












Preview text:
1.
Phân tích nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thế giới hiện
nay. (sách trang 15). Hãy phê phán những quan điểm tư sản đang tìm cách phủ định
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Đây là quan điểm sai trái, lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ và những biến đổi lớn
của xã hội để diễn dịch cho rằng giai cấp công nhân bị giảm sút nhiều mặt, nên không thể lãnh
đạo xã hội. Những luận điệu sai trái này cho rằng trong nền kinh tế tri thức, chỉ có trí thức mới
quyết định được trình độ phát triển của đất nước. Trong bối cảnh nâng cao năng lực cạnh tranh
với các nước phát triển và khi kinh tế tri thức càng phát triển thì số lượng trí thức càng tăng, từ
đó trí thức giữ vị trí trung tâm của xã hội, lãnh đạo xã hội. Quan điểm này được đưa ra một cách
chủ quan mà không dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn.
Thứ nhất, về lý luận: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự đẩy mạnh phân
công lao động xã hội theo ngành nghề, lĩnh vực, vùng miền, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số đã làm chuyển dịch cơ cấu lao động,
cơ cấu giai cấp theo hướng đa dạng và tạo ra không gian rộng mở cho sự phát triển nhiều mặt của
giai cấp công nhân với nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia công nghiệp hóa.
Vai trò của trí thức đối với sự phát triển xã hội là quan trọng, cấp thiết, thể hiện rõ nét trong kinh
tế tri thức, kinh tế số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Với những đóng góp từ lao động của
trí thức giúp cho quá trình sản xuất vật chất của công nhân và nông dân không ngừng nâng cao
về năng xuất, chất lượng, năng lực cạnh tranh, tạo ra sự phát triển nhanh của đất nước. Nhưng trí
thức không thể lãnh đạo xã hội vì những lý do sau:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trí thức không phải là một giai cấp, mà là một lực
lượng xã hội đặc biệt, có nguồn gốc xuất thân không thuần nhất. Trí thức không đại diện cho một
phương thức sản xuất độc lập nào, phương thức sản xuất của trí thức là độc lập nghiên cứu, sáng
tạo; sản phẩm của trí thức là lý thuyết, phát minh, sáng chế, tồn tại dưới dạng những giá trị lý
thuyết tinh thần là chủ yếu. Trí thức không có hệ tư tưởng riêng, tư tưởng của trí thức phụ thuộc
hệ tư tưởng của các giai cấp thống trị xã hội. V.I.Lênin chỉ rõ: “nếu không nhập cục với một
giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi”[1]. Kể từ khi xã hội có phân chia giai
cấp, sự lãnh đạo xã hội luôn thuộc về giai cấp.
Thứ hai, về thực tiễn: lịch sử loài người cho thấy, một giai cấp giữ vị trí thống trị xã hội bao giờ
cũng phải là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất phát triển, phương thức sản xuất tiến bộ.
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi giai cấp lãnh đạo xã hội phải trung thành với lới ích
của giai cấp, dân tộc, có hệ tư tưởng tiên tiến, có Đảng Cộng sản lãnh đạo, có đường
lối lãnh đạo đúng, có mục tiêu nhân văn vì giải phóng con người; có bản chất quốc tế và bản sắc
dân tộc sâu sắc. Như vậy, trí thức không có được một tiêu chuẩn, giá trị nào trong hệ thống các
giá trị chuẩn mực nêu trên.
Từ xưa đến nay, trí thức tồn tại với tư cách là lực lượng xã hội đặc biệt. Số lượng trí thức không
đông bằng giai cấp công nhân và nông dân, không phải là một lực lượng kinh tế, chính trị - xã
hội độc lập, không thể so với sự đông đảo của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Tuy
nhiên trí thức lại có khả năng tư vấn, phản biện, giám định về mặt kinh tế - kỹ thuật và mặt chính
trị - xã hội cho chính phủ như: tư vấn, phản biện, giám định về nội dung, chương trình, kế hoạch
giáo dục - đào tạo, phát triển y tế, tài chính, ngân hàng, điều chỉnh giá xăng, giá điện, nước,
chuyển giao ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, điều chế vắcxin điều trị Covid -19,
v.v. Mặt khác, trí thức còn có khả năng khái quát xây dựng hệ tư tưởng cho các giai cấp thống trị
xã hội như: trí thức dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, trí thức phong kiến, trí thức tư sản và trí thức
công nhân. Trên thực tế, trí thức chỉ tồn tại và phát triển dựa vào giai cấp công nhân hoặc nông
dân, dựa trên lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, đó là môi trường để trí thức có thể áp dụng các
lý thuyết, phát minh, sáng chế, thiết kế của mình để kiểm nghiệm thực tiễn, đánh giá tính đúng –
sai, kiểm tra chân lý, qua đó mà trí thức mới có thu nhập, được nuôi dưỡng, tồn tại và phát triển. 2.
Dựa trên cơ sở nào để khẳng định Việt Nam quá độ lên thời kì CNXH bỏ qua
TBCN là một tất yếu khách quan. Thứ nhất
Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, giữa các phương thức sản xuất (PTSX) cũ và PTSX
mới luôn tồn tại một thời kỳ quá độ (TKQĐ). Đây là giai đoạn chuyển tiếp không thể thiếu trong
sự thay thế của các PTSX. ●
Lịch sử phát triển PTSX: Lịch sử loài người là sự phát triển và thay thế nhau của các
PTSX, nhưng không phải PTSX này chấm dứt hoàn toàn rồi mới xuất hiện PTSX khác. Thay vào
đó, giữa hai PTSX luôn tồn tại một TKQĐ, trong đó các yếu tố mới xuất hiện và dần thay thế cái cũ. ●
TKQĐ là tất yếu: TKQĐ là một quá trình khách quan, phù hợp với quy luật phát triển tự
nhiên của xã hội loài người.
Thứ hai: Lịch sử xã hội loài người đã và đang trải qua 5 PTSX, nhưng không phải quốc gia
nào cũng tuần tự trải qua đầy đủ tất cả các PTSX từ thấp đến cao. ●
Đặc điểm lịch sử - cụ thể: Tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, không gian và thời gian, các
quốc gia có thể bỏ qua một hoặc vài PTSX trong quá trình phát triển của mình. Điều này đã được
chứng minh qua thực tiễn lịch sử.
Thứ ba, việc bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN quá độ lên CNXH ở nước ta là hoàn toàn phù hợp
với yêu cầu khách quan của nền kinh tế. Trong hoàn cảnh cụ thể hiện nay nước ta có những điều
kiện khách quan bên ngoài và bên trong để quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN.
Điều kiện bên ngoài là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã đưa lực lượng sản xuất toàn cầu
phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện cho Việt Nam tận dụng thành tựu về vốn, kỹ thuật và kinh
nghiệm quản lý từ các nước phát triển để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sự
phát triển của kinh tế tri thức và xã hội hóa sản xuất mở ra khả năng hiện thực để nước ta lựa
chọn con đường lên CNXH, bỏ qua TBCN. Do đó, quá độ lên CNXH là con đường phát triển
hợp quy luật khách quan. Sau CNTB nhất định phải là một chế độ xã hội tốt đẹp hơn - đó là chế
độ XHCN. Với xu thế lịch sử như vậy đã xuất hiện con đường bỏ qua TBCN tiến lên CNXH.
Điều kiện bên trong là nước ta đã giành được độc lập dân tộc, có chính quyền của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đây là điều kiện tiên quyết,
có tính chất quyết định con đường quá độ lên CNXH ở nước ta.
Việc Việt Nam quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là sự lựa chọn phù hợp với quy luật
khách quan và thực tiễn lịch sử. Con đường này không chỉ phù hợp với điều kiện cụ thể trong
nước mà còn đáp ứng xu thế phát triển của thời đại. Nó đảm bảo độc lập dân tộc, phát triển kinh
tế, nâng cao đời sống nhân dân và thực hiện mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 3.
Bản chất của nền dân chủ XHCN ở Việt Nam (trang 41). Liên hệ trách nhiệm
cá nhân/sinh viên trong việc góp phần xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Là một sinh viên 19 tuổi, em hiểu rằng việc xây dựng nền dân chủ XHCN không chỉ là trách
nhiệm của Đảng hay Nhà nước mà cần sự tham gia chủ động của mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ
trẻ. Trong thời đại chuyển đổi số, em nhận thức việc sử dụng mạng xã hội một cách có trách
nhiệm là rất quan trọng. Em sẽ tích cực chia sẻ các thông tin đúng đắn, đấu tranh chống lại tin
giả, góp phần tạo ra không gian mạng lành mạnh, phản ánh được ý chí và nguyện vọng chính
đáng của nhân dân. Đồng thời, em tin rằng sáng tạo và khởi nghiệp với tinh thần phục vụ cộng
đồng cũng là một cách để đóng góp. Thay vì chỉ học tập để tìm kiếm công việc ổn định, em
mong muốn phát triển những dự án hướng đến giải quyết các vấn đề xã hội, như môi trường,
giáo dục, hay nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Em cũng chủ động xây dựng tư duy
phản biện, tham gia đối thoại, tranh luận về các vấn đề quốc gia một cách thẳng thắn và xây
dựng, để tiếng nói của thế hệ trẻ được lắng nghe và tôn trọng, từ đó góp phần thực sự thúc đẩy
nền dân chủ trong thực tiễn. 4.
Bản chất nhà nước XHCN (trang 39). Liên hệ trách nhiệm cá nhân trong việc
góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Là một sinh viên 19 tuổi, em nhận thức rằng việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt
Nam không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước mà cần sự tham gia tích cực của mỗi công
dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trách nhiệm của em bắt đầu từ việc tôn trọng và thực thi pháp luật
trong đời sống hàng ngày, như tuân thủ giao thông, không vi phạm các quy định trong học tập và
sinh hoạt. Đồng thời, em chủ động tìm hiểu và nâng cao nhận thức về hệ thống pháp luật, quyền
và nghĩa vụ công dân để không chỉ bảo vệ quyền lợi của bản thân mà còn góp phần thúc đẩy
công bằng và minh bạch trong xã hội.
Ngoài ra, em ý thức việc phản ánh và đấu tranh với những hành vi trái pháp luật, tiêu cực trong
cộng đồng một cách phù hợp, sử dụng các kênh tiếp cận công khai và minh bạch như qua các tổ
chức đoàn thể hay các cơ quan chức năng. Trên không gian mạng, em tránh lan truyền những nội
dung sai sự thật, thay vào đó chia sẻ các thông tin chính xác và tích cực.
Quan trọng hơn, em nhận thấy việc phát triển bản thân qua học tập và rèn luyện là cách lâu dài
để đóng góp vào việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền vững mạnh. Bởi lẽ, khi em trở thành
một công dân có trách nhiệm, có tri thức và hiểu biết sâu sắc về pháp luật, em sẽ tham gia tích
cực vào các hoạt động xây dựng chính sách, thúc đẩy sự thượng tôn pháp luật và bảo vệ quyền
lợi của nhân dân trong tương lai.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, vì sao phải thực hiện liên minh giai cấp, tầng lớp? (110b) Phân
tích vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp cơ bản trong cơ cấu xã hội - giai cấp Việt Nam.(51) 5.
Phân tích những cơ sở để khẳng định tính tất yếu của liên minh giai cấp. tầng
lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (50). Làm rõ trách nhiệm
của sinh viên trong việc góp phần củng cố khối liên minh và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.
Là một sinh viên, em nhận thức rõ rằng mình có trách nhiệm góp phần củng cố khối đại đoàn kết
toàn dân – một giá trị cốt lõi giúp đất nước phát triển bền vững. Để thực hiện tốt vai trò này, em
nghĩ mình cần tập trung vào những khía cạnh sau:
1. Rèn luyện đạo đức và phẩm chất cá nhân
Em sẽ luôn cố gắng rèn luyện bản thân, đặt phẩm cách và đạo đức lên hàng đầu. Điều này không
chỉ giúp em hoàn thiện mình mà còn lan tỏa những giá trị tốt đẹp đến mọi người xung quanh. Em
tin rằng khi mỗi cá nhân đều sống tử tế, trung thực và biết nghĩ cho cộng đồng, khối đoàn kết sẽ trở nên mạnh mẽ hơn.
2. Tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội và học tập
Là một sinh viên, nhiệm vụ chính của em là học tập. Nhưng ngoài học tập, em còn muốn tham
gia các hoạt động cộng đồng, tình nguyện và các chương trình do trường, đoàn thanh niên tổ
chức. Những hoạt động này không chỉ giúp em phát triển kỹ năng mà còn xây dựng mối quan hệ
bền chặt với bạn bè, thầy cô và xã hội.
3. Lan tỏa tinh thần sẻ chia và giúp đỡ
Em hiểu rằng trong xã hội vẫn còn nhiều người gặp khó khăn, và trách nhiệm của sinh viên
chúng em là góp phần giúp đỡ họ. Không chỉ bằng vật chất, mà còn bằng những hành động nhỏ
như tham gia các phong trào quyên góp, dạy học cho trẻ em nghèo, hay đơn giản là tạo động lực
cho những người xung quanh. Khi chúng ta biết yêu thương và chia sẻ, tình đoàn kết sẽ ngày càng được củng cố.
4. Thể hiện tiếng nói và trách nhiệm của thế hệ trẻ
Sinh viên chúng em là thế hệ trẻ, có tiếng nói và sức ảnh hưởng nhất định. Em nghĩ rằng việc lên
tiếng bảo vệ những điều đúng đắn, đấu tranh chống lại sự bất công và lan tỏa các giá trị tích
cực là một phần trách nhiệm của mình. Thế hệ sinh viên cần là người tiên phong trong việc xây
dựng xã hội công bằng, văn minh.
5. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc
Em thấy mỗi người trẻ đều là "cầu nối" giữa truyền thống và hiện đại. Vì vậy, em sẽ tích cực học
hỏi và quảng bá những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, như tổ chức các ngày hội văn hóa,
chia sẻ những câu chuyện lịch sử ý nghĩa, hay khơi dậy tinh thần tự hào dân tộc trong các bạn bè
của mình. Văn hóa chính là yếu tố gắn kết các thế hệ trong cộng đồng.
6. Ứng dụng công nghệ để kết nối và đoàn kết (ý mới)
Trong thời đại công nghệ số, em nghĩ sinh viên chúng em có thể tận dụng các nền tảng mạng xã
hội để tạo nên những cộng đồng trực tuyến tích cực. Đây có thể là nơi chia sẻ kiến thức, tổ chức
các hoạt động ý nghĩa, hay đơn giản là không gian để kết nối mọi người với nhau. Khi công nghệ
được dùng đúng cách, nó sẽ trở thành một công cụ mạnh mẽ giúp xây dựng sự đoàn kết.
7. Tích cực bảo vệ môi trường vì lợi ích chung (ý mới)
Đoàn kết không chỉ nằm ở con người mà còn thể hiện qua trách nhiệm chung với môi trường
sống. Em sẽ tham gia các hoạt động trồng cây, bảo vệ môi trường, giảm thiểu rác thải nhựa và
tuyên truyền ý thức sống xanh. Khi mọi người cùng chung tay bảo vệ môi trường, chúng ta
không chỉ kết nối mà còn tạo ra một tương lai tốt đẹp hơn. Kết luận:
Em hiểu rằng trách nhiệm của mình không chỉ là học tập mà còn phải đóng góp vào việc xây
dựng và giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân. Em sẽ luôn cố gắng rèn luyện bản thân, hành động
có trách nhiệm và lan tỏa những giá trị tích cực để góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.
Phân tích mối quan hệ giữa dân tộc với tôn giáo ở Việt Nam và ảnh hưởng của mối quan hệ đó
đến sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước, đến độc lập, chủ quyền đất nước.
Mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo tại Việt Nam là một vấn đề phức tạp và đa chiều, đồng thời
cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng sâu sắc đến sự ổn định chính trị - xã hội và độc lập, chủ quyền của đất nước. Về mặt tích cực: ●
Đoàn kết dân tộc: Tôn giáo có thể đóng vai trò là cầu nối, gắn kết các cộng đồng dân cư,
tạo ra sự đoàn kết, thống nhất trong xã hội. Điều này đặc biệt quan trọng trong những thời kỳ
khó khăn, thử thách, giúp tăng cường sức mạnh tổng hợp của dân tộc. ●
Gìn giữ bản sắc văn hóa: Tôn giáo là một phần không thể thiếu trong bản sắc văn hóa
của mỗi dân tộc. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tinh thần do tôn giáo mang lại góp
phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người dân, củng cố tinh thần dân tộc. ●
Đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội: Nhiều tôn giáo có những hoạt động từ
thiện, xã hội, góp phần cải thiện đời sống của cộng đồng, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn. Về mặt tiêu cực: 6.
Mâu thuẫn, xung đột: Nếu không được quản lý tốt, mối quan hệ giữa các tôn giáo hoặc
giữa tôn giáo và nhà nước có thể dẫn đến mâu thuẫn, xung đột, gây ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội. 7.
Lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị: Một số thế lực phản động có thể lợi dụng
tôn giáo để chia rẽ dân tộc, gây rối an ninh trật tự. Ví dụ ở nước ta, từ sau năm 2001 các thế lực
thù địch công khai ủng hộ, dựng lên cái gọi là "Nhà nước Đềga", "Tin Lành Đềga" nhằm chia rẽ
mối quan hệ giữa người Kinh và người Thượng, chia rẽ và phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, và
muốn tách Tây Nguyên ra khỏi Tổ quốc Việt Nam. Mưu đồ này được dựng bởi những kịch bản
tương tự như “Tổ quốc của người Mông” với Tin Lành - Vàng Chứ ở các tỉnh miền núi phía Bắc,
“Nhà nước Khmer Crôm” gắn với Phật giáo Nam Tông ở khu vực Tây Nam Bộ. Tất cả nhằm
chia rẽ, gây mất đoàn kết dân tộc, tôn giáo trong một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo như nước
tadẫn đến suy giảm và lụi tàn văn hóa ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống chính trị-xã hội, cũng như ảnh
hưởng đến thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước 8.
Hạn chế sự phát triển của xã hội: Những quan niệm lạc hậu, giáo điều trong tôn giáo
có thể cản trở sự phát triển của tư duy, khoa học và xã hội. 9.
Phân tích cơ sở xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên CNXH (72). Theo
mình, cần thực hiện những giải pháp gì để xây dựng và phát triển gia đình ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay?
Để xây dựng và phát triển gia đình ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, cần thực hiện nhiều giải
pháp đồng bộ, phù hợp với bối cảnh xã hội hiện đại và giữ vững giá trị truyền thống. Dưới đây là
những giải pháp thiết thực:
1. Nâng cao nhận thức về vai trò của gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội, giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách, đạo đức và
ý thức của mỗi cá nhân. Vì vậy, cần:
Tuyên truyền và giáo dục: Thông qua các chương trình truyền thông, hội thảo, và hoạt động cộng
đồng để nâng cao nhận thức về giá trị của gia đình.
Giảng dạy trong trường học: Lồng ghép các nội dung giáo dục về gia đình và kỹ năng sống vào
chương trình học để thế hệ trẻ hiểu và trân trọng các giá trị gia đình.
2. Xây dựng chính sách hỗ trợ gia đình
Nhà nước cần ban hành và thực hiện các chính sách hỗ trợ gia đình phù hợp với tình hình kinh
tế - xã hội hiện nay, bao gồm:
Chính sách hỗ trợ kinh tế: Giảm thuế, hỗ trợ tài chính hoặc cung cấp nhà ở cho các gia đình khó khăn, gia đình trẻ.
Chính sách bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em: Bảo vệ quyền được học tập, lao động, và
chăm sóc sức khỏe của phụ nữ, trẻ em trong gia đình.
Chính sách cân bằng công việc và gia đình: Khuyến khích chế độ làm việc linh hoạt, tăng
cường thời gian nghỉ thai sản cho cả cha và mẹ.
3. Bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống gia đình Việt Nam
Trong quá trình hiện đại hóa, gia đình vẫn cần duy trì các giá trị cốt lõi như hiếu thảo, yêu
thương và trách nhiệm. Điều này có thể đạt được qua:
Khuyến khích sinh hoạt gia đình: Tạo điều kiện để các gia đình có thời gian cùng nhau ăn
cơm, trò chuyện, và tham gia các hoạt động chung.
Phát động phong trào gia đình văn hóa: Khích lệ các gia đình giữ gìn nếp sống tốt đẹp, tuân thủ
pháp luật, gương mẫu trong cộng đồng. Tăng cường giáo dục kỹ năng xây dựng gia đình
Đối với các bạn trẻ: Cần tổ chức các lớp học tiền hôn nhân, dạy về vai trò, trách nhiệm của vợ
chồng, cha mẹ trong gia đình.
Đối với các gia đình trẻ: Hướng dẫn cách quản lý tài chính, nuôi dạy con cái, giải quyết mâu
thuẫn và giữ gìn hạnh phúc.
Tư vấn tâm lý gia đình: Thành lập các trung tâm hỗ trợ tâm lý, tư vấn gia đình để giúp giải
quyết các xung đột nội bộ.
4. Đẩy mạnh công tác phòng chống bạo lực gia đình
Phổ biến pháp luật: Tăng cường nhận thức về quyền bình đẳng giới và các quy định pháp luật
liên quan đến bảo vệ thành viên gia đình.
Xây dựng hệ thống hỗ trợ: Thành lập đường dây nóng, trung tâm bảo trợ để hỗ trợ kịp thời cho
các nạn nhân của bạo lực gia đình.
Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm: Kiên quyết xử lý các hành vi bạo lực trong gia đình để răn
đe và bảo vệ quyền lợi của các thành viên.
5. Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội và tôn giáo
Các tổ chức như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, và các tổ chức tôn giáo cần:
Tích cực tổ chức các hoạt động, phong trào giúp gắn kết các gia đình trong cộng đồng. Hỗ trợ các
gia đình gặp khó khăn về kinh tế, tinh thần, hoặc các vấn đề khác.
6. Tận dụng công nghệ để xây dựng gia đình hiện đại (ý mới)
Trong thời đại số, công nghệ có thể được sử dụng để kết nối và hỗ trợ gia đình:
Ứng dụng quản lý gia đình: Các ứng dụng giúp phân công công việc nhà, quản lý chi tiêu và lên kế hoạch gia đình.
Tăng kết nối giữa các thế hệ: Sử dụng công nghệ để giữ liên lạc giữa các thành viên trong gia
đình, đặc biệt là những người sống xa nhau. Kết luận:
Để xây dựng và phát triển gia đình ở Việt Nam hiện nay, cần có sự chung tay của cả Nhà nước,
cộng đồng và từng cá nhân. Một gia đình hạnh phúc, bền vững không chỉ là nền tảng cho mỗi
con người mà còn là động lực phát triển của cả xã hội. 10.
Làm rõ những biến đổi cơ bản của gia đình Việt Nam trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội (74). Trách nhiệm cá nhân của sinh viên trong xây dựng và
phát triển gia đình như thế nào?
Trách nhiệm cá nhân của sinh viên trong việc xây dựng và phát triển gia đình là rất quan trọng,
bởi gia đình là nền tảng đầu tiên giúp hình thành nhân cách, giá trị sống của mỗi người.
Là một sinh viên, em hiểu rằng mình không chỉ có vai trò là người thụ hưởng tình yêu thương và
sự chăm sóc từ gia đình mà còn cần phải đóng góp tích cực để xây dựng và phát triển tổ ấm của
mình. Cụ thể, những trách nhiệm đó bao gồm:
1. Gìn giữ giá trị đạo đức và truyền thống gia đình
Em luôn cố gắng sống đúng mực, giữ gìn phẩm chất đạo đức và tuân thủ các giá trị truyền thống
mà gia đình đã dạy dỗ.
Hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng ông bà, anh chị em hòa thuận là điều em luôn đặt lên hàng đầu.
Đây là cách thể hiện trách nhiệm cá nhân trong việc xây dựng sự gắn bó và bền chặt trong gia đình.
2. Chia sẻ công việc gia đình
Là một sinh viên, dù bận rộn với việc học, em vẫn ý thức được rằng mình cần san sẻ công việc
nhà với các thành viên khác, từ việc nấu ăn, dọn dẹp, chăm sóc ông bà, cha mẹ.
Sự chia sẻ này không chỉ giảm bớt gánh nặng cho cha mẹ mà còn góp phần tạo nên một gia đình hài hòa, đồng lòng.
3. Tích cực học tập và rèn luyện để làm gương cho các thành viên trẻ hơn
Em luôn cố gắng học tập chăm chỉ và rèn luyện bản thân để không chỉ đạt được thành tích tốt mà
còn trở thành tấm gương cho các em trong gia đình noi theo.
Thành công của em sẽ là nguồn động viên tinh thần lớn lao, khiến gia đình tự hào và thêm vững tin vào tương lai.
4. Tôn trọng và thấu hiểu cha mẹ, các thành viên trong gia đình
Em hiểu rằng mỗi người trong gia đình đều có suy nghĩ, cảm xúc riêng. Em luôn cố gắng lắng
nghe, tôn trọng ý kiến của cha mẹ và các thành viên khác.
Thay vì phản ứng tiêu cực khi có bất đồng, em lựa chọn cách nói chuyện hòa nhã, chia sẻ quan
điểm một cách xây dựng để tránh mâu thuẫn.
5. Gìn giữ và vun đắp tình cảm gia đình
Trong cuộc sống hiện đại, mỗi người thường bận rộn với công việc và học tập, nhưng em luôn cố
gắng dành thời gian cho gia đình.
Việc tham gia vào các bữa cơm gia đình, trò chuyện, tâm sự và tạo ra những kỷ niệm đẹp chính
là cách em góp phần xây dựng một gia đình bền vững.
6. Hỗ trợ tài chính khi có thể (nếu cần)
Dù còn đang đi học, em luôn cố gắng chi tiêu tiết kiệm, không để gia đình phải lo lắng quá
nhiều. Nếu có thể, em sẵn sàng tìm các công việc bán thời gian phù hợp để giảm bớt gánh nặng kinh tế cho cha mẹ.
7. Nâng cao nhận thức để xây dựng gia đình riêng trong tương lai (ý mới)
Em hiểu rằng những gì mình học hỏi và thực hành trong gia đình hiện tại sẽ là nền tảng để em
xây dựng gia đình riêng trong tương lai. Vì vậy, em luôn rèn luyện bản thân về cách quản lý cảm
xúc, giải quyết mâu thuẫn và trách nhiệm với từng thành viên.
8. Góp phần giữ gìn môi trường gia đình lành mạnh (ý mới)
Em ý thức rằng một môi trường gia đình tích cực là rất quan trọng. Vì thế, em luôn cố gắng tránh
các hành vi tiêu cực như nóng giận, cãi vã và khích lệ mọi người giữ thái độ lạc quan.
Ngoài ra, em còn tìm hiểu thêm các kiến thức về sức khỏe tinh thần để hỗ trợ gia đình khi cần thiết. Kết luận:
Là một sinh viên, trách nhiệm cá nhân của em trong việc xây dựng và phát triển gia đình bắt đầu
từ những hành động nhỏ, thiết thực trong cuộc sống hàng ngày. Dù vai trò của em còn hạn chế
so với cha mẹ, nhưng em tin rằng sự cố gắng và ý thức trách nhiệm của mình sẽ góp phần làm
cho gia đình thêm gắn kết, hạnh phúc và phát triển bền vững. 11.
Phân tích nội dung của liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân,giai cấp
nông dân, tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (52). Sinh viên
cần làm gì để củng cố khối liên minh công – nông – trí thức ở Việt Nam.
- Tích cực học tập làm chủ tri thức khoa học, phổ biến tri thức khoa học... ; giúp đỡ bạn sinh
viên gia đình chính sách, dân tộc thiểu số để học tập tốt...
- Tích cực học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh -> Giác ngộ lập trường, lý
tưởng của GCCN, cộng sản chủ nghĩa...
- Tích cực tham gia các hoạt động đoàn thể, tình nguyện về vùng nông thôn, miền núi để giúp đỡ
con em đồng bào dân tộc thiểu số... giúp người nông dân tăng gia sản xuất ... -> Nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần cho họ...
- Phê phán các quan điểm sai trái phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin, phủ định vai trò lãnh đạo của GCCN, ĐCS... 12.
Phân tích nguồn gốc của tôn giáo (63b). Có quan điểm cho rằng, khi khoa học
phát triển cao thì tôn giáo sẽ mất đi, ý kiến của bạn như thế nào?
Dù khoa học có phát triển vượt bậc, tôn giáo sẽ không mất đi mà có thể thay đổi để phù hợp với
bối cảnh xã hội mới. Cả khoa học và tôn giáo đều có giá trị riêng, cùng tồn tại để đáp ứng nhu
cầu toàn diện của con người. Điều quan trọng là chúng ta nên tôn trọng cả hai và tìm
cách dung hòa thay vì coi chúng đối lập hoặc loại trừ lẫn nhau. Khoa học và tôn giáo phục vụ
những nhu cầu khác nhau ●
Khoa học: Là công cụ để con người khám phá và giải thích thế giới tự nhiên, dựa trên
thực nghiệm và logic. Khoa học giúp chúng ta cải thiện cuộc sống qua công nghệ, y học, và những hiểu biết mới. ●
Tôn giáo: Tôn giáo lại hướng đến các giá trị tinh thần, giúp con người tìm kiếm ý nghĩa
cuộc sống, an ủi trước khó khăn, và giải quyết những vấn đề mà khoa học không thể trả lời, như
câu hỏi về nguồn gốc sự sống, ý nghĩa của cái chết, và sự tồn tại của linh hồn.
Như vậy, khoa học và tôn giáo không phải là hai lĩnh vực loại trừ lẫn nhau mà có thể bổ sung, hỗ
trợ cho nhau để phục vụ các nhu cầu khác nhau của con người.
Tôn giáo đáp ứng nhu cầu tâm linh và đạo đức ●
Dù khoa học có phát triển đến đâu, con người vẫn luôn cần đến những giá trị tinh thần để
đối mặt với những khủng hoảng tâm lý, cảm xúc và đạo đức. ●
Tôn giáo cung cấp hệ thống giá trị đạo đức, giúp định hướng hành vi con người trong xã
hội, và tạo nên sự đoàn kết, hỗ trợ trong cộng đồng.
3. Tôn giáo có khả năng thích nghi với sự phát triển của khoa học ●
Lịch sử đã chứng minh rằng tôn giáo không mất đi mà thay đổi để thích nghi với thời đại. ●
Chẳng hạn, nhiều tôn giáo đã tích cực sử dụng công nghệ hiện đại để truyền bá tư tưởng
hoặc tổ chức các hoạt động trực tuyến. ●
Một số nhà tôn giáo và khoa học đã tìm cách dung hòa giữa niềm tin tôn giáo và kiến
thức khoa học, chẳng hạn như chấp nhận thuyết tiến hóa hoặc các lý giải khoa học về vũ trụ.
4. Tôn giáo vẫn giữ vai trò quan trọng trong nhiều nền văn hóa và xã hội ●
Ở nhiều quốc gia, tôn giáo không chỉ là niềm tin cá nhân mà còn là yếu tố quan trọng
định hình văn hóa, truyền thống, và bản sắc dân tộc. ●
Tôn giáo còn đóng vai trò trong các hoạt động từ thiện, giáo dục và thúc đẩy hòa bình,
điều mà khoa học không thể thay thế hoàn toàn. 13.
Phân tích tính chất của tôn giáo (63c). Tại sao hiện nay các thế lực phản động vẫn thường
xuyên lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam?
- Từ khi ra đời, trong xã hội có đối kháng giai cấp, các thế lực phản động đã sử dụng tôn giáo để
ru ngủ quần chúng nhân dân...
- Tôn giáo liên quan đến đức tin, tình cảm của cá nhân, cộng đồng; đặc biệt trình độ dân trí ở
Việt Nam còn thấp... nên các thế lực phản động đã lợi dụng tôn giáo để
tuyên truyền về ngày tận thế, về thiên đường. ảnh hưởng xấu đến nhân dân, đòi hỏi Đảng và
Nhà nước phải có đường lối, chính sách đúng về công tác tôn giáo, người dân cũng phải nâng cao nhận thức...
- Thế lực phản động thường sử dụng tôn giáo để chống phá Việt Nam vì nếu Việt Nam để cho
chúng tự do truyền bá tôn giáo chúng cũng có lợi, đặc biệt chúng có thể lợi dụng vấn đề tôn giáo,
truyền đạo để đưa các quan điểm phản động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ
XHCN và nhân dân, nếu chúng ta đưa ra chính sách để ngăn chặn thì các thế lực phản động lại
vin vào cớ đó cho rằng vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo....
- Sinh viên cần có nhận thức khoa học về thế giới, tức cần có thế giới quan khoa học, cốt lõi là
thế giới quan duy vật biện chứng để nhận thức đúng, khoa học về các hiện tượng tự nhiên, xã
hội, tinh thần. không bị các thế lực phản động lôi kéo, lợi dụng. 14.
Phân tích sự biến đổi các quan hệ trong gia đình (75 3.1.3) hoặc (132). Ý nghĩa đối với sinh viên.
- Sinh viên cần hiểu đúng quan điểm khoa học của CNXHKH về sự biến đổi các quan hệ trong
gia đình... -> Để xây dựng gia đình bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc...
- Sinh viên cần góp phần xây dựng tình yêu lành mạnh, chân chính, hôn nhân phải dựa trên tình
yêu chân chính, phê phán tình yêu, hôn nhân vụ lợi, vì những động cơ không trong sáng
- Thực hiện đúng pháp luật của Nhà nước về hôn nhân, gia đình bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc,
chống bạo lực trong gia đình (vợ chồng, cha me – con cái), phê phán những quan niệm cổ hủ
trong xây dựng gia đình mới (như bất bình đẳng trong gia đình. )
- Mỗi thành viên cần hiểu đúng sự biến đổi các quan hệ gia đình, điều chỉnh cách ứng xử cho
phù hợp đạo đức, văn hóa, pháp luật. giảm thiểu bất đồng, mâu thuẫn, xung đột trong gia đình...