



















Preview text:
Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh Fb.com/iamthiendinh
ĐỀ CƯƠNG THAM KHẢO MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề 1 : Vì sao nói DCSVN ra đời là một tất yếu ? Phân tích sự sáng tạo của
ĐCSVN trong cương lĩnh đầu tiên ?
Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài Làm
Từ năm 1858 đến năm 1945, khi thực dân Pháp nổ súng và xâm lược Việt
Nam, đất nước ta đã phải chịu cảnh xâm lược của bọn thực dân tàn ác. Sau khi đã
chiếm đóng thành công và bắt triều đình Huế kí các hiệp ước nhằm công nhận sự
thống trị của Pháp ở Đông Dương, Pháp đã bắt đầu thực hiện kế hoạch cai trị và
vơ vét bóc lột thuộc địa ở Đông Dương về cho mình. Từ đây tạo nên những áp
bức lớn cho dân tộc ta, và nếu có sự áp bức thì sẽ có đấu tranh. Các phong trào
đấu tranh liên tục được nổ ra dựa trên ý chí kiên cường và truyền thống cứu nước
chảy trong huyết quản dân tộc. Thế nhưng trước khi Đảng Cộng Sản Việt Nam
ra đời, chưa có phong trào đấu tranh nào thành công cả, thay vào đó là bị đàn áp
một cách dã man, chịu thất bại thảm hại. Các phong trào này thất bại đều chung
hai nguyên nhân chính : không có sự liên kết với nhau và các phong trào cũng
như sự lãnh đạo chỉ dừng lại ở mức nhỏ lẻ tại địa phương, ngoài ra các phong trào
còn không giải quyết được hai nhiệm vụ chính : đánh đuổi thực dân và giành độc
lập dân tộc. Từ điều này dẫn đến một bài toán, đó là cần phải có một lực lượng
lãnh đạo đủ mạnh, đủ tầm ảnh hưởng đến toàn dân để có thể đưa cách mạng đi đến thắng lợi.
Thời kì này, giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất trong sức sản xuất,
họ có tính kỷ luật cao từ yêu cầu về môi trường lao động, sớm tiếp thu những tinh
hoa văn hóa tiên tiến, trào lưu tư tưởng của thời đại cách mạng vô sản để bồi
dưỡng bản chất cách mạng của mình. Ngoài ra giai cấp công nhân ở Việt Nam
thường đi lên với gốc gác là nông dân, từ đó họ có một mối quan hệ mật thiết với
giai cấp nông dân và dẫn đến việc họ cũng có mối quan hệ gắn bó mật thiết với
quần chúng nhân dân. Nhờ những thế mạnh đó khiến cho các phong trào công
nhân diễn ra sôi nổi và mãnh liệt. Từ năm 1920 đến năm 1925 đã nổ ra 25 cuộc
bãi công. Nổi bật nhất là cuộc bãi công của công nhân tại xưởng đóng tàu Ba Son
( Sài Gòn) tháng 8/1925 nhằm làm chậm việc sửa chữa chiếc tàu Misơlê
(Michelet) mà thực dân Pháp dùng chở lính sang đàn áp phong trào cách
mạng Trung Quốc. Sau đó còn các phong trào công nhân khác được nổ ra liên
tục nhưng bị đàn áp nhanh chóng do lực lượng mỏng, thiếu kinh nghiệm. Tuy
nhiên từ đây, giai cấp công nhân đã trưởng thành nhanh chóng về nhận thức, cũng
như về con đường đấu tranh và cả lực lượng.
Ngoài ra khuynh hướng đấu tranh theo con đường vô sản đã được du nhập
vào nước ta, từ đó dẫn đến sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở Việt. Gồm có
Đông Dương Cộng Sản Đảng; An Nam Cộng Sản Đảng; Đông Dương Cộng Sản
Liên Đoàn. Sự ra đời này của cả ba tổ chức cộng sản đã đánh dấu một bước mới
trong việc tư tưởng cách mạng theo hướng vô sản đã được đi sâu vào trong tư
tưởng đấu tranh của nhân dân ta. Các tổ chức này đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh
tại các địa phương và cùng góp công trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân trên cả nước. Tuy nhiên chính vì có một lúc cả ba tổ chức cộng sản và do
cách hoạt động riêng lẻ, họ đều sẵn sàng tranh giành tầm ảnh hưởng, công kích
lẫn nhau, từ đó gây nên bất hòa, để lâu sẽ dẫn đến sự chia rẽ lớn. Từ đây dẫn đến
yêu cầu phải hợp nhất ba tổ chức này lại thành một tổ chức cộng sản.
Phải đến khi Nguyễn Ái Quốc tiếp cận đến với học thuyết Mác Lenin và
phong trào Vô sản trên thế giới, Người đã nhận ra rằng chỉ có một tổ chức, một
giai cấp duy nhất có thể đủ sức để kết nối và lãnh đạo nhân dân đứng lên cùng
đưa cách mạng đến thắng lợi. Đó là Đảng Cộng Sản và được lãnh đạo bởi giai
cấp công nhân. Vào ngày 3/2/1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã kết hợp ba tổ
chức cộng sản nói trên và được thành lập đã đánh dấu bước tiến mới trong cách
mạng nước nhà. Đảng ra đời đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng về giai cấp lãnh
đạo và đường lối cứu nước ở dân tộc ta, chứng minh rằng giai cấp công nhân đã
đủ trưởng thành và đủ sức lãnh đạo phong trào cách mạng. Bằng những đường
lối đấu tranh đúng đắn và lãnh đạo tài tình, Đảng ta đã đưa nhân dân đi đến liên
tiếp nhiều thắng lợi, từ đó đi thẳng đến Cách mạng Tháng Tám 1945 và thành
công rực rỡ, đem lại sự độc lập và tự do qua bản tuyên ngôn Độc lập được chủ
tịch Hồ Chí Minh đọc vào ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Từ đây dân
tộc Việt Nam đã được bước sang trang mới, tiến tới kỷ nguyên của độc lập tự do,
mà công lớn thuộc về Đảng Cộng Sản. Từ đây có thể thấy được việc ra đời của
Đảng Cộng Sản Việt Nam là mang tính tất yếu của thời đại.
Ngay từ khi Đảng CSVN mới thành lập, trong Cương lĩnh chính trị đầu
tiên của Đảng đã chỉ ra phương hướng cơ bản của cách mạng VN, đặt nền móng
cho việc xác định lý luận, đường lối, phương pháp cách mạng và những nguyên
tắc chủ yếu để xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân VN.
Tuy hết sức ngắn gọn, vắn tắt nhưng CLCT đầu tiên của Đảng đã kết hợp
nhuần nhuyễn quan điểm dân tộc và giai cấp, thấm đượm tính dân tộc và thời đại
với những luận điểm sau nổi bật.
Một là, cách mạng VN phải là cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách
mạng để tiến lên xã hội cộng sản. (Thực chất đó là một cuộc cách mạng có 2 giai
đoạn : giai đoạn thứ nhất đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giai đoạn thứ
hai là sau khi giành được thắng lợi sẽ chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ
nghĩa để tiến tới xã hội cộng sản.).
Hai là, trong cách mạng tư sản dân quyền có hai nhiệm vụ chiến lược là
chống đế quốc và chống phong kiến. (Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, phải được tiến hành khắng khít không tách rời nhau nhưng trong đó
nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai (phản đế) phải đặt lên hàng đầu.).
Ba là, xác định lực lượng cách mạng, bao gồm : giai cấp công - nông là
gốc, những người yêu nước trong các giai cấp khác là đồng minh của cách mạng.(
Đảng phải vận động, thu phục giai cấp mình để lãnh đạo dân chúng, dựa hẳn vào
dân cày nghèo, liên lạc với trung nông. Lực lượng cách mạng bao gồm : thứ nhất
là giai cấp công - nông là gốc, là động lực của cách mạng, thứ hai là những người
yêu nước trong các giai cấp khác là đồng minh của cách mạng.).
Bốn là, lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong
của giai cấp là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm là, về phương pháp cách mạng, Đảng chủ trương phải giành chính
quyền bằng bạo lực cách mạng.
Sáu là, cách mạng Việt Nam đoàn kết với giai cấp vô sản và các dân tộc
thuộc địa trên thế giới để chống chủ nghĩa đế quốc. Cách mạng Việt Nam là một
bộ phận của cách mạng thế giới.
Từ những nội dung cơ bản trên, Đảng đã thể hiện trình độ tư duy sâu sắc
và sáng tạo: vừa vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng Việt
Nam, vừa đáp ứng chính xác những yêu cầu khách quan của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.
Ngoài ra có thể thấy sự sáng tạo trong Cương lĩnh Chính trị mà Nguyễn Ái
Quốc đã soạn thảo. Sáng tạo trong vấn đề dân tộc, xác định thái độ với các giai
cấp, liên minh giai cấp và đoàn kết toàn dân tộc. Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, xác định rõ chủ trương
"Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng
sản". Cuộc cách mạng này đánh đổ thực dân Pháp và bọn phong kiến, làm cho
nước ta được hoàn toàn độc lập, nhân dân được các quyền dân chủ, tự do, hạnh
phúc. Đó chính là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xuyên
suốt các chủ trương đường lối cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ta ra đời đến
nay. Trong tư tưởng lớn đó, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc là ở chỗ: xác định độc
lập dân tộc là mục tiêu cốt lõi, trực tiếp trước mắt, là tiền đề, điều kiện để tiến lên
chủ nghĩa xã hội. Sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc là ở chỗ quan niệm lực lượng
cách mạng ở nước ta là toàn thể nhân dân. Từ đây, có thể thấy Nguyễn Ái Quốc
đánh giá đúng tầm quan trọng của nhân tố dân tộc trong cách mạng giải phóng
dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc, nêu ra chủ trương đoàn kết tất cả các
tầng lớp nhân dân có thể đoàn kết được, có thể tạo nên sức mạnh đánh đổ đế quốc và phong kiến.
Đề 2: Phân tích yếu tố thời cơ trong đường lối giành chính quyền của ĐCSĐD
(1939 - 1945) liên hệ với việc nắm bắt thời cơ hiện nay của Việt Nam.
Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài Làm
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh,
dân tộc Việt Nam đã thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám, đánh đổ thực
dân, phong kiến; thành lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một trong
những yếu tố góp phần làm nên thắng lợi to lớn là bài học về chớp thời cơ và vận
dụng đúng thời cơ cách mạng.
Thứ nhất là từ sự kiện ngày 12/8/1946, sau khi nhận được tin phát xít Nhật
Bản bị thua to trên hầu khắp các chiến trường châu Á - Thái Bình Dương trong
thế chiến II, nên phải gửi công hàm cho các nước Đồng minh đề nghị ngừng bắn.
Bằng nhãn quan chính trị nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, nắm bắt thời cuộc kịp
thời, Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã nhóm họp ngay tại
Tân Trào để quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Ngay sau cuộc
họp, “Mệnh lệnh khởi nghĩa” đã được phát ra.
Chiều tối ngày hôm sau, 13/8/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng
nhận được thêm một tin rất quan trọng, đó là phát xít Nhật đã bại trận và chuẩn
bị đầu hàng quân Đồng minh. Ngay lập tức, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt
Minh đã thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc; đồng thời soạn thảo “Quân lệnh
số 1” và được phát đi ngay, hạ lệnh Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.
Ngày 14/8/1945, sau khi nghe tin Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố
Hirôsima của Nhật Bản, Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào nhận định:
“Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”. Trên cơ sở đó, đồng chí Hồ
Chí Minh đã chỉ thị: “Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút. Tình hình sẽ
chuyển biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”.
Tại sao lại phải tiến hành Tổng khởi nghĩa ngay lúc đó là vì đồng chí Hồ
Chí Minh và Trung ương Đảng đã nhận định và nắm bắt được tình hình có sự
chuyển biến nhanh chóng: phát xít Nhật đã chết theo phát xít Đức; quân đội Nhật
đã và đang tan rã, bị tước vũ khí trên khắp các chiến trường; quân Đồng minh sắp
kéo vào Đông Dương. Vì vậy nếu không khởi nghĩa giành chính quyền từ tay
quân Nhật, mà để đến khi quân Đồng minh kéo vào nhận bàn giao chính quyền
từ tay quân Nhật, thì nhân dân ta không thể tiến hành khởi nghĩa được nữa, vì lúc
này Việt Minh đang cùng phe với quân Đồng minh.
Thứ hai, sự kiện Chính phủ cách mạng lâm thời yêu cầu vua Bảo Đại thoái
vị và tiếp nhận sự thoái vị của nhà vua (ngày 30/8/1945 tại Huế) cũng là việc lực
lượng cách mạng đã chớp thời cơ, tranh thủ thời cơ và vận dụng đúng thời cơ.
Việc vua Bảo Đại thoái vị đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền phong kiến; đồng
thời triệt tiêu một đầu mối quan trọng mà các thế lực đế quốc, phản động muốn
duy trì, sử dụng để mưu toan chống phá chính quyền cách mạng, đặt lại ách thống
trị trên đất nước ta.
Thứ ba, sự kiện ngày 2/9/1945 tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” tuyên bố với toàn thể nhân dân Việt Nam
và với thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập và tự do đã ra đời;
Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã chính thức ra
mắt trước quốc dân đồng bào. Nếu chậm trễ không tuyên bố độc lập, chủ quyền
trước khi quân Đồng minh tiến vào thì dù có cướp được chính quyền cũng phải
bàn giao lại cho quân Đồng minh tiếp quản. Vì vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh
tiếp tục chớp thời cơ, khẩn trương chỉ đạo sớm tiến hành tổ chức Lễ Độc lập liền
sau khi cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công trên cả nước
chính là nhằm ngay lập tức khẳng định chủ quyền của nhân dân Việt Nam trước
các thế lực đế quốc, phản động đội lốt dưới danh nghĩa quân Đồng minh.
Có thể khẳng định, thành công lớn nhất của nghệ thuật khởi nghĩa trong
Cách mạng Tháng Tám: Ðảng ta đã chọn đúng thời cơ "nổ ra đúng lúc". Ðó là lúc
16 nghìn quân Anh chưa vào miền nam và 200 nghìn quân Tưởng chưa vào miền
bắc để giải giáp quân Nhật; cũng là lúc quân Nhật bại trận mất tinh thần, ngồi chờ
Ðồng minh đến tước vũ khí; ngụy quyền tay sai bỏ trốn hoặc đầu hàng chính
quyền cách mạng. Chọn đúng thời cơ là một khoa học, là một nghệ thuật, nhờ thế
sức mạnh của toàn dân ta được nhân lên gấp bội, tiến tới khởi nghĩa giành chính
quyền trong cả nước một cách nhanh, gọn, không đổ máu và thành công triệt để.
Từ bài học trên về cách nắm bắt thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám,
Đảng ta cũng đã áp dụng những bài học về cách nắm bắt thời cơ ở thời điểm hiện
nay. Thời gian qua, toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập quốc tế là một diễn biến
khách quan mang tính tất yếu. Đảng ta đã biến nó thành cơ hội khi chuẩn bị một
tâm thế sẵn sàng hội nhập, bắt đầu từ kinh tế, rồi dần là văn hóa, thể thao… cho
đến chính trị. Việt Nam đã gia nhập ASEAN, trở thành thành viên Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), ứng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo
an Liên hiệp quốc… Vị thế, vai trò và uy tín của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Thời gian vừa qua dịch Covid-19 đã gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế thế
giới nhưng cũng có thể tạo ra một số cơ hội. Cùng với sự tác động của chiến tranh
thương mại Mỹ - Trung, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã có sự chuyển dịch địa
bàn đầu tư và quy mô đầu tư, họ đã và đang chọn điểm đến là Việt Nam. Nước ta
có thể nắm bắt cơ hội này để thúc đẩy phát triển đất nước trên tinh thần chuẩn bị
các điều kiện cần thiết và hấp dẫn để “lót ổ đón đại bàng” như Thủ tướng Nguyễn
Xuân Phúc đã chỉ đạo.
Có thể thấy, thông qua bài học lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, Đảng
ta đã luôn sáng tạo và có nhiều lựa chọn đúng đắn trong việc nắm bắt thời cơ
chiến lược từ trong và ngoài nước, từ đó càng ngày càng giúp cho Việt Nam trở
nên vững mạnh hơn, hùng cường hơn và càng ngày càng trên đà để “Hóa rồng”,
phát triển mạnh mẽ và thịnh vượng.
Đề 3: Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới của
Đảng trong thời kì 1954 – 1945.
Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài làm
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đất nước ta mặc dù có được sự độc
lập và tự do, nhưng lại lâm vào tình thế ngặt ngheo “ngàn cân treo sợi tóc”. Nạn
đói khủng khiếp do quân Nhật để lại thì chưa chấm dứt lại xảy ra lụt lớn ở Bắc
Bộ, sau đó lại đến hạn hán. Sản xuất đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giá cả cao
vọt. Về mặt tài chính, Nhà nước gặp khó khăn lớn: Kho bạc trống rỗng, thuế chưa
thu được. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời chưa được nước nào trên thế
giới công nhận. Ngoài ra còn có quân Anh, quân Tưởng và đặc biệt là thực dân
Pháp đã quay trở lại xâm lược nước ta và muốn biến nước ta trở lại là một thuộc
địa để vơ vét và bóc lột. Thêm nữa các thế lực phản động Việt Quốc, Việt Cách
càng tích cực chống phá Nhà nước non trẻ của chúng ta. Trước tình hình đó,
kháng chiến là điều chắc chắn không thể tránh khỏi để bảo vệ cho nền hòa bình
và độc lập cũng như toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta. Song song với kháng chiến
là công cuộc xây dựng chế độ mới cũng được triển khai để có thể làm một lúc hai
nhiệm vụ: quản lý đất nước và xây dựng căn cứ địa cách mạng nhằm tạo cơ sở
cho cuộc kháng chiến để bảo vệ độc lập dân tộc. Từ tình hình trên, có thể thấy
đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới thời kì này có mối liên hệ song
song và chặt chẽ với nhau.
Đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới của nước ta thời kì này có
bốn đặc điểm chung : Toàn dân, Toàn diện, Lâu dài và Tự lực.
Trước hết là đường lối Toàn dân. Với mục đích kháng chiến là để kế tục
thành quả của Cách mạng Tháng Tám và đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược,
giành thống nhất và độc lập cho Tổ Quốc. Vậy nên đây là cuộc chiến tranh cách
mạng toàn dân, của sự chính nghĩa . Nó có tính toàn dân, toàn diện và lâu dài. Nó
là cuộc đấu tranh tiến bộ vì tự do, độc lập và hòa bình. Cuộc chiến này lấy dân
làm gốc, làm cốt lõi cho toàn bộ quá trình đấu tranh kháng chiến. Xuất phát từ
niềm tin vào nhân dân về cuộc chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trong
“Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (1946) : “Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng
phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu
Tổ quốc…”. Từ đây có thể thấy xuyên suốt thời kì này mỗi người dân là một
chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài chống quân xâm lược. Đó là một nguồn
sức mạnh cực lớn, không thể bị phá vỡ. Điều này cũng đúng với quá trình xây
dựng chế độ mới, toàn thể nhân dân đều là nguồn lực chung để thay đổi đất nước,
tất cả nhân dân đều đồng lòng đồng sức để vượt qua mọi tình thế hiểm nghèo, ví
dụ như qua các chương trình “hũ gạo cứu đói”;” một nắm khi đói bằng một gói
khi no”,… Nhân dân ta đã đồng lòng vượt qua được tình thế đói ăn ngặt nghèo
thời kì 1945. Từ đây có thể thấy khi nhân dân đồng lòng, không gì có thể không
làm được dù tình huống hiểm nghèo đến đâu. Bất kì người dân nào không phân
biệt tôn giáo, vùng miền, dân tộc,.. đều có thể góp sức tạo thành sức mạnh chung
cho đất nước, thay đổi bộ mặt nước nhà.
Thứ hai là đường lối Toàn diện. Đường lối kháng chiến toàn diện là ta đánh
địch trên các mặt trận : chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, ngoại giao. Về chính
trị : Ta thực hiện đoàn kết toàn dân; tăng cường xây dựng bộ máy chính quyền ổn
định; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu tự do hòa bình. Về quân sự: thực
hiện vũ trang toàn dân, toàn dân cùng nhau tiêu diệt địch thù. Về văn hóa : tiêu
diệt giặc dốt; xóa mù chữ; phá bỏ tàn dư phong kiến, văn hóa thực dân; xây dựng
nền văn hóa dân chủ tiến bộ. Về kinh tế: xây dựng nền kinh tế tự túc tự cấp; tập
trung phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, đặc biệt là công
nghiệp quốc phòng. Về ngoại giao : thêm bạn bớt thù, tập trung liên kết với các
nước thuộc khối XHCN và những nơi yêu tự do, hòa bình. Điều này cũng đúng
và đi song song với quá trình xây dựng chế độ mới. Nhờ phát triển năm điều trên
và vận hành nó song song giữa kháng chiến và xây dựng chế độ, đất nước ta đã
trở nên liên kết hơn giữa các khối và phát triển hơn, vững mạnh hơn, từ đó phục
vụ tốt hơn cho công cuộc kháng chiến cứu quốc.
Thứ ba là đường lối Lâu dài. Việc thực hiện đường lối kháng chiến lâu dài
là bước đầu tiên để chống lại chiến lược tiến công của giặc là “Đánh nhanh thắng
nhanh”. Đây là bước tiền đề để chuyển hóa tương quan lực lượng nhằm đánh
thắng địch, để củng cố cho hậu phương và quá trình xây dựng chế độ mới trở nên
vững chắc. Cũng với đường lối này cho ta thấy rằng công cuộc xây dựng một chế
độ mới không thể áp dụng một kế hoạch, chiến lược vội vã, chủ quan; mà phải
tiến hành với tâm thế kỹ lưỡng, cẩn thận và đúng đắn. Chậm nhưng chắc!
Thứ tư và cuối cùng, là đường lối Tự lực, có nghĩa là: “Phải tự cấp, tự túc
về mọi mặt". Nhân dân ta phải đồng sức đồng lòng thi đua sản xuất, huy động hết
sức người, sức của để xây dựng cơ sở vững chắc cho nền công nghiệp, nông
nghiệp. Chỉ có lao động mới tạo ra của cải vật chất. Vì ta bị bao vây bốn phía,
chưa được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh, kháng chiến dựa vào ý
chí và sức mạnh nước nhà. Khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của
các nước, song lúc đó cũng không được ỷ lại vào nước bạn, chỉ có bản thân ta
mới tự giúp, tự cứu ta là chính.
Như vậy, qua bốn đường lối chủ đạo trên, có thể thấy sự liên quan mật thiết
giữa quá trình chỉ đạo kháng chiến và xây dựng chế độ mới của Đảng đối với đất
nước ta giai đoạn 1945 – 1954. Đó là chúng luôn song hành và bổ trợ cho nhau.
Qua đó có thể thấy được tính đúng đắn sáng tạo của Đảng trong tư duy lãnh đạo
nhân dân cũng như quản lý đất nước. Từ đây làm tiền đề cho quá trình xây dựng
và bảo vệ Tổ Quốc sau này.
Đề 4: Tư tưởng chiến lược tấn công của Đảng trong giai đoạn 1959-1964.
Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài Làm
Sau khi đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi nước ta qua chiến dịch Điện Biên Phủ
lưng lẫy và ép Pháp phải kí vào Hiệp ước Genève để chúng rút khỏi nươc ta, những
tưởng đất nước ta đã được thống nhât và hòa bình, thì Đế quốc Mỹ bắt đầu giở trò và
nhúng tay can thiệp nhằm không để nước ta thống nhất thành một khối, và biến miền
Nam Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới. Từ đây đất nước ta lại phải bắt đầu chuẩn
bị và tiến hành cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954- 1975 đầy gian khổ. Và
nhất là với thời kì đầu trước năm 1959, bằng nhiều hình thức thủ đoạn, Mỹ và chính
quyền tay sai đã tiến hành nhiều cuộc càn quét đàn áp các phong trào của nhân dân, mà
đỉnh điểm là Đạo luật 10-59 mà Ngô Đình Diệm ban hành : đặt Cộng Sản ra ngoài vòng
pháp luật gặp Cộng Sản là phải tiêu diệt. Trước tình hình trên, Đảng ta đã thay đổi chiến
lược tiến công cũ sang chiến lược mới để phù hợp hơn với con đường Cách mạng dân
tộc dân chủ nhần dân ở miền Nam trong thời kì 1959-1964.
Trước tình thế cấp bách về thời cuộc, sau Nghị quyết Trung ương lần thứ 15
(01/1959) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960), cách mạng miền
Nam đã chuyển hướng chiến lược từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh chính trị kết hợp
với đấu tranh vũ trang, lấy đấu tranh vũ trang là quyết định. Theo đó, các lực lượng cách
mạng chủ động tiến công địch trên nhiều mặt trận, với nhiều quy mô, hình thức. Từ thực
tiễn cách mạng miền Nam, lực lượng vũ trang chính quy của ta đã tập kết ra miền Bắc
sau Hiệp định Genève (7/1954); Trung ương Đảng chủ trương: “Đi đôi với xây dựng
lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị, phải ra sức xây dựng lực lượng vũ trang bao
gồm dân quân, du kích ở thôn, xã, bộ đội địa phương tỉnh, huyện đến bộ đội chủ lực
khu, miền, đồng thời phải đẩy mạnh đấu tranh quân sự của ba thứ quân để giúp sức đắc
lực cho đấu tranh chính trị”; trong đó, chú trọng xây dựng các đơn vị vũ trang tập trung.
Như vậy, có thể thấy nghị quyết xác định con đường phát triển của cách mạng
miền Nam là bạo lực cách mạng thay vì chỉ đấu tranh dân chủ và chính trị như trước
đó, chuyển từ giữ gìn lực lượng sáng thế tiến công. Nghị quyết Hội nghị Trung ương
lần thứ 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã mở đường cho cách mạng miền
Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trong
những năm tháng khó khăn của cách mạng.
Đi cùng với tình hình chiến sự tại miền Nam, ở ngoài Bắc cũng tiến hành cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố và phát huy thắng lợi đã giành được, là
xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà. Miền Bắc tiến lên chủ
nghĩa xã hội một mặt là vì mục đích nâng cao không ngừng đời sống của nhân dân miền
Bắc; mặt khác là tích cực gánh vác phần trách nhiệm đối với phong trào cách mạng của
cả nước. Kinh tế, văn hoá miền Bắc ngày càng phát triển, đời sống nhân dân miền Bắc
ngày càng được cải thiện, lực lượng quốc phòng của miền Bắc ngày càng được vững
mạnh thì sẽ tăng thêm sức mạnh của cách mạng và uy thế chính trị của nhân dân ta, tăng
thêm tin tưởng và tính tích cực cách mạng của đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ.
Như vậy, có thể thấy thấy đường lối của Đảng trong việc chỉ đạo chiến lược tiến
công trong giai đoạn 1959-1964 là đúng đắn, hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể và mang
tính thực tiễn cao. Muốn thống nhất nước nhà cần phải xây dựng củng cố và phát triển
lực lượng để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước
dựa trên cơ sở miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh
phong trào cách mạng ở miền Nam. Quá trình hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân trong cả nước là quá trình tích cực phát huy tính hơn hẳn của chế độ
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời cũng là quá trình tập hợp rộng rãi mọi lực lượng
yêu nước, tiến bộ ở miền Nam để đấu tranh chống Mỹ - Diệm, tiến lên làm thất bại các
chính sách của đế quốc Mỹ, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tạo điều kiện
thuận lợi nhất để hoà bình thống nhất nước nhà.
Đề 5: Phân tích mối quan hệ giữa Chính trị - Quân sự - Ngoại giao của Đảng
trong giai đoạn 1954 – 1975.
Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài Làm
Giai đoạn 1954 – 1975 là một thời kì đất nước ta trải qua rất nhiều gian
khổ. Sau khi đánh đuổi được Đế quốc Pháp sau chiến thắng Điện Biên Phủ lừng
danh và Hiệp định Genève được kí kết, tưởng chừng như nước ta được đi đến kỉ
nguyên của độc lập tự do mới, cả nước chung tay tiến lên chủ nghĩa xã hội, thì
Đế quốc Mỹ cùng các tay sai của họ đã tiến hành kế hoạch xâm lược và biến miền
Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thực hiện các chính sách dã man nhằm
đàn áp các phong trào yêu nước và tận diện Cộng Sản qua Đạo luật 10-59 của
Ngô Đình Diệm. Trước tình hình cấp bách như trên, Đảng ta đã lãnh đạo nhân
dân hai miền đứng lên kháng chiến chống Mỹ và trải qua hơn 20 năm trường kỳ
gian khổ, sau Đại thắng mùa xuân năm 1975, Đất nước ta đã được thống nhất,
cùng nhau bước chung con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi này là sự kết
tinh của toàn dân tộc, mà đứng đầu là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhờ những
đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng nên dẫn đến được thắng lợi như trên. Và
một trong số đường lối đúng đắn ấy là sự kết hợp giữa ba hình thức Chính trị -
Quân sự - Ngoại giao. Trong bài này, ta sẽ nói rõ hơn về mối liên hệ của ba hình thức đấu tranh trên.
Về đấu tranh chính trị: có tác dụng lớn lao và tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ
phát huy tác dụng khi có sự kết hợp, hỗ trợ của đấu tranh quân sự. Đấu tranh
chính trị bằng nhiều hình thức, biện pháp: công khai, hợp pháp, bí mật bất hợp
pháp… có nhiều cấp độ và chỉ được coi là một hình thức đấu tranh cơ bản của
bạo lực cách mạng khi nhằm mục tiêu giành chính quyền. Các phong trào đấu
tranh chính trị ở miền Nam được coi là bạo lực cách mạng vì đều hướng tới mục
tiêu đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai (kể cả các phong trào đấu
tranh công khai, hợp pháp).
Về lực lượng quân sự và đấu tranh trên mặt trận quân sự: có vị trí, vai trò
quyết định trực tiếp đến việc tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, làm thay đổi cục
diện chiến trường và kết thúc chiến tranh; đập tan những âm mưu, hành động
chính trị - quân sự của địch…Ở giai đoạn cuối cuộc chiến tranh, đấu tranh quân
sự có vai trò trực tiếp quyết định thắng lợi. Nhưng nó phải được kết hợp chặt chẽ
với lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị của quần chúng thì mới phát huy hết
sức mạnh tiến công địch. Đấu tranh quân sự phát triển từ thấp đến cao, kết hợp
đánh nhỏ, đánh vừa với những chiến dịch qui mô lớn, phối hợp và tạo thế cho đấu tranh chính trị.
Cùng với đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự là sự kết hợp với đấu tranh
ngoại giao. Mặt trận đấu tranh ngoại giao thực sự là mũi tiến công địch cực kỳ lợi
hại, góp phần nhân thắng lợi của đấu tranh quân sự, chính trị lên và củng cố vững
chắc thắng lợi quân sự, chính trị. Nghị quyết TW13 (01 - 1967) đã quyết định mở
mặt trận đấu tranh ngoại giao đúng lúc để kết hợp với mặt trận quân sự, chính trị,
tạo thế tiến công địch toàn diện. Đảng xác định: “Đi đôi với đấu tranh quân sự và
chính trị ở miền Nam, ta cần tiến công địch về mặt ngoại giao, phối hợp với hai
mặt đấu tranh đó để giành thắng lợi to lớn hơn nữa”
Cuộc đấu tranh ngoại giao với đế quốc Mỹ ở Hội nghị Paris kéo dài gần 5
năm (13/5/1968 - 27/1/1973). Đấu tranh ngoại giao thực sự là một mũi tiến công
bền bỉ, phối hợp nhịp nhàng với những đòn tiến công dồn dập trên mặt trận chính
trị, quân sự ở chiến trường. Chính nhờ sức mạnh tổng hợp đó, chúng ta đã giành
được thắng lợi quyết định, làm cơ sở tiến lên giành thắng lợi cuối cùng vào mùa xuân năm 1975.
Như vậy, có thể thấy được sự liên kết của ba đường lối đấu tranh mà Đảng
dùng để lãnh đạo nhân dân ta chống Mỹ và tay sai trong thời kì 1954 – 1975. Cả
ba đều bổ trợ cho nhau và có một sợi dây liên kết vững chắc với nhau. Nếu thiếu
một trong ba hình thức trên, chiến thắng trước đế quốc Mỹ là điều bất khả thi với
dân tộc ta. Và cũng từ đó mà Đảng và Nhà nước ta đã tích lúy được nhiều kinh
nghiệm quý báu về đường lối đấu tranh và đem ra sử dụng khi đất nước có biến
cố, cụ thể hơn là hai cuộc chiến thời kì hậu chống Mỹ đó là chiến tranh chống
Polpot – Khmer Đỏ 1978 – 1979 và chiến tranh Biên giới Việt – Trung 1979. Qua
đó một lần nữa khẳng định được tính đúng đắn và sáng tạo của Đảng trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Đề 6: Vì sao trong quá trình CNH-HDH thời kì đổi mới, ĐCSVN lại gắn vấn
đề CNH – HĐH với vấn đề môi trường ?
Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài Làm
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa (CNH – HĐH) từ lâu đã luôn là vấn đề
quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm và đặt lên hàng đầu trong quá trình
Xây dựng và Phát triển đất nước, cùng tiến tới quá trình quá độ lên CNXH. Tuy
nhiên, theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ô nhiễm nguồn nước,
không khí đang lan rộng không chỉ ở các KCN, khu đô thị, mà ở cả nhũng vùng
nông thôn; đa dạng sinh học tiếp tục bị suy giảm; biến đổi khí hậu và nước biển
dâng gây ra triều cường và những hậu quả khôn lường. Đây chính là kết quả của
quá trình Công nghiệp hóa nhanh ở nước ta. Trước thực trạng báo động trên,
ĐCSVN cần phải có một hướng đi mới để có thể tiếp tục quá trình CNH – HĐH
mà không ảnh hưởng đến môi trường sinh sống.
Trước tình hình đó, ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị có Nghị quyết 41-
NQ/TW "Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại
hóa đất nước” đã khẳng định bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một nội
dung cơ bản của phát triển bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH. Năm
2005, Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ môi trường. Tại Đại hội Đảng lần thứ
XI, nội dung BVMT được nâng lên một tầm cao mới, gắn chặt với quá trình CNH-
HĐH: ''Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình dự án đầu tư' . Một điểm
mới so với Đại hội X là đưa thêm nội dung ''chú trọng phát triển kinh tế xanh,
thân thiện với môi trường; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch,
tiêu dùng sạch”.
Nhờ việc đẩy mạnh CNH – HĐH, tốc độ sản xuất của cải vật chất đã gia
tăng đáng kể, nhu cầu việc làm của người lao động được đáp ứng đáng kể, các đô
thị mọc lên hàng loạt kích thích môi trường trao đổi hàng hóa,… từ đây nền kinh
tế của đất nước đã được tạo đà phát triển đáng kể. Tuy nhiên, chính vì quá trình
CNH – HĐH đẩy mạnh quá nhanh quá mức nên dẫn tới việc gây ra nhiều ảnh
hưởng không nhỏ đến môi trường như vừa nêu trên. Việc CNH-HĐH các ngành
công nghiệp nặng gây ra những ảnh hưởng không thể bỏ qua với môi trường. Việc
các làng nghề sản xuất tự phát, sử dụng công nghệ lạc hậu nên phần lớn đều gây
ô nhiễm môi trường. CHH-HĐH sẽ kéo theo đô thị hóa, đây thực sự là sức ép lớn
về môi trường trong quản lý đô thị. Song song với quá trình CNH-HĐH, chúng
ta đang phải chịu những áp lực về thay đổi cấu trúc và mô hình phát triển do sự
cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường ngày càng bộc lộ rõ rệt.
Từ những nguyên nhân cơ bản trên, có thể thấy được một mối lo lớn khi
thực hiện CNH – HĐH quá nhanh mà vấn đề môi trường bị bỏ ngỏ. Vậy nên cần
phải giải quyết vấn đề này theo cách thân thiện hơn với môi trường và thậm chí
có thể khôi phục lại một phần môi trường bị ảnh hưởng xấu do quá trình CNH –
HĐH gây nên. Và vấn đề này đã được đề cập đến trong văn kiện của Đại hội
Đảng lần thứ XI. Ở đây vấn đề môi trường đã được Nhà nước đặc biệt quan tâm
đặc biệt và đưa ra hướng giải quyết đó là xây dựng năng lực sẵn có để xây dựng
và phát triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng xanh,
năng lượng tái tạo...; vì đây là động lực chủ yếu để thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng phát triển bền vững. Tuy nhiên, đây lại là
một thách thức lớn và đòi hỏi phải có quyết tâm lớn nhằm tạo ra được sự đột phá
lớn trong quá trình chuyển đổi cơ cấu, mô hình tăng trưởng theo hướng thân thiện
với môi trường, phát triển bền vững.
Thực tiễn phát triển nước ta trong những năm gần đây khẳng định, chúng
ta có đủ năng lực, điều kiện để chuyên đổi thành công sang mô hình phát triển
bền vững. Kinh nghiệm phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, cơ
khí tự động hóa, công nghệ vật liệu cũng như việc chế tạo thành công các sản
phẩm nano, những thành tựu trong công nghệ sinh học, cùng với năng lực sáng
tạo trong toán học, vật lý học, hóa học... cho thấy nếu có đủ quyết tâm và cách
sáng tạo, phù hợp, chúng ta sẽ nhanh chóng bước vào quỹ đạo phát triển hiện đại
mà 21 quốc gia thành viên APEC, trong đó có Việt Nam đã cam kết tại Hội nghị
Thượng đỉnh tại Tokyo tháng 11- 2010, về thực hiện một mô hình tăng trưởng
mới, đảm bảo 5 yêu cầu: Tăng trưởng cân bằng; Tăng trưởng an toàn; Tăng trưởng
bền vững; Tăng trưởng dựa vào trí tuệ; Tăng trưởng với lợi ích được chia sẻ công
bằng cho tất cả mọi người. Đây phải trở thành điểm xuyên suốt quá trình CNH- HĐH nước ta.
Tuy rằng việc thực hiện các đề án, các chiến lược và mô hình về vấn đề
tăng trưởng bền vững được thực hiện khá tốt, nhưng vẫn còn những yếu kém,
khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường và những vấn đề này chủ yếu đến
từ các cấp ngành quá quan tâm về mặt tăng trưởng kinh tế, chưa đảm bảo được
sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế phải đi liền với bảo vệ môi trường. Chính vì
vậy, cần có sự can thiệp của Bộ hoặc Sở Tài nguyên - Môi trường. Đơn vị này sẽ
chịu trách nhiệm thẩm định trước các dự án đầu tư và các dự án này phải gửi báo
cáo đánh giá tác động đến môi trường cho họ phê duyệt. . Đồng thời, tăng cường
việc kiểm soát ô nhiễm tại nguồn; chú trọng quản lý chất thải, nhất là các chất
thải trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ y tế. Và cần có sự chuyển
biến mạnh mẽ trong toàn Đảng và toàn xã hội về nhận thức và hành động, trong
chỉ đạo điều hành và đặc biệt trong tổ chức triển khai các hoạt động bảo vệ môi
trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, gắn với phát triển Kinh tế thị trường.
Như vậy, có thể thấy việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững
là biện pháp hữu hiệu nhất có khả năng phòng ngừa và hạn chế tối đa các tác động
xấu đối với môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH. Đây cũng chính là
câu trả lời cho câu hỏi “Vì sao trong quá trình CNH-HDH thời kì đổi mới,
ĐCSVN lại gắn vấn đề CNH – HĐH với vấn đề môi trường ?”, vì giữa việc phát
triển CNH – HĐH và vấn đề môi trường, có một sợi dây liên kết hai điều đó và
phải giữ cho hai điều ấy cân bằng với nhau. Từ đó mới đi đến sự phát triển bền vững cho Đất nước.
Đề 7: Tại sao phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là bước phát triển
mới về tư duy lí luận của Đảng ? Vì sao DCSVN lựa chọn mô hình kinh tế thị
trường định hướng XHCN là một tất yếu.
Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài làm
Để trả lời cho câu hỏi “Tại sao phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
là bước phát triển mới về tư duy lí luận của Đảng ?”, trước hết cần nhìn lại về tình hình
đất nước ta trước khi Đảng tiến hành công cuộc Đổi Mới. Để từ đây ta sẽ có cái nhìn
trực quan hơn về tình hình đất nước ta lúc bấy giờ,và nhận thấy được sự đột phá về tư
duy lí luận này của Đảng Cộng Sản Việt Nam khi đã tiến hành kế hoạch trên.
Trước hết, nhìn lại lịch sử, sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước ta tiến
vào một kỉ nguyên mới. Đó là kỉ nguyên của hòa bình, thống nhất, độc lập và cả nước
đều cùng nhau đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, với kế hoạch Kinh tế - Xã hội 1976
– 1980 đã đề ra những chỉ tiêu quá lớn về quy mô, quá cao về tốc độ xây dựng cơ bản
và phát triển sản xuất mà không tính đến điều kiện thực tế của đất nước sau thống nhất
nên dẫn đến việc chúng ta không theo kịp được kế hoạch đã nêu. Ngoài ra do thời gian
thực hiện khá lâu đi cùng với đó là tư tưởng quan liêu bao cấp, tư tưởng chủ quan nóng
vội, giáo điều cùng chủ trương cải tạo chưa đúng, quản lí kém và trì trệ càng khiến kinh
tế Việt Nam mất cân đối , kinh tế quốc doanh và tập thể luôn thua lỗ nặng, không phát
huy tác dụng. Kinh tế tư nhân và cá thể bị ngăn cấm triệt để. Sản xuất chậm phát triển,
thu nhập quốc dân, năng suất thấp, đời sống nhân dân khó khăn, xã hội nảy sinh nhiều
hiện tượng tiêu cực. Ngoài ra tình hình quốc tế cũng hết sức phức tạp giữa sự bất đồng
của hai nước XHCN lớn là Liên Xô và Trung Quốc, cùng với đó là những chính sách
cấm vận và phá hoại của Mỹ sau chiến tranh càng khiến cho tình hình trở nên rối ren, bất ốn.
Trước tình hình trên, Đảng và nhà nước ta cần phải thay đổi những chính sách
sai lầm không phù hợp thực tiễn lúc bấy giờ, và quan trọng nhất là cải cách về tư tưởng
bảo thủ, quan liêu bao cấp của thời kì chiến tranh và hậu chiến mà thay vào đó là tư
tưởng tiến bộ, cởi mở và nhanh nhạy hơn trước thời cuộc.
Cụ thể hơn, Đại hội VI năm 1986 đã đề ra đường lối đổi mới, trong đó có đổi
mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm tạo ra động lực thúc đẩy các đơn vị kinh tế và quần
chúng lao động tích cực phát triển sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả
kinh tế. Và quan trọng nhất đó là kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp,
thiết lập và hình thành đồng bộ cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh
doanh XHCN đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Từ đây có thể thấy sự tiến bộ vượt
bậc của Đảng ta khi đã dám phá bỏ đi cái cũ tồn tại từ lâu và đã lỗi thời, đã dám phá vỡ
đi những nguyên tắc giáo điều tưởng như là khuôn khổ mẫu mực của một chế độ XHCN
là đường lối cứng nhắc về vấn đề kinh tế tập trung quan liêu bao cấp kiểu cũ của nhà
nước XHCN, mà thay vào đó là sự đột phá về nền kinh tế mới mang hơi thở của nền
kinh tế thị trường. Và từ đây,có thể thấy quyết định trên của Đại hội VI năm 1986 dấu
mốc quan trọng trong quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về con đường và
phương pháp xây dựng CNXH ở nước ta.
Đối với câu hỏi “Vì sao DCSVN lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng
XHCN là một tất yếu ?”, dựa trên những điều đã nêu về tình hình đất nước ta sau khi
Thống Nhất và trước Đại hội VI năm 1986, có thể thấy rằng nếu muốn Đất nước ta thoát
khỏi tình thế khó khăn cực độ như vậy, cần bắt buộc phải lựa chọn một mô hình kinh tế
mới và phù hợp với yêu cầu của thời đại chứ không thể đi theo lối mòn cũ và giáo điều.
Ngoài ra nếu xét về thực tại bây giờ, thì phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở nước ta là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển khách quan và xu thế
tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường là một phạm trù kinh tế riêng, có tính độc lập
tương đối, phát triển theo những quy luật riêng của nó dù nó tồn tại ở đâu và bất kể thời
điểm nào của lịch sử.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát
triển kinh tế thị trường cũng là cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển
kinh tế hàng hóa. Đó là sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa
những người sản xuất hàng hóa quy định. Có nghĩa là kinh tế thị trường tồn tại cả trong
chủ nghĩa xã hội cũng như trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Kinh tế thị trường XHCN
dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục đích của
nền kinh tế thị trường là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
xóa bỏ chế độ bóc lột, giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta khẳng định: phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng
quát trong suốt thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là sự đúc kết của
nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi và tổng kết của Đảng, và điều này vẫn đúng cho đến ngày nay.
Đề 8: Vì sao tại Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, DCSVN khẳng định “Văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển đất nước” ?
Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài làm
Thực trạng Việt Nam sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa
VIII cho thấy, tuy có nhiều biến chuyển tích cực về nhiều mặt làm đất nước phát
triển về kinh tế - đời sống – xã hội. Tuy nhiên tình trạng suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng.
Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu. Môi trường văn
hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục;
tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng. Còn ít những tác phẩm văn học,
nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, đa phần các tác phẩm chạy
theo thị hiếu tầm thường, chất lượng thấp, thậm chí có hại. Việc bảo tồn, phát huy
giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ mai một chưa được ngăn chặn.
Hệ thống thông tin đại chúng phát triển thiếu quy hoạch khoa học, gây lãng phí
nguồn lực và quản lý không theo kịp sự phát triển. Một số cơ quan truyền thông
còn tận dụng truyền thông bẩn để tạo tương tác nhằm kiếm thêm lợi nhuận. Kinh
tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, về huy động, quản lý các nguồn lực cho
văn hóa chưa cụ thể, rõ ràng. Hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn
hóa còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp.
Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa còn nhiều
hạn chế, bất cập. Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc
sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một
bộ phận nhân dân, nhất là với giới trẻ.
Trước thực trạng trên, cần phải định hướng lại và làm rõ được vai trò của
văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất nước nhằm kéo đất nước thoát
khỏi tình trạng như trên. Trước yêu cầu đó, Đảng ta xác định: Văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Quan
điểm này được thể hiện qua mấy nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Các giá trị văn hóa tạo
thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong mỗi con người
và cả dân tộc. Các giá trị văn hóa được nối tiếp, trao truyền và phát huy qua các
thế hệ người Việt Nam, đó là tất yếu của dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện
tại và hướng đến tương lai, tương lai của những giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Vì vậy,
chúng ta làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các
giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội.
Thứ hai, văn hóa là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước. Đất nước
ta hiện tại đang trong quá trình phát triển quá độ lên chế độ Xã hội Chủ nghĩa.
Mục tiêu chung hiện tại đó là xây dựng một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”. Đây cũng là mục tiêu của văn hóa, nếu hiểu theo
nghĩa rộng nhất của văn hóa. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020
xác định: Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con
người. Đồng thời nêu rõ yêu cầu “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và
công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”, ngày nay không thể
phát triển bằng mọi giá, nhất là chạy theo lợi nhuận tối đa, vì lợi ích hôm nay mà
làm tổn hại đến tương lai.
Từ khi Đổi Mới đến nay, Đảng ta nhất quán tạo lập nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, đó phải là nền kinh tế giải quyết hài hòa các mối
quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội, giữa kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội,
đảm bảo bền vững về môi trường sinh thoái, tạo cơ sở nền tảng vật chất cho chủ
nghĩa xã hội. Để đạt được điều đó phải cần đến văn hóa, sự tham gia của văn hóa
vào trong tổ chức và hoạt động của nền kinh tế vì mục tiêu phát triển xã hội, phát
triển con người, đó chính là vai trò của văn hóa trong kinh tế, kinh tế trong văn
hóa. Văn hóa với tư cách là đời sống tinh thần xã hội, một mục tiêu đặc biệt quan
trọng, vì nó là nhu cầu phong phú, vô cùng, vô tận, tinh tế của con người, nhu cầu
tinh thần còn là nhu cầu nhân văn và là cứu cánh của con người, văn hóa ấy vừa
đáp ứng nhu cầu của con người, xã hội tiến bộ, vừa thúc đẩy con người đạt được
niềm tin, sự khát vọng hạnh phúc.
Cuối cùng, văn hóa là động lực của sự phát triển bền vững cho đất nước.
Thực tế cho thấy, không ít những quốc gia, dân tộc không giàu về tài nguyên thiên
nhiên, thậm chí còn nghèo nàn và hạn hẹp nhưng lại giàu về kinh tế, kinh tế phát
triển, xã hội tiến bộ như Hàn Quốc, Nhật Bản, … chính là nhờ coi trọng yếu tố
văn hóa, con người, thông qua việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài mở đường cho sự phát triển. Như vậy, nguồn lực nội sinh của sự phát
triển của một đất nước thấm sâu trong văn hóa, con người. Sự phát triển của một
dân tộc phải vươn tới cái mới, cái tốt, cái tiến bộ nhưng không thể tách rời, bỏ
qua cội nguồn, phát triển phải vựa trên cội nguồn, cội nguồn đó của mỗi dân tộc
là văn hóa. kinh nghiệm qua hơn 30 năm sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã chứng
minh rằng, ngay bản thân sự phát triển kinh tế cũng không chỉ do các nhân tố
thuần túy kinh tế tạo ra, mà động lực của sự đổi mới kinh tế đó một phần quan
trọng nằm trong văn hóa.
Như vậy, ta có thể thấy được tầm quan trong của văn hóa và sự ảnh hưởng
của văn hóa đến với khả năng phát triển và giàu mạnh của đất nước. Ngày nay,
nguồn lực con người, là tiềm năng sáng tạo của con người. Tiềm năng sáng tạo
này nằm trong văn hóa, trí tuệ, tâm hồn, đạo đức, nhân cách của mỗi cá nhân và
cộng đồng. Chỉ có nguồn lực này là vô hạn, có khả năng tái sinh và tự sinh, không
bao giờ cạn kiệt, các nguồn lực khác sẽ không được sử dụng có hiệu quả nếu
không có những con người đủ trí tuệ và năng lực khai khác chúng, thì các nguồn
lực đó dù có phong phú, đa dạng, thì cũng không thể tham gia và phát huy tác
dụng vào trong phát triển mà ngược lại còn bị hao hụt, thậm chí lâu dài có thể biến mất đi.
Đề 9 : Quan điểm của Đảng về vị trí vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững đất nước.
Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài Làm
Ngay từ ngày xây dựng chính quyền, Đảng ta rất quan tâm đến vấn đề xây
dựng, phát triển văn hóa, con người, xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng
tâm trong quá trình xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Và quan trọng
nhất là sự quan trọng của văn hóa trong phát triển bền vững đất nước đã được
Đảng ta chú trọng đặc biệt.
Đảng ta đưa ra các quan điểm về vị trí vai trò của văn hóa trong phát triển
bền vững đất nước như sau:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát
triển bền vững đất nước; văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị,
xã hội. Quan điểm này được khẳng định trong Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI
nhằm khắc phục tình trạng coi nhẹ yếu tố văn hóa so với kinh tế, chính trị, hạn
chế được hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tình trạng
quan liêu, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay.
Hai là, văn hóa là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước. Mục tiêu
tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là xây dựng một xã
hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đây cũng chính là
mục tiêu của văn hóa, nếu hiểu theo nghĩa rộng nhất của văn hóa. Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 xác định: Mục tiêu và động lực chính của sự
phát triển là vì con người, do con người. Đồng thời nêu rõ yêu cầu “tăng trưởng
kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ
môi trường”, ngày nay không thể phát triển bằng mọi giá, nhất là chạy theo lợi
nhuận tối đa, vì lợi ích hôm nay mà làm tổn hại đến tương lai.
Ba là, văn hóa là động lực của sự phát triển bền vững đất nước. Thực tế
cho thấy, không ít những quốc gia, dân tộc không giàu về tài nguyên thiên nhiên,
thậm chí còn nghèo nàn và hạn hẹp nhưng lại giàu về kinh tế, kinh tế phát triển,
xã hội tiến bộ chính là nhờ coi trọng yếu tố văn hóa, con người, thông qua việc
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mở đường cho sự phát triển.
Như vậy, nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một đất nước thấm sâu
trong văn hóa, con người. Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới,
cái tốt, cái tiến bộ nhưng không thể tách rời, bỏ qua cội nguồn, phát triển phải
vựa trên cội nguồn, cội nguồn đó của mỗi dân tộc là văn hóa. kinh nghiệm qua
hơn 30 năm sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã chứng minh rằng, ngay bản thân sự
phát triển kinh tế cũng không chỉ do các nhân tố thuần túy kinh tế tạo ra, mà động
lực của sự đổi mới kinh tế đó một phần quan trọng nằm trong văn hóa.
Nhìn một cách tổng quát, các quan điểm trên đã thể hiện được tầm quan
trong của văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Ngoài ra nó còn
phản ánh tư tưởng chỉ đạo vừa cơ bản, lâu dài, vừa cụ thể, cấp bách của Đảng ta
nhằm định hướng cho quá trình xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt
Nam. Các quan điểm này đã phản ánh một bước phát triển mới về tư duy lý luận
văn hóa của Đảng. Nhận thức toàn diện và sâu sắc hơn những vấn đề lý luận thể
hiện tập trung ở các quan điểm này sẽ giúp cho hoạt động thực tiễn của chúng ta
đạt hiệu quả tốt hơn.
Đề 10 : Vì sao trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta phải lựa chọn phương châm
đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa ?
Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài làm
Trước khi tiến hành Đổi Mới vào năm 1986, Việt Nam có thể nói là một
đất nước bảo thủ, bị cô lập về nhiều mặt và vì ít liên kết với thế giới nên nước ta
không thể bắt kịp được xu thế phát triển của thế giới, từ đó dẫn đến tình trạng tụt
hậu nghiêm trọng và đã bộc lộ nhiều yếu điểm. Việt Nam lúc này đang ở trong
thế bị bao vây, bị cô lập lại bị các thế lực thù địch chống phá, cộng với các chính
sách phát triển sai lầm, không phù hợp với hoàn cảnh khiến nước ta lâm vào cuộc
khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng. Ngoài ra, những biến động của tình
hình thế giới tác động sâu sắc đến nhận thức và tư duy của Đảng, là cơ sở cho sự
đổi mới các chính sách. Đặc biệt sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa đứng
đầu là Liên Xô là hồi chuông cảnh tỉnh về việc phải thay đổi, phải tiến bộ lên về
mọi mặt để không đi theo vết xe đổ ấy của anh cả Liên Xô. Một trong số thay đổi
đó là việc Đảng ta đã lựa chọn phương châm đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa.
Đa phương hóa, đa dạng hóa là hình thức ngoại giao giữa nhiều quốc gia,
nhằm mục đích giải quyết những vấn đề chung như chiến tranh, hoà bình, hợp tác
và đấu tranh để cùng tồn tại và phát triển. Các quốc gia có thể thiết lập quan hệ
đa phương thông qua việc ký kết, thừa nhận các điều ước, công ước, hiệp định
quốc tế. Và xuất phát từ tình hình cụ thể trong, ngoài nước và nhu cầu phát triển
của nước ta, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra vào tháng
12/1986, Đảng ta bắt đầu đã có những đổi mới sâu sắc và mang tính chiến lược
về đường lối và chính sách đối ngoại, đặc biệt coi trọng đa phương hóa, đa dạng
hóa các quan hệ ngoại giao.
Với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập là xu thế chung hiện nay, việc hợp tác
đa phương trên nhiều lĩnh vực là tất yếu. Hợp tác đa phương trong các lĩnh vực
văn hóa, an sinh xã hội, lao động, thông tin - truyền thông, môi trường, du
lịch...được mở rộng, từ đó thúc đẩy tiến bộ xã hội, phát triển thị trường lao động
và hệ thống an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo… Hội nhập khu vực và quốc tế
về khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế đóng vai trò quan trọng đối với
việc phát triển nền khoa học, giáo dục tiên tiến, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, thông tin và y tế quốc gia đáp ứng nhu cầu của người dân, tiến tới thu hẹp
khoảng cách phát triển với khu vực và thế giới trong các lĩnh vực này.
Việc VN tham gia mạng lưới liên kết kinh tế đa phương đã góp từng bước
mở cửa, gắn nền kinh tế và thị trường trong nước với khu vực và thế giới, tiếp thu
những nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế, thu hút nguồn lực cho phát triển, tạo
thêm động lực xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Từ đây đất nước ta đã có động lực lớn mạnh đế phát triển vượt bậc
và không còn bị tụt hậu với thời đại.
Đề 11: Tại Đại hội X (2006), DCSVN đề ra chủ trương “chủ động, tích cực,
hội nhập quốc tế”. Anh/chị hiểu hội nhập quốc tế là như thế nào? Theo
anh/chị là sinh viên, cần phải làm gì để chủ động hội nhập Quốc tế ?
Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh