Đề cương Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ảnh hưởng đối với ĐCS Việt Nam. Sự phân hóa của các giai cấp trong xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX? Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX? Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Môn:
Thông tin:
53 trang 1 tuần trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Đề cương Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ảnh hưởng đối với ĐCS Việt Nam. Sự phân hóa của các giai cấp trong xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX? Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX? Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

33 17 lượt tải Tải xuống
Đề cương Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Câu 1: Ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với cách mạng Việt Nam cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
1. Tình hình thế giới
* Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản trên thế giới chuyến mạnh
sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa bản
phương Tây chuyến từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền
(giai đoạn đế quốc chủ nghĩa).
Các nước đế quốc phương Tây bên trong thì tăng cường hóc lột nhân dân lao
động, bên ngoài đẩy mạnh quá trình xâm chiếm và nô dịch các nước nhỏ, yếu
châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh, thực hành chính sách thực dân tàn bạo
nhằm vét sức người, sức của lợi nhuận độc quyền của chủ nghĩa bản.
Điều đó không chỉ dẫn tới sự phát triển gay gắt mâu thuẫn giữa các nước đế
quốc trong việc tranh giành thuộc địa dẫn tới chiến tranh thế giới, còn làm
cho mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc, chủ
nghĩa thực dân ngày càng sâu sắc.
Phong trào chống đế quốc giành độc lập của các dân tộc thuộc địa trở thành
một nội dung lớn của phong trào cách mạng thế giới . Phong trào đấu tranh của
các dân tộc thuộc địa ngày càng lan rộng phát triển mạnh mẽ trên thế giới,
đặc biệt là ở châu Á đã tác động mạnh mẽ đến phong trào yêu nước Việt Nam.
* Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917
Năm 1917, Cách mạng Mười Nga giành được thắng lợi. Nhà nước Xô viết dựa
trên nền tảng liên minh công - nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga
ra đời. Đối với nước Nga, đó cuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các dân
tộc thuộc địa trong đế quốc Nga thì đó còn cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc. Bởi vì, trước cách mạng, “nước Nga là nhà tù của các dân tộc" đó.
Cách mạng tháng 10 Nga làm cho phong trào cách mạng vô sảncác nước
bản chủ nghĩa phương Tây phong trào giải phóng dân tộc các nước thuộc
địa phương Đông quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ
thủ chung là chủ nghĩa đế quốc.
* Quốc tế Cộng sản tháng 3-1919
Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản, do V.L.Lênin đứng đầu, được thành lập, trở
thành bộ tham mưu chiến đấu, tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng sản
thế giới. Quốc tế Cộng sản không những vạch đường hướng chiến lược cho
cách mạng sản cả đối với các vấn đề dân tộc thuộc địa, giúp đỡ, chỉ
đạo phong trào giải phóng dân tộc. Cùng với việc nghiên cứu hoàn thiện
chiến lược sách lược về vấn đề dân tộc thuộc địa, Quốc tế Cộng sản đã
tiến hành hoạt động truyền tư tưởng cách mạng sản thúc đẩy phong
trào đấu tranh ở khu vực này đi theo khuynh hướng vô sản.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng
sản, nhiều đảng cộng sản trên thế giới đã thành lập: Đảng Cộng sản Đức, Đảng
Cộng Sản Hungary (năm 1918), Đảng Cộng Sản Mỹ (năm 1919), đảng cộng sản
Anh, Đảng Cộng sản Pháp (năm 1920), Đảng Cộng sản Trung Quốc đảng
cộng sản Mông Cổ (năm 1921), Đảng Cộng Sản Nhật Bản (năm 1922).
* Một số yếu tố khác
Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn thắng lợi của cách mạng Tân Hợi
(10-1911) Trung Quốc đã tác động đến tưởng của những người Việt Nam
yêu nước đương thời. Tại Quảng Châu, năm 1923 với “Tiếng bom Phạm Hồng
Thái" được như “con chim én báo hiệu mùa xuân” đã thôi thúc nhiều người
Việt Nam sang Trung Quốc hoạt động.
Đầu thế kỷ XX, phong trào sản dân tộc của Đảng Quốc Đại (Ấn Độ) với
mục tiêu chấn hưng dân tộc bằng con đường cải cách hòa bình, hợp tác giành
độc lập cũng thu hút sự quan tâm của nhiều người yêu nước Việt Nam.
Cách mạng sản Nhật Bản năm 1868 công cuộc cách tân nước Nhật cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đưa nước Nhật “quân chủ lập hiến" phát triển mạnh
mẽ đã mang lại sự ngưỡng mộ và tìm hiểu của nhiều nhà yêu nước Việt.
2. Ảnh hưởng đối với ĐCS Việt Nam
Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Sau gần 30 năm bình định bằng
vũ trang, Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Pháp. Khi Pháp tham chiến trong
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã có nhiều chính sách ảnh hưởng đến Việt Nam.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã làm biến đối sâu sắc
tình hình thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ ý
nghia to lớn đối với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đối với các nước tư bản,
còn tác động sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc các thuộc địa,
có vũ mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách
thực dân.
- Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản vai trò quan trọng trong việc truyền
chủ nghĩa Mác-Lênin thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên Ái
Quốc đã khẳng định vai trò của tổ chức này đối với cách mạng nước ta là: “An
Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế"
- Cách mạng Pháp, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga sự ra đời
Quốc tế Cộng sản đã gây nên sự phân hóa về tưởng tổ chức của Đảng
hội Pháp. Từ việc tranh luận theo đường lối tổ chức của Quốc tế Cộng sản
một bộ phận của Đảng này tách ra thành lập Đảng Cộng sản Pháp (1920).
Trên bước đường tìm con đường cứu nước, nửa cuối năm 1917, Nguyễn Ái
Quốc hoạt động trong Đảng hội Pháp bỏ phiếu tán thành theo Quốc tế
Cộng sản, trở thành một trong những thành viên tham gia sáng lâu Đảng Công
sản Pháp.
Câu 2: Sự phân hóa của các giai cấp trong hội Việt Nam cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX?
Chính sách cai trị của thực dân Pháp không chỉ làm phân hóa các giai cấp cũ,
còn làm xuất hiện các giai cấp, tầng lớp hội mới trong hội Việt Nam.
Các giai cấp, tầng lớp này có địa vị kinh tế khác nhau và do đó cũng có thái độ
chính trị khác nhau đối với vận mệnh của dân tộc.
1. Giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam
- Do chính sách kinh tế chính trị của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ bị
phân hóa thành ba bộ phận khá rệt: tiếu, trung đại địa chủ. Một bộ phận
câu kết với thực dân Pháp và làm tay sai đắc lực cho Pháp trong việc ra sức dân
áp phong trào yêu nước bóc lột nông dân. Một bộ phận khác nêu cao tinh
thần dân tộc khởi xưởng lãnh đạo các phong trào chống Pháp bảo vệ chế
độ phong kiến; Một số trở thành lãnh đạo phong trào nông dân chống thực dân
Pháp và phong kiến phản động; Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo
lối tư bản.
- Vốn sinh ra trưởng thành trong một dân tộc truyền thống yêu nước,
chống ngoại xâm, lại bị chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, chèn ép về
kinh tế của đế quốc thực dân Pháp, nên mỗi bộ phận không nhỏ tiểu và trung địa
chủ không chịu nổi nhục mất nước mâu thuẫn về đế quốc về quyền lợi dân
tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai.
2. Giai cấp nông dân
Giai cấp nông dân thành phần đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam (chiếm
gần 90% dân số). Nông dân Việt Nam bị bần cũng hóa bởi chính sách chiếm
đoạt ruộng đất để lập đồn điền của thực dân Pháp, bởi nạn sưu cao, thuế nặng
của nhà nước phong kiến - thực dân, bởi địa tô và cho vay nặng lãi của địa chủ
phong kiến. Do vậy, ngoài mâu thuẫn giai cấp vốn với giai cấp địa chủ, từ
khi thực dân Pháp xâm lược, giai cấp nông dân còn mâu thuẫn sâu sắc với
thực dân xâm lược. Đây lực lượng hùng hậu, tính thần đấu tranh kiên
cường bất khuất cho nền độc lập tự do của dân tộc và khao khát giành lại ruộng
đất cho dân cày, khi lực lượng tiên phong lãnh đạo, giai cấp nông dân sẵn
sàng vùng dậy làm cách mạng lật đổ thực dân phong kiến.
3. Giai cấp công nhân
- Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ trong quá trình thực dân Pháp thực
hiện cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914). Ngoài những đặc điểm
của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam những đặc
điểm riêng: Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, kế thừa truyền thống yêu nước
của dân tộc; bị ba tăng áp bức (đế quốc, phong kiến, tư bản); phần lớn xuất thân
từ nông dân, sở khách quan, thuận lợi cho công nhân nông dân liên
minh chặt chẽ trong quá trình đấu tranh cách mạng. Công nhân Việt Nam còn ít
chỉ chiếm 1% dân số, trình độ học vấn, kỹ thuật thấp, nhưng sống tập trung tại
các thành phố, trung tâm công nghiệp và các đồn điền.
- Giai cấp công nhân Việt Nam một lực lượng hội tiên tiến, đại diện cho
phương thức sản xuất mới, tiến bộ, ý thức tổ chức kỷ luật cao, tỉnh thần
cách mạng triệt để, lại mang bản chất quốc tế. Họ một động lực cách mạng
mạnh mẽ và khi liên minh được với giai cấp nông dân và tiểu tư sản sẽ trở thành
sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh độc lập,
tự do.
4. Giai cấp tư sản
Giai cấp sản Việt Nam xuất hiện muộn hơn giai cấp công nhân Việt Nam
trong điều kiện bị bản Pháp chèn ép, cạnh tranh gay gắt nên giai cấp sản
Việt Nam bị phân hóa thành hai bộ phận:
sản mại bản những sản lớn, tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế
của chính quyền thực dân Pháp, liên kết kinh doanh với đế quốc, nhiều sản
mại bản kiêm địa chủ có nhiều ruộng đất cho phát canh thu tô.
Tư sản dân tộc chiếm đa số trong giai cấp tư sản Việt Nam, bao gồm những tư
sản loại vừa nhỏ, thường hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp, công
nghiệp và cả tiếu thủ công nghiệp. Do bị kìm hãm, phần lớnsản dân tộc Việt
Nam tỉnh thần dân tộc, nhưng không khả năng tập hợp các giai tầng đề
tiến hành cách mạng. Tư sản dân tộc phải chịu số phận mất nước, có mâu thuẫn
về quyền lợi với bọn đế quốc thực dân, phong kiến, nên họ tỉnh thần chống
đế quốc phong kiến. Giai cấp sản dân tộc một lực lượng cách mạng
không thể thiếu trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
5. Tầng lớp tiểu tư sản.
- Tầng lớp tiểu sản (tiểu thương, tiếu chủ, sinh viên,...) bị đế quốc, bản
chèn ép, khinh miệt, do đó tỉnh thần dân tộc, yêu nước rất nhạy cảm về
chính trị thời cuộc. Tuy nhiên, do địa vị kinh tế bấp bênh, thái độ hay dao
động, thiếu kiên định, do đó họ không thế lãnh đạo cách mạng.
- Tầng lớp sĩ phu phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bị phân
hóa càng ngày càng sâu sắc. Một bộ phận vẫn giữ cốt cách phong kiến, một bộ
phận chuyển sang tưởng sản hoặc tưởng sản. Một số người trong
tầng lớp này khởi xướng các phong trào yêu nước có ảnh hưởng lớn.
Câu 3: Nguyên nhân thất bại ý nghĩa lịch sử của các phong trào yêu
nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX?
1. Nguyên nhân thất bại: Những năm cuối thể kỉ 19- đầu TK 20 các phong
trào yêu nước theo ngọn cờ phong kiến, dân chủ tư sản đã diễn ra quyết liệt,
rộng khắp cả nướcđược tiến hành bằng nhiều cách thức khác nhau. Tuy
nhiên các phong trào đều lần lượt thất bại.
* Thiếu đường lối, phương pháp cứu nước đúng đắn
Các lãnh tụ yêu nước không có điều kiện khách quan, chín muồi của lịch sử để
nhận thức đúng tính chất hội Việt Nam đã thay đối đề ra đường lối cứu
nước đúng dân.
Do thiếu đường lối đúng nên các phong trào không có phương pháp đúng để tổ
chức lực lượng thống nhất trong toàn quốc. Các phong trào diễn ra tê, khởi
nghĩa trang, cải cách dân chủ... chỉ nhất thời dựa vào một bộ phận, dựa vào
uy tín nhân, hoặc dựa vào thế lực bên ngoài, thậm chí dựa vào chính kẻ thù
của mình... đều dẫn đến thất bại
* Thiếu giai cấp đủ khả năng và điều kiện lãnh đạo phong trào dân tộc
Từ cuối thế kỷ XIX, hệ tưởng phong kiến đã trở nên lạc hậu, suy yếu trước
dân chủsản và cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang phát triển củabản
phương Tây. Chính vì thế trước sự tấn công của thực dân Pháp, triều đình phong
kiến đã nhanh chóng đầu hàng, ngọn cờ dân tộc do giai cấp phong kiến lãnh đạo
đã không đủ sức mạnh tổ chức, thu hút đoàn kết lực lượng trong nước để
chống xâm lược.
Giai cấp sản Việt Nam ra đời muộn từhội thuộc địa nữa phong kiến nên
ít về số lượng, yếu về kinh tế, non kém về chính trị, không có cơ sở xã hội rộng
rãi trong nhân dân, không có lý luận vững chắc nên không có đủ khả năng đề ra
đường lối cứu nước đúng đắn, không đủ sức mạnh và uy tín để lãnh đạo dân tộc
đi đến thắng lợi.
Giai cấp nông dân Việt Nam lực lượng đông đảo nhất, tích cực chống đế
quốc phong kiến, động lực to lớn của cách mạng. Tuy nhiên do phương
thức sản xuất thủ công, phân tán, không có hệ tư tưởng độc lập và vị trí chính trị
hội nên giai cấp nông dân không thể nắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng giải
phóng dân tộc.
Đội ngũ tiểu sản và trí thức Việt Nam tỉnh thần dân tộc, nhạy cảm trước
thời cuộc nhưng không đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến; địa vị kinh
tế đời sống của họ bấp bênh, họ không đủ khả năng lãnh đạo cách mạng
chỉ có thể tham gia và giữ vai trò quan trọng trong cách mạng, nhất là trong đấu
tranh ở đô thị.
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất của thực dân Pháp (1894-1914), đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến,
mang đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế, kế thừa truyền thống tốt đẹp của
dân tộc nên có đủ điều kiện khách quan đề lãnh đạo cách mạng. Tuy nhiên, đầu
thế kỷ XX, giai cấp công nhân Việt Nam còn bé nhỏ, chưa có lý luận dẫn đường
nói lên hai vấn đề mâu thuẫn bản đòi hỏi phải giải quyết. Mâu thuẫn bản
thứ nhất mâu thuẫn giữa toàn bộ dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp. Mâu
thuẫn cơ bản thứ hai giữa nhân dân Việt Nam mà đa sốnông dân với địa chủ
phong kiến. Cho đến đầu thế kỷ XX, trong hội Việt Nam chưa lực lượng
giai cấp nào đủ khả năng điều kiện khách quan để giải quyết những mâu
thuẫn đó.
* Thiếu tổ chức chặt chẽ, vũ khí, trang bị vũ khí thiếu thốn lạc hậu
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi triều đình phong kiến chấm dứt vai trò
đứng đầu chống xâm lược thì quan lại, phu yêu nước không đủ khả năng
điều kiện vật chất, tinh thần để thống nhất, huy động lực lượng cả nước. Thiếu
ngọn cờ chỉ huy, phối hợp trong cả nước, nên lực lượng cả nước bị phân tán;
khởi nghĩa diễn ra lẻ tẻ, phân tán... Trong khởi nghĩa trang, nghĩa quân chủ
yếu nông dân, chưa được huấn luyện kỹ về quân sự, điều kiện vật chất khó
khăn, vũ khí thô sơ, lạc hậu và thiếu thốn.
Tất cả các nguyên nhân trên đã làm cho "các phong trào cứu nước từ lập
trường Cần Vương đến lập trường sản, tiểu sản, qua khảo nghiệm lịch sử
đều lần lượt thất bại". Điều đó dẫn tới cuộc khủng khoảng trầm trọng về đường
lối cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
*Chưa một tổ chức vững mạnh để tập hợp, giác ngộ lãnh đạo toàn dân
tộc.
*Chưa xác định được phương pháp đấu tranh thích hợp để đánh đổ kẻ thù.
2. Ý nghĩa lịch sử
* Tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc
Nhân dân Việt Nam vốn truyền thống yêu nước nồng nàn, không cam chịu
lệ. đâu, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, quân dân ta đều tìm mọi cách
chống giặc ngoại xâm. Khi thực dân Pháp xâm lược, hàng trăm cuộc khởi nghĩa
trang phong trào đấu tranh dân chủ diễn ra liên tục, kéo dài hàng chục
năm và mang tính chất rất quyết liệt "một mất, một còn".
* Quy mô phát triển rộng và mang tính chất nhân dân sâu sắc
Với truyền thống yêu nước ý thức độc lập dân tộc và nhu cầu sống tự do, đông
đảo các tầng lớp nhân dân cả nước cả nước đều quyết tâm chống xâm lược. Lực
lượng tham gia phong trào yêu nước quy rộng lớn toàn quốc, thực sự
mang tính chất nhân dân sâu sắc.
Phong trào yêu nước Việt Nam đã có tác dụng thức tỉnh tinh thần yêu nước tư
tưởng cách mạng bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Xét cả về hình thức, lực
lượngvà cách tổ chức, phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX có tính chất nhân dân rõ rệt
* Từng bước phát triển theo xu hướng dân chủ tư sản
Đầu thế kỷ XX, khi ngọn cờ cứu nước theo khuynh hướng phong kiến Việt
Nam chấm dứt cũng lúc trào lưu tưởng dân chủ sản Nhật Bản, chủ
nghĩa “tam dân” ở Trung Quốc, tư tưởng “bất bạo động" ở Ấn Độ, tư tưởng “Tự
do - Bình đẳng - Bác ái” từ nước Pháp được truyền đến Việt Nam. Từng
bước chuyển biến phong trào yêu nước theo khuynh hướng sản: Phan Bội
Châu với chủ trương bạo động, Phan Chu Trinh với chủ trương cải cách.
* Góp phần cải cách văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí Việt Nam những
năm đầu thế kỷ XX
Phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX phát triển
với nhiều hình thức phong phú. Mục tiêu chống đế quốc, chống phong kiến gắn
với vận động dân chủ, dân sinh, cải cách văn hóa, giáo dục theo khuynh hưởng
dân chủ tư sản làm cho phong trào mang tính chất tiến bộ, cách mạng rõ rệt.
Phong trào Đông Du truyền tưởng dân chủ, văn hóa, khoa học kỹ thuật,
mở mang kiến thức... theo con đường duy tân của Nhật Bản; phong trào cải
cách của Phan Chu Trinh nhằm chấn hưng dân khí, nâng cao dân chí "ỷ Pháp
cầu tiến bộ”; phong trào Đông Kinh Nghĩa thục cổ vũ tỉnh thần chống Pháp theo
* lối vận động văn hóa. Với nội dung đó, phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế
kỷ XX thực sự là phong trào văn hóa lớn.
* Để lại những bài học lịch sử quý giá
Một là, cần thiết đường lối phương pháp cứu nước đúng đắn. Đường lối
cứu nước giải phóng dân tộc đúng đắn đòi hỏi phải luận dẫn đường, phù
hợp với thực tiễn, giải đáp được những những mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt
Nam; đáp ứng được những yêu cầu nhiệm vụ chống đế quốc xâm lược kết hợp
với chống phong kiến tay sai. Kẻ thù lực lượng tiềm lực kinh tế, quân sự
mạnh mẽ và có tính chất quốc tế.
Hai là, cần có tổ chức chặt chẽ của giai cấp lãnh đạo cách mạng. Cách mạng là
sự nghiệp quan trọng của quần chúng. Phạm vi của hoạt động cứu nước rộng
lớn trong nước và quốc tế nên cần có phong trào tự giác, được tổ chức chặt chẽ
mới có thể thuyết phục hàng chục triệu người tin theo.
Ba là, kết hợp sức mạnh trong nước với xu thế thời đại mới. V.L.Lênin đã từng
chỉ cách mạng mỗi nước bộ phận của cách mạng thế giới nên không thế
cứu nước thành công nếu không có sự phối hợp quốc tế.
Những bài học kinh nghiệm nêu trên là vô cùng quý giá, có ý nghĩa quyết định
đến sự thành công của phong trào yêu nước Việt Nam con đường đấu tranh
cách mạng do Đạt Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sau này.
Câu 4: Quá trình chuẩn bị của Nguyễn Ái Quốc về tưởng, chính trị, tổ
chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam?
1. Về tư tưởng: Tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân
- Vừa nghiên cứu luận, vừa tham gia hoạt động thực tiễn trong phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế, dưới nhiều phương thức phong phú, Nguyễn Ái
Quốc đã tích cực tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các
thuộc địa, đồng thời tiến hành tuyên truyên tư tưởng Mác-Lênin, xây dựng mối
quan hệ gắn giữa những người cộng sản nhân dân lao động Pháp với các
nước thuộc địa và phụ thuộc.
- Người đã viết nhiều bài đăng trên báo Le Paria (Người cùng khổ),
L'Humanite (Nhân đạo), La Vie Ouvriere (Đời sống công nhân), La Revue
Communiste (Tạp chí Cộng sản), bảo Pravda (Sự thật) của Liên Xô... Năm
1922, Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp được thành lập,
Nguyễn Ái Quốc được cử làm Trưởng Tiểu ban Nghiên cứu về Đông Dương.
- Khi Người sang hoạt độngLiên Xô tham dự và trình bày các tham luận tại
đại hội của các tổ chức mang tính quốc tế. Các bài tham luận của Người đã chỉ
rõ sự cần thiết phải thủ tiêu hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, đồng thời
tuyên truyền tưởng của V.I.Lênin soi sáng con đường cách mạng con đường
phát triển của cách mạng thuộc địa
- Đặc biệt, tại Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản (họp từ ngày 17-6 đến
ngày 18-7-1924), Người đã trình bày bản báo cáo rất quan trọng về vấn đề dân
tộc thuộc địa. Người đã làm sáng phát triển một số luận điểm của
V.LLênin về bản chất của chủ nghĩa thực dân, về nhiệm vụ của các đảng cộng
sản trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột giải phóng đấu
tranh ở các thuộc địa. Năm 1925, cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp được
xuất bản lần đầu tiên ở Pari, đã tố cáo, kết tội chế độ bóc lột, cai trị của thực dân
Pháp đối với các nước thuộc địa, thức tỉnh nhân dân các dân tộc bị áp bức nói
chung, nhân dân Việt Nam nói riêng.
=> Đây là sự chuẩn bị quan trọng về tưởng, luận cho quá trình thành lập
Đảng.
2. Về chính trị: Phác thảo đường lối cứu nước
- Đường lối cách mạng được phác thảo rõ nét nhất là ở nội dung các bài giảng
của Nguyễn Ái Quốc cho Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên từ năm 1925 đến
năm 1927, được Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông tập hợp, in trong
cuốn Đường Cách mệnh.
- Người khẳng định rằng, con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức
giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉthế là
sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản. Đường lối chính trị rủa Đảng cách mạng phải
hướng tới độc lập cho dân tộc tự do, hạnh phúc cho đồng bào, hướng tới xây
dựng Nhà nước mang lại quyền và lợi ích cho nhân dân.
- Người xác định cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa là một bộ
phận của cách mạng sản thế giới; giữa cách mạng giải phóng dân tộc các
nước thuộc địa với cách mạng sản “chính quốc" mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, hỗ trợ cho nhau, nhưng cách mạng giải phóng dân tộc nước thuộc
địa không phụ thuộc vào cách mạng sản "chính quốc" thể thành
công trước cách mạng sản "chính quốc", góp phần tích cực thúc đấy cách
mạng vô sản ở "chính quốc".
- Đối với các dân tộc thuộc địa, Người chỉ rõ: trong nước nông nghiệp lạc hậu,
nông dân lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột
nặng nề, vậy phải thu phục lôi cuốn được nông dân, phải xây dựng khối
liên minh công nông làm động lực cách mạng. Do vậy, Người xác định rằng,
cách mạng “là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc của một hai
người".
- Về Đảng Cộng sản, Người khẳng định: “Cách mạng trước hết phải đảng
cách mệnh, đế trong thì vận động tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với
dân tộc bị áp bức sản giai cấp mọi nơi. Đảng vững cách mệnh mới
thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy".
- Phong trào “Vô sản hóa" do Kỳ bộ Bắc Kỳ Hội Việt Nam Cách mạng thanh
niên phát động t ngày 29-9-1928 đã góp phần truyền tưởng sản,
nhiệm vụ chính trị, rèn luyện cán bộ và phát triển tổ chức của công nhân.
3. Về tổ chức: Lựa chọn và bồi dưỡng cán bộ
- Sau một năm rưỡi hoạt động Liên tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc về
Quảng Châu (Trung Quốc) để xúc tiến các công việc tổ chức thành lập chính
đảng mácxít.
- Tháng 2-1925, Người lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã,
lập ra nhóm Cộng sản đoàn (có Hồng Phong, Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu,
Lưu Quốc Long, Trương Vân Lĩnh, Lê Quảng Đạt, Lâm Đức Thụ).
Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh
niên tại Quảng Châu (Trung Quốc), nòng cốtCộng sản đoàn. Hội đã công bố
chương trình, điều lệ của Hội, mục đích: để làm cách mệnh dân tộc (đập tan bọn
Pháp và giành độc lập cho xứ sở) rồi sau đó làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ
nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản).
Hệ thống tổ chức của Hội gồm 5 cấp: trung ương bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ hay thành
bộ, huyện bộ chỉ bộ. Tổng bộ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai kỳ đại
hội. Trụ sở đặt tại Quảng Châu.
- Hội xuất bản tờ báo Thanh niên (do Nguyễn Ái Quốc sáng lập trực tiếp
chỉ đạo), tuyên truyền tôn chỉ, mục đích của Hội, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-
Lênin và về phương hướng phát triển của cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt
Nam. Một số lượng lớn báo Thanh niên được mật đưa về nước tới các
trung tâm phong trào yêu nước của người Việt Nam nước ngoài. Bảo Thanh
niên đánh dấu sự ra đời của báo chí cách mạng Việt Nam.
- Sau khi thành lập, Hội tổ chức các lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái
Quốc trực tiếp phụ trách, phái người về nước vận động, lựa chọn và đưa một số
thanh niên tích cực sang Quảng Châu để đào tạo, bồi dưỡng vềluận chính trị
Sau khi được đào tạo, các hội viên được cử về nước xây dựng phát triển
phong trào cách mạng theo khuynh hướng vô sản.
- Từ đầu năm 1926, Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đã bắt đầu phát triển
sở trong nước, đầu năm 1927 các kỳ bộ được thành lập, ngoài ra còn chú
trọng xây dựng cơ sở ở Thái Lan, để mở rộng hoạt động tuyên truyền trong Việt
Kiều.
- Năm 1927, các bài giảng của Nguyễn Ái QuốcQuảng Châu được xuất bản
thành cuốn sách Đường Cách mệnh. Tác phẩm xác định rõ con đường, mục tiêu,
lực lượng và phương pháp đấu tranh của cách mạng Việt Nam, thế hiện tư tưởng
nổi bật của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dựa trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác-Lênin vào điều kiện Việt Nam. Những điều kiện về tư tưởng, lý luận, chính
trị và tổ chức để thành lập Đảng đã được nêu rõ trong tác phẩm.
- Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên chưa phải chính đảng cộng sản,
nhưng chương trình hành động đã thể hiện quan điểm lập trường của giai cấp
công nhân là tổ chức tiền thân dẫn tới ra đời các tổ chức mộng sản ở Việt Nam.
Hội là tổ chức trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong nước và cũng
sự chuẩn bị quan trọng về tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng của giai
cấp vô sản ở Việt Nam. Đó là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Câu 5: Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam nội dung Cương
lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2-1930)?
1. Hội nghị thành lập Đảng
- Đến cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức
cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết cấp bách phải thành lập một đảng
cộng sản thống nhất, chấm dứt sự chia rẽ trong phong trào cộng sản ở Việt Nam.
- Ngày 27-10-1929, Quốc tế Cộng sản gửi những người cộng sản Đông Dương
tài liệu về việc thành lập một Đảng Cộng sản Đông Dương, yêu cầu những
người cộng sản Đông Dương phải khắc phục ngay sự chia rẽ giữa các nhóm
cộng sản và thành lập một đảng của giai cấp vô sản.
- Nhận được tin về sự chia rẽ của những người cộng sản Đông Dương,
Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm đến Trung Quốc. Người chủ t Hội nghị hợp nhất
Đăng, họp từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc.
- Thành phần Hội nghị hợp nhất gồm: 1 đại biểu của Quốc tế Cộng sản; 2 đại
biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng: 2 đại biểu An Nam Cộng sản Đảng.
Hội nghị thảo luận đề nghị của Nguyễn Ái Quốc gồm năm điểm lớn, với nội
dung: "1. Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các
nhóm cộng sản Đông Dương 2. Định tên Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam;
3.Thảo Chính cương Điều lệ lược của Đảng: 4. Định kế hoạch thực hiện
việc Thống nhất trong nước; 5. Cử một Ban Trung ương lâm thời gồm chín
người, trong đó có hai đại biểu chỉ bộ cộng sản Trung Quốc ở Đông Dương".
- Hội nghị nhất trí với Năm điểm lớn theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc
quyết định hợp nhất các tổ chức cộng sản, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Hội nghị thảo luận thông qua các văn kiện: Chánh cương vẫn tất của
Đảng, Sách lược ván tất của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng Điều lệ
vẫn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Hội nghị quyết định phương châm, kế hoạch thống nhất các tổ chức cộng sản
trong nước, quyết định ra báo, tạp chí của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Hội nghị xác địnhtôn chỉ mục đích của Đảng: "Đảng Cộng sản Việt Nam
tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ
bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản". Quy định điều kiện
vào Đảng: những người "tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình đảng
Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh
Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận đảng”
- Chủ trương của Hội nghị về hệ thống tổ chức Đảng từ chỉ bộ, huyện bộ, thị
bộ hay khu bộ, tỉnh bộ, thành bộ hay đặc biệt bộ Trung ương, đồng thời xác
định rõ trách nhiệm, quyền lợi của Đảng viên, quy định rõ chế độ dân chủ và kỷ
luật trong Đảng.
- Ngày 24-2-1930, theo yêu cầu của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, Ban
Chấp hành Trung ương lâm thời họp ra Nghị quyết chấp nhận Đông Dương
Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, đến ngày 24-
2- 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn thành việc hợp nhất ba tổ chức cộng
sản ở Việt Nam.
2. Nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Cương lĩnh xác định các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam:
- Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là: tư sản dân quyền cách
mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.
- Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng:
Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp bọn phong kiến; làm cho
nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, lập chính phủ công nông binh, tổ chức
quân đội công nông.
Về kinh tế Thủ tiêu hết các thứ quốc trái: tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (như
công nghiệp, vận tải, ngân hàng, vv.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao
cho Chính phủ công nông bình quản lý, tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế
quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cây nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày
nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp, thì hành luật ngày làm 8 giờ.
Về văn hóa - hộc Dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền; phổ
thông giáo dục theo công nông hóa.
Về lực lượng cách mạng: Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và
phải dựa hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh đó bọn đại địa
chủ và phong kiến; phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cây (công hội,
hợp tác xã) khỏiới quyền lực ảnh hưởng của bọn bản quốc gia; phải
hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân Việt, vv. để
kéo họ đi và phe vô sản giai cấp. Đối với phủ nông, trung, tiếu địa chủ và tư bản
An Nam chưa mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho
họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (như Đảng lập hiến,
vv) thì phải đánh đổ.
Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt
Nam. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ
phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng, trong
khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một
chút lợi ích gì của công nông mà đi và con đường thỏa hiệp.
Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: Cách mạng Việt
Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hiện liên lạc với các dân
tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là à giai cấp vô sản Pháp.
Câu 6: Nội dung ý nghĩa Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản
Đông Dương (10-1930)?
Tháng 4-1930, giữa lúc phong trào cách mạng đang phát triển, Trần Phú từ
Liên vềớc. Tháng 7-1930, ông được bố sung vào Ban Chấp hành Trung
ương lâm thời tham gia chuẩn bị cho Hội nghị lần thứ nhất của Trung ương.
Từ ngày 14 đến 31-10-1930, Ban Chấp hành Trung ương họp hội nghị lần thứ
nhất tại Hương Cảng tức Hồng Kông (Trung Quốc), quyết định đối tên Đảng
Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí Trần Phủ
được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.
1. Nội dung Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương
Về tính chất xã hội và mâu thuẫn giai cấp: Luận cương đã phân tích, đặc điểm,
tình hình hội thuộc địa nửa phong kiến nêu lên những vấn đề bản của
cách mạng sản dân quyền Đông Dương do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Chỉ mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt giữa một bên thợ thuyền, dân cày
và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc.
- Vạch ra phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương là: lúc đầu
cách mạng Đông Dương một cuộc cách mạng sản dân quyền, tính chất
thổ địa phản đế, sản dân quyền cách mạng thời kỳ dự bị để làm hội
cách mạng, sau khi cách mạngsản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục phát triển,
bỏ qua thời kỳ tư bản mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa.
- Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là: đánh đổ phong kiến, thực hành
cách mạng ruộng đất triệt đề và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông
Dương hoàn toàn độc lập. Trong hai nhiệm vụ này, vấn đề thổ địa là cái cốt của
cách mạng tư sản dân quyền và là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày.
Về lực lượng cách mạng: Giai cấp vô sản vừa là động lực chính của cách mạng
sản dân quyền, vừa giai cấp lãnh đạo cách mạng. Dân cày lực lượng
đông đảo nhất động lực mạnh của cách mạng. sản thương nghiệp thì
đứng về phe đế quốc địa chủ chống lại cách mạng, còn sản công nghiệp
thì đứng về phía quốc gia cải lương khi cách mạng phát triển thì họ sẽ theo
để quốc. Trong giai cấp tiểu sản, bộ phận thủ công nghiệp thì thái độ do
dự, tiểu tư sản thương gia thì không tán thành cách mạng, tiểu tư sản trí thức thì
có xu hướng quốc gia chủ nghĩa và chỉthể hăng hái tham gia chống đế quốc
trong thời kỳ đầu. Chỉ các phần tử lao khó đô thị như những người bán
hàng rong, thợ thủ công nhỏ, trí thức thất nghiệp mới đi theo cách mạng
thôi.
- về phương pháp cách mạng: Để đạt được mục tiêu bản của cuộc cách
mạng đánh đổ đế quốc phong kiến, giành chính quyền về tay công nông
thì phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng về con đường trang bạo động.
trang bạo động để giành chính quyền một nghệ thuật, phải tuân theo khuôn
phép nhà binh.
- Về quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: Cách mạng
Đông Dương một bộ phận của cách mạng sản thế giới, thế giai cấp
sản Đông Dương phải đoàn kết gắn với giai cấp vô sản thế giới, trước hết
giai cấp sản Pháp, và phải mật thiết liên lạc với phong trào cách mạng các
nước thuộc địa nửa thuộc địa nhằm mở rộng tăng cường lực lượng cho
cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương.
- Về vai trò lãnh đạo của Đảng: Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản điều kiện
cốt yếu cho thẳng lợi của cách mạng. Đảng phải đường lối chính trị đúng
đắn, kỷ luật tập trung, liên hệ mật thiết với quần chúng. Đảng đội tiên
phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, đại
biểu chung cho quyền lợi của giai cấp sản Đông Dương, đấu tranh để đạt
được mục đích cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
2. Ý nghĩa
- Đã kế thừa, phát triển và khẳng định lại nhiều vấn đề cơ bản về chiến lược và
sách lược của cách mạng Việt Nam : Về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; về
con đường cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn cách mạng sản dân
quyền chống đế quốc chống phong kiến nhằm thực hiện độc lập dân tộc
ruộng đất cho nông dân sau đó chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa: về hai
nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến quan hệ mật thiết với nhau về lực
lượng chính của cách mạng giai cấp công nhân giai cấp nông dân. Đặc
biệt, Luận cương nhấn mạnh vấn đề phương pháp cách mạng để giành thắng lợi
sử dụng con đường bạo lực cách mạng sức mạnh tổng hợp của bạo lực
cách mạng quần chúng thông qua vũ trang bạo động.
- Tuy nhiên, Luận cương vẫn còn những hạn chế nhất định:
+ Chưa chỉ được mâu thuẩn chủ yếu nhất của cách mạng Việt Nam mâu
thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp xâm lược, từ đó không đặt nhiệm
vụ chống đế quốc, tay sai lên hàng đầu.
+ Chưa biết lợi dụng phân hóa kẻ thù, giai cấp phong kiến để tập trung mũi
nhọn vào đế quốc.
+ Chưa đánh giá đúng khả năng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản và mặt yêu
nước của giai cấp sản dân tộc nên chưa coi họ dòng mình, lực lượng
cách mạng trong cách mạng sản dân quyền, làm hạn chế sức mạnh đại đoàn
kết dân tộc trong chống đế quốc, tay sai
- Chính vậy, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10-1930 đã
không chấp nhận những quan điểm mới, sáng tạo, độc lập tự chủ của Nguyễn Ái
Quốc không được nêu trong Đường cách mệnh, Chánh cương vắn tắt Sách
lược vắn tắt.
- Ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị thành lập
Hội Phản để đồng minh, nêu lên tưởng chiến lược cách mạng đúng đắn của
Đảng coi việc đoàn kết toàn dân thành một lực lượng thật rộng rãi, lấy công -
nông làm hai động lực chính, là một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng
giải phóng dân tộc. Chỉ thị phê phán những nhận thức sai lầm trong Đảng đã
tách rời vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, nhận thức không đúng về vấn đề
đoàn kết dân tộc về vai trò của Hội Phản để đồng minh trong cách mạng ở thuộc
địa.
Câu 7: Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong
những năm 1939-1941
1. Hoàn cảnh lịch sử
- Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Chiến tranh thế giới thứ
hai đã ảnh hưởng mạnh mẽ trực tiếp đến Đông Dương Việt Nam. Ngày
28-9-1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm tuyên truyền cộng sản,
cấm lưu hành, tàng trữ tài liệu cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra
ngoài vòng pháp luật, giải tán các hội hữu ái, nghiệp đoàn và tịch thu tài sản của
các tổ chức đó, đóng cửa các tờ báo nhà xuất bản, cấm hội họp tụ tập
đông người.
- Việt Nam Đông Dương, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thời
chiến rất trắng trợn. Chúng phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp
phong trào cách mạng của nhân dân, tập trung lực lượng đánh vào Đẳng Cộng
sản Đông Dương. Hàng nghìn cuộc khám xét bất ngờ đã diễn ra khắp nơi. Một
số quyền tự do, dân chủ đã giành được trong thời kỳ 1936-1939 bị thủ tiêu.
Chúng ban bố lệnh tổng động viên, thực hiện chính sách kinh tế chỉ huy nhằm
tăng cường vét sức người, sức của để phục vụ chiến tranh của đế quốc. Hơn
bảy vạn thanh niên bị bắt sang Pháp để làm bia đỡ đạn.
- Ngày 22-9-1940 phát xít Nhật đã tiến vào Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng.
Ngày 23-9-1940, tại Hà Nội, Pháp ký hiệp định đầu hàng Nhật. Từ đó, nhân dân
ta chịu cảnh một cố bị hai tròng áp bức, bóc lột của Pháp - Nhật mâu thuẫn giữa
dân tộc ta với đế quốc, phát xít Pháp - Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết
2. Chủ trương chiến lược mới của Đảng
* Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 11-1939)
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 11-1939) tại Bà Điểm (Hóc
Môn, Gia Định) phân tích tình hình chỉ rõ: "Bước đường sinh tồn của các
dân tộc Đông Dương không con đường nào khác hơn con đường đánh đổ
đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm luận da trắng hay da vàng để
giành lấy giải phóng độc lập". Hội nghị nhấn mạnh “chiến lược cách mệnh
sản dân quyền bây giờ cũng phải thay đổi ít nhiều cho hợp với tình thế mới".
Khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất" phải tạm gác thay bằng các khẩu hiệu
chống địa cao, chống cho vay lãi nặng, tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa
chủ phản bội quyền lợi dân tộc chia cho dân cày. Hội nghị chủ trương thành lập
Mặt trận dân tộc thống nhất phản để Đông Dương, thu hút tất cả các dân tộc,
các giai cấp, đảng phái nhân yêu nước Đông Dương nhâm đánh đổ đế
quốc Pháp và tay sai, giành lại độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đằng tháng 11-1939 đã đáp ứng đúng
yêu cầu khách quan của lịch sử, đưa nhân dân bước vào thời kỳ trực tiếp vận
động giải phóng dân tộc
* Hội nghị cán bộ Trung ương họp tháng 11-1940
Hơn một tháng sau khi Nhật vào Đông Dương, Hội nghị cán bộ Trung ương
tháng 11-1940 lập lại Ban Chấp hành Trung ương cho rằng: "Cách mạng
phần đề cách mạng thứ địa phải đứng thời tiến, không thể cái làm trước, di
làm sau". Trung ương Đảng vẫn còn trăn trở, chưa thật đứt khoát với chủ trương
đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu được đề ra tại Hội nghị tháng 11-
1539
* Hội nghị lên thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5-1941
Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, ngày 25-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
về nước làm việc Cao Bằng Tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội
nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Vấn đề chính nhận định
cuộc cách mạng trước mắt của Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc, lập Mặt trận Việt Minh, khấu hiệu chính là: Đoàn kết toàn dân, chống Nhật,
chống Pháp, tranh lại độc lập; hoãn cách mạng ruộng đất". Trung ương bầu
đồng chí Trường Chinh làm Tổng thư. Hội nghị Trung ương nêu những
nội dung quan trọng:
Thứ nhất, hết sức nhấn mạnh mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải quyết
cấp bách mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít Pháp- Nhật,
bởi dưới hai tăng áp bức Nhật-Pháp, “quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp
giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng".
Thứ hai, khẳng định dứt khoát chủ trương “phải thay đổi chiến lược" giải
thích: “Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải một cuộc cách
mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phần đế
điền địa nữa, mà là một cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp
"dân tộc giải phóng".
Để thực hiện nhiệm vụ đó, Hội nghị quyết định tiếp tục các khẩu hiệu tịch thu
ruộng đất của đế quốc Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất
công cho công bằng, giảm tô, giảm tức. Hội nghị chỉ rõ: "Trong lúc này quyền
lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia,
của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải
phóng, nếu không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những
toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, quyền lợi của bộ
phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng
ta trong vấn đề dân tộc".
Thứ ba, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương,
thi hành chính sách "dân tộc tự quyết". Sau khi đánh đuổi Pháp Nhật các dân tộc
trên cõi Đông Dương sẽ “tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng
riêng thành lập một quốc gia tùy ý". "Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được
thừa nhận và coi trọng". Từ quan điểm đó, Hội nghị quyết định thành lậpmỗi
nước Đông Dương một mặt trận riêng, thực hiện đoàn kết tinh dân tộc, đồng
thời đoàn kết ba dân tộc chống kẻ thù chung
Thứ tư, tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc. Các tổ chức quần chúng trong
Mặt trận Việt Minh đều mang tên "cứu quốc". Trong việc xây dựng các đoàn thể
cứu quốc, "điều cốt yếu không phải những hội viên phải hiểu chủ nghĩa cộng
sản, mà điều cốt yếu hơn hết là họ có tinh thần cứu quốc và muốn tranh đấu cứu
quốc".
Thứ năm, chủ trương sau khi cách mạng thành công sẽ thành lập nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa theo tỉnh thần tân dân chủ, một hình thức nhà nước "của
chung cả toàn thể dân tộc". Hội nghị chỉ rõ, "không nên nói công nông liên hiệp
và lập chính quyền Xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hiệp và thành lập
chính phủ dân chủ cộng hòa".
Thứ sáu, Hội nghị xác định chuẩn bị khởi nghĩa trang nhiệm vụ trung
tâm của Đảng và nhân dân. Trong những hoàn cảnh nhất định thì "với lực lượng
sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương
cũng thể giành sự thắng lợi mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to
lớn". Hội nghị còn xác định những điều kiên chủ quan, khách quan dự đoán
thời cơ tổng khởi nghĩa
- Hội nghị lần thứ tâm Ban Chấp hành Trung ưme Đăng đã hoàn chính chủ
trương chiến lược được đề ra từ Hội nghị tháng 11-1939, khắc phục triệt để
những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10-1930, khẳng định lại đường
lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảngluận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc. Đó
ngọn cờ dẫn đường cho toàn dân Việt Nam đấy mạnh công cuộc chuẩn bị lực
lượng, tiến lên trong sự nghiệp đánh Pháp, đuối Nhật, giành độc lập tự do.
Câu 8: Tính chất, ý nghĩa lịch sử bài học kinh nghiệm của Cách mạng
tháng Tám năm 1945
1. Tính chất
- Cách mạng tháng Tám năm 1945 một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
điển hình, thể hiện:
Thứ nhất, tập trung hoàn thành nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là giải
phóng dân tộc, tập trung giải quyết mâu thuân chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc
đó, đáp ứng đúng yêu cầu khách quan của lịch sử và ý chí, nguyện vọng độc lập
tự do của quần chúng nhân dân.
Thứ hai, lực lượng cách mạng bao gồm toàn dân tộc, đoàn kết chặt chẽ trong
mặt trận Việt Minh với những tổ chức quần chúng mang tên "cứu quốc, động
viên đến mức cao nhất mọi lực lượng dân tộc lên trận địa cách mạng. Cuộc tổng
khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là sự vùng dậy của lực lượng toàn dân tộc.
Thứ ba, thành lập chính quyền nhà nước "của chung toàn dân tộc” theo chủ
trương của Đảng, với hình thức cộng hòa dân chủ, chỉ trừ tay sai của đế quốc
những kẻ phản quốc, “còn ai người dân sống trên dải đất Việt Nam đều thấy
được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và
bảo vệ chính quyền ấy".
- Cách mạng tháng Tám năm 1945 còn mang tính chất dân chủ:
Một là, cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam một bộ phận của phe dân
chủ chống phát xít.
Hai là, cách mạng đã giải quyết một số quyền lợi cho nông dân, lực lượng
đông đảo nhất trong dân tộc.
Ba là, cuộc cách mạng đã xây dựng chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân
đầu tiên ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ quân chủ phong kiến. Các tầng lớp nhân dẫn
được hưởng quyền tự do, dân chủ
- Tuy nhiên, Cách mạng tháng Tám “chưa làm cách mạng ruộng đất, chưa thực
hiện khẩu hiệu người cày có ruộng", "chưa xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu
ruộng đất, chưa xoá bỏ những tàn tích phong kiến nửa phong kiến để cho
công nghiệp có điều kiện phát triển mạnh quan hệ giữa địa chủnông dân nói
chung vẫn như cũ. Chính thế Cách mạng tháng Tám tính chất dân chủ
nhưng tính chất đó chưa được đầy đủ và sâu sắc.
2. Ý nghĩa
- Khẳng định ý nghĩa của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh viết:
"Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai
cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũngthể tự hào rằng: Lần
này lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa nửa
thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã năm
chính quyền toàn quốc".
- Đối với Việt Nam, Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đập tan xiềng xích
lệ của chủ nghĩa đế quốc trong gần một thế kỷ, chấm dứt sự tồn tại của chế độ
quân chủ chuyên chế ngót nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hóa, nhà nước của nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, giải quyết thành công vẫn
đề cơ bản của một cuộc cách mạng xã hội là vấn đề chính quyền.
+ Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nhân dân Việt Nam từ thân phận
lệ bước lên địa vị người chủ đất nước, quyền quyết định vận mệnh của
mình.
+ Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập có chủ
quyền, vươn lên cùng các dân tộc trên thế giới đấu tranh cho những mục tiêu
cao cả của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
+ Đảng Cộng sản Đông Dương từ chỗ phải hoạt động mật trở thành một
đảng cầm quyền. Từ đây, Đảng và nhân dân Việt Nam có chính quyền nhà nước
cách mạng làm công cụ sắc bén phục vụ sự nghiệp xây dựng bảo vệ đất
nước.
+ Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới trong tiến trình
lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập tự do và hướng tới chủ nghĩa xã hội.
- Về mặt quốc tế, Cách mạng tháng Tám một cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc lần đầu tiên giành thắng lợi một nước thuộc địa, đã đột phá một khâu
quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ suy
sụp và tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ.
+ Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám không chỉ chiến công của dân tộc
Việt Nam còn chiến công chung của các dân tộc thuộc địa đang đấu
tranh độc lập tự do, thế sức mạnh mẽ phong trào giải phóng
dân tộc trên thế giới.
+ Cách mạng tháng tám thắng lợi của đường lối giải phóng dân tộc đúng
đắn, sáng tạo của Đảng tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh. chứng
tỏ rằng: một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản lãnh đạo
hoàn toàn khả năng thắng lợi một nước thuộc địa trước khi giai cấp công
nhân ở “chính quốc" lên nắm chính quyền.
+ Cách mạng tháng Tám đã góp phần làm phong phủ thêm kho tàng luận
của chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc.
3. Kinh nghiệm
Cách mạng tháng Tám thành công để lại cho Đảng nhân dân Việt Nam
nhiều kinh nghiệm quý báu
Thứ nhất, về chỉ đạo chiến lược, phải giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc,
giải quyết đúng đân mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc cách
mạng ruộng đất. Trong cách mạng thuộc địa, phải đặt nhiệm vụ giải phóng dân
tộc lên hàng đầu, còn nhiệm vụ cách mạng ruộng đất cần tạm gác lại, rải ra thực
hiện từng bước thích hợp nhằm phục vụ cho nhiệm vụ chống đế quốc.
Thứ hai, về xây dựng lực lượng. Trên sở khối liên minh công nông, căn
khơi dậy tinh thần dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân, tập hợp mọi lực lượng
yêu nước trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Việt Minh là một điển hình
thành công của Đảng về huy động lực lượng toàn dân tộc lên trận địa cách
mạng, đưa cả dân tộc vùng dậy trong cao trào kháng Nhật cứu nước, tiến lên
tổng khởi nghĩa giành chỉnh quyền.
Thứ ba, về phương pháp cách mạng. Nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng
của quần chúng, ra sức xây dựng lực lượng chính trị lực lượng trang, kết
hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, tiến hành chiến tranh du kích cục
bộ khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận những vùng nông
thôn điều kiện, tiến lên chớp đúng thời cơ, phát động tống khởi nghĩa cả
nông thôn và thành thị, giành chính quyền toàn quốc.
Thứ tư, về xây dựng Đảng. Phải xây dựng một Đảng cách mạng tiên phong
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động toàn dân tộc Việt Nam, tuyệt đối
trung thành với lợi ích của giai cấp dân tộc, vận dụng phát triển luận
Mác-Lênin tưởng Hồ Chí Minh, đề ra đường lối chính trị đúng đắn, một
đảng vững mạnh về tưởng, chính trị tổ chức, liên hệ chặt chẽ với quần
chúng.
Chú trọng vai trò lãnh đạo cấp chiến lược của Trung ương Đảng, đồng thời
phát huy tính chủ động, sáng tạo của đồng bộ các địa phương. Với thắng lợi của
Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng đánh dấu bước nhảy vọt đại trong
quá trình tiến hóa của dân tộc. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ khi ra đời,
phải trải qua muôn vàn khó khăn thử thách, nhưng dưới sự lãnh đạo của
Đảng, với tinh thần đoàn kết, phấn đấu của toàn dân, luôn được xây dựng
củng cố, vững bước trên con đường độc lập dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Câu 9: Hoàn cảnh lịch sử, nội dung ý nghĩa Chỉ thị Kháng chiến, kiến
quốc (25-11-1945) của Đảng?
1. Hoàn cảnh lịch sử
- Trên thế giới, sau thắng lợiđại của Liên Xô và các nước Đồng minh trong
Chiến tranh thế giới thứ II, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống thế giới,
phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ
Latinh. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong các nước bản chủ
nghĩa phát triển cao.
- Trong nước, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã đem lại cho cách mạng
Việt Nam thế và lực mới. Đảng ta từ một đảng hoạt động bất hợp pháp trở thành
đảng cầm quyền, nhân dân ta được giải phóng khỏi cuộc đời lệ, trở thành
người làm chủ đất nước. Cách mạng nước ta thời kỳ này đứng trước những khó
khăn, thử thách nghiêm trọng: Nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc
các chính quyền phản động trong khu vực, chưa nhận được sự giúp đỡ trực tiếp
của các nước hội chủ nghĩa lực lượng tiến bộ trên thế giới; nền kinh tế
vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Tài chính cạn kiệt,
kho bạc trống rỗng, ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay tư bản Pháp.
Trình độ văn hóa của nhân dân ta thấp kém, 90% số dân mù chữ.miền Bắc,
20 vạn quân Tưởng ạt tràn qua biên giới, theo gót chúng bọn Việt Quốc,
Việt Cách, chúng lập chính quyền phản độngmột số nơi, cướp của giết người
chống phá chính quyền cách mạng. miền Nam: quân Anh với đành nghĩa
Đồng mình kéo vào nước ta tiếp tay cho thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta
lần thứ hai. “Tổ quốc lâm nguy! Vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc!".
| 1/53

Preview text:

Đề cương Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Câu 1: Ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với cách mạng Việt Nam cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
1. Tình hình thế giới
* Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản trên thế giới chuyến mạnh
sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản
phương Tây chuyến từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền
(giai đoạn đế quốc chủ nghĩa).
Các nước đế quốc phương Tây bên trong thì tăng cường hóc lột nhân dân lao
động, bên ngoài đẩy mạnh quá trình xâm chiếm và nô dịch các nước nhỏ, yếu ở
châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh, thực hành chính sách thực dân tàn bạo
nhằm vơ vét sức người, sức của vì lợi nhuận độc quyền của chủ nghĩa tư bản.
Điều đó không chỉ dẫn tới sự phát triển gay gắt mâu thuẫn giữa các nước đế
quốc trong việc tranh giành thuộc địa dẫn tới chiến tranh thế giới, mà còn làm
cho mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc, chủ
nghĩa thực dân ngày càng sâu sắc.
Phong trào chống đế quốc giành độc lập của các dân tộc thuộc địa trở thành
một nội dung lớn của phong trào cách mạng thế giới . Phong trào đấu tranh của
các dân tộc thuộc địa ngày càng lan rộng và phát triển mạnh mẽ trên thế giới,
đặc biệt là ở châu Á đã tác động mạnh mẽ đến phong trào yêu nước Việt Nam.
* Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917
Năm 1917, Cách mạng Mười Nga giành được thắng lợi. Nhà nước Xô viết dựa
trên nền tảng liên minh công - nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga
ra đời. Đối với nước Nga, đó là cuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các dân
tộc thuộc địa trong đế quốc Nga thì đó còn là cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc. Bởi vì, trước cách mạng, “nước Nga là nhà tù của các dân tộc" đó.
Cách mạng tháng 10 Nga làm cho phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư
bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc
địa phương Đông có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ
thủ chung là chủ nghĩa đế quốc.
* Quốc tế Cộng sản tháng 3-1919
Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản, do V.L.Lênin đứng đầu, được thành lập, trở
thành bộ tham mưu chiến đấu, tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản
thế giới. Quốc tế Cộng sản không những vạch đường hướng chiến lược cho
cách mạng vô sản mà cả đối với các vấn đề dân tộc và thuộc địa, giúp đỡ, chỉ
đạo phong trào giải phóng dân tộc. Cùng với việc nghiên cứu và hoàn thiện
chiến lược và sách lược về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Quốc tế Cộng sản đã
tiến hành hoạt động truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản và thúc đẩy phong
trào đấu tranh ở khu vực này đi theo khuynh hướng vô sản.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng
sản, nhiều đảng cộng sản trên thế giới đã thành lập: Đảng Cộng sản Đức, Đảng
Cộng Sản Hungary (năm 1918), Đảng Cộng Sản Mỹ (năm 1919), đảng cộng sản
Anh, Đảng Cộng sản Pháp (năm 1920), Đảng Cộng sản Trung Quốc và đảng
cộng sản Mông Cổ (năm 1921), Đảng Cộng Sản Nhật Bản (năm 1922).
* Một số yếu tố khác
Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và thắng lợi của cách mạng Tân Hợi
(10-1911) ở Trung Quốc đã tác động đến tư tưởng của những người Việt Nam
yêu nước đương thời. Tại Quảng Châu, năm 1923 với “Tiếng bom Phạm Hồng
Thái" được ví như “con chim én báo hiệu mùa xuân” đã thôi thúc nhiều người
Việt Nam sang Trung Quốc hoạt động.
Đầu thế kỷ XX, phong trào tư sản dân tộc của Đảng Quốc Đại (Ấn Độ) với
mục tiêu chấn hưng dân tộc bằng con đường cải cách hòa bình, hợp tác giành
độc lập cũng thu hút sự quan tâm của nhiều người yêu nước Việt Nam.
Cách mạng tư sản Nhật Bản năm 1868 và công cuộc cách tân nước Nhật cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đưa nước Nhật “quân chủ lập hiến" phát triển mạnh
mẽ đã mang lại sự ngưỡng mộ và tìm hiểu của nhiều nhà yêu nước Việt.
2. Ảnh hưởng đối với ĐCS Việt Nam
Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Sau gần 30 năm bình định bằng
vũ trang, Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Pháp. Khi Pháp tham chiến trong
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã có nhiều chính sách ảnh hưởng đến Việt Nam.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã làm biến đối sâu sắc
tình hình thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ có ý
nghia to lớn đối với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đối với các nước tư bản,
mà còn có tác động sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa,
có vũ mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách thực dân.
- Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền
bá chủ nghĩa Mác-Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên Ái
Quốc đã khẳng định vai trò của tổ chức này đối với cách mạng nước ta là: “An
Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế"
- Cách mạng Pháp, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời
Quốc tế Cộng sản đã gây nên sự phân hóa về tư tưởng và tổ chức của Đảng xã
hội Pháp. Từ việc tranh luận theo đường lối và tổ chức của Quốc tế Cộng sản
mà một bộ phận của Đảng này tách ra thành lập Đảng Cộng sản Pháp (1920).
Trên bước đường tìm con đường cứu nước, nửa cuối năm 1917, Nguyễn Ái
Quốc hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành theo Quốc tế
Cộng sản, trở thành một trong những thành viên tham gia sáng lâu Đảng Công sản Pháp.
Câu 2: Sự phân hóa của các giai cấp trong xã hội Việt Nam cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX?
Chính sách cai trị của thực dân Pháp không chỉ làm phân hóa các giai cấp cũ,
mà còn làm xuất hiện các giai cấp, tầng lớp xã hội mới trong xã hội Việt Nam.
Các giai cấp, tầng lớp này có địa vị kinh tế khác nhau và do đó cũng có thái độ
chính trị khác nhau đối với vận mệnh của dân tộc.
1. Giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam
- Do chính sách kinh tế và chính trị của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ bị
phân hóa thành ba bộ phận khá rõ rệt: tiếu, trung và đại địa chủ. Một bộ phận
câu kết với thực dân Pháp và làm tay sai đắc lực cho Pháp trong việc ra sức dân
áp phong trào yêu nước và bóc lột nông dân. Một bộ phận khác nêu cao tinh
thần dân tộc khởi xưởng và lãnh đạo các phong trào chống Pháp và bảo vệ chế
độ phong kiến; Một số trở thành lãnh đạo phong trào nông dân chống thực dân
Pháp và phong kiến phản động; Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản.
- Vốn sinh ra và trưởng thành trong một dân tộc có truyền thống yêu nước,
chống ngoại xâm, lại bị chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, chèn ép về
kinh tế của đế quốc thực dân Pháp, nên mỗi bộ phận không nhỏ tiểu và trung địa
chủ không chịu nổi nhục mất nước có mâu thuẫn về đế quốc về quyền lợi dân
tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai.
2. Giai cấp nông dân
Giai cấp nông dân là thành phần đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam (chiếm
gần 90% dân số). Nông dân Việt Nam bị bần cũng hóa bởi chính sách chiếm
đoạt ruộng đất để lập đồn điền của thực dân Pháp, bởi nạn sưu cao, thuế nặng
của nhà nước phong kiến - thực dân, bởi địa tô và cho vay nặng lãi của địa chủ
phong kiến. Do vậy, ngoài mâu thuẫn giai cấp vốn có với giai cấp địa chủ, từ
khi thực dân Pháp xâm lược, giai cấp nông dân còn có mâu thuẫn sâu sắc với
thực dân xâm lược. Đây là lực lượng hùng hậu, có tính thần đấu tranh kiên
cường bất khuất cho nền độc lập tự do của dân tộc và khao khát giành lại ruộng
đất cho dân cày, khi có lực lượng tiên phong lãnh đạo, giai cấp nông dân sẵn
sàng vùng dậy làm cách mạng lật đổ thực dân phong kiến.
3. Giai cấp công nhân
- Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ trong quá trình thực dân Pháp thực
hiện cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914). Ngoài những đặc điểm
của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc
điểm riêng: Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, kế thừa truyền thống yêu nước
của dân tộc; bị ba tăng áp bức (đế quốc, phong kiến, tư bản); phần lớn xuất thân
từ nông dân, là cơ sở khách quan, thuận lợi cho công nhân và nông dân liên
minh chặt chẽ trong quá trình đấu tranh cách mạng. Công nhân Việt Nam còn ít
chỉ chiếm 1% dân số, trình độ học vấn, kỹ thuật thấp, nhưng sống tập trung tại
các thành phố, trung tâm công nghiệp và các đồn điền.
- Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội tiên tiến, đại diện cho
phương thức sản xuất mới, tiến bộ, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có tỉnh thần
cách mạng triệt để, lại mang bản chất quốc tế. Họ là một động lực cách mạng
mạnh mẽ và khi liên minh được với giai cấp nông dân và tiểu tư sản sẽ trở thành
cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do.
4. Giai cấp tư sản
Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện muộn hơn giai cấp công nhân Việt Nam
trong điều kiện bị tư bản Pháp chèn ép, cạnh tranh gay gắt nên giai cấp tư sản
Việt Nam bị phân hóa thành hai bộ phận:
Tư sản mại bản là những tư sản lớn, tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế
của chính quyền thực dân Pháp, liên kết kinh doanh với đế quốc, nhiều tư sản
mại bản kiêm địa chủ có nhiều ruộng đất cho phát canh thu tô.
Tư sản dân tộc chiếm đa số trong giai cấp tư sản Việt Nam, bao gồm những tư
sản loại vừa và nhỏ, thường hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp, công
nghiệp và cả tiếu thủ công nghiệp. Do bị kìm hãm, phần lớn tư sản dân tộc Việt
Nam có tỉnh thần dân tộc, nhưng không có khả năng tập hợp các giai tầng đề
tiến hành cách mạng. Tư sản dân tộc phải chịu số phận mất nước, có mâu thuẫn
về quyền lợi với bọn đế quốc thực dân, phong kiến, nên họ có tỉnh thần chống
đế quốc và phong kiến. Giai cấp tư sản dân tộc là một lực lượng cách mạng
không thể thiếu trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
5. Tầng lớp tiểu tư sản.
- Tầng lớp tiểu tư sản (tiểu thương, tiếu chủ, sinh viên,...) bị đế quốc, tư bản
chèn ép, khinh miệt, do đó có tỉnh thần dân tộc, yêu nước và rất nhạy cảm về
chính trị và thời cuộc. Tuy nhiên, do địa vị kinh tế bấp bênh, thái độ hay dao
động, thiếu kiên định, do đó họ không thế lãnh đạo cách mạng.
- Tầng lớp sĩ phu phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bị phân
hóa càng ngày càng sâu sắc. Một bộ phận vẫn giữ cốt cách phong kiến, một bộ
phận chuyển sang tư tưởng tư sản hoặc tư tưởng vô sản. Một số người trong
tầng lớp này khởi xướng các phong trào yêu nước có ảnh hưởng lớn.
Câu 3: Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của các phong trào yêu
nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX?
1. Nguyên nhân thất bại: Những năm cuối thể kỉ 19- đầu TK 20 các phong
trào yêu nước theo ngọn cờ phong kiến, dân chủ tư sản đã diễn ra quyết liệt,
rộng khắp cả nước và được tiến hành bằng nhiều cách thức khác nhau. Tuy
nhiên các phong trào đều lần lượt thất bại.

* Thiếu đường lối, phương pháp cứu nước đúng đắn
Các lãnh tụ yêu nước không có điều kiện khách quan, chín muồi của lịch sử để
nhận thức đúng tính chất xã hội Việt Nam đã thay đối và đề ra đường lối cứu nước đúng dân.
Do thiếu đường lối đúng nên các phong trào không có phương pháp đúng để tổ
chức lực lượng thống nhất trong toàn quốc. Các phong trào diễn ra lê tê, khởi
nghĩa vũ trang, cải cách dân chủ... chỉ nhất thời dựa vào một bộ phận, dựa vào
uy tín cá nhân, hoặc dựa vào thế lực bên ngoài, thậm chí dựa vào chính kẻ thù
của mình... đều dẫn đến thất bại
* Thiếu giai cấp đủ khả năng và điều kiện lãnh đạo phong trào dân tộc
Từ cuối thế kỷ XIX, hệ tư tưởng phong kiến đã trở nên lạc hậu, suy yếu trước
dân chủ tư sản và cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang phát triển của tư bản
phương Tây. Chính vì thế trước sự tấn công của thực dân Pháp, triều đình phong
kiến đã nhanh chóng đầu hàng, ngọn cờ dân tộc do giai cấp phong kiến lãnh đạo
đã không đủ sức mạnh tổ chức, thu hút và đoàn kết lực lượng trong nước để chống xâm lược.
Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời muộn từ xã hội thuộc địa nữa phong kiến nên
ít về số lượng, yếu về kinh tế, non kém về chính trị, không có cơ sở xã hội rộng
rãi trong nhân dân, không có lý luận vững chắc nên không có đủ khả năng đề ra
đường lối cứu nước đúng đắn, không đủ sức mạnh và uy tín để lãnh đạo dân tộc đi đến thắng lợi.
Giai cấp nông dân Việt Nam là lực lượng đông đảo nhất, tích cực chống đế
quốc và phong kiến, là động lực to lớn của cách mạng. Tuy nhiên do phương
thức sản xuất thủ công, phân tán, không có hệ tư tưởng độc lập và vị trí chính trị
xã hội nên giai cấp nông dân không thể nắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc.
Đội ngũ tiểu tư sản và trí thức Việt Nam có tỉnh thần dân tộc, nhạy cảm trước
thời cuộc nhưng không đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến; địa vị kinh
tế và đời sống của họ bấp bênh, họ không đủ khả năng lãnh đạo cách mạng mà
chỉ có thể tham gia và giữ vai trò quan trọng trong cách mạng, nhất là trong đấu tranh ở đô thị.
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất của thực dân Pháp (1894-1914), đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến,
mang đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế, kế thừa truyền thống tốt đẹp của
dân tộc nên có đủ điều kiện khách quan đề lãnh đạo cách mạng. Tuy nhiên, đầu
thế kỷ XX, giai cấp công nhân Việt Nam còn bé nhỏ, chưa có lý luận dẫn đường
nói lên hai vấn đề mâu thuẫn cơ bản đòi hỏi phải giải quyết. Mâu thuẫn cơ bản
thứ nhất là mâu thuẫn giữa toàn bộ dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp. Mâu
thuẫn cơ bản thứ hai giữa nhân dân Việt Nam mà đa số là nông dân với địa chủ
phong kiến. Cho đến đầu thế kỷ XX, trong xã hội Việt Nam chưa có lực lượng
và giai cấp nào đủ khả năng và điều kiện khách quan để giải quyết những mâu thuẫn đó.
* Thiếu tổ chức chặt chẽ, vũ khí, trang bị vũ khí thiếu thốn lạc hậu
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi triều đình phong kiến chấm dứt vai trò
đứng đầu chống xâm lược thì quan lại, sĩ phu yêu nước không đủ khả năng và
điều kiện vật chất, tinh thần để thống nhất, huy động lực lượng cả nước. Thiếu
ngọn cờ chỉ huy, phối hợp trong cả nước, nên lực lượng cả nước bị phân tán;
khởi nghĩa diễn ra lẻ tẻ, phân tán... Trong khởi nghĩa vũ trang, nghĩa quân chủ
yếu là nông dân, chưa được huấn luyện kỹ về quân sự, điều kiện vật chất khó
khăn, vũ khí thô sơ, lạc hậu và thiếu thốn.
Tất cả các nguyên nhân trên đã làm cho "các phong trào cứu nước từ lập
trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử
đều lần lượt thất bại". Điều đó dẫn tới cuộc khủng khoảng trầm trọng về đường
lối cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
*Chưa có một tổ chức vững mạnh để tập hợp, giác ngộ và lãnh đạo toàn dân tộc.
*Chưa xác định được phương pháp đấu tranh thích hợp để đánh đổ kẻ thù.
2. Ý nghĩa lịch sử
* Tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc
Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, không cam chịu
nô lệ. Dù ở đâu, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, quân dân ta đều tìm mọi cách
chống giặc ngoại xâm. Khi thực dân Pháp xâm lược, hàng trăm cuộc khởi nghĩa
vũ trang và phong trào đấu tranh dân chủ diễn ra liên tục, kéo dài hàng chục
năm và mang tính chất rất quyết liệt "một mất, một còn".
* Quy mô phát triển rộng và mang tính chất nhân dân sâu sắc
Với truyền thống yêu nước ý thức độc lập dân tộc và nhu cầu sống tự do, đông
đảo các tầng lớp nhân dân cả nước cả nước đều quyết tâm chống xâm lược. Lực
lượng tham gia phong trào yêu nước có quy mô rộng lớn toàn quốc, thực sự
mang tính chất nhân dân sâu sắc.
Phong trào yêu nước Việt Nam đã có tác dụng thức tỉnh tinh thần yêu nước tư
tưởng cách mạng bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Xét cả về hình thức, lực
lượngvà cách tổ chức, phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX có tính chất nhân dân rõ rệt
* Từng bước phát triển theo xu hướng dân chủ tư sản
Đầu thế kỷ XX, khi ngọn cờ cứu nước theo khuynh hướng phong kiến ở Việt
Nam chấm dứt cũng là lúc trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản ở Nhật Bản, chủ
nghĩa “tam dân” ở Trung Quốc, tư tưởng “bất bạo động" ở Ấn Độ, tư tưởng “Tự
do - Bình đẳng - Bác ái” từ nước Pháp được truyền bá đến Việt Nam. Từng
bước là chuyển biến phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản: Phan Bội
Châu với chủ trương bạo động, Phan Chu Trinh với chủ trương cải cách.
* Góp phần cải cách văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX
Phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX phát triển
với nhiều hình thức phong phú. Mục tiêu chống đế quốc, chống phong kiến gắn
với vận động dân chủ, dân sinh, cải cách văn hóa, giáo dục theo khuynh hưởng
dân chủ tư sản làm cho phong trào mang tính chất tiến bộ, cách mạng rõ rệt.
Phong trào Đông Du truyền bá tư tưởng dân chủ, văn hóa, khoa học kỹ thuật,
mở mang kiến thức... theo con đường duy tân của Nhật Bản; phong trào cải
cách của Phan Chu Trinh nhằm chấn hưng dân khí, nâng cao dân chí "ỷ Pháp
cầu tiến bộ”; phong trào Đông Kinh Nghĩa thục cổ vũ tỉnh thần chống Pháp theo
* lối vận động văn hóa. Với nội dung đó, phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế
kỷ XX thực sự là phong trào văn hóa lớn.
* Để lại những bài học lịch sử quý giá
Một là, cần thiết có đường lối và phương pháp cứu nước đúng đắn. Đường lối
cứu nước giải phóng dân tộc đúng đắn đòi hỏi phải có lý luận dẫn đường, phù
hợp với thực tiễn, giải đáp được những những mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt
Nam; đáp ứng được những yêu cầu nhiệm vụ chống đế quốc xâm lược kết hợp
với chống phong kiến tay sai. Kẻ thù là lực lượng có tiềm lực kinh tế, quân sự
mạnh mẽ và có tính chất quốc tế.
Hai là, cần có tổ chức chặt chẽ của giai cấp lãnh đạo cách mạng. Cách mạng là
sự nghiệp quan trọng của quần chúng. Phạm vi của hoạt động cứu nước rộng
lớn trong nước và quốc tế nên cần có phong trào tự giác, được tổ chức chặt chẽ
mới có thể thuyết phục hàng chục triệu người tin theo.
Ba là, kết hợp sức mạnh trong nước với xu thế thời đại mới. V.L.Lênin đã từng
chỉ rõ cách mạng mỗi nước là bộ phận của cách mạng thế giới nên không thế
cứu nước thành công nếu không có sự phối hợp quốc tế.
Những bài học kinh nghiệm nêu trên là vô cùng quý giá, có ý nghĩa quyết định
đến sự thành công của phong trào yêu nước Việt Nam và con đường đấu tranh
cách mạng do Đạt Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sau này.
Câu 4: Quá trình chuẩn bị của Nguyễn Ái Quốc về tư tưởng, chính trị, tổ
chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam? 1.
Về tư tưởng: Tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân
- Vừa nghiên cứu lý luận, vừa tham gia hoạt động thực tiễn trong phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế, dưới nhiều phương thức phong phú, Nguyễn Ái
Quốc đã tích cực tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các
thuộc địa, đồng thời tiến hành tuyên truyên tư tưởng Mác-Lênin, xây dựng mối
quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp với các
nước thuộc địa và phụ thuộc.
- Người đã viết nhiều bài đăng trên báo Le Paria (Người cùng khổ),
L'Humanite (Nhân đạo), La Vie Ouvriere (Đời sống công nhân), La Revue
Communiste (Tạp chí Cộng sản), bảo Pravda (Sự thật) của Liên Xô... Năm
1922, Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp được thành lập,
Nguyễn Ái Quốc được cử làm Trưởng Tiểu ban Nghiên cứu về Đông Dương.
- Khi Người sang hoạt động ở Liên Xô tham dự và trình bày các tham luận tại
đại hội của các tổ chức mang tính quốc tế. Các bài tham luận của Người đã chỉ
rõ sự cần thiết phải thủ tiêu hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, đồng thời
tuyên truyền tư tưởng của V.I.Lênin soi sáng con đường cách mạng con đường
phát triển của cách mạng thuộc địa
- Đặc biệt, tại Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản (họp từ ngày 17-6 đến
ngày 18-7-1924), Người đã trình bày bản báo cáo rất quan trọng về vấn đề dân
tộc và thuộc địa. Người đã làm sáng rõ và phát triển một số luận điểm của
V.LLênin về bản chất của chủ nghĩa thực dân, về nhiệm vụ của các đảng cộng
sản trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột và giải phóng đấu
tranh ở các thuộc địa. Năm 1925, cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp được
xuất bản lần đầu tiên ở Pari, đã tố cáo, kết tội chế độ bóc lột, cai trị của thực dân
Pháp đối với các nước thuộc địa, thức tỉnh nhân dân các dân tộc bị áp bức nói
chung, nhân dân Việt Nam nói riêng.
=> Đây là sự chuẩn bị quan trọng về tư tưởng, lý luận cho quá trình thành lập Đảng.
2. Về chính trị: Phác thảo đường lối cứu nước
- Đường lối cách mạng được phác thảo rõ nét nhất là ở nội dung các bài giảng
của Nguyễn Ái Quốc cho Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên từ năm 1925 đến
năm 1927, được Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông tập hợp, in trong cuốn Đường Cách mệnh.
- Người khẳng định rằng, con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là
giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thế là
sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản. Đường lối chính trị rủa Đảng cách mạng phải
hướng tới độc lập cho dân tộc tự do, hạnh phúc cho đồng bào, hướng tới xây
dựng Nhà nước mang lại quyền và lợi ích cho nhân dân.
- Người xác định cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa là một bộ
phận của cách mạng vô sản thế giới; giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở các
nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở “chính quốc" có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, hỗ trợ cho nhau, nhưng cách mạng giải phóng dân tộc ở nước thuộc
địa không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở "chính quốc" mà có thể thành
công trước cách mạng vô sản ở "chính quốc", góp phần tích cực thúc đấy cách
mạng vô sản ở "chính quốc".
- Đối với các dân tộc thuộc địa, Người chỉ rõ: trong nước nông nghiệp lạc hậu,
nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột
nặng nề, vì vậy phải thu phục và lôi cuốn được nông dân, phải xây dựng khối
liên minh công nông làm động lực cách mạng. Do vậy, Người xác định rằng,
cách mạng “là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc của một hai người".
- Về Đảng Cộng sản, Người khẳng định: “Cách mạng trước hết phải có đảng
cách mệnh, đế trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với
dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới
thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy".
- Phong trào “Vô sản hóa" do Kỳ bộ Bắc Kỳ Hội Việt Nam Cách mạng thanh
niên phát động từ ngày 29-9-1928 đã góp phần truyền bá tư tưởng vô sản,
nhiệm vụ chính trị, rèn luyện cán bộ và phát triển tổ chức của công nhân.
3. Về tổ chức: Lựa chọn và bồi dưỡng cán bộ
- Sau một năm rưỡi hoạt động ở Liên Xô tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc về
Quảng Châu (Trung Quốc) để xúc tiến các công việc tổ chức thành lập chính đảng mácxít.
- Tháng 2-1925, Người lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã,
lập ra nhóm Cộng sản đoàn (có Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu,
Lưu Quốc Long, Trương Vân Lĩnh, Lê Quảng Đạt, Lâm Đức Thụ).
Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh
niên tại Quảng Châu (Trung Quốc), nòng cốt là Cộng sản đoàn. Hội đã công bố
chương trình, điều lệ của Hội, mục đích: để làm cách mệnh dân tộc (đập tan bọn
Pháp và giành độc lập cho xứ sở) rồi sau đó làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ
nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản).
Hệ thống tổ chức của Hội gồm 5 cấp: trung ương bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ hay thành
bộ, huyện bộ và chỉ bộ. Tổng bộ là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai kỳ đại
hội. Trụ sở đặt tại Quảng Châu.
- Hội xuất bản tờ báo Thanh niên (do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp
chỉ đạo), tuyên truyền tôn chỉ, mục đích của Hội, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-
Lênin và về phương hướng phát triển của cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt
Nam. Một số lượng lớn báo Thanh niên được bí mật đưa về nước và tới các
trung tâm phong trào yêu nước của người Việt Nam ở nước ngoài. Bảo Thanh
niên đánh dấu sự ra đời của báo chí cách mạng Việt Nam.
- Sau khi thành lập, Hội tổ chức các lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái
Quốc trực tiếp phụ trách, phái người về nước vận động, lựa chọn và đưa một số
thanh niên tích cực sang Quảng Châu để đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị
Sau khi được đào tạo, các hội viên được cử về nước xây dựng và phát triển
phong trào cách mạng theo khuynh hướng vô sản.
- Từ đầu năm 1926, Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đã bắt đầu phát triển
cơ sở ở trong nước, đầu năm 1927 các kỳ bộ được thành lập, ngoài ra còn chú
trọng xây dựng cơ sở ở Thái Lan, để mở rộng hoạt động tuyên truyền trong Việt Kiều.
- Năm 1927, các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu được xuất bản
thành cuốn sách Đường Cách mệnh. Tác phẩm xác định rõ con đường, mục tiêu,
lực lượng và phương pháp đấu tranh của cách mạng Việt Nam, thế hiện tư tưởng
nổi bật của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dựa trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác-Lênin vào điều kiện Việt Nam. Những điều kiện về tư tưởng, lý luận, chính
trị và tổ chức để thành lập Đảng đã được nêu rõ trong tác phẩm.
- Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên chưa phải là chính đảng cộng sản,
nhưng chương trình hành động đã thể hiện quan điểm lập trường của giai cấp
công nhân là tổ chức tiền thân dẫn tới ra đời các tổ chức mộng sản ở Việt Nam.
Hội là tổ chức trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong nước và cũng
là sự chuẩn bị quan trọng về tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng của giai
cấp vô sản ở Việt Nam. Đó là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Câu 5: Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nội dung Cương
lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2-1930)?
1. Hội nghị thành lập Đảng
- Đến cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức
cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một đảng
cộng sản thống nhất, chấm dứt sự chia rẽ trong phong trào cộng sản ở Việt Nam.
- Ngày 27-10-1929, Quốc tế Cộng sản gửi những người cộng sản Đông Dương
tài liệu về việc thành lập một Đảng Cộng sản ở Đông Dương, yêu cầu những
người cộng sản Đông Dương phải khắc phục ngay sự chia rẽ giữa các nhóm
cộng sản và thành lập một đảng của giai cấp vô sản.
- Nhận được tin về sự chia rẽ của những người cộng sản ở Đông Dương,
Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm đến Trung Quốc. Người chủ trì Hội nghị hợp nhất
Đăng, họp từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc.
- Thành phần Hội nghị hợp nhất gồm: 1 đại biểu của Quốc tế Cộng sản; 2 đại
biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng: 2 đại biểu An Nam Cộng sản Đảng.
Hội nghị thảo luận đề nghị của Nguyễn Ái Quốc gồm năm điểm lớn, với nội
dung: "1. Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các
nhóm cộng sản ở Đông Dương 2. Định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam;
3.Thảo Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng: 4. Định kế hoạch thực hiện
việc Thống nhất trong nước; 5. Cử một Ban Trung ương lâm thời gồm chín
người, trong đó có hai đại biểu chỉ bộ cộng sản Trung Quốc ở Đông Dương".
- Hội nghị nhất trí với Năm điểm lớn theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc và
quyết định hợp nhất các tổ chức cộng sản, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vẫn tất của
Đảng, Sách lược ván tất của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ
vẫn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Hội nghị quyết định phương châm, kế hoạch thống nhất các tổ chức cộng sản
trong nước, quyết định ra báo, tạp chí của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Hội nghị xác định rõ tôn chỉ mục đích của Đảng: "Đảng Cộng sản Việt Nam
tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư
bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản". Quy định điều kiện
vào Đảng: là những người "tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình đảng và
Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh
Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận đảng”
- Chủ trương của Hội nghị về hệ thống tổ chức Đảng từ chỉ bộ, huyện bộ, thị
bộ hay khu bộ, tỉnh bộ, thành bộ hay đặc biệt bộ và Trung ương, đồng thời xác
định rõ trách nhiệm, quyền lợi của Đảng viên, quy định rõ chế độ dân chủ và kỷ luật trong Đảng.
- Ngày 24-2-1930, theo yêu cầu của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, Ban
Chấp hành Trung ương lâm thời họp và ra Nghị quyết chấp nhận Đông Dương
Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, đến ngày 24-
2- 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn thành việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam.
2. Nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Cương lĩnh xác định các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam:
- Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là: tư sản dân quyền cách
mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.
- Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng:
Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho
nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông.
Về kinh tế Thủ tiêu hết các thứ quốc trái: tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (như
công nghiệp, vận tải, ngân hàng, vv.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao
cho Chính phủ công nông bình quản lý, tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế
quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cây nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày
nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp, thì hành luật ngày làm 8 giờ.
Về văn hóa - xã hộc Dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền; phổ
thông giáo dục theo công nông hóa.
Về lực lượng cách mạng: Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và
phải dựa và hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh đó bọn đại địa
chủ và phong kiến; phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cây (công hội,
hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia; phải
hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân Việt, vv. để
kéo họ đi và phe vô sản giai cấp. Đối với phủ nông, trung, tiếu địa chủ và tư bản
An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho
họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (như Đảng lập hiến, vv) thì phải đánh đổ.
Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt
Nam. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ
phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng, trong
khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một
chút lợi ích gì của công nông mà đi và con đường thỏa hiệp.
Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: Cách mạng Việt
Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hiện liên lạc với các dân
tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là à giai cấp vô sản Pháp.
Câu 6: Nội dung và ý nghĩa Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản
Đông Dương (10-1930)?
Tháng 4-1930, giữa lúc phong trào cách mạng đang phát triển, Trần Phú từ
Liên Xô về nước. Tháng 7-1930, ông được bố sung vào Ban Chấp hành Trung
ương lâm thời và tham gia chuẩn bị cho Hội nghị lần thứ nhất của Trung ương.
Từ ngày 14 đến 31-10-1930, Ban Chấp hành Trung ương họp hội nghị lần thứ
nhất tại Hương Cảng tức Hồng Kông (Trung Quốc), quyết định đối tên Đảng
Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí Trần Phủ
được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.
1. Nội dung Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương
Về tính chất xã hội và mâu thuẫn giai cấp: Luận cương đã phân tích, đặc điểm,
tình hình xã hội thuộc địa nửa phong kiến và nêu lên những vấn đề cơ bản của
cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Chỉ rõ mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền, dân cày
và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc.
- Vạch ra phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương là: lúc đầu
cách mạng Đông Dương là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, có tính chất
thổ địa và phản đế, tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội
cách mạng, sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục phát triển,
bỏ qua thời kỳ tư bản mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa.
- Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là: đánh đổ phong kiến, thực hành
cách mạng ruộng đất triệt đề và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông
Dương hoàn toàn độc lập. Trong hai nhiệm vụ này, vấn đề thổ địa là cái cốt của
cách mạng tư sản dân quyền và là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày.
Về lực lượng cách mạng: Giai cấp vô sản vừa là động lực chính của cách mạng
tư sản dân quyền, vừa là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Dân cày là lực lượng
đông đảo nhất và là động lực mạnh của cách mạng. Tư sản thương nghiệp thì
đứng về phe đế quốc và địa chủ chống lại cách mạng, còn tư sản công nghiệp
thì đứng về phía quốc gia cải lương và khi cách mạng phát triển thì họ sẽ theo
để quốc. Trong giai cấp tiểu tư sản, bộ phận thủ công nghiệp thì có thái độ do
dự, tiểu tư sản thương gia thì không tán thành cách mạng, tiểu tư sản trí thức thì
có xu hướng quốc gia chủ nghĩa và chỉ có thể hăng hái tham gia chống đế quốc
trong thời kỳ đầu. Chỉ có các phần tử lao khó ở đô thị như những người bán
hàng rong, thợ thủ công nhỏ, trí thức thất nghiệp mới đi theo cách mạng mà thôi.
- về phương pháp cách mạng: Để đạt được mục tiêu cơ bản của cuộc cách
mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay công nông
thì phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng về con đường vũ trang bạo động. Vũ
trang bạo động để giành chính quyền là một nghệ thuật, phải tuân theo khuôn phép nhà binh.
- Về quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: Cách mạng
Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, vì thế giai cấp vô
sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là
giai cấp vô sản Pháp, và phải mật thiết liên lạc với phong trào cách mạng ở các
nước thuộc địa và nửa thuộc địa nhằm mở rộng và tăng cường lực lượng cho
cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương.
- Về vai trò lãnh đạo của Đảng: Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là điều kiện
cốt yếu cho thẳng lợi của cách mạng. Đảng phải có đường lối chính trị đúng
đắn, có kỷ luật tập trung, liên hệ mật thiết với quần chúng. Đảng là đội tiên
phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, đại
biểu chung cho quyền lợi của giai cấp vô sản ở Đông Dương, đấu tranh để đạt
được mục đích cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. 2. Ý nghĩa
- Đã kế thừa, phát triển và khẳng định lại nhiều vấn đề cơ bản về chiến lược và
sách lược của cách mạng Việt Nam : Về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; về
con đường cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn cách mạng tư sản dân
quyền chống đế quốc và chống phong kiến nhằm thực hiện độc lập dân tộc và
ruộng đất cho nông dân sau đó chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa: về hai
nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến quan hệ mật thiết với nhau về lực
lượng chính của cách mạng là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Đặc
biệt, Luận cương nhấn mạnh vấn đề phương pháp cách mạng để giành thắng lợi
là sử dụng con đường bạo lực cách mạng và sức mạnh tổng hợp của bạo lực
cách mạng quần chúng thông qua vũ trang bạo động.
- Tuy nhiên, Luận cương vẫn còn những hạn chế nhất định:
+ Chưa chỉ rõ được mâu thuẩn chủ yếu nhất của cách mạng Việt Nam là mâu
thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp xâm lược, từ đó không đặt nhiệm
vụ chống đế quốc, tay sai lên hàng đầu.
+ Chưa biết lợi dụng phân hóa kẻ thù, giai cấp phong kiến để tập trung mũi nhọn vào đế quốc.
+ Chưa đánh giá đúng khả năng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản và mặt yêu
nước của giai cấp tư sản dân tộc nên chưa coi họ là dòng mình, là lực lượng
cách mạng trong cách mạng tư sản dân quyền, làm hạn chế sức mạnh đại đoàn
kết dân tộc trong chống đế quốc, tay sai
- Chính vì vậy, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10-1930 đã
không chấp nhận những quan điểm mới, sáng tạo, độc lập tự chủ của Nguyễn Ái
Quốc không được nêu trong Đường cách mệnh, Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt.
- Ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị thành lập
Hội Phản để đồng minh, nêu lên tư tưởng chiến lược cách mạng đúng đắn của
Đảng coi việc đoàn kết toàn dân thành một lực lượng thật rộng rãi, lấy công -
nông làm hai động lực chính, là một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng
giải phóng dân tộc. Chỉ thị phê phán những nhận thức sai lầm trong Đảng đã
tách rời vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, nhận thức không đúng về vấn đề
đoàn kết dân tộc về vai trò của Hội Phản để đồng minh trong cách mạng ở thuộc địa.
Câu 7: Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong những năm 1939-1941 1. Hoàn cảnh lịch sử
- Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Chiến tranh thế giới thứ
hai đã ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến Đông Dương và Việt Nam. Ngày
28-9-1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm tuyên truyền cộng sản,
cấm lưu hành, tàng trữ tài liệu cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra
ngoài vòng pháp luật, giải tán các hội hữu ái, nghiệp đoàn và tịch thu tài sản của
các tổ chức đó, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm hội họp và tụ tập đông người.
- Ở Việt Nam và Đông Dương, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thời
chiến rất trắng trợn. Chúng phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp
phong trào cách mạng của nhân dân, tập trung lực lượng đánh vào Đẳng Cộng
sản Đông Dương. Hàng nghìn cuộc khám xét bất ngờ đã diễn ra khắp nơi. Một
số quyền tự do, dân chủ đã giành được trong thời kỳ 1936-1939 bị thủ tiêu.
Chúng ban bố lệnh tổng động viên, thực hiện chính sách kinh tế chỉ huy nhằm
tăng cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ chiến tranh của đế quốc. Hơn
bảy vạn thanh niên bị bắt sang Pháp để làm bia đỡ đạn.
- Ngày 22-9-1940 phát xít Nhật đã tiến vào Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng.
Ngày 23-9-1940, tại Hà Nội, Pháp ký hiệp định đầu hàng Nhật. Từ đó, nhân dân
ta chịu cảnh một cố bị hai tròng áp bức, bóc lột của Pháp - Nhật mâu thuẫn giữa
dân tộc ta với đế quốc, phát xít Pháp - Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết
2. Chủ trương chiến lược mới của Đảng
* Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 11-1939)
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 11-1939) tại Bà Điểm (Hóc
Môn, Gia Định) phân tích tình hình và chỉ rõ: "Bước đường sinh tồn của các
dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ
đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để
giành lấy giải phóng độc lập". Hội nghị nhấn mạnh “chiến lược cách mệnh tư
sản dân quyền bây giờ cũng phải thay đổi ít nhiều cho hợp với tình thế mới".
Khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất" phải tạm gác và thay bằng các khẩu hiệu
chống địa tô cao, chống cho vay lãi nặng, tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa
chủ phản bội quyền lợi dân tộc chia cho dân cày. Hội nghị chủ trương thành lập
Mặt trận dân tộc thống nhất phản để Đông Dương, thu hút tất cả các dân tộc,
các giai cấp, đảng phái và cá nhân yêu nước ở Đông Dương nhâm đánh đổ đế
quốc Pháp và tay sai, giành lại độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đằng tháng 11-1939 đã đáp ứng đúng
yêu cầu khách quan của lịch sử, đưa nhân dân bước vào thời kỳ trực tiếp vận
động giải phóng dân tộc
* Hội nghị cán bộ Trung ương họp tháng 11-1940
Hơn một tháng sau khi Nhật vào Đông Dương, Hội nghị cán bộ Trung ương
tháng 11-1940 lập lại Ban Chấp hành Trung ương và cho rằng: "Cách mạng
phần đề và cách mạng thứ địa phải đứng thời tiến, không thể cái làm trước, di
làm sau". Trung ương Đảng vẫn còn trăn trở, chưa thật đứt khoát với chủ trương
đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu được đề ra tại Hội nghị tháng 11- 1539
* Hội nghị lên thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5-1941
Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, ngày 25-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
về nước và làm việc ở Cao Bằng Tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội
nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Vấn đề chính là nhận định
cuộc cách mạng trước mắt của Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc, lập Mặt trận Việt Minh, khấu hiệu chính là: Đoàn kết toàn dân, chống Nhật,
chống Pháp, tranh lại độc lập; hoãn cách mạng ruộng đất". Trung ương bầu
đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư. Hội nghị Trung ương nêu rõ những nội dung quan trọng:
Thứ nhất, hết sức nhấn mạnh mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải quyết
cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít Pháp- Nhật,
bởi vì dưới hai tăng áp bức Nhật-Pháp, “quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp
giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng".
Thứ hai, khẳng định dứt khoát chủ trương “phải thay đổi chiến lược" và giải
thích: “Cuộc cách mạng ở Đông Dương hiện tại không phải là một cuộc cách
mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phần đế và
điền địa nữa, mà là một cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp "dân tộc giải phóng".
Để thực hiện nhiệm vụ đó, Hội nghị quyết định tiếp tục các khẩu hiệu tịch thu
ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất
công cho công bằng, giảm tô, giảm tức. Hội nghị chỉ rõ: "Trong lúc này quyền
lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia,
của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải
phóng, nếu không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những
toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ
phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng
ta trong vấn đề dân tộc".
Thứ ba, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương,
thi hành chính sách "dân tộc tự quyết". Sau khi đánh đuổi Pháp Nhật các dân tộc
trên cõi Đông Dương sẽ “tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng
riêng thành lập một quốc gia tùy ý". "Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được
thừa nhận và coi trọng". Từ quan điểm đó, Hội nghị quyết định thành lập ở mỗi
nước Đông Dương một mặt trận riêng, thực hiện đoàn kết tinh dân tộc, đồng
thời đoàn kết ba dân tộc chống kẻ thù chung
Thứ tư, tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc. Các tổ chức quần chúng trong
Mặt trận Việt Minh đều mang tên "cứu quốc". Trong việc xây dựng các đoàn thể
cứu quốc, "điều cốt yếu không phải những hội viên phải hiểu chủ nghĩa cộng
sản, mà điều cốt yếu hơn hết là họ có tinh thần cứu quốc và muốn tranh đấu cứu quốc".
Thứ năm, chủ trương sau khi cách mạng thành công sẽ thành lập nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa theo tỉnh thần tân dân chủ, một hình thức nhà nước "của
chung cả toàn thể dân tộc". Hội nghị chỉ rõ, "không nên nói công nông liên hiệp
và lập chính quyền Xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hiệp và thành lập
chính phủ dân chủ cộng hòa".
Thứ sáu, Hội nghị xác định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung
tâm của Đảng và nhân dân. Trong những hoàn cảnh nhất định thì "với lực lượng
sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương
cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to
lớn". Hội nghị còn xác định những điều kiên chủ quan, khách quan và dự đoán
thời cơ tổng khởi nghĩa
- Hội nghị lần thứ tâm Ban Chấp hành Trung ưme Đăng đã hoàn chính chủ
trương chiến lược được đề ra từ Hội nghị tháng 11-1939, khắc phục triệt để
những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10-1930, khẳng định lại đường
lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc. Đó là
ngọn cờ dẫn đường cho toàn dân Việt Nam đấy mạnh công cuộc chuẩn bị lực
lượng, tiến lên trong sự nghiệp đánh Pháp, đuối Nhật, giành độc lập tự do.
Câu 8: Tính chất, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945 1. Tính chất
- Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình, thể hiện:
Thứ nhất, tập trung hoàn thành nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là giải
phóng dân tộc, tập trung giải quyết mâu thuân chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc
đó, đáp ứng đúng yêu cầu khách quan của lịch sử và ý chí, nguyện vọng độc lập
tự do của quần chúng nhân dân.
Thứ hai, lực lượng cách mạng bao gồm toàn dân tộc, đoàn kết chặt chẽ trong
mặt trận Việt Minh với những tổ chức quần chúng mang tên "cứu quốc, động
viên đến mức cao nhất mọi lực lượng dân tộc lên trận địa cách mạng. Cuộc tổng
khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là sự vùng dậy của lực lượng toàn dân tộc.
Thứ ba, thành lập chính quyền nhà nước "của chung toàn dân tộc” theo chủ
trương của Đảng, với hình thức cộng hòa dân chủ, chỉ trừ tay sai của đế quốc và
những kẻ phản quốc, “còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam đều thấy
được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và
bảo vệ chính quyền ấy".
- Cách mạng tháng Tám năm 1945 còn mang tính chất dân chủ:
Một là, cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là một bộ phận của phe dân chủ chống phát xít.
Hai là, cách mạng đã giải quyết một số quyền lợi cho nông dân, lực lượng
đông đảo nhất trong dân tộc.
Ba là, cuộc cách mạng đã xây dựng chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân
đầu tiên ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ quân chủ phong kiến. Các tầng lớp nhân dẫn
được hưởng quyền tự do, dân chủ
- Tuy nhiên, Cách mạng tháng Tám “chưa làm cách mạng ruộng đất, chưa thực
hiện khẩu hiệu người cày có ruộng", "chưa xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu
ruộng đất, chưa xoá bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến để cho
công nghiệp có điều kiện phát triển mạnh quan hệ giữa địa chủ và nông dân nói
chung vẫn như cũ. Chính vì thế Cách mạng tháng Tám có tính chất dân chủ
nhưng tính chất đó chưa được đầy đủ và sâu sắc. 2. Ý nghĩa
- Khẳng định ý nghĩa của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh viết:
"Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai
cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần
này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa
thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã năm chính quyền toàn quốc".
- Đối với Việt Nam, Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đập tan xiềng xích nô
lệ của chủ nghĩa đế quốc trong gần một thế kỷ, chấm dứt sự tồn tại của chế độ
quân chủ chuyên chế ngót nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hóa, nhà nước của nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, giải quyết thành công vẫn
đề cơ bản của một cuộc cách mạng xã hội là vấn đề chính quyền.
+ Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nhân dân Việt Nam từ thân phận
nô lệ bước lên địa vị người chủ đất nước, có quyền quyết định vận mệnh của mình.
+ Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập có chủ
quyền, vươn lên cùng các dân tộc trên thế giới đấu tranh cho những mục tiêu
cao cả của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
+ Đảng Cộng sản Đông Dương từ chỗ phải hoạt động bí mật trở thành một
đảng cầm quyền. Từ đây, Đảng và nhân dân Việt Nam có chính quyền nhà nước
cách mạng làm công cụ sắc bén phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
+ Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới trong tiến trình
lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập tự do và hướng tới chủ nghĩa xã hội.
- Về mặt quốc tế, Cách mạng tháng Tám là một cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc lần đầu tiên giành thắng lợi ở một nước thuộc địa, đã đột phá một khâu
quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ suy
sụp và tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ.
+ Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám không chỉ là chiến công của dân tộc
Việt Nam mà còn là là chiến công chung của các dân tộc thuộc địa đang đấu
tranh vì độc lập tự do, vì thế nó có sức có vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
+ Cách mạng tháng tám là thắng lợi của đường lối giải phóng dân tộc đúng
đắn, sáng tạo của Đảng và tư tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh. Nó chứng
tỏ rằng: một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản lãnh đạo
hoàn toàn có khả năng thắng lợi ở một nước thuộc địa trước khi giai cấp công
nhân ở “chính quốc" lên nắm chính quyền.
+ Cách mạng tháng Tám đã góp phần làm phong phủ thêm kho tàng lý luận
của chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc. 3. Kinh nghiệm
Cách mạng tháng Tám thành công để lại cho Đảng và nhân dân Việt Nam
nhiều kinh nghiệm quý báu
Thứ nhất, về chỉ đạo chiến lược, phải giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc,
giải quyết đúng đân mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và cách
mạng ruộng đất. Trong cách mạng thuộc địa, phải đặt nhiệm vụ giải phóng dân
tộc lên hàng đầu, còn nhiệm vụ cách mạng ruộng đất cần tạm gác lại, rải ra thực
hiện từng bước thích hợp nhằm phục vụ cho nhiệm vụ chống đế quốc.
Thứ hai, về xây dựng lực lượng. Trên cơ sở khối liên minh công nông, căn
khơi dậy tinh thần dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân, tập hợp mọi lực lượng
yêu nước trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Việt Minh là một điển hình
thành công của Đảng về huy động lực lượng toàn dân tộc lên trận địa cách
mạng, đưa cả dân tộc vùng dậy trong cao trào kháng Nhật cứu nước, tiến lên
tổng khởi nghĩa giành chỉnh quyền.
Thứ ba, về phương pháp cách mạng. Nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng
của quần chúng, ra sức xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, kết
hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, tiến hành chiến tranh du kích cục
bộ và khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận ở những vùng nông
thôn có điều kiện, tiến lên chớp đúng thời cơ, phát động tống khởi nghĩa ở cả
nông thôn và thành thị, giành chính quyền toàn quốc.
Thứ tư, về xây dựng Đảng. Phải xây dựng một Đảng cách mạng tiên phong
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc Việt Nam, tuyệt đối
trung thành với lợi ích của giai cấp và dân tộc, vận dụng và phát triển lý luận
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đề ra đường lối chính trị đúng đắn, một
đảng vững mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức, liên hệ chặt chẽ với quần chúng.
Chú trọng vai trò lãnh đạo ở cấp chiến lược của Trung ương Đảng, đồng thời
phát huy tính chủ động, sáng tạo của đồng bộ các địa phương. Với thắng lợi của
Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng đánh dấu bước nhảy vọt vĩ đại trong
quá trình tiến hóa của dân tộc. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ khi ra đời,
dù phải trải qua muôn vàn khó khăn thử thách, nhưng dưới sự lãnh đạo của
Đảng, với tinh thần đoàn kết, phấn đấu của toàn dân, luôn được xây dựng và
củng cố, vững bước trên con đường độc lập dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Câu 9: Hoàn cảnh lịch sử, nội dung và ý nghĩa Chỉ thị Kháng chiến, kiến
quốc (25-11-1945) của Đảng? 1. Hoàn cảnh lịch sử
- Trên thế giới, sau thắng lợi vĩ đại của Liên Xô và các nước Đồng minh trong
Chiến tranh thế giới thứ II, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống thế giới,
phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ
Latinh. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa phát triển cao.
- Trong nước, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã đem lại cho cách mạng
Việt Nam thế và lực mới. Đảng ta từ một đảng hoạt động bất hợp pháp trở thành
đảng cầm quyền, nhân dân ta được giải phóng khỏi cuộc đời nô lệ, trở thành
người làm chủ đất nước. Cách mạng nước ta thời kỳ này đứng trước những khó
khăn, thử thách nghiêm trọng: Nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc và
các chính quyền phản động trong khu vực, chưa nhận được sự giúp đỡ trực tiếp
của các nước xã hội chủ nghĩa và lực lượng tiến bộ trên thế giới; nền kinh tế
vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Tài chính cạn kiệt,
kho bạc trống rỗng, ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay tư bản Pháp.
Trình độ văn hóa của nhân dân ta thấp kém, 90% số dân mù chữ. Ở miền Bắc,
20 vạn quân Tưởng ồ ạt tràn qua biên giới, theo gót chúng là bọn Việt Quốc,
Việt Cách, chúng lập chính quyền phản động ở một số nơi, cướp của giết người
và chống phá chính quyền cách mạng. Ở miền Nam: quân Anh với đành nghĩa
Đồng mình kéo vào nước ta tiếp tay cho thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta
lần thứ hai. “Tổ quốc lâm nguy! Vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc!".