ĐỀ CƯƠNG KINH TẾ CHÍNH TRỊ TRỌNG TÂM VÀ CÁC BÀI TẬP TÍNH
Câu 1: Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa . Tại sao giá trị sử dụng của hàng
hóa là phạm trù vĩnh viễn
Cách trả lời ý thứ nhất : phân tích hai thuộc tính của hàng hóa
Khái niệm của hàng hóa : Hàng hóa sản phẩm của lao động thể thỏa mãn nhu
cầu nào đó của con người thông qua trao đổi và mua bán , hàng hóa có thể nằm ở dạng
vật thể và phi vật thể
VD : hàng hóa vật thể ( thực phẩm, đồ da dụng , xe cộ ,..)
Hàng hóa phi vật thể ( Dịch vụ ,Phần mềm ,báo chí )
( phục vụ dưới dạng tinh thần )
.Trình bày hai thuộc tính của hàng hoá?
Hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị
*Giá trị sử dụng của hàng hoá công dụng của hàng hoá thể thoã mãn nhu cầu
nào đó của con người VD : Xe cộ , máy tính , điện thoại ,...( những vật dụng con
người sử dụng hằng ngày )
+ 1 hàng hoá có thể có nhiều giá trị sử dụng ( hoặc chỉ có một số công dụng nhất định )
+ Giá trị sử dụng của một vật không phải ngay một lúc đã phát hiện ra được hết, mà nó
được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học – kỹ thuật.
+ Giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên của vật thể
hàng hóa quyết định.
Với ý nghĩa như vậy, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn và giá trị sử dụng ở
đây không giá trị sử dụng cho 1 thuộc tính của hàng hóa , người sản xuất
hàng hóa người sử dụng hàng hóa mà là có giá trị cho , cho xã hội thông qua trao đổi
và buôn bán
*Giá trị mối quan hệ về số lượng hay một tỷ lệ trao đổi giữa những giá trị sử dụng
khác nhau lao động của hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng
hóa
VD: 10kg gạo = 1m vải
+ 10kg gạo 1m vải điểm chung điều kiện cầnđều là sản phẩm của lao động (
trong quá trình trao đổi )
+ khi sản xuất ra 2 sản phẩm này đều có có hao phí lao động dẫnhao phí lao động
đến được so sánh với nhau khi trao đổi
+ 2 sản phẩm một lượng lao động bằng nhau đã hao phí làm tạo ra các giá trị sử
dụng trong quan hệ trao đổi ( lao động hao phí ẩn trong hàng hóa là cơ sở dẫn đến trao
đổi, nói một cách khác đây chỉnh là )điều kiện đủ
Tóm lại : Sản phẩm không có lao động của người sản xuất trong sản phẩm đó = 0
có giá trị
Sản phẩm nào càng nhiều lao động hao phí để sản xuất ra sản phẩm đó = giá trị càng
cao
Mối quan hệ:
Hai thuộc tính của hàng hóa quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa thống nhất, vừa mâu
thuẫn với nhau.
Trong đó : giá trị là nội dung làsở của giá trị trao đổi , giá trị trao đổi là hình thức
biểu hiện ra bên ngoài xã hội của giá trị
Thống nhất
Hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn tại trong một hàng hóa. Nếu một vật có giá trị sử
dụng (tức có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, xã hội), nhưng không có giá
trị (tức không do lao động tạo ra, không có kết tinh lao động) như không khí tự nhiên
thì sẽ không phải là hàng hóa. Ngược lại, một vật có giá trị (tức có lao động kết tinh),
nhưng không giá trị sử dụng (tức không thể thỏa mãn nhu cầu nào của con người,
xã hội) cũng không trở thành hàng hóa.
Đối lập
Thứ nhất, với cách giá trị sử dụng thì các hàng hóa khác nhau về chất . Nhưng
ngược lại, với cách giá trị thì các hàng hóa lại đồng nhất về chất, đều “những
cục kết tinh đồng nhất của lao độngthôi”, tức đều là sự kết tinh của lao động, hay
là lao động đã được vật hóa.
Thứ hai, quá trình thực hiện giá trị giá trị sử dụng sự tách rời nhau cả về mặt
không gian và thời gian.
Giá trị được thực hiện trong lĩnh vực lưu thông và thực hiện trước.
Giá trị sử dụng được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng.
Người sản xuất quan tâm tới giá trị, nhưng để đạt được mục đích giá trị bắt buộc họ
cũng phải chú ý đến giá trị sử dụng, ngược lại người tiêu dùng quan tâm tới giá trị sử
dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của mình.
Nhưng muốn có giá trị sử dụng họ phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó. Nếu không
thực hiện giá trị sẽ khônggiá trị sử dụng. Mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị
hàng hóa cũng chính một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng sản xuất
thừa.
Cách trả lời ý thứ hai : Tại sao giá trị sử dụng hàng hóa là phạm trù vĩnh viễn ?
Chúng ta cần phải hiểu một phạm trùGIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA HÀNG HÓA
vĩnh viễn bởi ảnh hưởng liên quan trực tiếp đến bản chất bản nhất của
con người là của con người và nhu cầu đó và đểNHU CẦU KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG
chứng minh giá trị hàng hóa là phạm trù vĩnh viễn cần xét trên các nội dung sau
Thứ nhất : xét trên các hình thái kinh tế - xã hội
+ Kinh tế nguyên thủy : các công cụ thô dao đá , gậy gộc phục vụ nhu cầu săn bắt
hái lượm
+ Kinh tế Phong Kiến : người nông dân sử dụng các công cụ như cuốc , cày , lưới đánh
cá , bừa phục vụ cho trồng trọt và chăn nuôi
+ Kinh tế tư bản : ra đời các máy móc , công cụ hiện đại phục vụ cho nhu cầu của con
người : máy điều hòa , điện thoại, vv…
+ Kinh tế hội chủ nghĩa : hàng hóa được sản xuất đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội
các sản phẩm có giá trị sử dụng và đáp ứng tốt các nhu cầu mà con người đặt ra trong
tương lai
Tóm lại con người trong quá trình cải biến , cải tạo thế giới thì luôn tạo ra và phát hiện
những vấn đề mới nảy sinh và nhu cầu của con người mang tính ĐA DẠNG , nhu cầu
là một hình thức tất yêu trong quá trình con người phát triển và tồn tại trong xã hội này
và dùhội có phát triển đến mức nào thì nhu cầu của con người vẫn không thay đổi
chính vì thế mà hàng hóa luôn tồn tại
Thứ hai có sự khác biệt với giá trị trao đổi
Ví dụ như ta có thể hiểu như sau về 1 chai nước
Giá trị sử dụng : tác dụnggiải khát nước cho cơ thể ( nhu cầu của con
người đối với cơ thể )
Giá trị trao đổi : chai nước lọc bán với giá 10k trên thị trường = 1 thanh kẹo socola
với giá 10k
Bởi vì giá trị sử dụng khác về mặt bản chất đối với giá trị trao đổiđáp
ứng nhu cầu của con người giá trị sử dụng đảm của sản phẩm của con
người tạo ra bảo sự tồn tại và phát triển của con người qua các thời kì lịch sử
nên chính thế giá trị sử dụng của hàng hóa một phạm trù vĩnh viễn tồn
tại cùng nhu cầu của con người
Câu 2 : Phân tích tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, Tại sao
lao động trừu tượng là phạm trù lịch sử ?
Cách trả lời ý thứ nhất : phân tích tính hai mặt của sản xuất hàng hóa
Khái niệm hàng hóa : Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu
cầu nào đó của con người thông qua trao đổi và mua bán , hàng hóathể nằm
ở dạng vật thể và phi vật thể
Khái niệm sản xuất hàng hóa : SXHHkiểu tổ chức hoạt động kinh tế mà ở
đó, sản phẩm sản xuất ra để thỏa mãn nhu cầu của người bán thông qua trao đổi
và mua bán.
Điều kiện ra đời SXHH :
1. Phân công lao động hội : sự chuyên môn hóa người sản xuất vào
những ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, mỗi người chỉ sản xuất ra một hoặc một
vài loại sản phẩm nhưng nhu cầu của họ lại cần nhiều loại sản phẩm khác
nhau .Vì vậy, để thỏa mãn nhu cầu người ta phải trao đổi sản phẩm cho nhau
VD : Trong một nhà máy sản xuất oto thì có một nhóm chuyên lắp ráp động cơ ,
1 nhóm chuyên lắp ráp thân xe , một nhóm chuyên gắn các thiết bị trên xe ..
Trong lịch sử đã có 3 cuộc phân công lao động xã hội lớn:
. Lần thứ nhất: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt
. Lần thứ hai: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp
. Lần thứ ba: Xuất hiện ngành thương nghiệp
2. Sự tách biệt về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất
Sự tách biệt tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa: Chế độ
tư hữu về tư liệu sản xuất đã chia rẽ người sản xuất, là cho họ độc lập với nhau,
sản phẩm họ sản xuất ra là quyền thuộc sở hữu của họ. Mặt khác, phân công lao
động xã hội lại kéo con người ta xích lại gần nhau, phục vụ lẫn nhau. Từ đó dẫn
đến sự ra đời của sản xuất hàng hóa. có những nông dân sản xuất riêng về VD :
dưa hấu và cũng có những nông dân chuyên trồng cà phê họ không phụ thuộc
nhau về mặt sản xuất nhưng có thể trao đổi thông qua thị trường
Thiếu một trong hai điều kiện nói trên thì không thể xuất hiện sản xuất hàng hóa
Nội dung chính : GT Hai thuộc tính của hàng hóa GTSD có trong hàng hóa
là do lao động của người sản xuất hàng hoá có tính hai mặt: lao động cụ thể
lao động trừu tượng
1. Lao động cụ thể:
- Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề
nghiệp chuyên môn nhất định.
- Lao động cụ thể tạo ra GTSD: Mỗi lao động cụ thể có đối tượng lao động, mục
đích riêng, công cụ lao đông riêng, phương pháp hoạt động riêng, và kết quả lao
động riêng => Tạo ra một GTSD nhất định, lao động cụ thể càng nhiều loại thì
càng tạo ra những sản phẩm có công dụng khác nhau, tức là tạo ra nhiều GTSD
khác nhau của hàng hóa.
VD : Thợ mộc làm ra các sản phẩm bàn ghế tủ , đầu bếp nấu ăn ,…
2. Lao động trừu tượng
- Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa không kể đến
hình thức cụ thể của nó, để quy về một cái chung nhất, đó chính là sự tiêu hao
SLD (tiêu hao bắp thịt, thần kinh, bộ óc) của người lao động sản xuất hàng hóa
nói chung.
- Lao động trừu tượng tích lũy trong hàng hóa và tạo ra Giá trị.
+ Chỉ có lao động của người lao động sản xuất hàng hóa mới mang tính trừu
tượng và tạo ra Giá trị hàng hóa.
+ Lao động trừu tượng chính là mặt chất của Giá trị hàng hóa.
Ví dụ: người lao động thợ mộc và thợ may khác nhau về mặt lao động cụ thể
nhưng có một cái chung đó là đều hao phí sức lao động , bộ óc và sức bắp thịt
của con người
Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa ( quan hệ )
+ có quan hệ với tính chất tư nhân và với tính chất xã hội
+ có sự mâu thuẫn giữa 2 tính chất này và mâu thuẫn này chính là mấu thuẫn cơ
bản của sản xuất hàng hóa
+ sự mâu thuẫn này được biểu hiện ở chỗ sản phẩm của người sản xuất hàng hóa
riêng biệt không phù hợp với nhu cầu của xã hội hoặc hao phí lao động của người
sx hàng hóa ( lao động cá biệt ) cao hoặc thấp hơn so với hao phí của xã hội
>>>>> điều này tuy là sự mâu thuẫn những chúng có tác động lẫn nhau vừa vận
động phát triển và cũng có nguy cơ tiềm ẩn khủng hoảng ‘’sản xuất thừa ‘’
Cách trả lời ý thứ hai : tại sao lao động trừu tượng là một phạm trù lịch sử ?
Lao động trừu tượng là 1 phạm trù của lịch sử vì các lí do sau đây
+ Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa làm cơ sở ngang bằng trong
trao đổi giả sử để sản xuất một chiếc áo sơ mi mất 2 giờ , 1 đôi giày mất 4 VD :
giờ và trong quá trình trao đổi hàng hóa áo sơ mi và giày được trao đổi trên cơ sở
lao động trừu tượng thì điều này đồng nghĩa với việc 2 áo sơ mi ( 4 giờ lao
động ) = 1 đôi giày ( 4 giờ lao động )
+ Lao động trừu tượng chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh sản xuất hàng hóa ( điều đó
có nghĩa là LLTT phụ thuộc vào quan hệ sản xuất hàng hóa )
+ Nếu không có sản xuất hàng hóa, không có trao đổi thì đồng nghĩa với việc
không cần phải quy các lao động cụ thể vào trong lao động trừu tượng
+ Lao động trừu tượng còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể và thay
đổi cùng với hình thái Kinh tế - Xã hội
VD : Trong xã hội phong kiến lao động cụ thể không cần quy đổi ra lao động
trừu tượng bởi vì không có thị trường trao đổi hàng hóa rộng rãi chẳng hạn như 1
gia đình thời phong kiến thường sẽ trồng lúa và rau chăn nuôi gia súc và những
sản phẩm nông nghiệp này đủ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của gia
đình và đóng thuế điều đó có nghĩa là không có thị trường trao đổi hàng hóa
Trong xã hội Tư bản chủ nghĩa sx hàng hóa với mục đích chính là lợi
nhuận và thời gian lao động của những người công nhân trong nhà máy dược quy
đổi ra lao động trừu tượng chẳng hạn như 1 công nhân có 8 giờ để sản xuất ra 10
áo sơ mi và thời gian lao động này được quy ra lao động trừu tượng để xác định
giá trị của áo sơ mi trên thị trường
- Chính vì những điều này mà lao động trừu tượng là một phạm trù lịch sử
Câu 3 : Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa ?
Nếu là người sản xuất đồng chí cần làm gì để nâng cao hiệu quả hoạt động
của mình
Cách trả lời ý thứ nhất : phân tích các nhân đố ảnh hưởng đến giá trị của hàng
hóa
Khái niệm của hàng hóa : Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn
nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổimua bán , hàng hóa thể
nằm ở dạng vật thể và phi vật thể
Khái niệm Lượng giá trị của hàng hóa : Giá trị hàng hóa được xét cả về mặt
chất và mặt lượng Chất: Chất Giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người
sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Lượng: Lượng Giá trị của hàng hóa
là lượng lao động đã hao phí để tạo ra hàng hóa
Thước đo giá trị hàng hóa :
+ Xét về mặt cấu thành Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa bao gồm Lao
động quá khứ ( được tính bằng giá trị của tư liệu sản xuất đã sử dụng để tạo ra
hàng hóa đó ) + giá trị mới do lao động mới kết tinh thêm
+ Là lượng lao động LDXHCT để tạo ra hàng hóa đó và được đo bằng thời gian
lao động
+ Điều kiện về tay nghề và trình đọ sản xuất ảnh hưởng đến Thời gian lao động
cần thiết dẫn đến ảnh hưởng giá trị của hàng hóa
+Thước đo này phản ánh quan hệ kinh tế trong nền sản xuất hàng hóa được
điều tiết bởi quy luật giá trị
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
Tất cả các yếu tố ảnh hưởng tới TGLDXHCT đều ảnh hưởng tới lượng giá trị
của hàng hóa
Một là, Năng suất lao động:
- Khái niệm: Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được
tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số
lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
- : Năng suất lao động cá biệt và năng suất lao Có hai loại năng suất lao động
động xã hội. Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi theo giá trị xã hội nên năng
suất lao động có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa chính là năng suất
lao động xã hội.
- Năng suất lao động xã hội càng tăng, TGLDXHCT càng giảm, lượng giá trị
càng ít và ngược lại. C. Mác đã nhận định: “Như vậy là đại lượng giá trị của một
hàng hóa thay đổi tỷ lệ thuận với lượng lao động thể hiện trong hàng hóa đó và
tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động đó”. Do đó, trong thực hành sản xuất
cần chú ý tăng năng suất lao động để có thể giảm hao phí lao động cá biệt ->
giảm giá trị cá biệt -> tăng lời thế cạnh tranh trên thị trường.
Ví dụ

Preview text:

ĐỀ CƯƠNG KINH TẾ CHÍNH TRỊ TRỌNG TÂM VÀ CÁC BÀI TẬP TÍNH
Câu 1: Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa . Tại sao giá trị sử dụng của hàng
hóa là phạm trù vĩnh viễn

Cách trả lời ý thứ nhất : phân tích hai thuộc tính của hàng hóa
Khái niệm của hàng hóa : Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu
cầu nào đó của con người thông qua trao đổi và mua bán , hàng hóa có thể nằm ở dạng
vật thể và phi vật thể
VD : hàng hóa vật thể ( thực phẩm, đồ da dụng , xe cộ ,..)
Hàng hóa phi vật thể ( Dịch vụ ,Phần mềm ,báo chí )
( phục vụ dưới dạng tinh thần )
.Trình bày hai thuộc tính của hàng hoá?
Hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị
*Giá trị sử dụng của hàng hoá là công dụng của hàng hoá có thể thoã mãn nhu cầu
nào đó của con người VD : Xe cộ , máy tính , điện thoại ,...( những vật dụng con
người sử dụng hằng ngày )
+
1 hàng hoá có thể có nhiều giá trị sử dụng ( hoặc chỉ có một số công dụng nhất định )
+ Giá trị sử dụng của một vật không phải ngay một lúc đã phát hiện ra được hết, mà nó
được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học – kỹ thuật.
+ Giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định.
 Với ý nghĩa như vậy, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn và giá trị sử dụng ở
đây là là 1 thuộc tính của hàng hóa , không là giá trị sử dụng cho người sản xuất
hàng hóa
mà là có giá trị cho người sử dụng hàng hóa, cho xã hội thông qua trao đổi và buôn bán
*Giá trị là mối quan hệ về số lượng hay một tỷ lệ trao đổi giữa những giá trị sử dụng
khác nhau và là lao động của xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa VD: 10kg gạo = 1m vải
+ 10kg gạo và 1m vải có điểm chung
đều là sản phẩm của lao động ( điều kiện cần
trong quá trình trao đổi )
+ khi sản xuất ra 2 sản phẩm này đều có hao phí lao động có  hao phí lao động dẫn
đến được so sánh với nhau khi trao đổi
+ 2 sản phẩm có một lượng lao động bằng nhau đã hao phí làm tạo ra các giá trị sử
dụng trong quan hệ trao đổi ( lao động hao phí ẩn trong hàng hóa là cơ sở dẫn đến trao
đổi, nói một cách khác đây chỉnh là điều kiện đủ )
Tóm lại : Sản phẩm không có lao động của người sản xuất trong sản phẩm đó = 0 có giá trị
Sản phẩm nào càng nhiều lao động hao phí để sản xuất ra sản phẩm đó = giá trị càng cao Mối quan hệ:
Hai thuộc tính của hàng hóa có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau.
Trong đó : giá trị là nội dung là cơ sở của giá trị trao đổi , giá trị trao đổi là hình thức
biểu hiện ra bên ngoài xã hội của giá trị Thống nhất
Hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn tại trong một hàng hóa. Nếu một vật có giá trị sử
dụng (tức có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, xã hội), nhưng không có giá
trị (tức không do lao động tạo ra, không có kết tinh lao động) như không khí tự nhiên
thì sẽ không phải là hàng hóa. Ngược lại, một vật có giá trị (tức có lao động kết tinh),
nhưng không có giá trị sử dụng (tức không thể thỏa mãn nhu cầu nào của con người,
xã hội) cũng không trở thành hàng hóa. Đối lập
Thứ nhất
, với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hóa khác nhau về chất . Nhưng
ngược lại, với tư cách là giá trị thì các hàng hóa lại đồng nhất về chất, đều là “những
cục kết tinh đồng nhất của lao động mà thôi”, tức đều là sự kết tinh của lao động, hay
là lao động đã được vật hóa.
Thứ hai, quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng có sự tách rời nhau cả về mặt không gian và thời gian.
Giá trị được thực hiện trong lĩnh vực lưu thông và thực hiện trước.
Giá trị sử dụng được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng.
Người sản xuất quan tâm tới giá trị, nhưng để đạt được mục đích giá trị bắt buộc họ
cũng phải chú ý đến giá trị sử dụng, ngược lại người tiêu dùng quan tâm tới giá trị sử
dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của mình.
Nhưng muốn có giá trị sử dụng họ phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó. Nếu không
thực hiện giá trị sẽ không có giá trị sử dụng. Mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị
hàng hóa cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng sản xuất thừa.
Cách trả lời ý thứ hai : Tại sao giá trị sử dụng hàng hóa là phạm trù vĩnh viễn ?
Chúng ta cần phải hiểu GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA HÀNG HÓA là một phạm trù
vĩnh viễn là bởi vì nó ảnh hưởng và liên quan trực tiếp đến bản chất cơ bản nhất của
con người là NHU CẦU của con người và KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG nhu cầu đó và để
chứng minh giá trị hàng hóa là phạm trù vĩnh viễn cần xét trên các nội dung sau
Thứ nhất : xét trên các hình thái kinh tế - xã hội
+ Kinh tế nguyên thủy : các công cụ thô sơ dao đá , gậy gộc phục vụ nhu cầu săn bắt hái lượm
+ Kinh tế Phong Kiến : người nông dân sử dụng các công cụ như cuốc , cày , lưới đánh
cá , bừa phục vụ cho trồng trọt và chăn nuôi
+ Kinh tế tư bản : ra đời các máy móc , công cụ hiện đại phục vụ cho nhu cầu của con
người : máy điều hòa , điện thoại, vv…
+ Kinh tế xã hội chủ nghĩa : hàng hóa được sản xuất đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội
các sản phẩm có giá trị sử dụng và đáp ứng tốt các nhu cầu mà con người đặt ra trong tương lai
Tóm lại con người trong quá trình cải biến , cải tạo thế giới thì luôn tạo ra và phát hiện
những vấn đề mới nảy sinh và nhu cầu của con người mang tính ĐA DẠNG , nhu cầu
là một hình thức tất yêu trong quá trình con người phát triển và tồn tại trong xã hội này
và dù xã hội có phát triển đến mức nào thì nhu cầu của con người vẫn không thay đổi
chính vì thế mà hàng hóa luôn tồn tại
Thứ hai có sự khác biệt với giá trị trao đổi
Ví dụ như ta có thể hiểu như sau về 1 chai nước
Giá trị sử dụng : có tác dụng là giải khát và bù nước cho cơ thể ( nhu cầu của con
người đối với cơ thể )
Giá trị trao đổi : chai nước lọc bán với giá 10k trên thị trường = 1 thanh kẹo socola với giá 10k
Bởi vì giá trị sử dụng khác về mặt bản chất đối với giá trị trao đổi là nó đáp
ứng nhu cầu của con người và giá trị sử dụng đảm của sản phẩm của con
người tạo ra bảo sự tồn tại và phát triển của con người qua các thời kì lịch sử
nên chính vì thế giá trị sử dụng của hàng hóa là một phạm trù vĩnh viễn tồn
tại cùng nhu cầu của con người
Câu 2 : Phân tích tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, Tại sao
lao động trừu tượng là phạm trù lịch sử ?

Cách trả lời ý thứ nhất : phân tích tính hai mặt của sản xuất hàng hóa
Khái niệm hàng hóa : Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu
cầu nào đó của con người thông qua trao đổi và mua bán , hàng hóa có thể nằm
ở dạng vật thể và phi vật thể
Khái niệm sản xuất hàng hóa : SXHH là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế mà ở
đó, sản phẩm sản xuất ra để thỏa mãn nhu cầu của người bán thông qua trao đổi và mua bán.
Điều kiện ra đời SXHH :
1. Phân công lao động xã hội : Là sự chuyên môn hóa người sản xuất vào
những ngành nghề
, lĩnh vực khác nhau, mỗi người chỉ sản xuất ra một hoặc một
vài loại sản phẩm nhưng nhu cầu của họ lại cần nhiều loại sản phẩm khác
nhau .Vì vậy, để thỏa mãn nhu cầu người ta phải trao đổi sản phẩm cho nhau
VD : Trong một nhà máy sản xuất oto thì có một nhóm chuyên lắp ráp động cơ ,
1 nhóm chuyên lắp ráp thân xe , một nhóm chuyên gắn các thiết bị trên xe ..
Trong lịch sử đã có 3 cuộc phân công lao động xã hội lớn:
. Lần thứ nhất: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt
. Lần thứ hai: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp
. Lần thứ ba: Xuất hiện ngành thương nghiệp
2. Sự tách biệt về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất
Sự tách biệt tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa: Chế độ
tư hữu về tư liệu sản xuất đã chia rẽ người sản xuất, là cho họ độc lập với nhau,
sản phẩm họ sản xuất ra là quyền thuộc sở hữu của họ. Mặt khác, phân công lao
động xã hội lại kéo con người ta xích lại gần nhau, phục vụ lẫn nhau. Từ đó dẫn
đến sự ra đời của sản xuất hàng hóa. VD : có những nông dân sản xuất riêng về
dưa hấu và cũng có những nông dân chuyên trồng cà phê họ không phụ thuộc
nhau về mặt sản xuất nhưng có thể trao đổi thông qua thị trường
Thiếu một trong hai điều kiện nói trên thì không thể xuất hiện sản xuất hàng hóa
Nội dung chính : Hai thuộc tính của hàng hóa GTSDGT có trong hàng hóa
là do lao động của người sản xuất hàng hoá có tính hai mặt: lao động cụ thể
lao động trừu tượng 1. Lao động cụ thể:
- Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề
nghiệp chuyên môn nhất định.
- Lao động cụ thể tạo ra GTSD: Mỗi lao động cụ thể có đối tượng lao động, mục
đích riêng, công cụ lao đông riêng, phương pháp hoạt động riêng, và kết quả lao
động riêng => Tạo ra một GTSD nhất định, lao động cụ thể càng nhiều loại thì
càng tạo ra những sản phẩm có công dụng khác nhau, tức là tạo ra nhiều GTSD khác nhau của hàng hóa.
VD : Thợ mộc làm ra các sản phẩm bàn ghế tủ , đầu bếp nấu ăn ,…
2. Lao động trừu tượng
- Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa không kể đến
hình thức cụ thể của nó, để quy về một cái chung nhất, đó chính là sự tiêu hao
SLD (tiêu hao bắp thịt, thần kinh, bộ óc) của người lao động sản xuất hàng hóa nói chung.
- Lao động trừu tượng tích lũy trong hàng hóa và tạo ra Giá trị.
+ Chỉ có lao động của người lao động sản xuất hàng hóa mới mang tính trừu
tượng và tạo ra Giá trị hàng hóa.
+ Lao động trừu tượng chính là mặt chất của Giá trị hàng hóa.
Ví dụ: người lao động thợ mộc và thợ may khác nhau về mặt lao động cụ thể
nhưng có một cái chung đó là đều hao phí sức lao động , bộ óc và sức bắp thịt của con người
Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa ( quan hệ )
+ có quan hệ với tính chất tư nhân và với tính chất xã hội
+ có sự mâu thuẫn giữa 2 tính chất này và mâu thuẫn này chính là mấu thuẫn cơ
bản của sản xuất hàng hóa
+ sự mâu thuẫn này được biểu hiện ở chỗ sản phẩm của người sản xuất hàng hóa
riêng biệt không phù hợp với nhu cầu của xã hội hoặc hao phí lao động của người
sx hàng hóa ( lao động cá biệt ) cao hoặc thấp hơn so với hao phí của xã hội
>>>>> điều này tuy là sự mâu thuẫn những chúng có tác động lẫn nhau vừa vận
động phát triển và cũng có nguy cơ tiềm ẩn khủng hoảng ‘’sản xuất thừa ‘’
Cách trả lời ý thứ hai : tại sao lao động trừu tượng là một phạm trù lịch sử ?
Lao động trừu tượng là 1 phạm trù của lịch sử vì các lí do sau đây
+ Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa làm cơ sở ngang bằng trong
trao đổi VD : giả sử để sản xuất một chiếc áo sơ mi mất 2 giờ , 1 đôi giày mất 4
giờ và trong quá trình trao đổi hàng hóa áo sơ mi và giày được trao đổi trên cơ sở
lao động trừu tượng thì điều này đồng nghĩa với việc 2 áo sơ mi ( 4 giờ lao
động ) = 1 đôi giày ( 4 giờ lao động )
+ Lao động trừu tượng chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh sản xuất hàng hóa ( điều đó
có nghĩa là LLTT phụ thuộc vào quan hệ sản xuất hàng hóa )
+ Nếu không có sản xuất hàng hóa, không có trao đổi thì đồng nghĩa với việc
không cần phải quy các lao động cụ thể vào trong lao động trừu tượng
+ Lao động trừu tượng còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể và thay
đổi cùng với hình thái Kinh tế - Xã hội
VD : Trong xã hội phong kiến lao động cụ thể không cần quy đổi ra lao động
trừu tượng bởi vì không có thị trường trao đổi hàng hóa rộng rãi chẳng hạn như 1
gia đình thời phong kiến thường sẽ trồng lúa và rau chăn nuôi gia súc và những
sản phẩm nông nghiệp này đủ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của gia
đình và đóng thuế điều đó có nghĩa là không có thị trường trao đổi hàng hóa
Trong xã hội Tư bản chủ nghĩa sx hàng hóa với mục đích chính là lợi
nhuận và thời gian lao động của những người công nhân trong nhà máy dược quy
đổi ra lao động trừu tượng chẳng hạn như 1 công nhân có 8 giờ để sản xuất ra 10
áo sơ mi và thời gian lao động này được quy ra lao động trừu tượng để xác định
giá trị của áo sơ mi trên thị trường
- Chính vì những điều này mà lao động trừu tượng là một phạm trù lịch sử
Câu 3 : Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá t
rị của hàng hóa ?
Nếu là người sản xuất đồng chí cần làm gì để nâng cao hiệu quả hoạt động của mình
Cách trả lời ý thứ nhất : phân tích các nhân đố ảnh hưởng đến giá trị của hàng hóa
Khái niệm của hàng hóa : Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn
nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi và mua bán , hàng hóa có thể
nằm ở dạng vật thể và phi vật thể
Khái niệm Lượng giá trị của hàng hóa : Giá trị hàng hóa được xét cả về mặt
chất và mặt lượng Chất: Chất Giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người
sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Lượng: Lượng Giá trị của hàng hóa
là lượng lao động đã hao phí để tạo ra hàng hóa
Thước đo giá trị hàng hóa :
+ Xét về mặt cấu thành Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa bao gồm Lao
động quá khứ ( được tính bằng giá trị của tư liệu sản xuất đã sử dụng để tạo ra
hàng hóa đó ) + giá trị mới do lao động mới kết tinh thêm
+ Là lượng lao động LDXHCT để tạo ra hàng hóa đó và được đo bằng thời gian lao động
+ Điều kiện về tay nghề và trình đọ sản xuất ảnh hưởng đến Thời gian lao động
cần thiết dẫn đến ảnh hưởng giá trị của hàng hóa
+Thước đo này phản ánh quan hệ kinh tế trong nền sản xuất hàng hóa và được
điều tiết bởi quy luật giá trị
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
Tất cả các yếu tố ảnh hưởng tới TGLDXHCT đều ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hóa
Một là, Năng suất lao động:
- Khái niệm
: Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được
tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số
lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
- Có hai loại năng suất lao động: Năng suất lao động cá biệt và năng suất lao
động xã hội. Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi theo giá trị xã hội nên năng
suất lao động có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa chính là năng suất lao động xã hội.
- Năng suất lao động xã hội càng tăng, TGLDXHCT càng giảm, lượng giá trị
càng ít và ngược lại. C. Mác đã nhận định: “Như vậy là đại lượng giá trị của một
hàng hóa thay đổi tỷ lệ thuận với lượng lao động thể hiện trong hàng hóa đó và
tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động đó”. Do đó, trong thực hành sản xuất
cần chú ý tăng năng suất lao động để có thể giảm hao phí lao động cá biệt ->
giảm giá trị cá biệt -> tăng lời thế cạnh tranh trên thị trường. Ví dụ