ chức các cuộc khảo sát, điều tra về việc thực thi chính sách
Tham gia các hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân n
VD: Trong quá trình đánh giá chính sách giáo dục, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã tổ
chức các cuộc khảo sát, điều tra về mức độ hài lòng của phụ huynh học sinh đối với
chất lượng giáo dục.
- Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:
+ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chính trị - hội rộng lớn nhất, bao gồm các tổ
chức chính tr hội, các tổ chức hội các nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng
lớp hội, dân tộc, tôn giáo. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vai trò quan trọng trong việc
đại diện, tập hợp, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tham gia xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
+ Trong quá trình hoạch định, thực thi đánh giá chính sách, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trách nhiệm:
Đại diện, tập hợp, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để tham gia
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tham gia xây dựng pháp luật, chính sách của Nhà ớc
Tham gia giám sát việc thực thi pháp luật, chính sách của Nhà nước
VD: Trong quá trình xây dựng Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam đã tham gia xây dựng dự thảo Luật, tổ chức các hội nghị, hội thảo lấy ý kiến của
nhân dân về dự thảo Luật.
5. Vấn đề xã hội là gì? Cho ví dụ minh họa?
- Theo James G. March Herbert A. Simon, vấn đề (xã hội) khoảng cách giữa trạng thái
quan sát được với trạng thái mong muốn. Theo quan điểm của phép biện chứng duy vật, vấn đề
hội chính các loại mâu thuẫn hội cần được giải quyết. Anderson thì cho rằng, vấn đề
chính sách thể định nghĩa bởi loại điều kiện hoặc hoàn cảnh nào đó (mà) thể dẫn đến
những nhu cầu hoặc sự thiếu thỏa mãn của một bộ phận người trong hội (khiến họ) đi tìm sự
hỗ trợ hoặc đắp. Trong xã hội tồn tại rất nhiều loại vấn đề, nhưng chỉ những vấn đề khiến
cho con người hành động mới là vấn đề chính sách. Nói cách khác, nếu vấn đề không được biểu
đạt hay đề xuất thì không thể trở thành vấn đề chính sách. Theo quan điểm của Jones, vấn đề
hội thể định nghĩa điều kiện hoặc tình trạng “nhu cầu, khó khăn hoặc sự không hài lòng
của một số người, được nhận định bởi chính họ hoặc người khác, dẫn đến việc đi tìm biện pháp
giải quyết”.
VD: Tình trạng ô nhiễm không khí các thành phố lớn một vấn đề hội. Người dân mong
muốn không khí trong lành, nhưng thực tế ô nhiễm vượt mức cho phép. Sự chênh lệch này
khiến nhiều người cảm thấy không hài lòng yêu cầu chính quyền biện pháp kiểm soát khí
thải, trồng cây xanh, hạn chế phương tiện gây ô nhiễm. Khi vấn đề này được biểu đạt, trở
thành một vấn đề chính sách để cơ quan nhà nước tìm cách giải quyết.
6. Có những loại môi trường chính sách nào? Cho ví dụ minh họa? (tr. 46 Gtr cũ) (tr. 47, 48
Gtr cô Hạnh)
- Môi trường chính sách tổng hòa tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành, tồn tại
phát triển của chính sách
- Môi trường chính sách gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội:
Môi trường tự nhiên chủ yếu: vị trí địa lí, diện tích, điều kiện khí hậu, núi sông,
quặng chất,… Môi trường tự nhiên tiền đề tự nhiên để con người sinh tồn sáng
tạo ra văn minh, ảnh hưởng tác dụng hạn chế đến chính sách đối nội đối ngoại
của một nước.
VD: Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế trên biển rộng khoảng 1
triệu km
2
, đây sở để ban hành Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp
hành Trung ương về
Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030,
tầm nhìn đến năm 2045
”.
Môi trường hội bao gồm: tình hình chính trị, tình hình kinh tế hội, tình hình
văn hóa, giáo dục, tình hỉnh luật pháp, tình hình dân số, tình hình khoa học công
nghệ,…
VD: Trước thực tế lực lượng lao động trẻ dồi dào, song trình độ tay nghề còn thấp, Chính
phủ ban hành Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 phê duyệt
Chiến lược phát triển
nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011–2020
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Những loại môi trường chính sách:
Tình hình kinh tế hội: Tình hình hoặc trình độ phát triển kinh tế hội lả căn cứ
quan trọng nhất đối với các quyết định chính sách của quốc gia hay khu vực. Chính
phủ muốn hoạch định ra phương án chính sách hợp lý và khiến nó đạt được hiệu quả
như kỳ vọng, điều đầu tiên căn bản nhất đó là phải xuất phát từ thực tế tình hình
của quốc gia hoặc khu vực đó, đặc biệt nh hình phát triển kinh tế hội. Bất
chính sách nào lạc hậu hoặc vượt quá trình độ phát triển kinh tế hội đều sẽ thất
bại.
VD: Đại hội ĐCSVN IV diễn ra trong bối cảnh đã thống nhất haimiền Nam Bắc, từ ngày 14
đến ngày 20/12/1976. Xác định được bối cảnh nhu cầu phát triển đổi mới, Đảng đã đề ra
đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng kinh tế trong thời kì quá
độ, xuất phát từ đặc điểm tình hình đất nước và thế giới trong giai đoạn cách mạng mới.
Điều kiện thể chế, chế độ: Chính sách bao giờ cũng được hoạch địnhvà thực thi trong
điều kiện thể chế kinh tế, văn hoá nhất định. Đối với việc phát triển kinh tế, thể chế
và chế độ là cực kì quan trọng, bởi vì “thể chế cung cấp một cấu trúc kích thích kinh
tế, để theo quátrình diễn tiến của cấu trúc đó, (thể chế) quy định phương hướng biến
đổi của nền kinh tế theo tăng trưởng, đình trệ hoặc suy thoái”; “không thể chế
thích hợp thì bất cứ dạng kinh tế thị trường có ý nghĩa nào cũng là điều không thể”.
VD: Để thể hiện cho thể chế chính trị (thể phân chia thành thể chế lãnh đạo, thể chế tổ
chức, thể chế quản hành chính,thể chế t chức cán bộ), ta Luật Doanh nghiệp, Luật
Cán bộ Viên chức, Luật Công chức…
Văn hoá chính trị (hình thái ý thức, giá trị quan, lý tưởng chính trị): Có thể định nghĩa
văn hoá chính trị là phạm trù ý thức chủ quan của con người trong đời sống chính trị,
tổng hoà của hiện thực lịch sử về thái độ, nhận xét, cảm xúc, tình cảm, luận,
niềm tin về chính trị của con người. tác động đến chính sách công qua 3 bình
diện: ý thức chính trị, giá trị quan chính trị và lý tưởng chính trị.
VD: Hiến pháp, hệ thống các Bộ Luật Luật đều thể hiện ý thức chính trị của giai cấp
cầm quyền
Môi trường quốc tế: Toàn cầu hoá một quá trình đã bắt đầu, một xu thế lớn đã
xuất hiện, bất cứ nghiên cứu nào nếu không nhìn thấy xu thế đó, đều là quáng,
bất cứ quyết sách nào đi ngược với xu thế này đều là sai lầm. Vì vậy, môi trường này
đã ảnh hưởng trên mọi khía cạnh chính sách như kinh tế, chính trị, khoa học, văn
hoá, một nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến các quyết định chínhsách của các
nước. Nếu các chính sách đề xuất xa rời với xu thế toàn cầu hoá, bỏ qua yếu tố
môi trường quốc tế, đều rất khó đạt được kết quả kỳ vọng
VD: Chiến lược thu hút vốn đầu nước ngoài, sửa đổi Luật Đầu để hỗ trợ ưu đãi cho
nhà đầu trong nước nước ngoài, chính sách thuế đối với FDI (tổ chức kinh tế vốn
đầu tư nước ngoài)…
7. Chu trình chính sách công gồm những giai đoạn nào? Cho dụ minh họa? (tr. 96 Gtr
mới)
- Khái niệm:
Chu trình chính sách hay quy trình chính ch công
được hiểu quá trình luân
chuyển của các giai đoạn từ xây dựng chính sách công đến khi xác định được hiệu quả của
chính sách công trong đời sống xã hội của quốc gia thông qua việc thực thi chính sách công trên
thực tiễn.
- Các giai đoạn của quy trình chính sách có liên hệ chặt chẽ với nhau theo nguyên tắc: giai đoạn
trước nền tảng cho giai đoạn tiếp theo kết quả của giai đoạn trước thông tin cần đủ
cho giai đoạn tiếp theo.
Trên thực tế, tuy các hình quy trình CSC khác nhau về chi tiết, song nhìn chung thể
quy về 3 giai đoạn cơ bản của quy trình này là:
Giai đoạn 1. Xây dựng chính sách (hoạch định):
Xây dựng chính sách được coi như bước khởi đầu trong chu trình chính sách. Đây
bước đặc biệt quan trọng. Trong giai đoạn này, các chính sách được nghiên cứu đề
xuất để Nhà nước phê chuẩn và ban hành công khai.
Giai đoạn này gồm 4 ớc chính: (1) Nhận diện vấn đề phân tích hoạch định
chính sách; (2) Xây dựng nghị trình/chương trình nghị sự chính sách; (3) Soạn thảo
và hình thành chính sách; (4) Thông qua và ban hành chính sách
VD: Sau đại dịch COVID-19, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, Chính phủ nghiên cứu đề
xuất
chính sách giảm thuế giá trị gia tăng (GTGT)
theo Nghị quyết số 101/2023/QH15, để
kích cầu tiêu dùng, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi. Đây giai đoạn xây dựng soạn thảo
chính sách trước khi trình Quốc hội thông qua.
Giai đoạn 2. Thực thi chính sách:
Đây giai đoạn thực thi các mục tiêu CSC trên thực tế. Nói cách khác, đây giai
đoạn vận dụng những giải pháp định trước để đạt được các mục tiêu chính sách.
Chính trong giai đoạn này, chính sách được biến thành kết quả thực tế.
Giai đoạn thực thi chính sách gồm 3 giai đoạn bản như sau: (1) Xây dựng ban
hành văn bản chỉ đạo thực thi CSC; (2) Tổ chức thực thi văn bản, chương trình, d
án, thực thi CSC; Sơ kết, tổng kết thực hiện chương trình, dự án thực thi CSC
VD: Sau khi chính sách giảm thuế GTGT được Quốc hội thông qua, Chính phủ ban hành
Nghị định số 44/2023/NĐ-CP ngày 30/06/2023
Quy định chính sách giảm thuế giá trị gia
tăng theo nghị quyết số 101/2023/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2023 của Quốc hội
”, hướng
dẫn các quan thuế doanh nghiệp thực hiện mức giảm thuế từ 10% xuống còn 8%. Đây
là giai đoạn chính sách được triển khai trên thực tế.
Giai đoạn 3. Đánh giá chính sách:
Đây một giai đoạn quan trọng trong quy trình chính sách. Trong giai đoạn này,
người ta tiến hành so sánh các kết quả của CSC với các mục tiêu đề ra, phần tích
hiệu quả kinh tế - xã hội đạt được thông qua việc thực thi chính sách trên thực tế.
VD: Sau thời gian áp dụng, Chính phủ tiến hành tổng kết, đánh giá hiệu quả việc giảm thuế
GTGT báo cáo Quốc hội. Trên sở kết quả đó, Quốc hội ban hành Nghị quyết số
110/2023/QH15 ngày 29/11/2023, cho phép tiếp tục giảm 2% thuế GTGT trong năm 2024,
chứng minh hiệu quả tích cực của chính sách đối với tăng trưởng kinh tế và tiêu dùng.
8. Lấy dụ một chính sách cụ thể để phân tích mối quan hệ các giai đoạn trong chu trình
chính sách công?
dụ: Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 05/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ:
Ban hành
chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030
”.
Xác định vấn đề chính sách công:
- Trước năm 2021, đại dịch Covid-19 khiến thị trường lao động Việt Nam gặp nhiều sóng
gió, nền kinh tế Việt Nam chứng kiến sự sụt giảm về số người tham gia thị trường lao
động số người việc làm. Thu nhập bình quân của người lao động cũng theo đó
thâm hụt, cung cầu lao động mất cân đối. Chính phủ xác định đây là vấn đề hội cần
can thiệp bằng chính sách công để phục hồi và phát triển thị trường lao động bền vững.
Xây dựng (hoạch định) chính sách:
- Bộ Lao động Thương binh hội được giao chủ trì xây dựng chương trình, phối
hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các bộ, ngành
liên quan.
- Chính sách được soạn thảo nhằm đạt mục tiêu chung là: Phát triển đồng bộ các yếu tố thị
trường lao động, góp phần huy động, phân bổ sử dụng hiệu quả các nguồn lực để
thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội,…
Ban hành chính sách:
- Ngày 05 tháng 02 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 176/QĐ-
TTg, chính thức phê duyệt
“Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm
2030”
.
Văn bản quy định rõ: phạm vi, đối tượng, nội dung chương trình, cùng trách nhiệm của
từng bộ, ngành và địa phương.
Thực thi chính sách:
Các hoạt động triển khai gồm:
- Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động;
- Đẩy mạnh đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm;
- Hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng bởi COVID-19;
- Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động hiện đại.
Các bộ, ngành địa phương được giao kế hoạch cụ thể hằng năm để thực hiện báo cáo
kết quả về Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Đánh giá chính sách:
- Bộ Lao động Thương binh hội chủ trì, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ
hằng năm giai đoạn 5 năm về kết quả thực hiện chương trình; kiến nghị điều chỉnh
nội dung, mục tiêu khi cần thiết.
9. Phân tích nền tảng của chính sách công? (tr. 67)
- Nền tảng tư duy và các mẫu hình chính sách công
Nền tảng tư duy
Giá trị quan thức duy là hai "biến số" chính tạo nền tảng cho sự ra đời
hình thành phong cách chính sách.
Hai thành tố này sẽ được định hình trong các chủ thể chính sách phát triển, biến
đổi dựa trên sự thay đổi của các chủ thể (theo nhiệm kỳ) cũng như sự thay đổi của hệ
thống chính sách
Với mỗi giai đoạn phát triển, duy chính sách của các chủ thể thể ảnh hưởng tới
những tư tưởng, những mẫu hình chính sách và ngược lại