i liệu từ lớp học ôn tập cácn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh
ĐỀ CƯƠNG THAM KHO MÔN LCH SỬ ĐẢNG CNG SN VIT NAM
Đề 1 : sao nói DCSVN ra đi mt tt yếu ? Phân tích s sáng to ca
ĐCSVN trong cương lĩnh đu tiên ?
Tài liu từ lớp hc ôn tp các môn đi cương ca ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh
Bài Làm
Từ năm 1858 đến năm 1945, khi thc dân Pháp nsúng và xâm lưc Vit
Nam, đt c ta đã phi chu cnh xâm lưc ca bn thc dân tàn ác. Sau khi đã
chiếm đóng thành công và bt triu đình Huế kí các hip ưc nhm công nhn s
thng trcủa Pháp Đông Dương, Pháp đã bt đu thc hin kế hoch cai tr
vét bóc lt thuc đa Đông Dương vcho mình. Tđây to nên nhng áp
bức ln cho dân tc ta, nếu sáp bc thì sđu tranh. Các phong trào
đấu tranh liên tc đưc nra da trên ý chí kiên ng và truyn thng cu nưc
chy trong huyết qun dân tc. Thế nhưng trưc khi Đng Cng Sn Vit Nam
ra đi, chưa phong trào đu tranh nào thành công c, thay vào đó là bđàn áp
một cách dã man, chu tht bi thm hi. Các phong trào này tht bi đu chung
hai nguyên nhân chính : không sliên kết vi nhau các phong trào cũng
như slãnh đo chdừng li mức nh lẻ tại đa phương, ngoài ra các phong trào
còn không giải quyết đưc hai nhim vchính : đánh đui thc dân và giành đc
lập dân tc. Tđiu này dn đến mt bài toán, đó cn phi mt lc ng
lãnh đo đmạnh, đtầm nh ng đến toàn dân đthđưa cách mng đi
đến thng li.
Thi này, giai cp công nhân giai cp tiên tiến nht trong sc sn xut,
họ có tính klut cao từ yêu cu vmôi trưng lao đng, sớm tiếp thu nhng tinh
hoa văn hóa tiên tiến, trào lưu ng ca thi đi cách mng sn đbồi
ng bn cht cách mng ca mình. Ngoài ra giai cp công nhân Vit Nam
thưng đi lên với gc gác là nông dân, tđó hmột mi quan hmật thiết vi
giai cp nông dân dn đến vic hcũng mi quan h gn mt thiết vi
qun chúng nhân dân. Nhnhng thế mạnh đó khiến cho các phong trào công
nhân din ra sôi ni mãnh lit. Tnăm 1920 đến năm 1925 đã nra 25 cuc
bãi công. Nổi bt nht là cuc bãi ng ca công nhân ti ng đóng tàu Ba Son
( Sài Gòn) tháng 8/1925 nhằm làm chm vic sa cha chiếc tàu Misơlê
(Michelet) mà thc dân Pháp dùng ch lính sang đàn áp phong trào cách
mạng Trung Quc. Sau đó còn các phong trào công nhân khác đưc nra liên
tục nhưng bđàn áp nhanh chóng do lc ng mng, thiếu kinh nghim. Tuy
nhiên tđây, giai cp công nhân đã trưng thành nhanh chóng vnhn thc, cũng
như vcon đưng đu tranh và cả lực lưng.
Ngoài ra khuynh hưng đu tranh theo con đưng vô sn đã đưc du nhp
vào c ta, tđó dn đến s ra đi ca ba tchc cng sn Vit. Gm
Đông Dương Cng Sn Đng; An Nam Cộng Sn Đng; Đông Dương Cng Sn
Liên Đoàn. Sự ra đi này ca cba tchc cng sn đã đánh du mt bưc mi
trong vic ng cách mng theo ng sn đã đưc đi sâu vào trong
ng đu tranh ca nhân dân ta. Các t chc này đã lãnh đo nhân dân đu tranh
tại các đa phương và cùng góp công trong cuc cách mng dân tc dân chnhân
dân trên cc. Tuy nhiên chính mt lúc cba tchc cng sn do
cách hot đng riêng l, hđều sn sàng tranh giành tm nh ng, công kích
lẫn nhau, tđó gây nên bt hòa, đlâu sẽ dẫn đến schia rẽ lớn. Từ đây dn đến
yêu cu phi hp nht ba tchc này li thành mt tchc cng sn.
Phi đến khi Nguyn Ái Quc tiếp cn đến vi hc thuyết Mác Lenin
phong trào sn trên thế gii, Ngưi đã nhn ra rng chmt tchc, mt
giai cp duy nht th đủ sc đkết ni nh đo nhân dân đng lên cùng
đưa cách mng đến thng li. Đó Đng Cng Sn đưc lãnh đo bi giai
cấp công nhân. Vào ngày 3/2/1930, Đng Cng Sn Vit Nam đã kết hp ba tổ
chc cng sn nói trên đưc thành lp đã đánh du c tiến mi trong cách
mạng c nhà. Đng ra đi đã chm dt tình trng khng hong vgiai cp lãnh
đạo và đưng li cu nưc dân tc ta, chng minh rng giai cp công nhân đã
đủ trưng thành đủ sức lãnh đo phong trào cách mng. Bng nhng đưng
lối đu tranh đúng đn lãnh đo tài tình, Đng ta đã đưa nhân dân đi đến liên
tiếp nhiu thng li, tđó đi thng đến Cách mng Tháng Tám 1945 thành
công rc r, đem li sđộc lp tdo qua bn tuyên ngôn Đc lp đưc ch
tịch HChí Minh đc vào ngày 2-9-1945 ti qung trưng Ba Đình. Tđây dân
tộc Vit Nam đã đưc bưc sang trang mi, tiến ti knguyên ca đc lp tdo,
công ln thuc vĐảng Cng Sn. Tđây ththy đưc vic ra đời ca
Đảng Cng Sn Vit Nam là mang tính tt yếu ca thi đi.
Ngay tkhi Đng CSVN mi thành lp, trong Cương lĩnh chính trđầu
tiên ca Đng đã chra phương hưng cơ bn ca cách mng VN, đt nn móng
cho vic xác đnh lý lun, đưng li, phương pháp cách mng và nhng nguyên
tắc chủ yếu đxây dng chính đng kiu mi ca giai cp công nhân VN.
Tuy hết sc ngn gn, vn tt nhưng CLCT đu tiên ca Đng đã kết hp
nhun nhuyn quan đim dân tc và giai cp, thm đưm tính dân tc và thi đi
với nhng lun đim sau ni bt.
Một là, cách mng VN phi là cách mng tư sn dân quyn và thổ địa cách
mạng đtiến lên xã hi cng sn. (Thc cht đó là mt cuc cách mng có 2 giai
đon : giai đon thnht đó là cuc cách mng gii phóng dân tc, giai đon th
hai sau khi giành đưc thng li s chuyn sang làm cách mng hi ch
nghĩa đtiến ti xã hi cng sản.).
Hai là, trong cách mng sn dân quyn hai nhim v chiến c
chống đế quc và chng phong kiến. (Hai nhim vnày có mi quan hcht ch
với nhau, phi đưc tiến hành khng khít không tách ri nhau nhưng trong đó
nhim vchng đế quc và tay sai (phn đế) phi đt lên hàng đầu.).
Ba là, xác đnh lc ng cách mng, bao gm : giai cp công - nông
gốc, nhng ngưi yêu c trong các giai cp khác đng minh ca cách mng.(
Đảng phi vn đng, thu phc giai cp mình đlãnh đo dân chúng, da hn vào
dân cày nghèo, liên lc vi trung nông. Lc lưng cách mng bao gm : thnht
giai cp công - nông gc, là đng lc ca cách mng, thhai nhng ngưi
yêu nưc trong các giai cp khác là đng minh ca cách mng.).
Bốn là, lãnh đo cách mng là giai cp công nhân thông qua đi tiên phong
của giai cp là Đng Cng sn Vit Nam.
Năm là, vphương pháp cách mng, Đng ch trương phi giành chính
quyn bng bo lc cách mng.
Sáu là, cách mng Vit Nam đoàn kết vi giai cp sn các dân tc
thuc đa trên thế gii đchng chnghĩa đế quc. Cách mng Vit Nam là mt
bộ phn ca cách mng thế gii.
Từ nhng ni dung bn trên, Đng đã thhin trình đduy u sc
sáng to: va vn dng đúng đn chnghĩa Mác-Lênin vào cách mng Vit
Nam, va đáp ng chính xác nhng yêu cu khách quan ca xã hi Vit Nam lúc
bấy giờ.
Ngoài ra có ththy ssáng to trong Cương lĩnh Chính trNguyn Ái
Quc đã son thảo. Sáng to trong vn đdân tc, xác đnh thái đvới các giai
cấp, liên minh giai cp đoàn kết toàn dân tộc. Nguyn Ái Quc đã vn dng
sáng to chnghĩa Mác -Lênin vào hoàn cnh Vit Nam, xác đnh rõ chtrương
"Làm sn dân quyn cách mng thđịa cách mng đđi ti hi cng
sản". Cuc cách mng này đánh đ thc dân Pháp bn phong kiến, làm cho
c ta đưc hoàn toàn đc lp, nhân dân đưc các quyn dân ch, t do, hnh
phúc. Đó chính ng đc lp dân tc gn lin vi chnghĩa hi, xuyên
sut các chtrương đưng li cách mng Vit Nam tkhi Đng ta ra đi đến
nay. Trong tư ng ln đó, sáng to ca Nguyn Ái Quc là ch: xác đnh đc
lập dân tc là mc tiêu ct lõi, trc tiếp trưc mt, tin đ, điu kin đtiến lên
chnghĩa hội. Sáng to ca Nguyn Ái Quc chquan nim lc ng
cách mng c ta toàn thnhân dân. Từ đây, ththy Nguyn Ái Quc
đánh giá đúng tm quan trng ca nhân tdân tc trong cách mng gii phóng
dân tc các c thuc đa, phthuc, nêu ra chtrương đoàn kết tt ccác
tầng lp nhân dân thđoàn kết đưc, thtạo nên sc mnh đánh đ đế quc
và phong kiến.
Đề 2: Phân tích yếu tthi trong đưng li giành chính quyn ca ĐCSĐD
(1939 - 1945) liên hệ với vic nm bt thi cơ hin nay ca Vit Nam.
Tài liu từ lớp hc ôn tp các môn đi cương ca ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh
Bài Làm
i slãnh đo ca Đng Cộng sn Vit Nam và Chủ tịch HChí Minh,
dân tc Vit Nam đã thc hin thành công Cách mng Tháng Tám, đánh đthc
dân, phong kiến; thành lp nên Nhà c Vit Nam n ch Cng hòa. Một trong
nhng yếu tgóp phn làm nên thng li to ln là bài hc v chp thi cơ vn
dụng đúng thi cơ cách mng.
Thnht là từ sự kin ngày 12/8/1946, sau khi nhn đưc tin phát xít Nht
Bản bthua to trên hu khp các chiến trưng châu Á - Thái Bình Dương trong
thế chiến II, nên phi gi công hàm cho c nưc Đng minh đnghngng bn.
Bằng nhãn quan chính trnhy bén, tm nhìn chiến c, nm bt thi cuc kp
thi, Hồ Chí Minh Ban Thưng vTrung ương Đng đã nhóm hp ngay ti
Tân Trào đquyết đnh Tng khi nghĩa trang trong cc. Ngay sau cuc
họp, “Mệnh lnh khi nghĩa” đã đưc phát ra.
Chiu ti ngày hôm sau, 13/8/1945, Ban Thưng vTrung ương Đng
nhn đưc thêm mt tin rt quan trng, đó phát xít Nht đã bi trn chun
bị đầu hàng quân Đng minh. Ngay lp tc, Trung ương Đng Tng bVit
Minh đã thành lp y ban Khi nghĩa toàn quc; đng thi son tho “Quân lnh
số 1” và đưc phát đi ngay, hạ lệnh Tng khi nghĩa trên toàn quốc.
Ngày 14/8/1945, sau khi nghe tin Mném bom nguyên txung thành ph
Hirôsima ca Nht Bn, Hi nghtoàn quốc ca Đng ti Tân Trào nhn đnh:
“Cơ hi rt tt cho ta giành quyn đc lp đã ti”. Trên sđó, đng chí H
Chí Minh đã chth: “Chúng ta cn tranh thtừng giây, tng phút. Tình hình s
chuyn biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hi”.
Tại sao li phi tiến hành Tng khi nghĩa ngay lúc đó đng chí H
Chí Minh Trung ương Đng đã nhn đnh nm bt đưc tình hình s
chuyn biến nhanh chóng: phát xít Nht đã chết theo phát xít Đc; quân đi Nht
đã đang tan rã, bc vũ khí trên khắp các chiến trưng; quân Đng minh sp
kéo vào Đông Dương. vy nếu không khi nghĩa giành chính quyn t tay
quân Nht, đđến khi quân Đng minh kéo vào nhn bàn giao chính quyn
từ tay quân Nht, thì nhân dân ta không thtiến hành khi nghĩa đưc na, vì lúc
này Vit Minh đang cùng phe vi quân Đng minh.
Thhai, skin Chính phcách mng lâm thi yêu cu vua Bo Đi thoái
vị và tiếp nhn sthoái vị của nhà vua (ngày 30/8/1945 ti Huế) cũng là vic lc
ng cách mng đã chp thi cơ, tranh thủ thi vn dng đúng thi cơ.
Vic vua Bo Đi thoái vđánh du sự sụp đổ của chính quyn phong kiến; đng
thi trit tiêu mt đu mi quan trng các thế lực đế quc, phn đng mun
duy trì, s dụng đmưu toan chng phá chính quyn cách mng, đt li ách thng
trtrên đt nưc ta.
Thba, skin ngày 2/9/1945 tại n hoa Ba Đình, Chtịch H Chí
Minh đc bn “Tuyên ngôn Đc lp” tuyên bvới toàn thnhân dân Vit Nam
vi thế gii: c Vit Nam Dân chCộng hòa, đc lp tdo đã ra đời;
Chính phlâm thi ca c Vit Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã chính thc ra
mắt trưc quc dân đng bào. Nếu chm trkhông tuyên bđộc lp, chquyn
trưc khi quân Đng minh tiến vào thì p đưc chính quyn cũng phi
bàn giao li cho quân Đng minh tiếp quản. vy, vic Chủ tịch HChí Minh
tiếp tc chp thi cơ, khn trương chỉ đạo sm tiến hành tchc Lễ Độc lp lin
sau khi cuc Tng khi nghĩa Cách mng Tháng Tám thành công trên cc
chính là nhm ngay lp tc khng đnh chquyn của nhân dân Vit Nam trưc
các thế lực đế quc, phn đng đi lt dưi danh nghĩa quân Đng minh.
thkhng đnh, thành công ln nht của nghthut khi nghĩa trong
Cách mng Tháng Tám: Ðng ta đã chn đúng thi cơ "nra đúng lúc". Ðó là lúc
16 nghìn quân Anh chưa vào min nam và 200 nghìn quân Tưng chưa vào min
bắc đgii giáp quân Nht; cũng lúc quân Nht bi trn mt tinh thn, ngi ch
Ðồng minh đến c khí; ngy quyn tay sai btrn hoc đu hàng chính
quyn cách mng. Chn đúng thi cơ là mt khoa hc, là mt ngh thut, nhthế
sức mnh ca toàn dân ta đưc nhân lên gp bi, tiến ti khi nghĩa giành chính
quyn trong cc mt cách nhanh, gn, không đmáu và thành công trit để.
Từ bài hc trên vcách nm bt thi trong Cách mng Tháng Tám,
Đảng ta cũng đã áp dng nhng bài hc vcách nm bt thi cơ thi đim hin
nay. Thi gian qua, toàn cu hóa xu ng hi nhp quc tế mt din biến
khách quan mang tính tt yếu. Đng ta đã biến nó thành hi khi chun bmột
tâm thế sẵn sàng hi nhp, bt đu tkinh tế, ri dn văn hóa, ththao… cho
đến chính tr. Vit Nam đã gia nhp ASEAN, tr thành thành viên T chc
Thương mi Thế gii (WTO), ng cy viên không thưng trc Hi đng Bo
an Liên hip quc… Vthế, vai trò và uy tín ca nưc ta trên trưng quc tế ngày
càng đưc nâng cao.
Thi gian va qua dịch Covid-19 đã gây nhiu thit hi cho nn kinh tế thế
gii nhưng ng thtạo ra mt shội. Cùng vi stác đng ca chiến tranh
thương mi M- Trung, nhiều nhà đu c ngoài đã schuyn dch đa
bàn đu tư và quy mô đu tư, hđã và đang chn đim đến là Vit Nam. Nưc ta
có thể nắm bt cơ hi này đthúc đy phát trin đt nưc trên tinh thn chun b
các điu kin cn thiết và hp dn đ“lót đón đại bàng” như Thng Nguyn
Xuân Phúc đã chỉ đạo.
ththy, thông qua bài hc lch scủa Cách mng Tháng Tám, Đảng
ta đã luôn sáng to nhiu la chn đúng đn trong vic nm bt thi cơ
chiến c ttrong và ngoài c, tđó càng ngày càng giúp cho Vit Nam tr
nên vng mnh hơn, hùng ng hơn càng ngày càng trên đà đ“Hóa rng”,
phát trin mnh mvà thnh vưng.
Đề 3: Mi quan hgia đưng li kháng chiến xây dng chế đmới ca
Đảng trong thi kì 1954 1945.
Tài liu từ lớp học ôn tp các môn đi cương ca ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh
Bài làm
Sau Cách mng tháng Tám năm 1945, Đt nưc ta mc dù có đưc sự độc
lập và tdo, nhưng li lâm vào tình thế ngt ngheo “ngàn cân treo si tóc”. Nạn
đói khng khiếp do quân Nht đlại thì chưa chm dt li xy ra lt ln Bắc
Bộ, sau đó li đến hn hán. Sn xut đình đn, hàng hóa khan hiếm, giá ccao
vọt. Về mặt tài chính, Nhà nưc gp khó khăn ln: Kho bc trng rng, thuế chưa
thu đưc. Nưc Vit Nam n chCng hoà ra đi chưa đưc c nào trên thế
gii công nhn. Ngoài ra còn quân Anh, quân ng đc bit thc dân
Pháp đã quay trở lại xâm lưc nưc ta và mun biến c ta tr lại là mt thuc
địa đvơ vét bóc lột. Thêm na các thế lực phn đng Vit Quc, Vit Cách
càng tích cc chng phá Nhà c non trcủa chúng ta. Trưc tình hình đó,
kháng chiến là điu chc chn không thtránh khi để bảo vcho nn hòa bình
đc lp cũng như toàn vn lãnh thcủa đt nưc ta. Song song vi kháng chiến
ng cuc xây dng chế độ mi cũng đưc trin khai đthlàm mt lúc hai
nhim v: qun đt c xây dng căn cđa cách mng nhm to s
cho cuc kháng chiến đbảo vđộc lp dân tc. Từ tình hình trên, ththy
đưng li kháng chiến xây dng chế độ mới thi này mi liên hsong
song và cht chẽ với nhau.
Đưng li kháng chiến và xây dng chế độ mới ca nưc ta thi kì này có
bốn đc đim chung : Toàn dân, Toàn din, Lâu dài và Tự lực.
Trưc hết đưng li Toàn dân. Vi mc đích kháng chiến đkế tục
thành qucủa Cách mng Tháng Tám đánh đui thc dân Pháp xâm c,
giành thng nht đc lp cho TQuc. Vy nên đây là cuc chiến tranh cách
mạng toàn dân, ca schính nghĩa . Nó có tính toàn dân, toàn din và lâu dài.
cuc đu tranh tiến btdo, đc lp hòa bình. Cuc chiến này ly dân
làm gc, làm ct lõi cho toàn bquá trình đu tranh kháng chiến. Xut phát t
nim tin vào nhân dân vcuc chiến, Chtịch HChí Minh đã tuyên btrong
“Li kêu gi Toàn quc kháng chiến” (1946) : “Chúng ta phi đng lên!
Bất kđàn ông, đàn bà, bt kngưi già, ngưi tr, không chia tôn giáo, đng
phái, dân tc. Hlà ngưi Vit Nam thì phi đng lên đánh thc dân Pháp để cứu
Tổ quc…”. Tđây ththy xuyên sut thi này mi ngưi dân mt
chiến sĩ, mi làng xóm mt pháo đài chng quân xâm c. Đó mt ngun
sức mnh cc ln, không thbphá v. Điu này cũng đúng vi quá trình xây
dựng chế độ mi, toàn th nhân dân đu là ngun lc chung đthay đi đt nưc,
tất cnhân dân đu đng lòng đng sc đt qua mi tình thế him nghèo, ví
dụ như qua các chương trình “hũ go cu đói”;” mt nm khi đói bng mt gói
khi no”,… Nhân dân ta đã đng lòng t qua đưc tình thế đói ăn ngt nghèo
thi 1945. Tđây có th thy khi nhân dân đng lòng, không có thkhông
làm đưc tình hung him nghèo đến đâu. Bất ngưi dân nào không phân
bit tôn giáo, vùng min, dân tc,.. đu có thgóp sc to thành sc mnh chung
cho đt nưc, thay đi bộ mt nưc nhà.
Thhai đưng li Toàn din. Đưng li kháng chiến toàn din ta đánh
địch trên các mt trn : chính tr, kinh tế, quân s, văn hóa, ngoi giao. Vchính
tr: Ta thc hin đoàn kết toàn dân; tăng ng xây dng bmáy chính quyn n
định; đoàn kết vi Miên, Lào và các dân tc yêu tdo hòa bình. Vquân s: thc
hin trang toàn dân, toàn dân cùng nhau tiêu dit đch thù. Vvăn hóa : tiêu
dit gic dt; xóa mù ch; phá btàn dư phong kiến, văn hóa thc dân; xây dng
nền văn hóa dân chtiến b. Vkinh tế: xây dng nền kinh tế tự túc tcấp; tp
trung phát trin nông nghip, thcông nghip và thương nghip, đc bit là công
nghip quc phòng. Vngoi giao : thêm bn bt thù, tp trung liên kết vi các
c thuc khi XHCN nhng nơi yêu tdo, hòa bình. Điu này cũng đúng
và đi song song vi quá trình xây dng chế độ mới. Nhphát trin năm điu trên
vn hành song song gia kháng chiến xây dng chế độ, đt c ta đã
trnên liên kết hơn gia các khi và phát trin hơn, vng mnh hơn, tđó phc
vụ tốt hơn cho công cuc kháng chiến cu quc.
Thba là đưng li Lâu dài. Vic thc hin đưng li kháng chiến lâu dài
là bưc đu tiên để chng li chiến lưc tiến công ca gic là “Đánh nhanh thng
nhanh”. Đây c tin đđể chuyn hóa tương quan lc ng nhm đánh
thng đch, để củng ccho hu phương và quá trình xây dng chế độ mới trnên
vững chc. Cũng vi đưng li này cho ta thy rng công cuc xây dng mt chế
độ mới không tháp dng mt kế hoch, chiến c vi vã, chquan; phi
tiến hành với tâm thế kỹ ng, cn thn và đúng đn. Chm nhưng chc!
Thcui cùng, là đưng li Tlực, nghĩa là: Phi tcấp, ttúc
về mọi mt". Nhân dân ta phi đng sc đng lòng thi đua sn xut, huy đng hết
sức ngưi, sc ca đxây dng svững chc cho nn công nghip, nông
nghip. Ch lao đng mi to ra ca ci vt chất. ta bbao vây bn phía,
chưa đưc c nào giúp đnên phi tlực cánh sinh, kháng chiến da vào ý
chí sc mnh c nhà. Khi nào điu kin ta stranh th sự giúp đcủa
các c, song lúc đó cũng không đưc lại vào c bn, chbn thân ta
mới tgiúp, tự cứu ta là chính.
Như vy, qua bn đưng li chđo trên, ththy sliên quan mt thiết
gia quá trình chỉ đạo kháng chiến và xây dng chế độ mới ca Đng đi vi đt
c ta giai đon 1945 1954. Đó chúng luôn song hành và btrcho nhau.
Qua đó có ththy đưc tính đúng đn sáng to ca Đng trongduy lãnh đo
nhân dân cũng như qun lý đt c. T đây làm tin đcho quá trình xây dng
bảo vệ Tổ Quc sau này.
Đề 4: Tư tưng chiến lưc tn công ca Đng trong giai đon 1959-1964.
Tài liu từ lớp hc ôn tp các môn đi cương ca ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh
Bài Làm
Sau khi đánh đui thc dân Pháp ra khi nưc ta qua chiến dch Đin Biên Ph
lưng ly ép Pháp phi vào Hip ưc Genève đchúng rút khi nươc ta, nhng
ng đt c ta đã đưc thng nhât hòa bình, thì Đế quc Mbắt đu gi trò và
nhúng tay can thip nhm không đc ta thng nht thành mt khi, biến min
Nam Vit Nam thành mt thuc đa kiu mi. Từ đây đt c ta li phi bt đu chun
bị tiến hành cho cuc kháng chiến chng Mcứu nưc 1954- 1975 đy gian kh. Và
nht vi thi đu trưc năm 1959, bng nhiu hình thc thđon, Mchính
quyền tay sai đã tiến hành nhiu cuc càn quét đàn áp các phong trào ca nhân dân,
đỉnh đim là Đo lut 10-59 mà Ngô Đình Dim ban hành : đt Cng Sn ra ngoài vòng
pháp lut gp Cng Sn phi tiêu dit. Trưc tình hình trên, Đng ta đã thay đi chiến
c tiến công sang chiến c mi đphù hp hơn vi con đưng Cách mng dân
tộc dân chnhn dân min Nam trong thi kì 1959-1964.
Trưc tình thế cấp bách vthi cuc, sau Nghquyết Trung ương ln th15
(01/1959) và Nghquyết Đi hi Đng toàn quc ln thIII (9/1960), cách mng min
Nam đã chuyn hưng chiến c tđấu tranh chính trsang đu tranh chính trị kết hp
với đu tranh trang, ly đu tranh trang quyết đnh. Theo đó, các lc ng cách
mạng chđộng tiến công đch trên nhiu mt trn, vi nhiu quy mô, hình thc. Tthc
tin cách mng min Nam, lc ng trang chính quy ca ta đã tp kết ra min Bc
sau Hip đnh Genève (7/1954); Trung ương Đng chtrương: “Đi đôi vi xây dng
lực lưng chính trđu tranh chính tr, phi ra sc xây dng lc ng vũ trang bao
gồm dân quân, du kích thôn, , bđội đa phương tnh, huyn đến bđội chlực
khu, min, đng thi phi đy mnh đu tranh quân sự của ba th quân đgiúp sc đc
lực cho đu tranh chính trị”; trong đó, chú trng xây dng các đơn vtrang tp trung.
Như vy, ththy nghquyết c đnh con đưng phát trin ca cách mng
min Nam bo lc cách mng thay chđấu tranh dân chchính trnhư trưc
đó, chuyn tgigìn lc ng sáng thế tiến công. Nghquyết Hi nghTrung ương
lần th15 ý nghĩa lch sto ln, chng nhng đã mđưng cho cách mng min
Nam tiến lên, còn thhin bn lĩnh đc lp tch, sáng to ca Đng ta trong
nhng năm tháng khó khăn ca cách mng.
Đi cùng với tình hình chiến stại min Nam, ngoài Bc cũng tiến hành cách
mạng hi chnghĩa min Bc cng cphát huy thng li đã giành đưc,
xây dng svững chc đthc hin thng nht c nhà. Min Bc tiến lên ch
nghĩa hi mt mt vì mc đích nâng cao không ngng đi sng ca nhân dân min
Bắc; mt khác là tích cc gánh vác phn trách nhim đi vi phong trào cách mng ca
cả c. Kinh tế, văn hoá min Bc ngày càng phát trin, đi sng nhân dân min Bc
ngày càng đưc ci thin, lc ng quc phòng ca min Bc ngày càng đưc vng
mạnh thì stăng thêm sc mnh ca cách mng uy thế chính trị của nhân dân ta, tăng
thêm tin ng tính tích cc cách mng ca đng bào min Nam trong cuc đu tranh
chng Mỹ.
Như vy, có ththy thấy đưng li ca Đng trong vic chỉ đạo chiến lưc tiến
công trong giai đon 1959-1964 đúng đn, hp vi hoàn cnh lch sử cụ thmang
tính thc tin cao. Mun thng nht c nhà cn phi xây dng cng cphát trin
lực lưng đhoàn thành nhim vcách mng dân tc dân chnhân dân trong cc
dựa trên smin Bc tiến lên chnghĩa hi, đng thi givững đy mnh
phong trào cách mng min Nam. Quá trình hoàn thành nhim vcách mng dân tc
dân chnhân dân trong cc là quá trình tích cc phát huy tính hơn hn ca chế độ
hi chnghĩa min Bc, đng thi cũng là quá trình tp hp rng rãi mi lc lưng
yêu nưc, tiến bộ ở min Nam để đấu tranh chng Mỹ - Dim, tiến lên làm tht bi các
chính sách ca đế quc M, đánh đ tập đoàn thng trNgô Đình Dim, to điu kin
thun li nht đhoà bình thng nht nưc nhà.
Đề 5: Phân tích mi quan hgia Chính tr- Quân sự - Ngoi giao ca Đng
trong giai đon 1954 1975.
Tài liu từ lớp hc ôn tp các môn đi cương ca ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh
i Làm
Giai đon 1954 1975 mt thi đt c ta tri qua rt nhiu gian
kh. Sau khi đánh đui đưc Đế quc Pháp sau chiến thng Đin Biên Phlừng
danh và Hip đnh Genève đưc kí kết, ng chng như c ta đưc đi đến k
nguyên ca đc lp tdo mi, c c chung tay tiến lên chnghĩa hi, thì
Đế quc Mcùng các tay sai ca hđã tiến hành kế hoch xâm c biến min
Nam Vit Nam thành thuc đa kiu mi, thc hin các chính sách dã man nhm
đàn áp các phong trào yêu c tn din Cng Sn qua Đo lut 10-59 ca
Ngô Đình Dim. Trưc tình hình cp bách như trên, Đng ta đã lãnh đo nhân
dân hai min đng lên kháng chiến chng M tri qua hơn 20 năm trưng k
gian kh, sau Đi thng mùa xuân năm 1975, Đt c ta đã đưc thng nht,
cùng nhau bưc chung con đưng đi lên chnghĩa xã hi. Thng li này là skết
tinh ca toàn dân tc, mà đng đu Đng Cng Sn Vit Nam. Nhnhng
đưng li lãnh đo đúng đn ca Đng nên dn đến đưc thng li như trên.
một trong sđưng li đúng đn y skết hp gia ba hình thc Chính tr-
Quân sự - Ngoi giao. Trong bài này, ta snói rõ hơn về mối liên hệ ca ba hình
thc đu tranh trên.
Về đấu tranh chính tr: có tác dng ln lao và tn ti lâu dài, nhưng nó chỉ
phát huy tác dng khi skết hp, htrcủa đu tranh quân s. Đu tranh
chính trbằng nhiu hình thc, bin pháp: công khai, hp pháp, mt bt hp
pháp… nhiu cp đchđưc coi mt hình thc đu tranh bn ca
bạo lc cách mng khi nhm mc tiêu giành chính quyn. Các phong trào đu
tranh chính trị ở min Nam đưc coi là bo lc cách mng vì đu ng ti mc
tiêu đánh đách thng trcủa đế quc Mtay sai (kcả các phong trào đu
tranh công khai, hp pháp).
Về lực ng quân sự đu tranh trên mt trn quân s: có vtrí, vai trò
quyết đnh trc tiếp đến vic tiêu hao, tiêu dit sinh lc đch, làm thay đi cc
din chiến trưng kết thúc chiến tranh; đập tan nhng âm mưu, hành đng
chính tr- quân scủa đch…giai đon cui cuc chiến tranh, đu tranh quân
sự có vai trò trc tiếp quyết đnh thng li. Nhưng nó phi đưc kết hp cht ch
với lc ng chính trđu tranh chính trị của qun chúng thì mi phát huy hết
sức mnh tiến công đch. Đu tranh quân sphát triển từ thp đến cao, kết hp
đánh nh, đánh va vi nhng chiến dch qui ln, phi hp to thế cho đu
tranh chính trị.
Cùng vi đu tranh chính tr, đu tranh quân ssự kết hp vi đu tranh
ngoi giao. Mt trn đu tranh ngoi giao thc s là mũi tiến công đch cc klợi
hại, góp phn nhân thng li ca đu tranh quân s, chính trlên và cng cố vững
chc thng li quân s, chính tr. Nghquyết TW13 (01 - 1967) đã quyết đnh m
mặt trn đu tranh ngoi giao đúng lúc để kết hp vi mt trn quân sự, chính tr,
tạo thế tiến công đch toàn din. Đảng xác đnh: “Đi đôi vi đu tranh quân s
chính trmin Nam, ta cn tiến công đch vmặt ngoi giao, phi hp vi hai
mặt đu tranh đó đgiành thng li to ln hơn na”
Cuc đu tranh ngoi giao vi đế quc Mở Hi nghParis kéo dài gn 5
năm (13/5/1968 - 27/1/1973). Đu tranh ngoi giao thc slà mt mũi tiến công
bền b, phi hp nhp nhàng vi nhng đòn tiến công dn dp trên mt trn chính
tr, quân schiến trưng. Chính nhờ sức mnh tng hợp đó, chúng ta đã giành
đưc thng li quyết đnh, làm cơ stiến lên giành thng li cui cùng vào mùa
xuân năm 1975.
Như vy, có ththy đưc sliên kết ca ba đưng li đu tranh mà Đng
dùng đlãnh đo nhân dân ta chng Mvà tay sai trong thi kì 1954 1975. C
ba đu btrcho nhau và có mt si dây liên kết vng chc vi nhau. Nếu thiếu
một trong ba hình thc trên, chiến thng trưc đế quc Mđiu bt khthi vi
dân tc ta. cũng tđó Đng Nhà c ta đã tích lúy đưc nhiu kinh
nghim quý báu vđưng li đu tranh đem ra sdụng khi đt c có biến
cố, cthhơn hai cuc chiến thi hu chng Mđó chiến tranh chng
Polpot Khmer Đ1978 1979 chiến tranh Biên gii Vit Trung 1979. Qua
đó mt ln na khng đnh đưc tính đúng đn và sáng to ca Đng trong công
cuc xây dng và bo vệ đất nưc.
Đề 6: Vì sao trong quá trình CNH-HDH thi kì đi mi, ĐCSVN li gn vn
đề CNH HĐH vi vn đmôi trưng ?
Tài liu từ lớp hc ôn tp các môn đi cương ca ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh
Bài Làm
Công nghip hóa Hin đi hóa (CNH HĐH) tlâu đã luôn vn đ
quan trng mà Đng Nhà c ta quan tâm và đt lên hàng đu trong quá trình
Xây dng Phát trin đt c, cùng tiến ti quá trình quá đlên CNXH. Tuy
nhiên, theo thng ca B Tài nguyên Môi trưng, ô nhim ngun c,
không khí đang lan rng không chcác KCN, khu đô th, cả nhũng vùng
nông thôn; đa dng sinh hc tiếp tc bsuy gim; biến đi khí hu và c bin
dâng gây ra triu cưng và những hu qukhôn lưng. Đây chính là kết quả của
quá trình Công nghip hóa nhanh c ta. Trưc thc trng báo đng trên,
ĐCSVN cn phi có mt ng đi mi đ có th tiếp tc quá trình CNH HĐH
mà không nh hưng đến môi trưng sinh sng.
Trưc tình hình đó, ngày 15-11-2004, B Chính tr Ngh quyết 41-
NQ/TW "Vbảo vmôi trưng trong thi kđẩy mnh công nghip hóa-hin đi
hóa đt nưc” đã khng đnh bo vmôi trưng va là mc tiêu, va là mt ni
dung bn ca phát trin bn vng trong thời kỳ đẩy mnh CNH-HĐH. Năm
2005, Quc hi đã thông qua Lut bo vmôi trưng. Ti Đi hi Đng ln th
XI, ni dung BVMT đưc nâng lên mt tm cao mi, gn cht vi quá trình CNH-
HĐH: ''Đưa ni dung bo vmôi trưng vào chiến c, quy hoch, kế hoch
phát trin ngành, lĩnh vc, vùng các chương trình dán đu tư''. Một đim
mới so vi Đi hi X đưa thêm ni dung ''chú trng phát trin kinh tế xanh,
thân thin vi môi trưng; tng bưc phát trin năng lưng sch, sn xut sch,
tiêu dùng sch”.
Nhvic đy mnh CNH HĐH, tc đsản xut ca ci vt cht đã gia
tăng đáng k, nhu cu vic làm ca ngưi lao đng đưc đáp ng đáng k, c đô
thị mọc lên hàng lot kích thích môi trưng trao đi hàng hóa,… tđây nn kinh
tế của đt c đã đưc to đà phát trin đáng k. Tuy nhiên, chính vì quá trình
CNH HĐH đy mnh quá nhanh quá mc nên dn tới vic gây ra nhiu nh
ng không nhđến môi trưng như va nêu trên. Vic CNH-HĐH các ngành
công nghip nng gây ra nhng nh ng không thbỏ qua với môi trưng. Vic
các làng nghề sản xut t phát, s dụng công nghlạc hu nên phn ln đu gây
ô nhim môi trưng. CHH-HĐH skéo theo đô thhóa, đây thc slà sc ép ln
về môi trưng trong qun đô th. Song song vi quá trình CNH-HĐH, chúng
ta đang phi chu nhng áp lc vthay đi cu trúc và mô hình phát trin do s
cạn kit tài nguyên, ô nhim môi trưng ngày càng bc lrõ rt.
Từ nhng nguyên nhân bn trên, ththy đưc mt mi lo ln khi
thc hin CNH HĐH quá nhanh mà vn đmôi trưng bị bỏ ng. Vy nên cần
phi gii quyết vn đnày theo cách thân thin hơn vi môi trưng thm chí
có thkhôi phc li mt phn môi trưng bnh hưng xu do quá trình CNH
HĐH gây nên. vn đnày đã đưc đ cập đến trong văn kin ca Đi hi
Đảng ln thXI. đây vn đmôi trưng đã đưc Nhà c đc bit quan tâm
đặc bit và đưa ra ng gii quyết đó xây dng năng lc sn có đxây dng
phát trin các công nghtiết kim tài nguyên, nguyên liu, năng ng xanh,
năng ng tái tạo...; đây đng lc chyếu đthúc đy quá trình chuyn
dịch cơ cu kinh tế c ta theo hưng phát trin bn vng. Tuy nhiên, đây li là
một thách thc ln và đòi hi phi có quyết tâm ln nhm to ra đưc sự đột phá
lớn trong quá trình chuyn đi cấu, hình tăng trưng theo ng thân thin
với môi trưng, phát trin bn vng.
Thc tin phát trin c ta trong nhng năm gn đây khng đnh, chúng
ta đnăng lc, điu kin đchuyên đi thành công sang hình phát trin
bền vng. Kinh nghim phát trin lĩnh vc công nghthông tin, vin thông,
khí tđng hóa, công nghvật liu cũng như vic chế tạo thành công các sn
phm nano, nhng thành tu trong công nghsinh hc, cùng vi năng lc sáng
tạo trong toán hc, vt hc, hóa hc... cho thy nếu đquyết tâm cách
sáng to, phù hp, chúng ta s nhanh chóng c vào quỹ đạo phát trin hin đi
mà 21 quc gia thành viên APEC, trong đó có Vit Nam đã cam kết ti Hội ngh
Thưng đnh ti Tokyo tháng 11- 2010, vthc hin mt hình ng trưng
mới, đm bo 5 yêu cu: Tăng trưng cân bng; Tăng tng an toàn; Tăng trưng
bền vng; Tăng trưng da vào trí tu; ng trưng vi li ích đưc chia scông
bằng cho tt cmọi ngưi. Đây phi trthành đim xuyên sut quá trình CNH-
HĐH nưc ta.
Tuy rng vic thc hin các đán, các chiến c hình vvấn đ
tăng trưng bn vng đưc thc hin khá tt, nhưng vn còn nhng yếu kém,
khuyết đim trong công tác bo vmôi trưng và nhng vn đnày chủ yếu đến
từ các cp ngành quá quan tâm vmặt tăng trưng kinh tế, chưa đm bo đưc
sự cân bng gia tăng trưng kinh tế phi đi lin vi bo vmôi trưng. Chính vì
vậy, cn có scan thip ca Bhoc S Tài nguyên - Môi trưng. Đơn vnày s
chu trách nhim thm đnh trưc các dán đu tư và các dán này phi gi báo
cáo đánh giá tác đng đến môi trưng cho h phê duyt. . Đng thi, tăng cưng
vic kim soát ô nhim ti ngun; chú trng qun cht thi, nht các cht
thi trong sn xut công nghip, nông nghip, dch v y tế. Và cn schuyn
biến mnh mtrong toàn Đng toàn xã hi vnhn thc hành đng, trong
chđạo điu hành và đc bit trong tchc trin khai các hot đng bo vmôi
trưng trong thi kỳ đẩy mnh CNH-HĐH, gn vi phát trin Kinh tế thtrưng.
Như vy, ththy vic chuyn đi sang hìnhng trưng bn vng
bin pháp hu hiu nht khnăng phòng nga hn chế tối đa các tác đng
xấu đi vi i trưng trong thi kđẩy mnh CNH-HĐH. Đây cũng chính
câu tr lời cho câu hi “Vì sao trong q trình CNH-HDH thi kì đi mi,
ĐCSVN li gn vn đCNH HĐH vi vn đmôi trưng ?”, vì gia vic phát
trin CNH HĐH vn đ môi trưng, có mt si y liên kết hai điu đó
phi gicho hai điu y cân bng vi nhau. Tđó mi đi đến sphát trin bn
vững cho Đt nưc.
Đề 7: Ti sao phát trin kinh tế thtrưng đnh ng XHCN c phát trin
mới vduy lun ca Đng ? sao DCSVN la chn hình kinh tế th
trưng đnh hưng XHCN là mt tt yếu.
Tài liu từ lớp hc ôn tp các môn đại cương ca ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh
Bài làm
Để trlời cho câu hi “Ti sao phát trin kinh tế thtrưng đnh hưng XHCN
là bưc phát trin mi vtư duy lí lun ca Đng ?”, trưc hết cn nhìn li vtình hình
đất c ta trưc khi Đng tiến hành công cuc Đi Mi. Để từ đây ta scái nhìn
trc quan hơn vtình hình đt c ta lúc by gi,và nhn thy đưc sđột phá v
duy lí lun này ca Đng Cng Sn Vit Nam khi đã tiến hành kế hoch trên.
Trưc hết, nhìn li lch s, sau Đi thng mùa Xuân năm 1975, đt c ta tiến
vào mt knguyên mi. Đó là knguyên ca hòa bình, thng nht, đc lp cc
đều cùng nhau đi lên chnghĩa hi. Tuy nhiên, vi kế hoch Kinh tế - Xã hi 1976
1980 đã đra nhng chtiêu quá ln vquy mô, quá cao vtốc đxây dng bn
và phát trin sn xut mà không tính đến điu kin thc tế ca đt nưc sau thng nht
nên dn đến vic chúng ta không theo kp đưc kế hoch đã nêu. Ngoài ra do thi gian
thc hin khá lâu đi cùng vi đó là tư tưng quan liêu bao cp, ng chquan nóng
vội, giáo điu cùng chtrương ci to chưa đúng, qun lí kém và trì tr càng khiến kinh
tế Vit Nam mt cân đi , kinh tế quc doanh và tp thluôn thua lnặng, không phát
huy tác dng. Kinh tế nhân và cá thbị ngăn cm trit đ. Sản xut chm phát trin,
thu nhp quc dân, năng sut thp, đi sng nhân dân khó khăn, xã hi ny sinh nhiu
hin tưng tiêu cc. Ngoài ra tình hình quc tế cũng hết sc phc tp gia sbất đng
của hai c XHCN ln Liên và Trung Quc, cùng vi đó nhng chính sách
cấm vn phá hoi ca Msau chiến tranh càng khiến cho tình hình trnên ri ren,
bất n.
Trưc tình hình trên, Đng nhà c ta cn phi thay đi nhng chính sách
sai lm không phù hp thc tin lúc bấy gi, và quan trng nht là ci cách v tư tưng
bảo th, quan liêu bao cp ca thi chiến tranh hu chiến thay vào đó
ng tiến b, ci mvà nhanh nhy hơn trưc thi cuc.
Cụ thhơn, Đại hi VI năm 1986 đã đra đưng li đi mi, trong đó đi
mới chế qun kinh tế nhm to ra đng lc thúc đy các đơn vkinh tế qun
chúng lao đng tích cc phát trin sn xut, nâng cao năng sut, cht ng và hiu qu
kinh tế. Và quan trng nht đó là kiên quyết xóa bchế tập trung quan liêu, bao cp,
thiết lp hình thành đng bcơ chế kế hoch hóa theo phương thc hch toán kinh
doanh XHCN đúng nguyên tc tp trung dân ch. Tđây ththy stiến bt
bậc ca Đng ta khi đã dám phá bđi cái cũ tn ti tlâu và đã li thi, đã dám phá v
đi nhng nguyên tc giáo điu ng như khuôn khổ mẫu mc ca mt chế độ XHCN
đưng li cng nhc vvấn đkinh tế tập trung quan liêu bao cp kiu ca nhà
c XHCN, thay vào đó sđột phá vnền kinh tế mới mang hơi thcủa nền
kinh tế thtrưng. tđây,có ththy quyết đnh trên ca Đại hi VI năm 1986 du
mốc quan trng trong quá trình đi mi duy lun ca Đng v con đưng
phương pháp xây dng CNXH c ta.
Đối vi u hi “Vì sao DCSVN la chn mô hình kinh tế thtrưng đnh ng
XHCN mt tt yếu ?”, da trên nhng điu đã nêu vtình hình đt nưc ta sau khi
Thng Nht trưc Đi hi VI năm 1986, ththy rng nếu mun Đt c ta thoát
khi tình thế khó khăn cc đnhư vy, cn bt buc phi lựa chn mt mô hình kinh tế
mới và phù hp vi yêu cu ca thi đi chkhông thđi theo li mòn cũ và giáo điu.
Ngoài ra nếu xét vthc ti bây gi, thì phát trin kinh tế thtrưng đnh hưng XHCN
c ta là sự lựa chn hoàn toàn phù hp vi quy luật phát trin khách quan và xu thế
tất yếu ca thi đi. Kinh tế thtrưng mt phm trù kinh tế riêng, tính đc lp
tương đi, phát trin theo nhng quy lut riêng ca nó dù nó tn ti đâu và bt kthi
đim nào ca lch s.
Thc tin lch scho thy, skinh tế khách quan ca shình thành phát
trin kinh tế thtrưng cũng là cơ skinh tế khách quan ca shình thành và phát trin
kinh tế hàng hóa. Đó sphân công lao đng hi và stách bit vkinh tế gia
nhng ngưi sn xut hàng hóa quy đnh. Có nghĩa kinh tế thtrưng tn ti ctrong
chnghĩa hi cũng như trong thi kquá đ lên CNXH. Kinh tế thtrưng XHCN
dựa trên chế độ sở hữu toàn dân tp thdo Đng Cng sn lãnh đo, mc đích ca
nền kinh tế thtrưng phc vlợi ích ca giai cp công nhân nhân dân lao đng,
xóa bchế độ bóc lt, gii phóng và phát trin mnh mẽ lực lưng sn xut.
Trên cơ snhn thc đúng đn và đy đhơn vchnghĩa xã hi và con đưng
đi lên chnghĩa hi Vit Nam, Đảng ta khng đnh: phát trin kinh tế thtrưng
định hưng xã hi ch nghĩa là đưng li chiến lưc nht quán, hình kinh tế tổng
quát trong sut thi kì quá đđi lên chnghĩa xã hi Vit Nam. Đây là sđúc kết ca
nhiu năm nghiên cu, tìm tòi tng kết ca Đng, điu này vn đúng cho đến ngày
nay.
Đề 8: sao ti Nghquyết Trung ương 9 khóa XI, DCSVN khng đnh “Văn
hóa nn tng tinh thn ca hi, mc tiêu, đng lc phát trin đt
c” ?
Tài liu từ lớp hc ôn tp các môn đi cương ca ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh
Bài làm
Thc trng Vit Nam sau 15 năm thc hin Nghquyết Trung ương 5 khóa
VIII cho thy, tuy có nhiu biến chuyn tích cc vnhiu mt làm đt nưc phát
trin vkinh tế - đời sng hi. Tuy nhiên tình trng suy thoái v ng
chính tr, đo đc, li sng trong Đng trong hi chiu ng gia tăng.
Đời sng văn hóa tinh thn nhiu nơi còn nghèo nàn, đơn điu. Môi trưng văn
hóa còn tn ti tình trng thiếu lành mnh, ngoi lai, trái vi thun phong mỹ tục;
tệ nạn xã hi, ti phm có chiu hưng gia tăng. Còn ít nhng tác phm văn hc,
nghthut gtrcao vng nghthut, đa phn các tác phm chy
theo thhiếu tm thưng, cht ng thp, thm chí hi. Vic bo tn, phát huy
giá trdi sn văn hóa hiu quchưa cao, nguy cơ mai mt chưa đưc ngăn chn.
Hệ thng thông tin đi chúng phát trin thiếu quy hoch khoa hc, gây lãng phí
ngun lc qun lý không theo kp sphát trin. Mt squan truyn thông
còn tn dng truyn thông bn để tạo tương tác nhm kiếm thêm li nhuận. Kinh
tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, vhuy đng, qun các ngun lc cho
văn hóa chưa cth, rõ ràng. Hthng s vật cht, kthut cho hot đng văn
hóa còn thiếu yếu, nơi xung cp, thiếu đng b, hiu qusử dụng thấp.
Công tác quy hoch, đào to, btrí cán blãnh đo, qun văn hóa còn nhiu
hạn chế, bt cp. Tình trng nhp khu, qung bá, tiếp thu ddãi, thiếu chn lc
sản phm văn hóa c ngoài đã tác đng tiêu cc đến đi sng văn hóa ca mt
bộ phn nhân dân, nht là vi gii tr.
Trưc thc trng trên, cn phi đnh ng li làm rõ đưc vai trò ca
văn hóa đi vi sphát trin bn vng ca đt c nhm kéo đt c thoát
khi tình trng như trên. Trưc yêu cu đó, Đng ta xác đnh: Văn hóa nn tng
tinh thn ca hi, mc tiêu, đng lc phát trin bn vng đt ớc. Quan
đim này đưc thhin qua my ni dung cơ bn sau đây:
Thnht, văn hóa là nn tng tinh thn ca xã hi. Các giá trvăn hóa tạo
thành nn tng tinh thn ca hi vì nó đưc thm nhun trong mi con ngưi
và c dân tc. Các giá trvăn hóa đưc ni tiếp, trao truyn phát huy qua các
thế hệ ngưi Vit Nam, đó tt yếu ca dòng chy lch stừ quá khđến hin
tại ng đến tương lai, tương lai ca nhng giá trChân - Thin - Mỹ. vy,
chúng ta làm cho văn hóa thm sâu vào mi lĩnh vc ca đi sng hi đcác
giá trvăn hóa trthành nn tng tinh thn bn vng ca xã hi.
Thhai, văn hóa mc tiêu ca phát trin bn vng đt ớc. Đt c
ta hin ti đang trong qtrình phát trin quá đlên chế đhi Chnghĩa.
Mục tiêu chung hin ti đó xây dng mt xã hi “Dân giàu, c mnh, dân
ch, công bng, văn minh”. Đây cũng mục tiêu ca văn hóa, nếu hiểu theo
nghĩa rng nht ca văn a. Chiến lưc phát trin kinh tế - xã hi đến năm 2020
xác đnh: Mc tiêu đng lc chính ca sphát trin con ngưi, do con
ngưi. Đng thi nêu rõ yêu cu “tăng trưng kinh tế phi gn lin vi tiến b
công bằng hi, phát trin văn hóa, bo vmôi trưng”, ngày nay không th
phát trin bng mi giá, nht là chy theo li nhun ti đa, vì li ích hôm nay mà
làm tn hi đến tương lai.
Từ khi Đi Mi đến nay, Đng ta nht quán to lp nn kinh tế thtrưng
định ng hi chnghĩa, đó phi nn kinh tế gii quyết hài hòa các mi
quan hệ lợi ích gia cá nhân và xã hi, gia kinh tế với tiến b, công bng xã hi,
đảm bo bn vng vmôi trưng sinh thoái, to cơ sở nn tng vt cht cho ch
nghĩa xã hi. Để đạt đưc điu đó phi cần đến văn hóa, stham gia ca văn hóa
vào trong tchc và hot đng ca nn kinh tế mc tiêu phát trin xã hi, phát
trin con ngưi, đó chính vai trò ca văn hóa trong kinh tế, kinh tế trong văn
hóa. Văn hóa vi tư cách là đi sng tinh thn xã hi, mt mc tiêu đc bit quan
trng, là nhu cu phong phú, vô cùng, tn, tinh tế ca con ngưi, nhu cu
tinh thn còn là nhu cu nhân văn và là cu cánh ca con ni, văn hóa y va
đáp ng nhu cu ca con ngưi, xã hi tiến b, va thúc đy con ngưi đt đưc
nim tin, skhát vọng hnh phúc.
Cui cùng, văn hóa đng lc ca s phát trin bn vng cho đt c.
Thực tế cho thy, không ít nhng quc gia, dân tc không giàu vtài nguyên thiên
nhiên, thm chí còn nghèo nàn và hn hp nhưng li giàu vkinh tế, kinh tế phát
trin, hi tiến bnhư Hàn Quc, Nht Bn, chính nhcoi trng yếu t
văn hóa, con ngưi, thông qua vic nâng cao dân trí, đào to nhân lc, bi dưng
nhân tài mđưng cho sphát trin. Như vậy, ngun lc ni sinh ca sphát
trin ca mt đt nưc thm sâu trong văn hóa, con người. Sphát trin ca mt
dân tc phi vươn ti cái mi, cái tt, cái tiến bnhưng không thtách ri, b
qua ci ngun, phát trin phi va trên ci ngun, ci ngun đó của mi dân tc
văn hóa. kinh nghim qua hơn 30 năm snghip đi mi c ta đã chng
minh rng, ngay bn thân sphát trin kinh tế cũng không chdo các nhân t
thun túy kinh tế tạo ra, đng lc ca sđổi mi kinh tế đó mt phn quan
trng nằm trong văn hóa.
Như vy, ta có ththy đưc tm quan trong ca văn hóa và sự ảnh hưng
của văn hóa đến vi khnăng phát trin giàu mnh ca đt nưc. Ngày nay,
ngun lc con ni, tim năng sáng to ca con ngưi. Tim năng sáng to
này nm trong văn hóa, trí tu, tâm hn, đo đc, nhân cách ca mi nhân
cộng đng. Chngun lc này hn, khnăng tái sinh tsinh, không
bao gicạn kit, các ngun lc khác skhông đưc sdng hiu qunếu
không có nhng con ngưi đtrí tuvà năng lc khai khác chúng, thì các ngun
lực đó dù phong phú, đa dng, thì cũng không ththam gia phát huy tác
dụng vào trong phát trin ngưc li còn bhao ht, thm chí lâu dài th
biến mt đi.
Đề 9 : Quan đim ca Đng về vị trí vai trò ca văn hóa trong phát trin bn
vững đt nưc.
Tài liu từ lớp hc ôn tp các môn đi cương ca ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh
Bài Làm
Ngay tngày xây dng chính quyn, Đng ta rt quan tâm đến vn đxây
dựng, phát trin văn hóa, con người, xem đây mt trong nhng nhim vtrng
tâm trong quá trình xây dng đt c Vit Nam hi chnghĩa. quan trng
nht squan trng ca văn hóa trong phát trin bn vng đt c đã đưc
Đảng ta chú trng đc bit.
Đảng ta đưa ra các quan đim về vị trí vai trò ca văn hóa trong phát trin
bền vng đt nưc như sau:
Một là, văn hóa là nn tng tinh thn ca xã hi, là mc tiêu, đng lc phát
trin bn vng đt nước; văn hóa phi đưc đt ngang hàng vi kinh tế, chính tr,
xã hi. Quan đim này đưc khng đnh trong Nghquyết Trung ương 9 khóa XI
nhm khc phc tình trng coi nhyếu tvăn hóa so vi kinh tế, chính tr, hn
chế đưc hin tưng suy thoái vtư tưng chính tr, đo đc, li sng, tình trng
quan liêu, tham nhũng ca mt bphn không nhcán b, đng viên hin nay.
Hai , văn hóa mc tiêu ca phát trin bn vng đt c. Mục tiêu
tổng quát ca thi kquá đlên chnghĩa xã hi c ta là xây dng mt
hội “Dân giàu, c mnh, dân ch, ng bng, văn minh” Đây cũng chính
mục tiêu ca văn hóa, nếu hiu theo nghĩa rng nht ca văn hóa. Chiến c phát
trin kinh tế - xã hi đến năm 2020 xác đnh: Mc tiêu và đng lc chính ca s
phát trin là vì con ngưi, do con ngưi. Đng thi nêu yêu cu “tăng trưng
kinh tế phi gn lin vi tiến bcông bng hi, phát trin văn hóa, bo v
môi trưng”, ngày nay không thphát trin bng mi giá, nht chy theo li
nhun ti đa, vì li ích hôm nay mà làm tn hi đến tương lai.
Ba , văn hóa đng lc ca sphát trin bn vng đt ớc. Thc tế
cho thy, không ít nhng quc gia, dân tc không giàu vtài nguyên thiên nhiên,
thm chí còn nghèo nàn và hn hp nhưng li giàu vkinh tế, kinh tế phát trin,
hi tiến bchính nhcoi trng yếu tvăn hóa, con người, thông qua vic
nâng cao dân trí, đào to nhân lc, bi ng nhân tài mđưng cho sphát
trin.
Như vy, ngun lc ni sinh ca sphát trin ca mt đt c thm sâu
trong văn a, con ngưi. Sự phát trin ca mt dân tc phi vươn ti cái mi,
cái tt, cái tiến bnhưng không thtách ri, bqua ci ngun, phát trin phi
vựa trên ci ngun, ci ngun đó ca mi dân tc văn hóa. kinh nghim qua
hơn 30 năm s nghip đi mi c ta đã chng minh rng, ngay bn thân s
phát trin kinh tế cũng không chdo các nhân tthun túy kinh tế tạo ra, đng
lực ca sự đổi mi kinh tế đó mt phn quan trng nm trong văn hóa.
Nhìn mt cách tng quát, các quan đim trên đã thhin đưc tm quan
trong ca văn hóa đi vi sphát trin bn vng ca đt c. Ngoài ra còn
phn ánh tư tưng chđạo va cơ bn, lâu dài, va cth, cp bách ca Đng ta
nhm đnh ng cho quá trình xây dng, phát trin văn hóa, con ngưi Vit
Nam. Các quan đim này đã phn ánh mt bưc phát trin mi vtư duy lý lun
văn hóa ca Đng. Nhn thc toàn din và sâu sc hơn nhng vn đlun th
hin tp trung các quan đim này sgiúp cho hot đng thc tin ca chúng ta
đạt hiu quả tốt hơn.
Đề 10 : sao trong thi kđổi mi, Đng ta phi la chn phương châm
đối ngoi theo hướng đa phương hóa, đa dng hóa ?
Tài liu từ lớp hc ôn tp các môn đi cương ca ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh
Bài làm
Trưc khi tiến hành Đi Mi vào năm 1986, Vit Nam thnói mt
đất nưc bo th, blp vnhiu mt vì ít liên kết vi thế gii nên c ta
không thể bắt kp đưc xu thế phát trin ca thế gii, tđó dn đến tình trng tt
hậu nghiêm trng đã bc lnhiu yếu đim. Vit Nam lúc này đang trong
thế bị bao vây, bcô lp li bcác thế lực thù đch chng phá, cng vi c chính
sách phát trin sai lm, không phù hp vi hoàn cnh khiến nưc ta lâm vào cuc
khng hong kinh tế - hi nghiêm trng. Ngoài ra, nhng biến đng ca tình
hình thế gii tác đng sâu sc đến nhn thc và tư duy ca Đng, là cơ scho s
đổi mi các chính sách. Đc bit sự sụp đcủa hthng hi chnghĩa đng
đầu là Liên Xô là hi chuông cnh tnh về vic phi thay đi, phi tiến bn v
mọi mt đkhông đi theo vết xe đổ ấy ca anh cLiên Xô. Mt trong sthay đi
đó vic Đng ta đã la chn phương châm đi ngoi theo ng đa phương
hóa, đa dng hóa.
Đa phương hóa, đa dng hóa hình thc ngoi giao gia nhiu quc gia,
nhm mc đích gii quyết nhng vn đchung như chiến tranh, hoà bình, hp tác
đu tranh đcùng tn ti phát trin. Các quc gia ththiết lp quan h
đa phương thông qua vic kết, tha nhn các điu ưc, công ưc, hip đnh
quc tế. Và xuất phát ttình hình cthtrong, ngoài c và nhu cu phát trin
của c ta, Đại hi đi biu toàn quc ln thVI ca Đng din ra vào tháng
12/1986, Đng ta bt đu đã nhng đi mi sâu sc mang tính chiến c
về đưng li chính sách đi ngoi, đc bit coi trng đa phương hóa, đa dng
hóa các quan hngoi giao.
Với xu thế toàn cu hóa, hội nhp xu thế chung hin nay, vic hp tác
đa phương trên nhiu lĩnh vc tt yếu. Hp tác đa phương trong các lĩnh vc
văn hóa, an sinh hi, lao đng, thông tin - truyn thông, môi trưng, du
lịch...đưc mrộng, t đó thúc đy tiến b xã hi, phát trin thtrưng lao đng
hthng an sinh hi, xóa đói gim nghèo… Hi nhp khu vc quc tế
về khoa hc - công ngh, giáo dc - đào to, y tế đóng vai trò quan trng đi vi
vic phát trin nn khoa hc, giáo dc tiên tiến, nâng cao cht lưng ngun nhân
lực, thông tin y tế quc gia đáp ng nhu cu của ngưi dân, tiến ti thu hp
khong cách phát trin vi khu vc và thế gii trong các lĩnh vc này.
Vic VN tham gia mng lưi liên kết kinh tế đa phương đã góp tng bưc
mở ca, gn nn kinh tế thtrưng trong c vi khu vc thế gii, tiếp thu
nhng nguyên tc và chun mc quc tế, thu hút ngun lc cho phát trin, to
thêm đng lc xây dng và hoàn thin thchế kinh tế thtrưng đnh ng
hội chnghĩa. Tđây đt nưc ta đã có đng lc ln mạnh đế phát trin vưt bc
và không còn bị tụt hu vi thi đi.
Đề 11: Ti Đi hi X (2006), DCSVN đra chtrương “chđng, tích cc,
hội nhp quc tế”. Anh/ch hiu hi nhp quc tế như thế nào? Theo
anh/chlà sinh viên, cn phi làm gì đchđộng hi nhp Quc tế ?
Tài liu từ lớp hc ôn tp các môn đi cương ca ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh

Preview text:

Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh Fb.com/iamthiendinh
ĐỀ CƯƠNG THAM KHẢO MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề 1 : Vì sao nói DCSVN ra đời là một tất yếu ? Phân tích sự sáng tạo của
ĐCSVN trong cương lĩnh đầu tiên ?

Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài Làm
Từ năm 1858 đến năm 1945, khi thực dân Pháp nổ súng và xâm lược Việt
Nam, đất nước ta đã phải chịu cảnh xâm lược của bọn thực dân tàn ác. Sau khi đã
chiếm đóng thành công và bắt triều đình Huế kí các hiệp ước nhằm công nhận sự
thống trị của Pháp ở Đông Dương, Pháp đã bắt đầu thực hiện kế hoạch cai trị và
vơ vét bóc lột thuộc địa ở Đông Dương về cho mình. Từ đây tạo nên những áp
bức lớn cho dân tộc ta, và nếu có sự áp bức thì sẽ có đấu tranh. Các phong trào
đấu tranh liên tục được nổ ra dựa trên ý chí kiên cường và truyền thống cứu nước
chảy trong huyết quản dân tộc. Thế nhưng trước khi Đảng Cộng Sản Việt Nam
ra đời, chưa có phong trào đấu tranh nào thành công cả, thay vào đó là bị đàn áp
một cách dã man, chịu thất bại thảm hại. Các phong trào này thất bại đều chung
hai nguyên nhân chính : không có sự liên kết với nhau và các phong trào cũng
như sự lãnh đạo chỉ dừng lại ở mức nhỏ lẻ tại địa phương, ngoài ra các phong trào
còn không giải quyết được hai nhiệm vụ chính : đánh đuổi thực dân và giành độc
lập dân tộc. Từ điều này dẫn đến một bài toán, đó là cần phải có một lực lượng
lãnh đạo đủ mạnh, đủ tầm ảnh hưởng đến toàn dân để có thể đưa cách mạng đi đến thắng lợi.
Thời kì này, giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất trong sức sản xuất,
họ có tính kỷ luật cao từ yêu cầu về môi trường lao động, sớm tiếp thu những tinh
hoa văn hóa tiên tiến, trào lưu tư tưởng của thời đại cách mạng vô sản để bồi
dưỡng bản chất cách mạng của mình. Ngoài ra giai cấp công nhân ở Việt Nam
thường đi lên với gốc gác là nông dân, từ đó họ có một mối quan hệ mật thiết với
giai cấp nông dân và dẫn đến việc họ cũng có mối quan hệ gắn bó mật thiết với
quần chúng nhân dân. Nhờ những thế mạnh đó khiến cho các phong trào công
nhân diễn ra sôi nổi và mãnh liệt. Từ năm 1920 đến năm 1925 đã nổ ra 25 cuộc
bãi công. Nổi bật nhất là cuộc bãi công của công nhân tại xưởng đóng tàu Ba Son
( Sài Gòn) tháng 8/1925 nhằm làm chậm việc sửa chữa chiếc tàu Misơlê
(Michelet) mà thực dân Pháp dùng chở lính sang đàn áp phong trào cách
mạng Trung Quốc. Sau đó còn các phong trào công nhân khác được nổ ra liên
tục nhưng bị đàn áp nhanh chóng do lực lượng mỏng, thiếu kinh nghiệm. Tuy
nhiên từ đây, giai cấp công nhân đã trưởng thành nhanh chóng về nhận thức, cũng
như về con đường đấu tranh và cả lực lượng.
Ngoài ra khuynh hướng đấu tranh theo con đường vô sản đã được du nhập
vào nước ta, từ đó dẫn đến sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở Việt. Gồm có
Đông Dương Cộng Sản Đảng; An Nam Cộng Sản Đảng; Đông Dương Cộng Sản
Liên Đoàn. Sự ra đời này của cả ba tổ chức cộng sản đã đánh dấu một bước mới
trong việc tư tưởng cách mạng theo hướng vô sản đã được đi sâu vào trong tư
tưởng đấu tranh của nhân dân ta. Các tổ chức này đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh
tại các địa phương và cùng góp công trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân trên cả nước. Tuy nhiên chính vì có một lúc cả ba tổ chức cộng sản và do
cách hoạt động riêng lẻ, họ đều sẵn sàng tranh giành tầm ảnh hưởng, công kích
lẫn nhau, từ đó gây nên bất hòa, để lâu sẽ dẫn đến sự chia rẽ lớn. Từ đây dẫn đến
yêu cầu phải hợp nhất ba tổ chức này lại thành một tổ chức cộng sản.
Phải đến khi Nguyễn Ái Quốc tiếp cận đến với học thuyết Mác Lenin và
phong trào Vô sản trên thế giới, Người đã nhận ra rằng chỉ có một tổ chức, một
giai cấp duy nhất có thể đủ sức để kết nối và lãnh đạo nhân dân đứng lên cùng
đưa cách mạng đến thắng lợi. Đó là Đảng Cộng Sản và được lãnh đạo bởi giai
cấp công nhân. Vào ngày 3/2/1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã kết hợp ba tổ
chức cộng sản nói trên và được thành lập đã đánh dấu bước tiến mới trong cách
mạng nước nhà. Đảng ra đời đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng về giai cấp lãnh
đạo và đường lối cứu nước ở dân tộc ta, chứng minh rằng giai cấp công nhân đã
đủ trưởng thành và đủ sức lãnh đạo phong trào cách mạng. Bằng những đường
lối đấu tranh đúng đắn và lãnh đạo tài tình, Đảng ta đã đưa nhân dân đi đến liên
tiếp nhiều thắng lợi, từ đó đi thẳng đến Cách mạng Tháng Tám 1945 và thành
công rực rỡ, đem lại sự độc lập và tự do qua bản tuyên ngôn Độc lập được chủ
tịch Hồ Chí Minh đọc vào ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Từ đây dân
tộc Việt Nam đã được bước sang trang mới, tiến tới kỷ nguyên của độc lập tự do,
mà công lớn thuộc về Đảng Cộng Sản. Từ đây có thể thấy được việc ra đời của
Đảng Cộng Sản Việt Nam là mang tính tất yếu của thời đại.
Ngay từ khi Đảng CSVN mới thành lập, trong Cương lĩnh chính trị đầu
tiên của Đảng đã chỉ ra phương hướng cơ bản của cách mạng VN, đặt nền móng
cho việc xác định lý luận, đường lối, phương pháp cách mạng và những nguyên
tắc chủ yếu để xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân VN.
Tuy hết sức ngắn gọn, vắn tắt nhưng CLCT đầu tiên của Đảng đã kết hợp
nhuần nhuyễn quan điểm dân tộc và giai cấp, thấm đượm tính dân tộc và thời đại
với những luận điểm sau nổi bật.
Một là, cách mạng VN phải là cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách
mạng để tiến lên xã hội cộng sản. (Thực chất đó là một cuộc cách mạng có 2 giai
đoạn : giai đoạn thứ nhất đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giai đoạn thứ
hai là sau khi giành được thắng lợi sẽ chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ
nghĩa để tiến tới xã hội cộng sản.).
Hai là, trong cách mạng tư sản dân quyền có hai nhiệm vụ chiến lược là
chống đế quốc và chống phong kiến. (Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, phải được tiến hành khắng khít không tách rời nhau nhưng trong đó
nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai (phản đế) phải đặt lên hàng đầu.).
Ba là, xác định lực lượng cách mạng, bao gồm : giai cấp công - nông là
gốc, những người yêu nước trong các giai cấp khác là đồng minh của cách mạng.(
Đảng phải vận động, thu phục giai cấp mình để lãnh đạo dân chúng, dựa hẳn vào
dân cày nghèo, liên lạc với trung nông. Lực lượng cách mạng bao gồm : thứ nhất
là giai cấp công - nông là gốc, là động lực của cách mạng, thứ hai là những người
yêu nước trong các giai cấp khác là đồng minh của cách mạng.).
Bốn là, lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong
của giai cấp là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm là, về phương pháp cách mạng, Đảng chủ trương phải giành chính
quyền bằng bạo lực cách mạng.
Sáu là, cách mạng Việt Nam đoàn kết với giai cấp vô sản và các dân tộc
thuộc địa trên thế giới để chống chủ nghĩa đế quốc. Cách mạng Việt Nam là một
bộ phận của cách mạng thế giới.
Từ những nội dung cơ bản trên, Đảng đã thể hiện trình độ tư duy sâu sắc
và sáng tạo: vừa vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng Việt
Nam, vừa đáp ứng chính xác những yêu cầu khách quan của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.
Ngoài ra có thể thấy sự sáng tạo trong Cương lĩnh Chính trị mà Nguyễn Ái
Quốc đã soạn thảo. Sáng tạo trong vấn đề dân tộc, xác định thái độ với các giai
cấp, liên minh giai cấp và đoàn kết toàn dân tộc. Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, xác định rõ chủ trương
"Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng
sản". Cuộc cách mạng này đánh đổ thực dân Pháp và bọn phong kiến, làm cho
nước ta được hoàn toàn độc lập, nhân dân được các quyền dân chủ, tự do, hạnh
phúc. Đó chính là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xuyên
suốt các chủ trương đường lối cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ta ra đời đến
nay. Trong tư tưởng lớn đó, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc là ở chỗ: xác định độc
lập dân tộc là mục tiêu cốt lõi, trực tiếp trước mắt, là tiền đề, điều kiện để tiến lên
chủ nghĩa xã hội. Sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc là ở chỗ quan niệm lực lượng
cách mạng ở nước ta là toàn thể nhân dân. Từ đây, có thể thấy Nguyễn Ái Quốc
đánh giá đúng tầm quan trọng của nhân tố dân tộc trong cách mạng giải phóng
dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc, nêu ra chủ trương đoàn kết tất cả các
tầng lớp nhân dân có thể đoàn kết được, có thể tạo nên sức mạnh đánh đổ đế quốc và phong kiến.
Đề 2: Phân tích yếu tố thời cơ trong đường lối giành chính quyền của ĐCSĐD
(1939 - 1945) liên hệ với việc nắm bắt thời cơ hiện nay của Việt Nam.

Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài Làm
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh,
dân tộc Việt Nam đã thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám, đánh đổ thực
dân, phong kiến; thành lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một trong
những yếu tố góp phần làm nên thắng lợi to lớn là bài học về chớp thời cơ và vận
dụng đúng thời cơ cách mạng.
Thứ nhất là từ sự kiện ngày 12/8/1946, sau khi nhận được tin phát xít Nhật
Bản bị thua to trên hầu khắp các chiến trường châu Á - Thái Bình Dương trong
thế chiến II, nên phải gửi công hàm cho các nước Đồng minh đề nghị ngừng bắn.
Bằng nhãn quan chính trị nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, nắm bắt thời cuộc kịp
thời, Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã nhóm họp ngay tại
Tân Trào để quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Ngay sau cuộc
họp, “Mệnh lệnh khởi nghĩa” đã được phát ra.
Chiều tối ngày hôm sau, 13/8/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng
nhận được thêm một tin rất quan trọng, đó là phát xít Nhật đã bại trận và chuẩn
bị đầu hàng quân Đồng minh. Ngay lập tức, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt
Minh đã thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc; đồng thời soạn thảo “Quân lệnh
số 1” và được phát đi ngay, hạ lệnh Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.
Ngày 14/8/1945, sau khi nghe tin Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố
Hirôsima của Nhật Bản, Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào nhận định:
“Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”. Trên cơ sở đó, đồng chí Hồ
Chí Minh đã chỉ thị: “Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút. Tình hình sẽ
chuyển biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”.
Tại sao lại phải tiến hành Tổng khởi nghĩa ngay lúc đó là vì đồng chí Hồ
Chí Minh và Trung ương Đảng đã nhận định và nắm bắt được tình hình có sự
chuyển biến nhanh chóng: phát xít Nhật đã chết theo phát xít Đức; quân đội Nhật
đã và đang tan rã, bị tước vũ khí trên khắp các chiến trường; quân Đồng minh sắp
kéo vào Đông Dương. Vì vậy nếu không khởi nghĩa giành chính quyền từ tay
quân Nhật, mà để đến khi quân Đồng minh kéo vào nhận bàn giao chính quyền
từ tay quân Nhật, thì nhân dân ta không thể tiến hành khởi nghĩa được nữa, vì lúc
này Việt Minh đang cùng phe với quân Đồng minh.
Thứ hai, sự kiện Chính phủ cách mạng lâm thời yêu cầu vua Bảo Đại thoái
vị và tiếp nhận sự thoái vị của nhà vua (ngày 30/8/1945 tại Huế) cũng là việc lực
lượng cách mạng đã chớp thời cơ, tranh thủ thời cơ và vận dụng đúng thời cơ.
Việc vua Bảo Đại thoái vị đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền phong kiến; đồng
thời triệt tiêu một đầu mối quan trọng mà các thế lực đế quốc, phản động muốn
duy trì, sử dụng để mưu toan chống phá chính quyền cách mạng, đặt lại ách thống
trị trên đất nước ta.
Thứ ba, sự kiện ngày 2/9/1945 tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” tuyên bố với toàn thể nhân dân Việt Nam
và với thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập và tự do đã ra đời;
Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã chính thức ra
mắt trước quốc dân đồng bào. Nếu chậm trễ không tuyên bố độc lập, chủ quyền
trước khi quân Đồng minh tiến vào thì dù có cướp được chính quyền cũng phải
bàn giao lại cho quân Đồng minh tiếp quản. Vì vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh
tiếp tục chớp thời cơ, khẩn trương chỉ đạo sớm tiến hành tổ chức Lễ Độc lập liền
sau khi cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công trên cả nước
chính là nhằm ngay lập tức khẳng định chủ quyền của nhân dân Việt Nam trước
các thế lực đế quốc, phản động đội lốt dưới danh nghĩa quân Đồng minh.
Có thể khẳng định, thành công lớn nhất của nghệ thuật khởi nghĩa trong
Cách mạng Tháng Tám: Ðảng ta đã chọn đúng thời cơ "nổ ra đúng lúc". Ðó là lúc
16 nghìn quân Anh chưa vào miền nam và 200 nghìn quân Tưởng chưa vào miền
bắc để giải giáp quân Nhật; cũng là lúc quân Nhật bại trận mất tinh thần, ngồi chờ
Ðồng minh đến tước vũ khí; ngụy quyền tay sai bỏ trốn hoặc đầu hàng chính
quyền cách mạng. Chọn đúng thời cơ là một khoa học, là một nghệ thuật, nhờ thế
sức mạnh của toàn dân ta được nhân lên gấp bội, tiến tới khởi nghĩa giành chính
quyền trong cả nước một cách nhanh, gọn, không đổ máu và thành công triệt để.
Từ bài học trên về cách nắm bắt thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám,
Đảng ta cũng đã áp dụng những bài học về cách nắm bắt thời cơ ở thời điểm hiện
nay. Thời gian qua, toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập quốc tế là một diễn biến
khách quan mang tính tất yếu. Đảng ta đã biến nó thành cơ hội khi chuẩn bị một
tâm thế sẵn sàng hội nhập, bắt đầu từ kinh tế, rồi dần là văn hóa, thể thao… cho
đến chính trị. Việt Nam đã gia nhập ASEAN, trở thành thành viên Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), ứng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo
an Liên hiệp quốc… Vị thế, vai trò và uy tín của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Thời gian vừa qua dịch Covid-19 đã gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế thế
giới nhưng cũng có thể tạo ra một số cơ hội. Cùng với sự tác động của chiến tranh
thương mại Mỹ - Trung, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã có sự chuyển dịch địa
bàn đầu tư và quy mô đầu tư, họ đã và đang chọn điểm đến là Việt Nam. Nước ta
có thể nắm bắt cơ hội này để thúc đẩy phát triển đất nước trên tinh thần chuẩn bị
các điều kiện cần thiết và hấp dẫn để “lót ổ đón đại bàng” như Thủ tướng Nguyễn
Xuân Phúc đã chỉ đạo.
Có thể thấy, thông qua bài học lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, Đảng
ta đã luôn sáng tạo và có nhiều lựa chọn đúng đắn trong việc nắm bắt thời cơ
chiến lược từ trong và ngoài nước, từ đó càng ngày càng giúp cho Việt Nam trở
nên vững mạnh hơn, hùng cường hơn và càng ngày càng trên đà để “Hóa rồng”,
phát triển mạnh mẽ và thịnh vượng.
Đề 3: Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới của
Đảng trong thời kì 1954 – 1945.

Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài làm
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đất nước ta mặc dù có được sự độc
lập và tự do, nhưng lại lâm vào tình thế ngặt ngheo “ngàn cân treo sợi tóc”. Nạn
đói khủng khiếp do quân Nhật để lại thì chưa chấm dứt lại xảy ra lụt lớn ở Bắc
Bộ, sau đó lại đến hạn hán. Sản xuất đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giá cả cao
vọt. Về mặt tài chính, Nhà nước gặp khó khăn lớn: Kho bạc trống rỗng, thuế chưa
thu được. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời chưa được nước nào trên thế
giới công nhận. Ngoài ra còn có quân Anh, quân Tưởng và đặc biệt là thực dân
Pháp đã quay trở lại xâm lược nước ta và muốn biến nước ta trở lại là một thuộc
địa để vơ vét và bóc lột. Thêm nữa các thế lực phản động Việt Quốc, Việt Cách
càng tích cực chống phá Nhà nước non trẻ của chúng ta. Trước tình hình đó,
kháng chiến là điều chắc chắn không thể tránh khỏi để bảo vệ cho nền hòa bình
và độc lập cũng như toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta. Song song với kháng chiến
là công cuộc xây dựng chế độ mới cũng được triển khai để có thể làm một lúc hai
nhiệm vụ: quản lý đất nước và xây dựng căn cứ địa cách mạng nhằm tạo cơ sở
cho cuộc kháng chiến để bảo vệ độc lập dân tộc. Từ tình hình trên, có thể thấy
đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới thời kì này có mối liên hệ song
song và chặt chẽ với nhau.
Đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới của nước ta thời kì này có
bốn đặc điểm chung : Toàn dân, Toàn diện, Lâu dài và Tự lực.
Trước hết là đường lối Toàn dân. Với mục đích kháng chiến là để kế tục
thành quả của Cách mạng Tháng Tám và đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược,
giành thống nhất và độc lập cho Tổ Quốc. Vậy nên đây là cuộc chiến tranh cách
mạng toàn dân, của sự chính nghĩa . Nó có tính toàn dân, toàn diện và lâu dài. Nó
là cuộc đấu tranh tiến bộ vì tự do, độc lập và hòa bình. Cuộc chiến này lấy dân
làm gốc, làm cốt lõi cho toàn bộ quá trình đấu tranh kháng chiến. Xuất phát từ
niềm tin vào nhân dân về cuộc chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trong
“Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (1946) : “Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng
phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu
Tổ quốc…”. Từ đây có thể thấy xuyên suốt thời kì này mỗi người dân là một
chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài chống quân xâm lược. Đó là một nguồn
sức mạnh cực lớn, không thể bị phá vỡ. Điều này cũng đúng với quá trình xây
dựng chế độ mới, toàn thể nhân dân đều là nguồn lực chung để thay đổi đất nước,
tất cả nhân dân đều đồng lòng đồng sức để vượt qua mọi tình thế hiểm nghèo, ví
dụ như qua các chương trình “hũ gạo cứu đói”;” một nắm khi đói bằng một gói
khi no”,… Nhân dân ta đã đồng lòng vượt qua được tình thế đói ăn ngặt nghèo
thời kì 1945. Từ đây có thể thấy khi nhân dân đồng lòng, không gì có thể không
làm được dù tình huống hiểm nghèo đến đâu. Bất kì người dân nào không phân
biệt tôn giáo, vùng miền, dân tộc,.. đều có thể góp sức tạo thành sức mạnh chung
cho đất nước, thay đổi bộ mặt nước nhà.
Thứ hai là đường lối Toàn diện. Đường lối kháng chiến toàn diện là ta đánh
địch trên các mặt trận : chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, ngoại giao. Về chính
trị : Ta thực hiện đoàn kết toàn dân; tăng cường xây dựng bộ máy chính quyền ổn
định; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu tự do hòa bình. Về quân sự: thực
hiện vũ trang toàn dân, toàn dân cùng nhau tiêu diệt địch thù. Về văn hóa : tiêu
diệt giặc dốt; xóa mù chữ; phá bỏ tàn dư phong kiến, văn hóa thực dân; xây dựng
nền văn hóa dân chủ tiến bộ. Về kinh tế: xây dựng nền kinh tế tự túc tự cấp; tập
trung phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, đặc biệt là công
nghiệp quốc phòng. Về ngoại giao : thêm bạn bớt thù, tập trung liên kết với các
nước thuộc khối XHCN và những nơi yêu tự do, hòa bình. Điều này cũng đúng
và đi song song với quá trình xây dựng chế độ mới. Nhờ phát triển năm điều trên
và vận hành nó song song giữa kháng chiến và xây dựng chế độ, đất nước ta đã
trở nên liên kết hơn giữa các khối và phát triển hơn, vững mạnh hơn, từ đó phục
vụ tốt hơn cho công cuộc kháng chiến cứu quốc.
Thứ ba là đường lối Lâu dài. Việc thực hiện đường lối kháng chiến lâu dài
là bước đầu tiên để chống lại chiến lược tiến công của giặc là “Đánh nhanh thắng
nhanh”. Đây là bước tiền đề để chuyển hóa tương quan lực lượng nhằm đánh
thắng địch, để củng cố cho hậu phương và quá trình xây dựng chế độ mới trở nên
vững chắc. Cũng với đường lối này cho ta thấy rằng công cuộc xây dựng một chế
độ mới không thể áp dụng một kế hoạch, chiến lược vội vã, chủ quan; mà phải
tiến hành với tâm thế kỹ lưỡng, cẩn thận và đúng đắn. Chậm nhưng chắc!
Thứ tư và cuối cùng, là đường lối Tự lực, có nghĩa là: “Phải tự cấp, tự túc
về mọi mặt". Nhân dân ta phải đồng sức đồng lòng thi đua sản xuất, huy động hết
sức người, sức của để xây dựng cơ sở vững chắc cho nền công nghiệp, nông
nghiệp. Chỉ có lao động mới tạo ra của cải vật chất. Vì ta bị bao vây bốn phía,
chưa được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh, kháng chiến dựa vào ý
chí và sức mạnh nước nhà. Khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của
các nước, song lúc đó cũng không được ỷ lại vào nước bạn, chỉ có bản thân ta
mới tự giúp, tự cứu ta là chính.
Như vậy, qua bốn đường lối chủ đạo trên, có thể thấy sự liên quan mật thiết
giữa quá trình chỉ đạo kháng chiến và xây dựng chế độ mới của Đảng đối với đất
nước ta giai đoạn 1945 – 1954. Đó là chúng luôn song hành và bổ trợ cho nhau.
Qua đó có thể thấy được tính đúng đắn sáng tạo của Đảng trong tư duy lãnh đạo
nhân dân cũng như quản lý đất nước. Từ đây làm tiền đề cho quá trình xây dựng
và bảo vệ Tổ Quốc sau này.
Đề 4: Tư tưởng chiến lược tấn công của Đảng trong giai đoạn 1959-1964.
Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài Làm
Sau khi đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi nước ta qua chiến dịch Điện Biên Phủ
lưng lẫy và ép Pháp phải kí vào Hiệp ước Genève để chúng rút khỏi nươc ta, những
tưởng đất nước ta đã được thống nhât và hòa bình, thì Đế quốc Mỹ bắt đầu giở trò và
nhúng tay can thiệp nhằm không để nước ta thống nhất thành một khối, và biến miền
Nam Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới. Từ đây đất nước ta lại phải bắt đầu chuẩn
bị và tiến hành cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954- 1975 đầy gian khổ. Và
nhất là với thời kì đầu trước năm 1959, bằng nhiều hình thức thủ đoạn, Mỹ và chính
quyền tay sai đã tiến hành nhiều cuộc càn quét đàn áp các phong trào của nhân dân, mà
đỉnh điểm là Đạo luật 10-59 mà Ngô Đình Diệm ban hành : đặt Cộng Sản ra ngoài vòng
pháp luật gặp Cộng Sản là phải tiêu diệt. Trước tình hình trên, Đảng ta đã thay đổi chiến
lược tiến công cũ sang chiến lược mới để phù hợp hơn với con đường Cách mạng dân
tộc dân chủ nhần dân ở miền Nam trong thời kì 1959-1964.
Trước tình thế cấp bách về thời cuộc, sau Nghị quyết Trung ương lần thứ 15
(01/1959) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960), cách mạng miền
Nam đã chuyển hướng chiến lược từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh chính trị kết hợp
với đấu tranh vũ trang, lấy đấu tranh vũ trang là quyết định. Theo đó, các lực lượng cách
mạng chủ động tiến công địch trên nhiều mặt trận, với nhiều quy mô, hình thức. Từ thực
tiễn cách mạng miền Nam, lực lượng vũ trang chính quy của ta đã tập kết ra miền Bắc
sau Hiệp định Genève (7/1954); Trung ương Đảng chủ trương: “Đi đôi với xây dựng
lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị, phải ra sức xây dựng lực lượng vũ trang bao
gồm dân quân, du kích ở thôn, xã, bộ đội địa phương tỉnh, huyện đến bộ đội chủ lực
khu, miền, đồng thời phải đẩy mạnh đấu tranh quân sự của ba thứ quân để giúp sức đắc
lực cho đấu tranh chính trị”; trong đó, chú trọng xây dựng các đơn vị vũ trang tập trung.
Như vậy, có thể thấy nghị quyết xác định con đường phát triển của cách mạng
miền Nam là bạo lực cách mạng thay vì chỉ đấu tranh dân chủ và chính trị như trước
đó, chuyển từ giữ gìn lực lượng sáng thế tiến công. Nghị quyết Hội nghị Trung ương
lần thứ 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã mở đường cho cách mạng miền
Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trong
những năm tháng khó khăn của cách mạng.
Đi cùng với tình hình chiến sự tại miền Nam, ở ngoài Bắc cũng tiến hành cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố và phát huy thắng lợi đã giành được, là
xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà. Miền Bắc tiến lên chủ
nghĩa xã hội một mặt là vì mục đích nâng cao không ngừng đời sống của nhân dân miền
Bắc; mặt khác là tích cực gánh vác phần trách nhiệm đối với phong trào cách mạng của
cả nước. Kinh tế, văn hoá miền Bắc ngày càng phát triển, đời sống nhân dân miền Bắc
ngày càng được cải thiện, lực lượng quốc phòng của miền Bắc ngày càng được vững
mạnh thì sẽ tăng thêm sức mạnh của cách mạng và uy thế chính trị của nhân dân ta, tăng
thêm tin tưởng và tính tích cực cách mạng của đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ.
Như vậy, có thể thấy thấy đường lối của Đảng trong việc chỉ đạo chiến lược tiến
công trong giai đoạn 1959-1964 là đúng đắn, hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể và mang
tính thực tiễn cao. Muốn thống nhất nước nhà cần phải xây dựng củng cố và phát triển
lực lượng để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước
dựa trên cơ sở miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh
phong trào cách mạng ở miền Nam. Quá trình hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân trong cả nước là quá trình tích cực phát huy tính hơn hẳn của chế độ
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời cũng là quá trình tập hợp rộng rãi mọi lực lượng
yêu nước, tiến bộ ở miền Nam để đấu tranh chống Mỹ - Diệm, tiến lên làm thất bại các
chính sách của đế quốc Mỹ, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tạo điều kiện
thuận lợi nhất để hoà bình thống nhất nước nhà.
Đề 5: Phân tích mối quan hệ giữa Chính trị - Quân sự - Ngoại giao của Đảng
trong giai đoạn 1954 – 1975.

Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài Làm
Giai đoạn 1954 – 1975 là một thời kì đất nước ta trải qua rất nhiều gian
khổ. Sau khi đánh đuổi được Đế quốc Pháp sau chiến thắng Điện Biên Phủ lừng
danh và Hiệp định Genève được kí kết, tưởng chừng như nước ta được đi đến kỉ
nguyên của độc lập tự do mới, cả nước chung tay tiến lên chủ nghĩa xã hội, thì
Đế quốc Mỹ cùng các tay sai của họ đã tiến hành kế hoạch xâm lược và biến miền
Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thực hiện các chính sách dã man nhằm
đàn áp các phong trào yêu nước và tận diện Cộng Sản qua Đạo luật 10-59 của
Ngô Đình Diệm. Trước tình hình cấp bách như trên, Đảng ta đã lãnh đạo nhân
dân hai miền đứng lên kháng chiến chống Mỹ và trải qua hơn 20 năm trường kỳ
gian khổ, sau Đại thắng mùa xuân năm 1975, Đất nước ta đã được thống nhất,
cùng nhau bước chung con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi này là sự kết
tinh của toàn dân tộc, mà đứng đầu là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhờ những
đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng nên dẫn đến được thắng lợi như trên. Và
một trong số đường lối đúng đắn ấy là sự kết hợp giữa ba hình thức Chính trị -
Quân sự - Ngoại giao. Trong bài này, ta sẽ nói rõ hơn về mối liên hệ của ba hình thức đấu tranh trên.
Về đấu tranh chính trị: có tác dụng lớn lao và tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ
phát huy tác dụng khi có sự kết hợp, hỗ trợ của đấu tranh quân sự. Đấu tranh
chính trị bằng nhiều hình thức, biện pháp: công khai, hợp pháp, bí mật bất hợp
pháp… có nhiều cấp độ và chỉ được coi là một hình thức đấu tranh cơ bản của
bạo lực cách mạng khi nhằm mục tiêu giành chính quyền. Các phong trào đấu
tranh chính trị ở miền Nam được coi là bạo lực cách mạng vì đều hướng tới mục
tiêu đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai (kể cả các phong trào đấu
tranh công khai, hợp pháp).
Về lực lượng quân sự và đấu tranh trên mặt trận quân sự: có vị trí, vai trò
quyết định trực tiếp đến việc tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, làm thay đổi cục
diện chiến trường và kết thúc chiến tranh; đập tan những âm mưu, hành động
chính trị - quân sự của địch…Ở giai đoạn cuối cuộc chiến tranh, đấu tranh quân
sự có vai trò trực tiếp quyết định thắng lợi. Nhưng nó phải được kết hợp chặt chẽ
với lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị của quần chúng thì mới phát huy hết
sức mạnh tiến công địch. Đấu tranh quân sự phát triển từ thấp đến cao, kết hợp
đánh nhỏ, đánh vừa với những chiến dịch qui mô lớn, phối hợp và tạo thế cho đấu tranh chính trị.
Cùng với đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự là sự kết hợp với đấu tranh
ngoại giao. Mặt trận đấu tranh ngoại giao thực sự là mũi tiến công địch cực kỳ lợi
hại, góp phần nhân thắng lợi của đấu tranh quân sự, chính trị lên và củng cố vững
chắc thắng lợi quân sự, chính trị. Nghị quyết TW13 (01 - 1967) đã quyết định mở
mặt trận đấu tranh ngoại giao đúng lúc để kết hợp với mặt trận quân sự, chính trị,
tạo thế tiến công địch toàn diện. Đảng xác định: “Đi đôi với đấu tranh quân sự và
chính trị ở miền Nam, ta cần tiến công địch về mặt ngoại giao, phối hợp với hai
mặt đấu tranh đó để giành thắng lợi to lớn hơn nữa”
Cuộc đấu tranh ngoại giao với đế quốc Mỹ ở Hội nghị Paris kéo dài gần 5
năm (13/5/1968 - 27/1/1973). Đấu tranh ngoại giao thực sự là một mũi tiến công
bền bỉ, phối hợp nhịp nhàng với những đòn tiến công dồn dập trên mặt trận chính
trị, quân sự ở chiến trường. Chính nhờ sức mạnh tổng hợp đó, chúng ta đã giành
được thắng lợi quyết định, làm cơ sở tiến lên giành thắng lợi cuối cùng vào mùa xuân năm 1975.
Như vậy, có thể thấy được sự liên kết của ba đường lối đấu tranh mà Đảng
dùng để lãnh đạo nhân dân ta chống Mỹ và tay sai trong thời kì 1954 – 1975. Cả
ba đều bổ trợ cho nhau và có một sợi dây liên kết vững chắc với nhau. Nếu thiếu
một trong ba hình thức trên, chiến thắng trước đế quốc Mỹ là điều bất khả thi với
dân tộc ta. Và cũng từ đó mà Đảng và Nhà nước ta đã tích lúy được nhiều kinh
nghiệm quý báu về đường lối đấu tranh và đem ra sử dụng khi đất nước có biến
cố, cụ thể hơn là hai cuộc chiến thời kì hậu chống Mỹ đó là chiến tranh chống
Polpot – Khmer Đỏ 1978 – 1979 và chiến tranh Biên giới Việt – Trung 1979. Qua
đó một lần nữa khẳng định được tính đúng đắn và sáng tạo của Đảng trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Đề 6: Vì sao trong quá trình CNH-HDH thời kì đổi mới, ĐCSVN lại gắn vấn
đề CNH – HĐH với vấn đề môi trường ?

Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài Làm
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa (CNH – HĐH) từ lâu đã luôn là vấn đề
quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm và đặt lên hàng đầu trong quá trình
Xây dựng và Phát triển đất nước, cùng tiến tới quá trình quá độ lên CNXH. Tuy
nhiên, theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ô nhiễm nguồn nước,
không khí đang lan rộng không chỉ ở các KCN, khu đô thị, mà ở cả nhũng vùng
nông thôn; đa dạng sinh học tiếp tục bị suy giảm; biến đổi khí hậu và nước biển
dâng gây ra triều cường và những hậu quả khôn lường. Đây chính là kết quả của
quá trình Công nghiệp hóa nhanh ở nước ta. Trước thực trạng báo động trên,
ĐCSVN cần phải có một hướng đi mới để có thể tiếp tục quá trình CNH – HĐH
mà không ảnh hưởng đến môi trường sinh sống.
Trước tình hình đó, ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị có Nghị quyết 41-
NQ/TW "Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại
hóa đất nước”
đã khẳng định bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một nội
dung cơ bản của phát triển bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH. Năm
2005, Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ môi trường. Tại Đại hội Đảng lần thứ
XI, nội dung BVMT được nâng lên một tầm cao mới, gắn chặt với quá trình CNH-
HĐH: ''Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình dự án đầu tư' .
Một điểm
mới so với Đại hội X là đưa thêm nội dung ''chú trọng phát triển kinh tế xanh,
thân
thiện với môi trường; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch,
tiêu dùng sạch
”.
Nhờ việc đẩy mạnh CNH – HĐH, tốc độ sản xuất của cải vật chất đã gia
tăng đáng kể, nhu cầu việc làm của người lao động được đáp ứng đáng kể, các đô
thị mọc lên hàng loạt kích thích môi trường trao đổi hàng hóa,… từ đây nền kinh
tế của đất nước đã được tạo đà phát triển đáng kể. Tuy nhiên, chính vì quá trình
CNH – HĐH đẩy mạnh quá nhanh quá mức nên dẫn tới việc gây ra nhiều ảnh
hưởng không nhỏ đến môi trường như vừa nêu trên. Việc CNH-HĐH các ngành
công nghiệp nặng gây ra những ảnh hưởng không thể bỏ qua với môi trường. Việc
các làng nghề sản xuất tự phát, sử dụng công nghệ lạc hậu nên phần lớn đều gây
ô nhiễm môi trường. CHH-HĐH sẽ kéo theo đô thị hóa, đây thực sự là sức ép lớn
về môi trường trong quản lý đô thị. Song song với quá trình CNH-HĐH, chúng
ta đang phải chịu những áp lực về thay đổi cấu trúc và mô hình phát triển do sự
cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường ngày càng bộc lộ rõ rệt.
Từ những nguyên nhân cơ bản trên, có thể thấy được một mối lo lớn khi
thực hiện CNH – HĐH quá nhanh mà vấn đề môi trường bị bỏ ngỏ. Vậy nên cần
phải giải quyết vấn đề này theo cách thân thiện hơn với môi trường và thậm chí
có thể khôi phục lại một phần môi trường bị ảnh hưởng xấu do quá trình CNH –
HĐH gây nên. Và vấn đề này đã được đề cập đến trong văn kiện của Đại hội
Đảng lần thứ XI. Ở đây vấn đề môi trường đã được Nhà nước đặc biệt quan tâm
đặc biệt và đưa ra hướng giải quyết đó là xây dựng năng lực sẵn có để xây dựng
và phát triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng xanh,
năng lượng tái tạo...; vì đây là động lực chủ yếu để thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng phát triển bền vững. Tuy nhiên, đây lại là
một thách thức lớn và đòi hỏi phải có quyết tâm lớn nhằm tạo ra được sự đột phá
lớn trong quá trình chuyển đổi cơ cấu, mô hình tăng trưởng theo hướng thân thiện
với môi trường, phát triển bền vững.
Thực tiễn phát triển nước ta trong những năm gần đây khẳng định, chúng
ta có đủ năng lực, điều kiện để chuyên đổi thành công sang mô hình phát triển
bền vững. Kinh nghiệm phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, cơ
khí tự động hóa, công nghệ vật liệu cũng như việc chế tạo thành công các sản
phẩm nano, những thành tựu trong công nghệ sinh học, cùng với năng lực sáng
tạo trong toán học, vật lý học, hóa học... cho thấy nếu có đủ quyết tâm và cách
sáng tạo, phù hợp, chúng ta sẽ nhanh chóng bước vào quỹ đạo phát triển hiện đại
mà 21 quốc gia thành viên APEC, trong đó có Việt Nam đã cam kết tại Hội nghị
Thượng đỉnh tại Tokyo tháng 11- 2010, về thực hiện một mô hình tăng trưởng
mới, đảm bảo 5 yêu cầu: Tăng trưởng cân bằng; Tăng trưởng an toàn; Tăng trưởng
bền vững; Tăng trưởng dựa vào trí tuệ; Tăng trưởng với lợi ích được chia sẻ công
bằng cho tất cả mọi người. Đây phải trở thành điểm xuyên suốt quá trình CNH- HĐH nước ta.
Tuy rằng việc thực hiện các đề án, các chiến lược và mô hình về vấn đề
tăng trưởng bền vững được thực hiện khá tốt, nhưng vẫn còn những yếu kém,
khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường và những vấn đề này chủ yếu đến
từ các cấp ngành quá quan tâm về mặt tăng trưởng kinh tế, chưa đảm bảo được
sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế phải đi liền với bảo vệ môi trường. Chính vì
vậy, cần có sự can thiệp của Bộ hoặc Sở Tài nguyên - Môi trường. Đơn vị này sẽ
chịu trách nhiệm thẩm định trước các dự án đầu tư và các dự án này phải gửi báo
cáo đánh giá tác động đến môi trường cho họ phê duyệt. . Đồng thời, tăng cường
việc kiểm soát ô nhiễm tại nguồn; chú trọng quản lý chất thải, nhất là các chất
thải trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ y tế. Và cần có sự chuyển
biến mạnh mẽ trong toàn Đảng và toàn xã hội về nhận thức và hành động, trong
chỉ đạo điều hành và đặc biệt trong tổ chức triển khai các hoạt động bảo vệ môi
trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, gắn với phát triển Kinh tế thị trường.
Như vậy, có thể thấy việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững
là biện pháp hữu hiệu nhất có khả năng phòng ngừa và hạn chế tối đa các tác động
xấu đối với môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH. Đây cũng chính là
câu trả lời cho câu hỏi “Vì sao trong quá trình CNH-HDH thời kì đổi mới,
ĐCSVN lại gắn vấn đề CNH – HĐH với vấn đề môi trường ?”, vì giữa việc phát
triển CNH – HĐH và vấn đề môi trường, có một sợi dây liên kết hai điều đó và
phải giữ cho hai điều ấy cân bằng với nhau. Từ đó mới đi đến sự phát triển bền vững cho Đất nước.
Đề 7: Tại sao phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là bước phát triển
mới về tư duy lí luận của Đảng ? Vì sao DCSVN lựa chọn mô hình kinh tế thị
trường định hướng XHCN là một tất yếu.

Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài làm
Để trả lời cho câu hỏi “Tại sao phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
là bước phát triển mới về tư duy lí luận của Đảng ?”, trước hết cần nhìn lại về tình hình
đất nước ta trước khi Đảng tiến hành công cuộc Đổi Mới. Để từ đây ta sẽ có cái nhìn
trực quan hơn về tình hình đất nước ta lúc bấy giờ,và nhận thấy được sự đột phá về tư
duy lí luận này của Đảng Cộng Sản Việt Nam khi đã tiến hành kế hoạch trên.
Trước hết, nhìn lại lịch sử, sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước ta tiến
vào một kỉ nguyên mới. Đó là kỉ nguyên của hòa bình, thống nhất, độc lập và cả nước
đều cùng nhau đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, với kế hoạch Kinh tế - Xã hội 1976
– 1980 đã đề ra những chỉ tiêu quá lớn về quy mô, quá cao về tốc độ xây dựng cơ bản
và phát triển sản xuất mà không tính đến điều kiện thực tế của đất nước sau thống nhất
nên dẫn đến việc chúng ta không theo kịp được kế hoạch đã nêu. Ngoài ra do thời gian
thực hiện khá lâu đi cùng với đó là tư tưởng quan liêu bao cấp, tư tưởng chủ quan nóng
vội, giáo điều cùng chủ trương cải tạo chưa đúng, quản lí kém và trì trệ càng khiến kinh
tế Việt Nam mất cân đối , kinh tế quốc doanh và tập thể luôn thua lỗ nặng, không phát
huy tác dụng. Kinh tế tư nhân và cá thể bị ngăn cấm triệt để. Sản xuất chậm phát triển,
thu nhập quốc dân, năng suất thấp, đời sống nhân dân khó khăn, xã hội nảy sinh nhiều
hiện tượng tiêu cực. Ngoài ra tình hình quốc tế cũng hết sức phức tạp giữa sự bất đồng
của hai nước XHCN lớn là Liên Xô và Trung Quốc, cùng với đó là những chính sách
cấm vận và phá hoại của Mỹ sau chiến tranh càng khiến cho tình hình trở nên rối ren, bất ốn.
Trước tình hình trên, Đảng và nhà nước ta cần phải thay đổi những chính sách
sai lầm không phù hợp thực tiễn lúc bấy giờ, và quan trọng nhất là cải cách về tư tưởng
bảo thủ, quan liêu bao cấp của thời kì chiến tranh và hậu chiến mà thay vào đó là tư
tưởng tiến bộ, cởi mở và nhanh nhạy hơn trước thời cuộc.
Cụ thể hơn, Đại hội VI năm 1986 đã đề ra đường lối đổi mới, trong đó có đổi
mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm tạo ra động lực thúc đẩy các đơn vị kinh tế và quần
chúng lao động tích cực phát triển sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả
kinh tế. Và quan trọng nhất đó là kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp,
thiết lập và hình thành đồng bộ cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh
doanh XHCN đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Từ đây có thể thấy sự tiến bộ vượt
bậc của Đảng ta khi đã dám phá bỏ đi cái cũ tồn tại từ lâu và đã lỗi thời, đã dám phá vỡ
đi những nguyên tắc giáo điều tưởng như là khuôn khổ mẫu mực của một chế độ XHCN
là đường lối cứng nhắc về vấn đề kinh tế tập trung quan liêu bao cấp kiểu cũ của nhà
nước XHCN, mà thay vào đó là sự đột phá về nền kinh tế mới mang hơi thở của nền
kinh tế thị trường. Và từ đây,có thể thấy quyết định trên của Đại hội VI năm 1986 dấu
mốc quan trọng trong quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về con đường và
phương pháp xây dựng CNXH ở nước ta.
Đối với câu hỏi “Vì sao DCSVN lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng
XHCN là một tất yếu ?”, dựa trên những điều đã nêu về tình hình đất nước ta sau khi
Thống Nhất và trước Đại hội VI năm 1986, có thể thấy rằng nếu muốn Đất nước ta thoát
khỏi tình thế khó khăn cực độ như vậy, cần bắt buộc phải lựa chọn một mô hình kinh tế
mới và phù hợp với yêu cầu của thời đại chứ không thể đi theo lối mòn cũ và giáo điều.
Ngoài ra nếu xét về thực tại bây giờ, thì phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở nước ta là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển khách quan và xu thế
tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường là một phạm trù kinh tế riêng, có tính độc lập
tương đối, phát triển theo những quy luật riêng của nó dù nó tồn tại ở đâu và bất kể thời
điểm nào của lịch sử.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát
triển kinh tế thị trường cũng là cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển
kinh tế hàng hóa. Đó là sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa
những người sản xuất hàng hóa quy định. Có nghĩa là kinh tế thị trường tồn tại cả trong
chủ nghĩa xã hội cũng như trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Kinh tế thị trường XHCN
dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục đích của
nền kinh tế thị trường là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
xóa bỏ chế độ bóc lột, giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta khẳng định: phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng
quát trong suốt thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là sự đúc kết của
nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi và tổng kết của Đảng, và điều này vẫn đúng cho đến ngày nay.
Đề 8: Vì sao tại Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, DCSVN khẳng định “Văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển đất nước” ?

Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài làm
Thực trạng Việt Nam sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa
VIII cho thấy, tuy có nhiều biến chuyển tích cực về nhiều mặt làm đất nước phát
triển về kinh tế - đời sống – xã hội. Tuy nhiên tình trạng suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng.
Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu. Môi trường văn
hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục;
tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng. Còn ít những tác phẩm văn học,
nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, đa phần các tác phẩm chạy
theo thị hiếu tầm thường, chất lượng thấp, thậm chí có hại. Việc bảo tồn, phát huy
giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ mai một chưa được ngăn chặn.
Hệ thống thông tin đại chúng phát triển thiếu quy hoạch khoa học, gây lãng phí
nguồn lực và quản lý không theo kịp sự phát triển. Một số cơ quan truyền thông
còn tận dụng truyền thông bẩn để tạo tương tác nhằm kiếm thêm lợi nhuận. Kinh
tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, về huy động, quản lý các nguồn lực cho
văn hóa chưa cụ thể, rõ ràng. Hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn
hóa còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp.
Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa còn nhiều
hạn chế, bất cập. Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc
sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một
bộ phận nhân dân, nhất là với giới trẻ.
Trước thực trạng trên, cần phải định hướng lại và làm rõ được vai trò của
văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất nước nhằm kéo đất nước thoát
khỏi tình trạng như trên. Trước yêu cầu đó, Đảng ta xác định: Văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Quan
điểm này được thể hiện qua mấy nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Các giá trị văn hóa tạo
thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong mỗi con người
và cả dân tộc. Các giá trị văn hóa được nối tiếp, trao truyền và phát huy qua các
thế hệ người Việt Nam, đó là tất yếu của dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện
tại và hướng đến tương lai, tương lai của những giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Vì vậy,
chúng ta làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các
giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội.
Thứ hai, văn hóa là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước. Đất nước
ta hiện tại đang trong quá trình phát triển quá độ lên chế độ Xã hội Chủ nghĩa.
Mục tiêu chung hiện tại đó là xây dựng một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”. Đây cũng là mục tiêu của văn hóa, nếu hiểu theo
nghĩa rộng nhất của văn hóa. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020
xác định: Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con
người. Đồng thời nêu rõ yêu cầu “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và
công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”, ngày nay không thể
phát triển bằng mọi giá, nhất là chạy theo lợi nhuận tối đa, vì lợi ích hôm nay mà
làm tổn hại đến tương lai.
Từ khi Đổi Mới đến nay, Đảng ta nhất quán tạo lập nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, đó phải là nền kinh tế giải quyết hài hòa các mối
quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội, giữa kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội,
đảm bảo bền vững về môi trường sinh thoái, tạo cơ sở nền tảng vật chất cho chủ
nghĩa xã hội. Để đạt được điều đó phải cần đến văn hóa, sự tham gia của văn hóa
vào trong tổ chức và hoạt động của nền kinh tế vì mục tiêu phát triển xã hội, phát
triển con người, đó chính là vai trò của văn hóa trong kinh tế, kinh tế trong văn
hóa. Văn hóa với tư cách là đời sống tinh thần xã hội, một mục tiêu đặc biệt quan
trọng, vì nó là nhu cầu phong phú, vô cùng, vô tận, tinh tế của con người, nhu cầu
tinh thần còn là nhu cầu nhân văn và là cứu cánh của con người, văn hóa ấy vừa
đáp ứng nhu cầu của con người, xã hội tiến bộ, vừa thúc đẩy con người đạt được
niềm tin, sự khát vọng hạnh phúc.
Cuối cùng, văn hóa là động lực của sự phát triển bền vững cho đất nước.
Thực tế cho thấy, không ít những quốc gia, dân tộc không giàu về tài nguyên thiên
nhiên, thậm chí còn nghèo nàn và hạn hẹp nhưng lại giàu về kinh tế, kinh tế phát
triển, xã hội tiến bộ như Hàn Quốc, Nhật Bản, … chính là nhờ coi trọng yếu tố
văn hóa, con người, thông qua việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài mở đường cho sự phát triển. Như vậy, nguồn lực nội sinh của sự phát
triển của một đất nước thấm sâu trong văn hóa, con người. Sự phát triển của một
dân tộc phải vươn tới cái mới, cái tốt, cái tiến bộ nhưng không thể tách rời, bỏ
qua cội nguồn, phát triển phải vựa trên cội nguồn, cội nguồn đó của mỗi dân tộc
là văn hóa. kinh nghiệm qua hơn 30 năm sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã chứng
minh rằng, ngay bản thân sự phát triển kinh tế cũng không chỉ do các nhân tố
thuần túy kinh tế tạo ra, mà động lực của sự đổi mới kinh tế đó một phần quan
trọng nằm trong văn hóa.
Như vậy, ta có thể thấy được tầm quan trong của văn hóa và sự ảnh hưởng
của văn hóa đến với khả năng phát triển và giàu mạnh của đất nước. Ngày nay,
nguồn lực con người, là tiềm năng sáng tạo của con người. Tiềm năng sáng tạo
này nằm trong văn hóa, trí tuệ, tâm hồn, đạo đức, nhân cách của mỗi cá nhân và
cộng đồng. Chỉ có nguồn lực này là vô hạn, có khả năng tái sinh và tự sinh, không
bao giờ cạn kiệt, các nguồn lực khác sẽ không được sử dụng có hiệu quả nếu
không có những con người đủ trí tuệ và năng lực khai khác chúng, thì các nguồn
lực đó dù có phong phú, đa dạng, thì cũng không thể tham gia và phát huy tác
dụng vào trong phát triển mà ngược lại còn bị hao hụt, thậm chí lâu dài có thể biến mất đi.
Đề 9 : Quan điểm của Đảng về vị trí vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững đất nước.
Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài Làm
Ngay từ ngày xây dựng chính quyền, Đảng ta rất quan tâm đến vấn đề xây
dựng, phát triển văn hóa, con người, xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng
tâm trong quá trình xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Và quan trọng
nhất là sự quan trọng của văn hóa trong phát triển bền vững đất nước đã được
Đảng ta chú trọng đặc biệt.
Đảng ta đưa ra các quan điểm về vị trí vai trò của văn hóa trong phát triển
bền vững đất nước như sau:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát
triển bền vững đất nước; văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị,
xã hội. Quan điểm này được khẳng định trong Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI
nhằm khắc phục tình trạng coi nhẹ yếu tố văn hóa so với kinh tế, chính trị, hạn
chế được hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tình trạng
quan liêu, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay.
Hai là, văn hóa là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước. Mục tiêu
tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là xây dựng một xã
hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đây cũng chính là
mục tiêu của văn hóa, nếu hiểu theo nghĩa rộng nhất của văn hóa. Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 xác định: Mục tiêu và động lực chính của sự
phát triển là vì con người, do con người. Đồng thời nêu rõ yêu cầu “tăng trưởng
kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ
môi trường”, ngày nay không thể phát triển bằng mọi giá, nhất là chạy theo lợi
nhuận tối đa, vì lợi ích hôm nay mà làm tổn hại đến tương lai.
Ba là, văn hóa là động lực của sự phát triển bền vững đất nước. Thực tế
cho thấy, không ít những quốc gia, dân tộc không giàu về tài nguyên thiên nhiên,
thậm chí còn nghèo nàn và hạn hẹp nhưng lại giàu về kinh tế, kinh tế phát triển,
xã hội tiến bộ chính là nhờ coi trọng yếu tố văn hóa, con người, thông qua việc
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mở đường cho sự phát triển.
Như vậy, nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một đất nước thấm sâu
trong văn hóa, con người. Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới,
cái tốt, cái tiến bộ nhưng không thể tách rời, bỏ qua cội nguồn, phát triển phải
vựa trên cội nguồn, cội nguồn đó của mỗi dân tộc là văn hóa. kinh nghiệm qua
hơn 30 năm sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã chứng minh rằng, ngay bản thân sự
phát triển kinh tế cũng không chỉ do các nhân tố thuần túy kinh tế tạo ra, mà động
lực của sự đổi mới kinh tế đó một phần quan trọng nằm trong văn hóa.
Nhìn một cách tổng quát, các quan điểm trên đã thể hiện được tầm quan
trong của văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Ngoài ra nó còn
phản ánh tư tưởng chỉ đạo vừa cơ bản, lâu dài, vừa cụ thể, cấp bách của Đảng ta
nhằm định hướng cho quá trình xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt
Nam. Các quan điểm này đã phản ánh một bước phát triển mới về tư duy lý luận
văn hóa của Đảng. Nhận thức toàn diện và sâu sắc hơn những vấn đề lý luận thể
hiện tập trung ở các quan điểm này sẽ giúp cho hoạt động thực tiễn của chúng ta
đạt hiệu quả tốt hơn.
Đề 10 : Vì sao trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta phải lựa chọn phương châm
đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa ?

Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh Bài làm
Trước khi tiến hành Đổi Mới vào năm 1986, Việt Nam có thể nói là một
đất nước bảo thủ, bị cô lập về nhiều mặt và vì ít liên kết với thế giới nên nước ta
không thể bắt kịp được xu thế phát triển của thế giới, từ đó dẫn đến tình trạng tụt
hậu nghiêm trọng và đã bộc lộ nhiều yếu điểm. Việt Nam lúc này đang ở trong
thế bị bao vây, bị cô lập lại bị các thế lực thù địch chống phá, cộng với các chính
sách phát triển sai lầm, không phù hợp với hoàn cảnh khiến nước ta lâm vào cuộc
khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng. Ngoài ra, những biến động của tình
hình thế giới tác động sâu sắc đến nhận thức và tư duy của Đảng, là cơ sở cho sự
đổi mới các chính sách. Đặc biệt sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa đứng
đầu là Liên Xô là hồi chuông cảnh tỉnh về việc phải thay đổi, phải tiến bộ lên về
mọi mặt để không đi theo vết xe đổ ấy của anh cả Liên Xô. Một trong số thay đổi
đó là việc Đảng ta đã lựa chọn phương châm đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa.
Đa phương hóa, đa dạng hóa là hình thức ngoại giao giữa nhiều quốc gia,
nhằm mục đích giải quyết những vấn đề chung như chiến tranh, hoà bình, hợp tác
và đấu tranh để cùng tồn tại và phát triển. Các quốc gia có thể thiết lập quan hệ
đa phương thông qua việc ký kết, thừa nhận các điều ước, công ước, hiệp định
quốc tế. Và xuất phát từ tình hình cụ thể trong, ngoài nước và nhu cầu phát triển
của nước ta, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra vào tháng
12/1986, Đảng ta bắt đầu đã có những đổi mới sâu sắc và mang tính chiến lược
về đường lối và chính sách đối ngoại, đặc biệt coi trọng đa phương hóa, đa dạng
hóa các quan hệ ngoại giao.
Với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập là xu thế chung hiện nay, việc hợp tác
đa phương trên nhiều lĩnh vực là tất yếu. Hợp tác đa phương trong các lĩnh vực
văn hóa, an sinh xã hội, lao động, thông tin - truyền thông, môi trường, du
lịch...được mở rộng, từ đó thúc đẩy tiến bộ xã hội, phát triển thị trường lao động
và hệ thống an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo… Hội nhập khu vực và quốc tế
về khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế đóng vai trò quan trọng đối với
việc phát triển nền khoa học, giáo dục tiên tiến, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, thông tin và y tế quốc gia đáp ứng nhu cầu của người dân, tiến tới thu hẹp
khoảng cách phát triển với khu vực và thế giới trong các lĩnh vực này.
Việc VN tham gia mạng lưới liên kết kinh tế đa phương đã góp từng bước
mở cửa, gắn nền kinh tế và thị trường trong nước với khu vực và thế giới, tiếp thu
những nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế, thu hút nguồn lực cho phát triển, tạo
thêm động lực xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Từ đây đất nước ta đã có động lực lớn mạnh đế phát triển vượt bậc
và không còn bị tụt hậu với thời đại.
Đề 11: Tại Đại hội X (2006), DCSVN đề ra chủ trương “chủ động, tích cực,
hội nhập quốc tế”. Anh/chị hiểu hội nhập quốc tế là như thế nào? Theo
anh/chị là sinh viên, cần phải làm gì để chủ động hội nhập Quốc tế ?

Tài liệu từ lớp học ôn tập các môn đại cương của ThienDinh
Fb.com/iamthiendinh