







Preview text:
Đề bài số 3: Dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa xã hội khoa học và cơ sở thực
tiễn, hãy phản bác quan điểm sai trái sau: “Ngày nay, trong khi chủ nghĩa xã hội
đã sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu từ những năm 90 của thế kỉ trước, chủ nghĩa tư
bản vẫn tiếp tục phát triển với nhiều thành tựu to lớn. Điều này chứng tỏ những
luận giải của Chủ nghĩa xã hội khoa học về tính tất yếu của sự ra đời hình thái
kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa đã lỗi thời”.
Lý luận của Chủ nghĩa xã hội khoa học về tính tất yếu của sự xuất hiện
hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa trong tiến trình lịch sử tự
nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội
Khái niệm phạm trù hình thái kinh tế xã hội: Hình thái kinh tế - xã hội là một
phạm trù của Chủ nghĩa Duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch
sử nhất định với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với
một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và một kiến trúc thượng tầng
tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.
Các nhà sáng lập Chủ nghĩa xã hội khoa học, C.Mác Ph.Ăng-ghen khi nghiên
cứu lịch sử phát triển của xã hội loài người, nhất là lịch sử xã hội tư bản đã xây
dựng nên học thuyết về Hình thái kinh tế - xã hội. Học thuyết Hình thái kinh tế -
xã hội của chủ nghĩa Mác - Lê-nin không chỉ làm rõ những yếu tố cấu thành
hình thái kinh tế - xã hội mà còn xem xét xã hội trong quá trình biến đổi và phát
triển không ngừng. Theo đó, lịch sử loài người đã và đang trải qua 5 hình thái
kinh tế - xã hội từ thấp đến cao là: Cộng sản nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ,
Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa và Cộng sản chủ nghĩa. Đây là một tiến trình lịch
sử - tự nhiên tuân theo quy luật khách quan của sự vận động.
Trong số đó, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là hình thái phát triển
cao nhất, với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ sở hữu công cộng vể tư liệu sản
xuất phù hợp với lực lượng sản xuất hiện đại và xã hội hóa cao. Đây là nền tảng
cho một cơ sở hạ tầng vượt trội so với chủ nghĩa tư bản và một kiến trúc thượng
tầng phục vụ lợi ích của đại đa số nhân dân. Học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lê-
nin khẳng định rằng sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa cộng sản là tất
yếu, diễn ra qua Cách mạng Xã hội chủ nghĩa, dựa trên hai tiền đề vật chất quan
trọng là: sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự trưởng thành của giai cấp công nhân.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất
Trong nhiều tác phẩm của mình, đặc biệt là trong tác phẩm Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản và tác phẩm Chống Đuyrinh, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng
định sự ra đời của chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn phát triển mới của nhân loại,
các ông viết: "Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một
thế kỷ đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản
xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại". Nhưng mặt khác, C.Mác và
Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng: trong xã hội đối kháng giai cấp đó, những mâu
thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa sẽ ngày càng gay gắt.
Khi lực lượng sản xuất ngày càng hiện đại và mang tính liên kết cao, thì quan hệ
sản xuất tư bản chủ nghĩa – dựa trên sự chiếm hữu tư nhân – dần trở nên lỗi thời
và lạc hậu trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển. Mâu thuẫn giữa tính chất
xã hội hóa của lực lượng sản xuất với tính chất tư nhân tư bản chủ nghĩa của
quan hệ sản xuất trở thành mâu thuẫn nội tại trong lòng Chủ nghĩa tư bản . Từ
những thay đổi trong quan hệ sản xuất làm cho cơ sở hạ tầng về quan hệ kinh tế
thay đổi làm dẫn đến sự thay đổi trong kiến trúc thượng tầng. Sự vận động này
được biểu hiện thông đối kháng giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản.
Sự trưởng thành của giai cấp công nhân
Gắn liền với sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí là sự hình thành và
trưởng thành nhanh chóng của giai cấp công nhân – lực lượng lao động trực tiếp
trong hệ thống sản xuất tư bản chủ nghĩa. Giai cấp công nhân không chỉ tăng
nhanh về số lượng mà còn phát triển mạnh mẽ về chất lượng: ngày càng có trình
độ, có tổ chức và có ý thức rõ rệt về vai trò và sứ mệnh lịch sử của mình. C.Mác
và Ph.Ăng-ghen cho rằng: giai cấp tư sản đã không chỉ sản sinh ra công cụ để
hủy diệt mình, mà còn sản sinh ra chính những con người sử dụng công cụ ấy –
những người vô sản hiện đại.
Bước ngoặt quyết định đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp công nhân là sự ra
đời của Đảng Cộng sản – đội tiên phong chính trị, đại diện lợi ích và tổ chức
cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân chống lại sự thống trị của giai cấp tư
sản. Khi lực lượng sản xuất đạt tới trình độ phát triển nhất định, và khi giai cấp
công nhân đã có đủ bản lĩnh và khả năng tổ chức, thì điều kiện vật chất và xã hội
cho sự xuất hiện của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa đã hội đủ.
Như vậy, sự xuất hiện của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là kết
quả tất yếu của quy luật khách quan của lịch sử. Sự phát triển của lực lượng sản
xuất và sự trưởng thành của giai cấp công nhân chính là những yếu tố cốt yếu tự
quyết, dẫn đến cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, mở đường cho hình thái KT-
XH cộng sản chủ nghĩa ra đời.
Sự tiếp tục phát triển với nhiều thành tựu to lớn của chủ nghĩa tư bản
không đồng nghĩa với sự lỗi thời của những luận giải của C.Mác và Ph.Ăng-
ghen về tính tất yếu ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
Nguyên nhân khủng hoảng, sụp đổ của Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu
Nguyên nhân sâu xa: Sai lầm về nhận thức về lý luận chủ nghĩa Cộng sản
và mô hình XHCN ở Liên Xô và Đông Âu
Thứ nhất, xét về kinh tế, mô hình XHCN kiểu cũ được xây dựng trên nền tảng
kế hoạch hóa tập trung cao độ – một cơ chế phù hợp trong thời chiến, nhưng trở
nên lạc hậu trong thời bình. Nhà nước kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất –
phân phối – tiêu dùng, loại bỏ cạnh tranh và thị trường. Đường lối lãnh đạo
mang tính chủ quan, duy ý chí, tình, xây dựng mô hình CNXH chưa đúng đắn,
chưa khoa học, không phù hợp với tình hình thực tế của đất nước. Cơ chế tập
trung bao cấp, mệnh lệnh khiến nền kinh tế thiếu linh hoạt, kém hiệu quả. Nền
kinh tế Liên Xô vận hành không theo cơ chế thị trường, mọi hoạt động sản xuất
– phân phối đều bị kiểm soát bởi nhà nước, dẫn đến thiếu linh hoạt, kém năng
suất và lãng phí nghiêm trọng. Thiếu cạnh tranh và động lực đổi mới khiến nền
kinh tế ngày càng tụt hậu so với phương Tây, trong khi đời sống người dân ngày
một khó khăn, hàng hóa tiêu dùng khan hiếm. Sự trì trệ kéo dài này khiến người
dân dần mất niềm tin vào hiệu quả của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa. Ví dụ
điển hình là tại Liên Xô những năm 1970, dù là cường quốc quân sự, nước này
lại không thể sản xuất đủ các nhu yếu phẩm như bơ, sữa, xà phòng… cho người
dân. Sự trì trệ kéo dài đã làm xói mòn lòng tin vào năng lực quản lý của nhà nước.
Thứ hai, về chính trị – xã hội, hệ thống một đảng lãnh đạo tuyệt đối, không có
cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực, dễ dẫn tới tha hóa , quan liêu. Người dân bị
hạn chế tự do báo chí, ngôn luận, hội họp. Trong một xã hội không có kênh đối
thoại chính thức giữa nhà nước và nhân dân, mâu thuẫn không được giải quyết
sẽ dồn nén và phát nổ. Một ví dụ rõ nét là ở Ba Lan: Công đoàn Đoàn kết
(Solidarity) do Lech Wałęsa lãnh đạo đã phát triển mạnh mẽ từ cuối những năm
1970, như một phản ứng xã hội đối với sự bế tắc của chế độ. Cuối cùng, sức
ép từ quần chúng đã buộc chính quyền Ba Lan phải cải cách và chấm dứt sự độc
quyền của Đảng Cộng sản.
Thứ ba, về tư tưởng – lý luận, sau khi V.I.Lênin qua đời, chính sách kinh tế mới
(NEP) – vốn dung hòa giữa CNXH và thị trường – không được kế thừa. Mô hình
cứng nhắc thay thế NEP dần xa rời thực tiễn, coi kinh tế thị trường là “tàn dư tư
bản”. Trong khi thế giới bước vào thời kỳ bùng nổ công nghệ và toàn cầu hóa,
thì các nước XHCN vẫn “đóng cửa” trong mô hình cũ kỹ. Liên Xô không bắt kịp
bước phát triển của khoa học kĩ thuật tiên tiến và đòi hỏi khách quan. Hệ quả là
nền kinh tế không thể bắt kịp xu hướng phát triển, dẫn tới khủng hoảng, trì trệ về
kinh tế - xã hội trên diện rộng.
Thứ tư, quan trọng nhất là mâu thuẫn dân tộc – sắc tộc, đặc biệt rõ nét ở Liên
Xô – quốc gia đa dân tộc với hơn 100 sắc tộc khác nhau. Trong khi chính quyền
trung ương vẫn duy trì cách cai trị tập quyền và đồng hóa văn hóa, thì ở các
nước cộng hòa (như Estonia, Latvia, Lithuania, Ukraine, Gruzia…) tinh thần dân
tộc, ngôn ngữ và tôn giáo riêng biệt ngày càng trỗi dậy mạnh mẽ. Việc chính
quyền Moscow áp đặt mô hình thống nhất từ trên xuống đã khiến nhiều dân tộc
cảm thấy bị áp bức. Một ví dụ điển hình là phong trào đòi độc lập của các nước
vùng Baltic, vốn bị sáp nhập vào Liên Xô sau Thế chiến II. Sau năm 1991, Liên
Xô tan rã thành 15 quốc gia độc lập, trong đó có nhiều xung đột sắc tộc kéo dài
(Chechnya, Transnistria, v.v.).. Mâu thuẫn dân tộc bùng phát không chỉ là hệ
quả của quản lý yếu kém, mà còn phản ánh sự thiếu linh hoạt trong mô hình nhà
nước XHCN đơn nhất, không tôn trọng sự đa dạng văn hóa.
Nguyên nhân trực tiếp: tác dộng của nguyên nhận khách quan và chủ quan
Yếu tố kích hoạt trực tiếp sự sụp đổ của hệ thống là cuộc khủng hoảng toàn diện
cuối thập niên 1980. Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, đời sống nhân dân xuống
cấp, Tổng Bí thư Mikhail Gorbachev đã đề xướng cải tổ (Perestroika) và công
khai hóa (Glasnost). Tuy nhiên, cải cách chính trị tiến hành một cách thiếu
đồng bộ, không đi kèm với các biện pháp kiểm soát xã hội hiệu quả. Hơn nữa
còn được tiến hành trước khi ổn định kinh tế khiến hệ thống mất kiểm soát.
Đảng bị phê phán công khai, các phong trào ly khai trỗi dậy, người dân mất
niềm tin vào khả năng tự điều chỉnh. Hội nghị Đảng toàn quốc năm 1988 – nơi
Gorbachev đề xuất mô hình “chủ nghĩa xã hội dân chủ” – thực chất là bước rời
xa chủ nghĩa Mác – Lênin nguyên bản.
Tác động từ bên ngoài cũng là nhân tố then chốt. Chính sách “diễn biến hòa
bình” và “chạy đua vũ trang” của Mỹ khiến Liên Xô bị kéo vào cuộc chơi tốn
kém mà không đủ nguồn lực duy trì. Cùng lúc đó, các nước phương Tây hậu
thuẫn mạnh mẽ cho lực lượng đối lập và cải cách tại Đông Âu, tạo áp lực lớn lên
các chế độ hiện hành. Trong cán cân toàn cầu, hệ thống XHCN bị cô lập và suy
yếu, không còn khả năng giữ vững.
Và hơn hết, cuộc đảo chính bất thành vào tháng 8 năm 1991 ở nước Nga Xô viết
đã giáng đòn cuối cùng vào sự tồn tại của Liên Xô, dù Gorbachev vẫn giữ chức
Tổng Thống nhưng Đảng Cộng Sản Liên Xô đã bị cấm hoạt động. Nhân dân mất
niềm tin vào Tổng Thống, điều này không chỉ khiến người dân mà cả các nước
cộng hòa trong khối Liên Bang Xô Viết nhận ra trung ương đã mất quyền kiểm
soát đất nước, từ đó thúc đẩy quá trình ly khai.
Sự sụp đổ của hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu là kết
quả tổng hợp của những mẫu thuẫn nội tại kéo dài nhiều thập kỉ. Các vấn đề xã
hội, dân tộc không được giải quyết triệt để từ đó tạo ra những bất mãn trong
lòng người dân. Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối những năm 1980, cùng
những cải cách không triệt để và sức ép từ bên ngoài đã giáng đòn nặng nề vào
sự tồn tại của Liên Xô. Để rồi cuộc đảo chính tháng 8 năm 1991 chỉ là giọt nước
tràn ly đẩy nhanh quá trình sụp đổ của Liên Bang Xô Viết. Sự sụp đổ của chủ
nghĩa xã hội ở Liên Xô cũng dấy lên hồi chuông cảnh tỉnh với các nước theo chế
độ xã hội chủ nghĩa về việc tôn trọng thực tế khách quan, cùng với đó là bắt kịp
sựu phát triển về kinh tế - xã hội trên thế giới.
Chủ nghĩa tư bản hiện đại tiếp tục phát triển với những thành tựu to lớn và nguyên nhân
Mặc dù mang trong mình những mâu thuẫn nội tại không thể khắc phục, chủ
nghĩa tư bản hiện đại vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều
thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, góp phần củng cố vị thế và sức sống của
nó trong thời đại ngày nay.
Thứ nhất, chủ nghĩa tư bản hiện đại đạt được những bước tiến vượt bậc về
khoa học – công nghệ giúp năng suất lao động xã hội đẩy mạnh sự phát triển
của lực lượng sản xuất . Với vai trò là người thúc đẩy trực tiếp của cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư, chủ nghĩa tư bản đã khai thác tối đa tiềm năng
của các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI[1]), công nghệ số, công nghệ sinh
học, và dữ liệu lớn (Big Data)[2] để tăng năng suất lao động và hiệu quả sản
xuất. Nền tảng khoa học – công nghệ tiên tiến đã cho phép các tập đoàn tư
bản điều chỉnh dây chuyền sản xuất, tối ưu hóa chi phí, đồng thời mở rộng
phạm vi hoạt động trên quy mô toàn cầu. Thành tựu này góp phần quan trọng
vào việc tăng trưởng GDP, tạo việc làm chất lượng cao và nâng cao năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Thứ hai, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thiết lập và mở rộng hệ thống phúc lợi
xã hội nhằm cải thiện đời sống dân cư và duy trì ổn định xã hội. Trong nhiều
quốc gia tư bản phát triển, các thể chế phúc lợi như bảo hiểm y tế, giáo dục
công, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp xã hội và chế độ hưu trí được triển khai
rộng rãi. Những chính sách này có vai trò kép: một mặt tạo điều kiện cho
người lao động tiếp cận các dịch vụ xã hội thiết yếu; mặt khác góp phần xoa
dịu mâu thuẫn giai cấp và giảm thiểu nguy cơ bùng phát xung đột xã hội. Sự
hình thành của nhà nước phúc lợi hiện đại thể hiện nỗ lực của chủ nghĩa tư
bản trong việc tự điều chỉnh để tồn tại tuy nhiên lại không làm thay đổi bản chất bóc lột.
Thứ ba, chủ nghĩa tư bản hiện đại tăng cường mở rộng toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế, trở thành lực lượng chính định hình trật tự kinh tế thế
giới. Thông qua các thiết chế như WTO, IMF, Ngân hàng Thế giới và các
hiệp định thương mại tự do, chủ nghĩa tư bản đã đẩy mạnh tự do hóa thương
mại, luân chuyển vốn, công nghệ và lao động giữa các quốc gia. Quá trình
toàn cầu hóa không chỉ giúp các tập đoàn đa quốc gia tiếp cận nguồn tài
nguyên, thị trường và lao động rẻ từ các nước đang phát triển, mà còn khiến
mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa lan rộng ra quy mô toàn cầu. Đây vừa là
biểu hiện cho sự thành công của chủ nghĩa tư bản, vừa là cơ sở để duy trì vị
thế thống trị của nó trong thế kỷ XXI.
Để lý giải vì sao chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn tiếp tục tồn tại và đạt được
nhiều thành tựu to lớn, trước hết cần xem xét các nguyên nhân khách quan
chi phối sự vận động và phát triển của nó trong bối cảnh lịch sử.
Trước hết, sự phát triển không ngừng của chủ nghĩa tư bản hiện đại gắn liền
với những điều kiện kinh tế – kỹ thuật và bối cảnh quốc tế thuận lợi. Cuộc
cách mạng khoa học – công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ
thông tin, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, đã tạo ra bước nhảy vọt về năng suất
lao động, đồng thời mở rộng phạm vi kiểm soát của tư bản đối với không gian
sản xuất và tiêu dùng toàn cầu. Điều đó cho phép chủ nghĩa tư bản nâng cao
hiệu quả tích lũy giá trị thặng dư mà không làm bùng nổ ngay lập tức những
mâu thuẫn vốn có. Ngoài ra, toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế đã hình
thành nên một mạng lưới trao đổi và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia,
trong đó các tập đoàn tư bản nắm giữ vai trò chi phối, từ đó khẳng định vị trí
thống trị của các trung tâm tư bản chủ nghĩa trên quy mô thế giới.
Về nguyên nhân chủ quan, điểm nổi bật nhất chính là khả năng điều chỉnh
linh hoạt và cải cách thể chế của chủ nghĩa tư bản nhằm thích nghi với hoàn
cảnh lịch sử mới. Sự cải tiến về mô hình tổ chức sản xuất, phân phối, dịch vụ
công cộng cũng như chú trọng phát triển bền vững đã phần nào làm giảm sức
ép từ phía quần chúng lao động và trì hoãn sự bùng phát của đấu tranh giai
cấp. Bên cạnh đó, một nguyên nhân không kém phần quan trọng là sự chưa
chín muồi của các điều kiện khách quan và chủ quan cho sự thay thế chủ
nghĩa tư bản. Giai cấp công nhân ở nhiều quốc gia tư bản tuy vẫn là lực
lượng sản xuất chủ yếu, song bị phân hóa, mất liên kết về ý thức hệ và tổ
chức, trong khi phong trào cách mạng thế giới chưa đủ mạnh mẽ để định
hình một cục diện chuyển hóa rõ nét. Chính vì vậy, dù chứa đựng nhiều mâu
thuẫn nội tại, chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn duy trì được sức sống tương đối bền vững.
Những giới hạn lịch sử không thể bước qua của chủ nghĩa tư bản hiện đại
Chủ nghĩa tư bản hiện đại, với hơn 300 năm phát triển, đã đạt được nhiều thành
tựu vượt bậc trong khoa học, công nghệ và đời sống xã hội. Mặc dù chủ nghĩa tư
bản có vai trò lớn trong việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội nhanh chóng, song vẫn là chế độ bất công bởi những tiến bộ về
kinh tế chủ yếu được sử dụng nhằm phục vụ cho lợi ích giai cấp tư sản, do đó
chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì các mâu thuẫn nội tại của nó càng sâu sắc;
xu thế xã hội hóa sản xuất không còn khả năng chịu đựng trong vỏ bọc chật hẹp
của sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa(2)... Vì thế, chủ nghĩa tư bản tất yếu phải
được thay thế bằng chế độ kinh tế - xã hội mới.
Xét về khía cạnh những mâu thuẫn nội tại, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của
sản xuất và tính chất tư nhân của chiếm hữu là mâu thuẫn cơ bản, sâu sắc nhất
trong CNTB hiện đại. V.I. Lê-nin khẳng định, sự phát triển của kỹ thuật và
LLSX đã dẫn đến tích tụ sản xuất và độc quyền; ngược lại, sự hình thành của
độc quyền thúc đẩy LLSX phát triển thêm. Tiến bộ và những bước đột phá của
khoa học - kỹ thuật đã mở ra không gian rộng lớn mới cho sự phát triển của sức
sản xuất, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh.
Chính vì sự phát triển của kỹ thuật và LLSX đã thúc đẩy quá trình xã hội hóa sản
xuất và cải biến phát minh kỹ thuật, từ đó tạo ra khả năng giải quyết tạm thời
các mâu thuẫn của lực lượng sản xuất đã xã hội hóa và sự chiếm hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa vốn đã sâu sắc ngay từ giai đoạn cạnh tranh tự do. Tuy nhiên, dù
đã xuất hiện tính xã hội hóa cao nhưng tư liệu sản xuất (máy móc, nhà xưởng,
đất đai…) và sản phẩm làm ra lại thuộc sự thống trị của độc quyền. Người lao
động không sở hữu gì khác ngoài sức lao động, và bị bóc lột giá trị thặng dư (giá
trị làm ra nhiều hơn mức lương được nhận). Trên thực tế, khi một công ty ô tô
cho sản xuất ra một chiếc ô tô cần có sự lao động của nhiều người trong quá
trình sản xuất: người thiết kế, kỹ sư máy móc, công nhân lắp ráp, kỹ thuật viên
kiểm tra…cho đến các bên cung ứng linh kiện, vận chuyển, bảo trì máy
móc,…Quá trình sản xuất ấy có sự tham gia của cả một hệ thống người lao động
phức tạp, nhưng khi chiếc ô tô được bày bán ra thị trường thì dòng tiền sẽ chảy
vào túi chủ doanh nghiệp, sảm phẩm làm ra thuộc sở hữu của ông chủ tư bản
hoặc cổ đông trong khi công nhân không được sở hữu bất cứ thứ gì ngoài mức lương cố định.
Một mâu thuẫn nội tại cơ bản nữa dẫn đến giới hạn của CNTB hiện đại xuất phát
từ mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX. Khi LLSX ngày càng phát triển, đặc biệt là
với sự ra đời của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, thì QHSX dựa trên sở hữu
tư nhân TBCN dần trở nên lỗi thời, cản trở sự phát triển đó. Mâu thuẫn này
không thể được điều hòa trong khuôn khổ CNTB, dẫn đến khủng hoảng kinh tế,
thất nghiệp, bất bình đẳng gia tăng, tạo điều kiện cho cách mạng xã hội bùng nổ.
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, ngày càng xuất
hiện nhiều quốc gia sử dụng đến công nghệ AI hay robot thông minh để thay sức
lao động của con người do đạt được nhiều năng suất trong thời gian ngắn nhằm
tạo ra lợi nhuận cho các ông chủ doanh nghiệp. Khi xuất hiện một LLSX mới
được trang bị trí tuệ thông minh nhân tạo, khả năng lao động tốt, lực lượng lao
động là con người sẽ bị đào thải, dẫn đến tình trạng thất nghiệp. Và hệ quả là,
những sản phẩm được tạo ra bởi AI hay robot sẽ không bán được do người lao
động thất nghiệp không có tiền mua hàng. Chính điều này sẽ gây ra khủng
hoảng kinh tế khi sản xuất không gắn với nhu cầu của thực tế mà lại chạy theo lợi nhuận.
Bên cạnh những mâu thuẫn nội tại trên, CNTB hiện đại cũng đã tạo ra không ít
những mâu thuẫn xung quanh nó. Trước hết, mâu thuẫn sâu sắc giữa CNTB với
các quốc gia đang phát triển thể hiện rõ trong quan hệ quốc tế bất bình đẳng.
Các nước tư bản phát triển tiếp tục chi phối, áp đặt những nguyên tắc “tự do
thương mại” và “toàn cầu hóa” để duy trì lợi ích riêng, bóc lột giá trị thặng dư từ
sức lao động rẻ và tài nguyên của các nước nghèo. Theo một bài viết trên Tạp
chí Cộng sản: “Chủ nghĩa tư bản toàn cầu đã tạo ra sự phân hóa giàu nghèo
khủng khiếp giữa các quốc gia. Mâu thuẫn Nam – Bắc không chỉ là sự bất bình
đẳng về kinh tế mà còn kéo theo những bất công về quyền lực, cơ hội phát triển,
và môi trường sống.” Đây là kết quả của quá trình tích lũy tư bản không giới
hạn, trong đó tư bản ở trung tâm không ngừng mở rộng không gian khai thác ra
ngoại vi, dẫn đến sự bóc lột mang tính hệ thống ở quy mô toàn cầu. Điều này
càng làm sâu sắc mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày càng mang tính quốc
tế và quan hệ sản xuất mang tính chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa — một
mâu thuẫn căn bản không thể giải quyết trong khuôn khổ CNTB.
Tiếp đến, chủ nghĩa tư bản hiện đại còn mâu thuẫn gay gắt với thiên nhiên và
môi trường sống của nhân loại. Trong cuộc chạy đua vì lợi nhuận, các tập đoàn
tư bản khai thác cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại môi trường, gây ra biến đổi khí
hậu toàn cầu. Trong khi đó, các cam kết về bảo vệ môi trường thường bị trì hoãn
hoặc bị thao túng bởi lợi ích tài chính. Quan điểm của CNXHKH cho rằng đây
là hậu quả tất yếu của sự tha hóa trong quan hệ giữa con người với tự nhiên, khi
con người bị biến thành công cụ sản xuất giá trị thặng dư, còn thiên nhiên bị đối
xử như một “nguồn tài nguyên vô tận” có thể khai thác không giới hạn. Trong
khi đó, chủ nghĩa cộng sản đặt mục tiêu hài hòa hóa mối quan hệ giữa người với
người và giữa con người với tự nhiên, xây dựng một xã hội phát triển bền vững.
Cuối cùng, một mâu thuẫn ngày càng nổi bật là sự đối đầu giữa chủ nghĩa tư bản
và các phong trào tiến bộ xã hội. Trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu (tài
chính, y tế, khí hậu, bất bình đẳng), làn sóng chống CNTB, yêu cầu cải cách hệ
thống đang dâng cao. Các phong trào như “Occupy Wall Street”, các đảng cánh
tả tại Mỹ Latin, hay sự trỗi dậy của tư tưởng xã hội dân chủ tại châu Âu là minh
chứng cho thấy CNTB không còn là hệ hình duy nhất được chấp nhận. Theo
CNXHKH, đó là biểu hiện của sự vận động cách mạng trong lòng CNTB, là sự
phát triển của ý thức giai cấp — một điều kiện chủ quan quan trọng để chuyển
hóa thành cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng những mâu thuẫn những mâu thuẫn
nội tại và các mâu thuẫn xung quanh CNTB hiện đại không chỉ chứng minh giới
hạn lịch sử của mô hình này, mà còn là dấu hiệu cho thấy tính tất yếu của việc ra
đời một hình thái kinh tế - xã hội mới — đó là hình thái kinh tế - xã hội cộng sản
chủ nghĩa, như C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã luận giải.
Chủ nghĩa xã hội không ra đời từ ý chí chủ quan, mà từ chính sự vận độngkhách
quan của các mâu thuẫn xã hội không thể điều hòa trong lòng chủ nghĩa tư bản.
Giá trị khoa học và sức sống của lý luận của C.Mác và Ph.Ăng- ghen về tính
tất yếu ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
Lý luận của C.Mác và Ph.Ăng-ghen về sự thay thế tất yếu của hình thái kinh tế -
xã hội cộng sản chủ nghĩa cho chủ nghĩa tư bản đã trở thành nền tảng tư tưởng
cho nhiều phong trào cách mạng. Dù chủ nghĩa tư bản hiện đại đạt được nhiều
thành tựu to lớn, những mâu thuẫn nội tại của nó cùng bài học từ sự sụp đổ của
chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu chứng minh rằng lý luận này vẫn giữ
nguyên giá trị khoa học và sức sống trong thời đại ngày nay.
1 Giá trị khoa học của lý luận C.Mác và Ph.Ăng-ghen
Bằng sử dụng phương pháp duy vật biện chứng mà hạt nhân là phép duy vật lịch
sử để phân tích quy luật vận động của lịch sử. Theo C.Mác mâu thuẫn giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là động lực thúc đẩy sự thay đổi hình thái kinh tế - xã hội.
- Ví dụ: Sự phát triển của AI và robot trong chủ nghĩa tư bản hiện đại làm tăng
năng suất nhưng đồng thời cũng làm tăng tỉ lệ thất nghiệp , dẫn đến việc
khủng hoảng trong kinh tế-xã hội . Điều này chứng tỏ QHSX dựa trên sở hữu
tư nhân tư bản không còn phù hợp với LLSX đã được xã hội hóa cao.
- Dự báo khoa học: Theo C.Mác chỉ ra rằng chủ nghĩa tư bản không thể giải
quyết mâu thuẫn giữa tính xã hội của sản xuất và tính tư nhân của chiếm hữu.
Thực tiễn ngày nay thể hiện qua khủng hoảng tài chính 2008, bất bình đẳng
gia tăng 1% dân số giàu nhất sở hữu 45% tài sản toàn cầu, và xung đột giữa tư bản với môi trường .
Sức Sống Thời Đại Của Lý Luận
Thành tựu của chủ nghĩa tư bản củng cố tính tất yếu của chủ nghĩa cộng sản.Dù
chủ nghĩa tư bản đạt được bước tiến vượt bậc về khoa học - công nghệ , nó vẫn dựa trên bóc lột giá trị
thặng dư. Ví dụ, các tập đoàn như Amazon hay Tesla tối ưu hóa lợi nhuận nhờ tự động hóa, nhưng
công nhân vẫn đối mặt với điều kiện lao động khắc nghiệt . Toàn cầu hóa dưới sự chi phối của
WTO, IMF làm sâu sắc mâu thuẫn Nam - Bắc, tạo tiền đề cho liên kết quốc tế của giai cấp công nhân.
Giới hạn không thể vượt qua của chủ nghĩa tư bản
Mâu thuẫn giai cấp: Phong trào phản đối bất bình đẳng cho thấy sự bất mãn của
quần chúng. Mâu thuẫn với tự nhiên: Các hiệp định khí hậu như Paris 2015
thường bị trì hoãn vì lợi ích tư bản . Khủng hoảng chu kỳ: Đại dịch COVID-19
phơi bày sự mong manh của hệ thống y tế tư nhân hóa .
Điều Kiện Cho Sự Chuyển Hóa Điều kiện khách quan
LLSX đạt trình độ xã hội hóa cao: Cách mạng công nghiệp 4.0 và kinh tế tri
thức tạo cơ sở vật chất cho xã hội mới . Mâu thuẫn xã hội chín muồi: Bất bình
đẳng, biến đổi khí hậu, và xung đột giai cấp đòi hỏi một hình thái tổ chức xã hội công bằng hơn . Điều kiện chủ quan
Ý thức giai cấp công nhân: Bài học từ Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan cho thấy
tầm quan trọng của tổ chức và đoàn kết.
Vai trò của đảng cách mạng: Cần rút kinh nghiệm từ sai lầm của Liên Xô trong
xây dựng mô hình kinh tế tập trung cứng nhắc, thiếu dân chủ.
Kết Luận Lý luận của C.Mác và Ph.Ăng-ghen vẫn là "kim chỉ nam" cho cuộc
đấu tranh vì một xã hội công bằng. Sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa
cộng sản không phải là ý chí chủ quan, mà là quy luật khách quan xuất phát từ
mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi sự chín
muồi của điều kiện khách quan (LLSX phát triển) và chủ quan (ý thức giai cấp).
Thất bại của Liên Xô không phủ nhận tính tất yếu, mà chỉ nhấn mạnh rằng việc
xây dựng chủ nghĩa xã hội cần linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với đặc thù từng
quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khủng hoảng đa chiều hiện nay, lý
luận này tiếp tục khẳng định sức sống mãnh liệt, hướng tới một tương lai nhân văn và bền vững. KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO