



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61571106
ĐỀ CƯƠNG LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
Câu 1. Nêu khái niệm tài phán hành chính, tố tụng hành chính? Đặc điểm cơ bản của tố tụng hành chính?
- Tư pháp hành chính là hoạt động giải quyết các tranh chấp phát sinh khi cá nhân, tổ chức
phản đối quyết định hay hành chính của CQHCNN hoặc của người có thẩm quyền trong
CQHCNN theo một trình tự chặt chẽ được thực hiện bởi cơ quan tư pháp (các TAND)
- Tố tụng hành chính Là toàn bộ hoạt động của các bên có liên quan đến một tranh chấp hành
chính trong quá trình khởi kiện và giải quyết các khiếu kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân về
các quyết định hành chính, hành vi hành chính và các quyết định khác theo quy định của pháp luật.
Đặc điểm cơ bản của TT hành chính:
- TTHC có mục đích là giải quyết một loại tranh chấp đặc biệt trong đó một bên là cơ quan
nhà nước, chủ yếu là cơ quan hành chính NN (bên bị kiện) và một bên là cá nhân, cơ quan,
tổ chức (bên khởi kiện). Chính vị đặc điểm này mà TTHC được điều chỉnh riêng trong một
đạo luật là luật TTHC.
- Hoạt động TTHC được tiến hành tại cơ quan xét xử, tức là tại các TAND.
Tố tụng hành chính
Giải quyết khiếu nại hành chính
Có mục đích chung là giải quyết các tranh chấp HC, và đối tượng chủ yếu là quyết định HC,
hành vi HC của cơ quan HC nhà nước
tiến hành tại cơ quan xét xử và theo các thủ
tục tố tụng được quy định tại luật TTHC
tiến hành tại các cơ quan HC NN và theo các
thủ tục HC được quy định tại Luật khiếu nại
Câu 2. Nêu và phân tích các mô hình tổ chức xét xử hành chính trên thế giới? lOMoAR cPSD| 61571106 Mô hình TAHC chuyên Mô hình TAHC Mô hình trung gian Mô hình TA
trách và độc lập hoàn chuyên trách thường có chức
toàn với Tòa án tư pháp nhưng không độc năng tài phán
lập hoàn toàn với hành chính Tòa án tư pháp + Pháp và các nước theo + Đức, Thụy Điển, + Trung Quốc, + Anh, Mỹ, mô hình của Pháp (Hy Phần Lan, Áo, Thái Congo, Negi (Việt Canada. Đan
Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Italia, Lan Nam) Mạch. Isarel. Úc, Bỉ)
+ TAHC là hệ thống + TAHC là tòa Nhật + TAHC độc lập nhưng
song song với TA tư chuyên trách trong + Tòa án xét các
gắn bó chặt chẽ với nền pháp hệ thống Tòa án vụ án hành chính HCQG (được giao thêm + Thẩm phán được + Tính chất tranh như các vụ án
chức năng tư vấn pháp lý, khác ở TW là Hội đồng nhà đào tạo chung chấp và xét xử có nước) + Ở cấp cap nhất, đặc thù riêng nên + Không có sự TAHC hay TA tư cần thiết phải tổ phân biệt hay ưu
pháp đều trực thuộc chức tòa chuyên ái gì cho cơ quan TA tối cao trách HCNN + Một số nước còn thành lập tài phán hành chính trong hệ thống HCNN
Câu 5: Đối tượng và vai trò của Luật tố tụng hành chính?
- Đối tượng điều chỉnh: Các mối quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết một vụ án hành
chính, được chia làm 3 nhóm:
• Nhóm 1: Quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng (TAND, VKSND) và người tiến hành tố
tụng (Chánh án, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, viện trưởng VKS, kiểm sát viên, thư ký)
• Nhóm 2: Quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng với đương sự
(người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) và với những người
tham gia tố tụng khác (người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự,
người làm chứng, người giám định và người phiên dịch)
• Nhóm 3: Quan hệ giữa các đương sự, những người tham gia tố tụng khác với nhau. lOMoAR cPSD| 61571106
(Nhóm này luôn có chủ thể thứ ba trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia cùng, thông thường là TA,
VKS, hoặc những người làm việc trong các cơ quan này)
*LƯU Ý: Không phải mọi quan hệ phát sinh trong quá trình này đều là đối tượng mà chỉ những
quan hệ phát sinh với mục đích giải quyết vụ án thì mới thuộc đối tượng điều chỉnh:
VD: Chánh án xử lý kỷ luật thẩm phán giải quyết tố tụng hành chính không thuộc đối tượng điều chỉnh.
- Vai trò của luật TTHC:
• Là phương tiện để thể hiện và triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, của
NN về đường lối giải quyết khiếu nại HC nói riêng và cải cách hành chính nói chung.
• Tạo lập và đảm bảo trật tự pháp luật trong các quan hệ XH phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án HC.
• Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong quản lý HC NN
• Là phương tiện để đảm bảo pháp chế và kỷ luật trong hoạt động quản lý NN, góp phân nâng
cao hiệu quả, tăng cường hiệu lực của hoạt động quản lý HC.
• Bảo đảm các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
• Bảo đảm vị thế pháp lý bình đẳng giữa các bên tham gia tố tụng.
Câu 6: Phương pháp điều chỉnh luật TTHC
● Khái niệm: là cách thức Luật tố tụng hành chính tác động lên các quan hệ xã hội thuộc
đối tượng điều chỉnh của Luật này, làm cho quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể phát
sinh, thay đổi, chấm dứt theo ý chí của NN và qua đó, vụ án được giải quyết một cách
khách quan, nhanh chóng và kịp thời.
● Các phương pháp:
Phương pháp quyền uy
Phương pháp bình đẳng
Đối tượng áp dụng:
BÌNH ĐẲNG ĐỊNH ĐOẠT
ĐIều chỉnh MQH giữa cơ quan thực hiện Đối tượng áp dụng: Để điều chỉnh MQH giữa các
tố tụng (THTT), người THTT với đương đương sự, giữa những người tham gia tố tụng khác
sự và người tham gia TT khác
và giữa các đương sự với những người tham gia tố
Để điều chỉnh MQH giữa những người tụng khác
tiến hành TT trong cùng một hệ thống
Biểu hiện: Các chủ thể không được áp đặt nhau,
khi phân công tiến hành các hoạt động
các đương sự hoàn toàn có quyền tự định đoạt về TT
các vấn đề liên quan đến quyền lợi hợp pháp của mình lOMoAR cPSD| 61571106 Biểu hiện
BÌNH ĐẲNG PHỐI HỢP
Chủ thể tiến hành TT có quyền áp đặt ý
Đối tượng áp dụng: Để điều chỉnh MQH giữa cơ
chỉ đối vs người tham gia TT và đối với
quan THTT, người THTT khác hệ thống
chủ thể THTT khác có địa vị pháp lý
Biểu hiện: Các chủ thể THTT phải phối hợp, hỗ thấp hơn
trợ nhau để giải quyết vụ án nhanh chóng, đúng
Có quyền đơn phương ra quyết định và
PL. Các chủ thể bình đẳng không áp đặt khi tham yêu cầu khởi kiện gia quan hệ
Mục đích: Nhằm đảm bảo cho người có
thẩm quyền giải quyết vụ án nhân danh
và sử dụng quyền lực NN tốt nhất
Câu 7. Nêu mối quan hệ giữa luật tố tụng hành chính với các ngành luật khác?
• Với tư cách là luật thủ tục, luật TTHC quy định cách thức thực hiện các hoạt động tố tụng
với nội dung và trình tự tiến hành được thiết lập nhằm đáp ứng các yêu cầu chung của việc
giải quyết vụ án hành chính.
• Mối quan hệ với ngành luật khác: bản thân luật TTHC là giải quyết một vụ chanh chấp hành
chính chứ không quy định tiêu chí đánh giá quyết định hành chính, hành vi hành chính bị
kiện có hợp pháp hay không. Như vậy, để giải quyết vụ án hành chính, tòa án phải căn cứ
vào các quy định của pháp luật khác như các quy định của pháp luật hành chính, các luật
chuyên ngành khác như luật đất đai,..
• Ngoài ra, ngoài mục tiêu đảm bảo công bằng luật tố tụng hành chính cũng đồng thời bảo vệ
pháp luật, nâng cao hiệu quả, tăng cường hiệu lực trong hoạt động quản lý hành chính => luật
tố tụng hành chính cũng được xem là một chế định đặc biệt của luật hành chính.
• Luật tố tụng hành chính với luật tố tụng dân sự: do cùng là luật tố tụng và cùng là luật hình
thức nên luật TTHC có rất nhiều điểm tương đồng với luật TTDS sự như cách thức tiến
hành thủ tục, tuy nhiên nó mang những nét đặc thù riêng của một vụ án hành chính:
Người bị kiện trong vụ án hành chính là cơ quan công quyền hoặc người có thẩm quyền.
Từ đó thì người bị kiện luôn có đầy đủ năng lực hành vi tham gia vào quá trình tố tụng.
Quyền, lợi ích và trách nhiệm mà bên bị kiện phải gánh chịu nếu thua kiện thì trách nhiệm
phải gánh chịu là trách nhiệm công vụ. Mà chủ thể phải trực tiếp gánh chịu là nhà nước.
Trách nhiệm của công chức, cơ quan tổ chức nếu có là trách nhiệm nội bộ trước nhà nước
về hoạt động công vụ của mình.
Căn cứ bằng chứng, chứng cứ dùng để giải quyết vụ án hành chính gắn liền với hoạt động
công vụ nên chủ yếu tồn tại dưới dạng văn bản .
Quyền quyết định của tòa án đối với hoạt động hành chính bị kiện: không có quyền sửa
đổi hay ban hành một quyết định mới thay thế cho quyết định bị kiện trong vụ án. lOMoAR cPSD| 61571106
Câu 8. Khái niệm khoa học luật tố tụng hành chính và môn học Luật tố tụng hành chính?
● Khoa học luật HC: là một ngành khoa học pháp lý chuyên sâu, không trực tiếp quy định
mà chỉ nghiên cứu, phân tích, đánh giá các hiện tượng của luật TTHC, từ đó làm sáng tỏ
các vấn đề bản chất, hình thức, đồng thời chỉ ra những hạn chế và định hướng cho sự phát
triển của Luật TTHC.
- Hình thức tồn tại : các học thuyết, khái niệm, quan điểm, luận điểm về Luật TTHC.
- Đối tượng nghiên cứu : các quy định của luật TTHC, việc thực hiện pháp luật TTHC trên thực
tế, các vấn đề lý luận liên quan như lịch sử hình thành và phát triển, so sánh đối chiếu với PL TTHC nước ngoài.
- Phương pháp nghiên cứu : Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng HCM
về NN&PL là PP nghiên cứu nền tảng. Ngoài ra còn các phương pháp như: phân tích, tổng
hợp, thống kê, quy nạp, điều tra XH,…
- Nhiệm vụ: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý của luật TTHC, góp phần
xây dựng căn cứ khoa học cho việc nhận thức, đề xuất giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả AD của luật TTHC.
- Nguồn tư liệu nghiên cứu: các quan điểm, chủ trương của Đảng thể hiện trong các nghị
quyết và văn kiện; các quy định của luật TTHC và các VB hướng dẫn thi hành; các VB pháp
lý khác có liên quan đến việc tồn tại hay vận dụng của PL TTHC.
● Môn học luật TTHC: Là môn học mới, xuất hiện ít năm sau khi Pháp lệnh Thủ tục giải
quyết các vụ án HC được ban hành (1996) và TA chính được thiết lập trong TAND cấp tỉnh và TANDTC.
+ Là môn học trong chương trình đào tạo pháp luật chuyên sâu với mục tiêu cung cấp cho người
học những kiến thức lý luận và pháp luật TTHC, cung cấp những kỹ năng cơ bản trong việc nghiên
cứu PL cũng như AD luật TTHC vào những tình huống cụ thể, giải quyết tranh chấp HC phát sinh trên thực tế.
+ Nội dung bao gồm: Hệ thống các khái niệm, nguyên tắc của khoa học luật TTHC, thẩm quyền
xét xử HC của TAND, quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, thủ
tục giải quyết vụ án HC qua các giai đoạn cụ thể, thi hành án HC.
9. Khái niệm và phân loại các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hành chính Việt Nam?
- Khái niệm: là hệ thống các tư tưởng, nguyên lý làm nền tảng, chỉ đạo và định hướng chi phối
việc xây dựng và thực hiện pháp luật TTHC VN, được ghi nhận trong các VBPL TTHC. - Vai trò: lOMoAR cPSD| 61571106
• Là nền tảng đảm bảo tính thống nhất của pháp luật TTHC, góp phần đảm bảo tính thống nhất
của Luật TTHC với hệ thống pháp luật VN.
• Thống nhất trong việc xây dựng pháp luật TTHC, sửa đổi bổ sung pháp luật, tránh sự mâu
thuẫn, chồng chéo hoặc thiếu thống nhất trong một VBPL nói riêng và trong hệ thống pháp
luật TTHC nói chung; đảm bảo cho sự phát triển của hệ thống pháp luật TTHC.
• Thống nhất trong việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn, là cơ sở cho việc giải quyết các vụ
án hành chính được nhanh chóng, kịp thời, thuận lợi, ngăn chặn các hành vi tiêu cực trong
quá trình TTHC, bảo vệ quyền con người, quyền công dân) Phân loại:
* Căn cứ vào thứ bậc pháp lý:
+ Nguyên tắc hiến định: đã được quy định trong Hiến pháp và được khẳng định lại trong Luật
TTHC: Tuân thủ pháp luật trong tố tụng hành chính; Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hành
chính; Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính,....
+ Nguyên tắc luật định: được quy định riêng trong Luật TTHC như: Quyền quyết định và tự
định đoạt của người khởi kiện; Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng,...
* Căn cứ vào tính chất đặc thù của Luật TTHC:
+ Nguyên tắc chung (áp dụng cho mọi loại hình tố tụng dân sự, hình sự): Tuân thủ pháp luật
trong tố tụng hành chính; Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; Hội thẩm nhân dân tham
gia xét xử vụ án hành chính; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật,...
+ Nguyên tắc riêng, đặc thù của TTHC: Xem xét, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, văn bản
hành chính, hành vi hành chính có liên quan trong vụ án hành chính; Giải quyết vấn đề bồi thường
thiệt hại trong vụ án hành chính; Quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện,....
⇨ Hai cách phân loại này có ưu điểm làm rõ tinh thứ bậc của các nguyên tắc trong TTHC, đồng
thời xác định được các nguyên tắc chung và nguyên tắc đặc thù của luật TTHC. Tuy nhiên sự
phân chia trên không rõ ràng, bởi có những nguyên tắc hiến định đồng thời cũng là luật định,
và phần lớn những nguyên tắc chung trong hoạt động tư pháp đồng thời cũng là những nguyên tắc của luật TTHC.
* Căn cứ vào tính chất, lĩnh vực điều chỉnh:
+ Nhóm nguyên tắc đảm bảo pháp chế XHCN: Tuân thủ pháp luật trong tố tụng hành chính; lOMoAR cPSD| 61571106
+ Nhóm nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của xét xử của TA: Bảo đảm chế độ xét xử sơ
thẩm, phúc thẩm; Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án hành chính; Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật,...
+ Nhóm nguyên tắc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự: Giải quyết vấn đề
bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính; Quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện
⇨ Cách phân loại này có tính xác định hơn cả, tuy nhiên cũng có những nguyên tắc có thể thuộc về hai hoặc ba nhóm.
VD: Nguyên tắc xét xử độc lập có thể đồng thời xếp vào nhóm 1 hoặc 2.
Câu 10. Phân tích nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử hành chính?
- Đây là một nguyên tắc mới, được quy định trong Khoản 5 điều 163 HP 2013: “Nguyên tắc
tranh tụng trong xét xử được đảm bảo”
- Điều 13 Luật tổ chức tòa án nhân 2014: Bảo đảm tranh tụng trong xét xử quy định: “Nguyên
tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho những người
tham gia tố tụng thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử. Việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng
trong xét xử theo quy định của luật tố tụng.”
- Mục đích, ý nghĩa của phần tranh luận tại phiên tòa:
+ Nhằm làm sáng tỏ những tình tiết khách quan của vụ kiện hành chính, nhất là các tình tiết
mà những người tham gia tranh luận còn có ý kiến khác nhau.
+ Thông qua phần tranh luận để giúp hội đồng xét xử sẽ có những đánh giá, nhận định đầy
đủ khách quan về nội dung vụ án, để làm căn cứ khi nghị án và ra bản án hoặc quyết định đúng
pháp luật, có sức thuyết phục.
Câu 11. Phân tích nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật?
- Cơ sở pháp lý của nguyên tắc: hiến pháp 2013 quy định tại điều 103 khoản 2: “Thẩm phán,
Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can
thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.”
- BLDS 2015: Điều 13. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
1. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
2. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân dưới bất kỳ hình thức nào. lOMoAR cPSD| 61571106
- Thiếu vắng sự độc lập, quyết định của TA sẽ khó đảm bảo khách quan công bằng, họp lý =>
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng k được bảo vệ nếu thiếu vắng sự độc lập trong xx của TA
- Nội dung: Là hoạt động của TA có thẩm quyền dựa trên cơ sở PL để đưa ra quyết định về 1 vụ
án HC giữa các bên đương sự để quyết định của TA thực sự đúng đắn, đảm bảo công lý, thì
việc xx của TA phải độc lập, khác quan, vô tư, không bị lệ thuộc vào bất kỳ tác động của bên nào.
- Thể hiện của nguyên tắc ở nhiều góc độ khác nhau:
+ Sự độc lập giữa các thành viên của hội đồng xx.
+ Độc lập của HĐXX đối với viện kiểm sát và các cấp TA trong quá trình giải quyết VAHC.
+ Độc lập trong xx thể hiện trong sự độc lập của thẩm phán, HTND với các cá nhân, tổ chức,
cơ quan nhà nước khác.
+ S ự độc lập của thẩm phán, HTND đối với một bên đương sự- cơ quan HC nhà nước- người
bị kiện trong VAHC
+ Để đảm bảo cho nguyên tắc hội thẩm ND và thẩm phán ... luật TTHC quy định: nghiêm cấm
mọi hvi can thiệp, cản trở thẩm phán, hội thẩm thực hiện nhiệm vụ. Mọi hvi cản trở, can thiệp
đều bị coi là trái PL => tùy theo mức độ, tích chất sẽ bị xử lý.
Câu 12. Phân tích nguyên tắc xét xử công khai vụ án hành chính?
Đây là nguyên tắc quan trọng trong tố tụng hành chính. Khoản 2 Điều 16 Luật tố tụng hành chính:
Điều 16. Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai
1. Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn do Luật này quy định, bảo đảm công bằng.
2. Tòa án xét xử công khai. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục
của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí
mật cá nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án có thể xét xử kín.
Sự cần thiết của việc xét xử công khai trong tố tụng hành chính:
• Xét xử công khai có liên hệ chặt chẽ với các nguyên tắc khác của PL TTHC như nguyên
tắc pháp chế, nguyên tắc độc lập xét xử…
• Chỉ trên cơ sở xét xử công khai thì vụ án hành chính mới được kiểm soát, giám sát chặt
chẽ nhất, đó là cơ sở để đảm bảo tính đúng đắn, khách quan trong xét xử hành chính.
• Đảm bảo sự độc lập, vô tư của người tiến hành tố tụng.
• Tạo tiền đề cho sự tham gia của công chúng vào hoạt động xét xử, đảm bảo tính dân chủ
và quyền tham gia của các bên liên quan, tạo điều kiện cho việc tuyên truyền phổ biến,
giáo dục ý thức pháp luật cho công dân qua đó nâng cao ý thức pháp luật của người dân. lOMoAR cPSD| 61571106
⇨ Nguyên tắc xét xử công khai trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xét xử vụ án hành chính.
- Luật tố tụng hành chính quy định phiên tòa hành chính phải được mở rộng công khai trước
công chúng, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, đông đảo công dân có thể tham dự. Mọi công
dân từ 16 tuổi đều có quyền tham dự phiên tòa hành chính.
- Mọi thông tin phiên tòa đều phải được niêm yết công khai: nội dung, địa điểm, thời gian mở phiên tòa.
- Mọi thay đổi liên quan đến phiên tòa như việc hoãn phiên tòa, thời gian địa điểm tuyên án…
đều phải được HĐXX công bố rõ ràng, công khai cho người tham dự và các cơ quan liên quan biết.
- Trong quá trình xét xử, mọi hoạt động tra hỏi, tranh luận, phát biểu ý kiến … của người
tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đều diễn ra công khai, trừ trường hợp cần được
giữ bí mật. Tất cả mọi hoạt động diễn ra ở phiên tòa đều phải được ghi vào trong biên bản phiên tòa.
- Nguyên tắc xét xử công khai được áp dụng đối với cả phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm.
- Về nguyên tắc, tất cả các vụ án hành chính đều phải xét xử công khai trừ trường hợp cần
giữ bí mật. Tuy nhiên vụ án được xử kín thì khi tuyên án vẫn phải công khai. Câu 13.
Nguyên tắc thực hiện chế đô 2 cấp xét xử
Điều 19. Thực hiện chế độ hai cấp xét xử 1.
Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử vụ án hành chính, trừ trường hợp xét xử vụ án
hànhchính đối với khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu
cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng
nghị theo quy định của Luật này.
Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn
do Luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật; trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng
cáo, kháng nghị thì vụ án phải được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc
thẩm có hiệu lực pháp luật. 2.
Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp
luậthoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của Luật này.
Điều 11. Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm 1.
Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm, trừ trường hợp xét xử vụ án hành chính
đối với khiếu kiện danh sách cử tri. lOMoAR cPSD| 61571106
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Luật này.
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
trong thời hạn do Luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định sơ thẩm của
Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bản án,
quyết định phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật. 2.
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp
luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của Luật này thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
- Chế độ 2 cấp xét xử ở đây được hiểu là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm.
- Việc thực hiện chế độ 2 cấp xét xử có ý nghĩa quan trọng:
▪ Đảm bảo việc xét xử hành chính luôn đúng luật
▪ Nó là chế độ hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong trường
hợp cấp sơ thẩm đưa ra bản án, quyết định sai lầm gây thiệt hại cho đương sự.
Tuy nhiên , nó cũng có giới hạn nhất định:
▪ Không dùng với khiếu kiện danh sách cử tri
▪ Không gồm tái thẩm, giám đốc thẩm vụ án hành chính.
Câu 14. . Phân tích nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc
những người tham gia tố tụng hành chính?
Quy định tại Điều 14. Bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng hành chính 1.
Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Viện
trưởngViện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, người phiên dịch, người giám định, thành viên
Hội đồng định giá không được tiến hành, tham gia tố tụng nếu có căn cứ cho rằng họ có thể không
vô tư, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. 2.
Việc phân công người tiến hành tố tụng phải bảo đảm để họ vô tư, khách quan trong khi
thựchiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
- Được áp dụng đối với 2 đối tượng: người tiến hành tố tụng và những người tham gia
có tính hỗ trợ cho hoạt động tố tụng. Đây là những đối tượng hoặc nhân danh nhà nước
thực hiện hoạt động tố tụng hành chính hoặc hỗ trợ đắc lực quá trình tố tụng hành chính lOMoAR cPSD| 61571106
bằng kiến thức kinh nghiệm hay sự chứng kiến của mình. Hoạt động của họ nếu có sự thiên
lệch, vụ lợi chắc chắn sẽ làm sai lệch kết quả giải quyết vụ án.
- Thể hiện: khi có căn cứ cho rằng không có sự vô tư của 2 đối tượng đó, thì những người
này hoặc bị thay đổi hoặc buộc phải từ chối tiến hành hoặc tham gia tố tụng. Có thể chia
các căn cứ ra làm 2 nhóm:
+ Những căn cứ cho thấy rằng người THTT, người TGTT có thể có lợi ích về vật chất hay tinh
thần liên quan đến vụ án.
+ Những căn cứ có thể có định kiến trong việc đưa ra quyết định hoặc thực hiện các hoạt động tố tụng.
Ví dụ: người tiến hành tố tụng đã tham gia vào vào việc ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với
quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện.
- Pháp luật nước ngoài chia thành căn cứ khách quan (những yếu tố bên ngoài như quan hệ
thân thích, công tác..) và chủ quan (những yếu tố định kiến có trước cho người tiến hành tố
tụng trước khi xử như đã biết kết quả lần giải quyết vụ việc trước đó; đã từng tham gia vào xử lý vụ việc…)
- Ý nghĩa: Chỉ thực sự vô tư khách quan thì việc giải quyết vụ án mới đạt hiệu quả. Và từ đó
bảo vệ được quyền lợi ích của các đương sự, pháp chế XHXN.
- Nguyên tắc này không hoàn toàn đồng nhất với nguyên tắc bảo đảm độc lập xét xử của thẩm
phán và hội thẩm nhân dân.
Câu 15. Phân tích nguyên tắc quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
Điều 5. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật này.
- Biện pháp hữu hiệu bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước sự xâm phạm của nhà nước
- Thể hiện bản chất dân chủ của xã hội, xu thế của nhà nước pháp quyền - Biểu hiện:
+ Cá nhân, tổ chức nếu có quyền và lợi ích bị xâm hại đều có quyền yêu cầu Tòa án
bảo vệ quyền + lợi ích hợp pháp của mình
+ Chủ thể xâm hại ko thể thực hiện được thì chủ thể khác có quyền yêu cầu
+ Tòa án có nghĩa vụ xem xét giải quyết yêu cầu của người khởi kiện
Câu 16: Nguyên tắc bảo đảm quyền quyết định và quyền tự định đoạt của người khởi kiện.
Điều 8. Quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện lOMoAR cPSD| 61571106
“Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền quyết định việc khởi kiện vụ án hành chính. Tòa án chỉ thụ
lý giải quyết vụ án hành chính khi có đơn khởi kiện của người khởi kiện. Trong quá trình giải
quyết vụ án hành chính, người khởi kiện có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện, thực
hiện các quyền tố tụng khác của mình theo quy định của Luật này.” Nội Dung:
Người khởi kiện có quyền tự quyết định về việc khởi kiện vụ án hành chính
- + Người khởi kiện có quyền lựa chọn phương thức khác nhau: Khiếu nại hành chính hoặc khởi kiện hành chính.
- Quyền lựa chọn việc khởi kiện vụ án hành chính là quyền dành riêng cho người khởi kiện trừ
trường hợp người đại diện cho người khởi kiện đứng ra khởi kiện vụ án hành chính nhưng sự
quyết định này suất phát từ sự tự nguyện của người khởi kiện hoặc người đại diện cho đương
sự là người chưa thành niên hay mất nặng lực hành vi dân sự.
- Ở phạm vi xét xử phúc thẩm quyền tự định đoạt việc khởi kiện của cá nhân, tổ chức thể hiện
trong quyền kháng cáo của bản án sơ thẩm
- Người khởi kiện có quyền tự quyết định các yêu cầu khởi kiện của mình và tòa án chỉ xét sử
dựa trên các yêu cầu của người khởi kiện.
- Người khởi kiện có quyền đưa ra các yêu cầu của mình như: yêu cầu hủy quyết định hành
chính, yêu cầu bồi thường thiệt hại,... nhưng nội dung các yêu cầu phải đặt trong giới hạn pháp luật.
- Người khởi kiện có quyền quyết định việc rút, thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của mình
theo quy định pháp luật.
Câu 17. Phân tích nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự?
- Căn cứ pháp lý: điều 11 luật TTHC năm 2015
Điều 19. Bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự 1.
Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hoặc người khác có đủ điều kiện theo quy
định của Luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 2.
Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. 3.
Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý theo
quy định của Luật trợ giúp pháp lý để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án. 4.
Không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hành chính. lOMoAR cPSD| 61571106
- Được hiểu là việc tòa án chấp nhận và tạo điều kiện cho đương sự được tự bảo vệ hoặc nhờ
người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Ý nghĩa: quan trọng trước tiên đối với chính đương sự. Đương sự có quyền được tự bảo vệ hay
nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi
ích hợp pháp của mình. Ngoài ra nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy việc xét xử
vụ án, giúp tòa án có thể nhanh chóng và chính xác đưa ra phán quyết cuối cùng.
Câu 18: Phân tích nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính?
- Cơ sở: Hiến pháp 2013: mọi công dân đều bình đẳng với nhau trước pháp luật - Thể
hiện: Điều 17 luật tố tụng hành chính 2015 1.
Trong tố tụng hành chính, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân
tộc,giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội. 2.
Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong tố
tụnghành chính trước Tòa án. 3.
Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các quyền và nghĩavụ của mình. - Nội dung:
+ Bình đẳng của mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức trong pháp luật tố tụng hành chính
VD: các tổ chức không phân biệt tổ chức đó là nhà nước hay tư nhân, hoạt động vì mục tiêu lợi
nhuận hay phi lợi nhuận,…
+ Bình đẳng về quyền và các nghĩa vụ giữa các đương sự với nhau trong quá trình giải quyết vụ án hành chính
▪ Không bao giờ quy định một bên chỉ có quyền, còn bên kia chỉ có nghĩa vụ
▪ Trong cùng một hoạt động tố tụng, các bên đương sự đều phải có nghĩa vụ hoặc đều cùng
được hưởng một số quyền nhất định.
+ Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng
theo quy định của pháp luật. lOMoAR cPSD| 61571106
▪ Đảm bảo quá trình giải quyết vụ án hành chính đối với bất cứ chủ thể nào cũng phải theo
một trình tự thủ tục thống nhất, không có ngoại lệ cho bất cứ chủ thể nào.
- Ý nghĩa : Tạo điều kiện cho việc xét xử khách quan, đúng pháp luật, từ đó đảm bảo pháp chế
và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Câu 19. Phân tích nguyên tắc bảo đảm quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc trong
tố tụng hành chính?
- Cơ sở: Điều 21. Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hành chính Tiếng nói và chữ viết
dùng trong tố tụng hành chính là tiếng Việt.
Người tham gia tố tụng hành chính có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình; trường
hợp này phải có người phiên dịch.
Người tham gia tố tụng hành chính là người khuyết tật nghe, người khuyết tật nói hoặc người
khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; trường
hợp này phải có người biết nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng của người khuyết tật để dịch lại. - Nội dung:
+ Tiếng nói, chữ viết dùng trong TTHC là tiếng Việt, đây là ngôn ngữ chính thức được sử
dụng trong các thủ tục tố tụng của VN trong đó có TTHC. Vì đây là loại ngôn ngữ thuận tiện,
thông dụng nhất, đồng thời với quy định này sẽ đảm bảo sự thống nhất trong quy định và thực hiện pháp luật.
+ Tuy nhiên, trong trường hợp người tham gia TTHC không biết, hoặc không sử dụng thông
thạo tiếng Việt thì họ có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình để trình bày ý kiến, cung
cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Trong trường hợp
này phải có người phiên dịch. Quy định như vậy là nhằm đảm bảo sự chính xác, đúng đắn cho
việc các bên tham gia TTHC trình bày ý kiến, cung cấp tài liệu, chứng cứ và chứng minh, tranh
luận để bảo vệ quan điểm của mình, góp phần vào giải quyết vụ án.
- Thể hiện: quy định cụ thể trong điều 21, Luật TTHC ghi nhận rõ ràng là một nguyên tắc
trongTTHC buộc các chủ thể TTHC phải tuân thủ;
Qua các quy định về tạo điều kiện và đảm bảo cho sự tham gia TTHC của người phiên dịch: TA
căn cứ vào quy định của Luật TTHC, chấp nhận sự tham gia của người phiên dịch theo sự thỏa
thuận của các đương sự hoặc theo yêu cầu của TA nhằm giúp người THTT và người tham gia TT
thông qua người phiên dịch tìm hiểu hồ sơ và tham gia các hoạt động TTHC. lOMoAR cPSD| 61571106
- Ý nghĩa: đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng về mặt kỹ thuật trong TTHC nhằm đảm bảo tính
chính xác, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án.
+ Đây còn là vấn đề mang tính chính trị, đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc, thể
hiện bản chất dân chủ của nhà nước và pháp luật.
+ Đồng thời bảo đảm các quyền con người, quyền công dân cơ bản
Câu 20. Phân tích nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính?
- Khiếu nại được hiểu là: “việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tụcđề
nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành
chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính
nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc
hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”
- Tố cáo được hiểu: “là việc công dân theo thủ tục báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt
hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ
quan, tổ chức” (Khoản 1, Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011).
- Như vậy, công dân dù bị ảnh hưởng trực tiếp hay không bị ảnh hưởng bởi hành vi vi phạm
pháp luật là đối tượng của việc tố cáo đều có quyền thực hiện việc tố cáo khi biết được có hành
vi vi phạm pháp luật xảy ra trong đời sống xã hội. Công dân có thể cung cấp các thông tin về
hành vi vi phạm pháp luật cho các cơ quan nhà nước. Khi công dân thực hiện quyền tố cáo thì
giữa họ với cơ quan nhà nước sẽ phát sinh những quan hệ pháp luật nhất định và họ phải chịu
trách nhiệm về những thông tin mà mình cung cấp.
- Nội dung tố cáo của công dân rất đa dạng và phức tạp: có tố cáo về những việc làm trái pháp
luật của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ; có những
tố cáo về những sai phạm trong công tác quản lý của các cơ quan, trong đó có cơ quan quản lý
hành chính nhà nước. Ngoài ra, công dân có thể tố cáo các hành vi vi phạm về đạo đức, lối
sống của cán bộ, công chức…
- Khi thực hiện quyền tố cáo là công dân đã thực hiện quyền làm chủ của mình trong việc xây
dựng và củng cố bộ máy nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước ngày càng phát huy hiệu quả
trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội; hay nói rõ hơn, thực hiện quyền tố cáo chính là việc tỏ
rõ trách nhiệm của công dân không chỉ trong việc giám sát hoạt động quản lý của Nhà nước
để xây dựng bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh mà còn đối với cả việc xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước để đây thực sự là những “người đại biểu của nhân
dân”, góp phần ngăn chặn, tiến tới loại trừ những hành vi quan liêu, hách dịch, cửa quyền,
sách nhiễu quần chúng của một bộ phận cán bộ công chức nhà nước. lOMoAR cPSD| 61571106
- Có thể nhận thấy, quyền giám sát chính là cơ sở để phát sinh quyền khiếu nại, quyền tố cáo
bởi vì thông qua giám sát, công dân mới phát hiện những sai trái, vi phạm pháp luật trong hoạt
động của cơ quan Nhà nước và cán bộ của cơ quan Nhà nước để tiến hành khiếu nại hoặc tố
cáo. Vì vậy, quyền khiếu nại và quyền tố cáo là hai quyền chính trị cơ bản của công dân, là
phương tiện bảo đảm cho việc thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công
dân, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội. Đồng thời đó cũng là nguồn thông tin quan trọng
về tình trạng pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước, nó góp phần củng cố mối liên hệ
giữa nhà nước và công dân, khẳng định tính chất tham gia quản lý Nhà nước của công dân.
Câu 21. Trình bày về Đối tượng xét xử hành chính là quyết định hành chính, hành vi hành chính
* Quyết định hành chính:
- Khái niệm: quyết định HC là văn bản do cơ quan HCNN, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có
thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt
động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với 1 hoặc 1 số đối tượng cụ thể
- Đặc điểm:
+ Là quyết định cá biệt: Căn cứ vào tính chất pháp lý, quyết định hành chính gồm 3 loại: Quyết
định chủ đạo, quyết định quy phạm và quyết định cá biệt, trong đó, chỉ có quyết định hành chính
cá biệt mới là đối tượng xét xử của Toà án.
Quyết định cá biệt là những quyết định chỉ áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ
thể để giải quyết các trường hợp các biệt, cụ thể và có hiệu lực đối với các đối tượng cụ thể trên
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì thế quyết định cá biệt trực tiếp xâm hại đến lợi ích của cá nhân, tổ chức.
Các quyết định chủ đạo và quyết định quy phạm thường không đụng chạm trực tiếp đến các quyền
lợi của người dân. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước ban hành quyết định chủ đạo và
quyết định quy phạm nhằm giải quyết những vấn đề chung theo yêu cầu quản lý Nhà nước và vì
lợi ích chung của cộng đồng. Nếu cho phép khiếu kiện cả văn bản pháp quy sẽ dẫn đến nguy cơ
làm ảnh hưởng đến hoạt động quản lý. Do đó, theo quy định của pháp luật, chỉ quyết định cá biệt
mới thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án.
+ Hình thức thể hiện của quyết định là văn bản: quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động
quản lý hành chính được áp dụng 1 lần đối với 1 hoặc 1 số đối tượng cụ thể. Tuy nhiên, không
phải văn bản nào thỏa mãn dấu hiệu trên đều là đối tượng xx hành chính (Trừ những văn bản thông
báo của cơ quan tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài
liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó.) lOMoAR cPSD| 61571106
+ Chủ thể ban hành quyết định HC là cơ quan hành chính NN, cơ quan, tổ chức khác hoặc người
có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó.
+ Quyết định được ban hành trong hoạt động quản lý hành chính: Quyết định hành chính thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án có thể do cơ quan hành chính nhà nước (Chính phủ, Bộ, cơ quan
ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các cấp) ban
hành hoặc các cơ quan nhà nước khác không phải là cơ quan hành chính nhà nước (Tòa án nhân
dân, Viện kiểm sát nhân dân, Bảo hiểm xã hội…), nhưng phải là quyết định trong hoạt động quản
lý hành chính, tức là quyết định trong hoạt động chấp hành – điều hành.
* Hành vi hành chính
- Khái niệm: hành vi HC là hành vi của cơ quan hành chính NN, cơ quan, tổ chức khác hoặc của
người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công
vụ theo quy định của PL - Đặc điểm:
+ Hành vi HC là hành động hoặc không hành động
+ Chủ thể thực hiện hành vi HC là các cơ quan HCNN, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có
thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó.
+ Phạm vi hành chính là “thực hiện nhiệm vụ, công vụ”
LƯU Ý: Không phải tất cả các QĐHC, HVHC đều là đối tượng của xét xử hành chính. Khoản 1
điều 30 luật TTHC quy định:
“Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính,
hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc
phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các
quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.”
Câu 22. Trình bày về đối tượng xét xử hành chính là danh sách cử tri?
• Được quy định tại khoản 4 Điều 30 Luật TTHC 2015.
• Khi công dân thấy có sai sót trong danh sách cử tri, sau khi khiếu nại và không đồng ý về
kết quả giải quyết khiếu nại hoặc hết thời hạn giải quyết mà khiếu nại không được giải
quyết thì có quyền khởi kiện tại TAND theo quy định của luật tố tụng hành chính (quy định
tại khoản 3 Điều 115 LTTHC). lOMoAR cPSD| 61571106
• Nếu chỉ xét về chủ thể và các dấu hiệu khác thì quyết định này giống một quyết định hành
chính. Nhưng đây không phải là một quyết định hành chính vì được ban hành để thực
hiện hoạt động bầu cử - một hoạt động chính trị không thuộc phạm vi hoạt động hành chính.
Câu 23. Nêu đối tượng xét xử hành chính là quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức ,
quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức (tổng cục trưởng và tương đương trở xuống)
- Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là văn bản thể hiện dưới hình thức quyết định của người
đứng đầu của cơ quan tổ chức để áp dụng buộc thôi việc với công chức thuộc quyền quản lý của mình.
- Đây là quyết định cá biệt
- Hình thức pháp lý (tên gọi) là “quyết định”
- Hình thức thể hiện bằng văn bản
- Chủ thể ban hành: người đứng đầu cơ quan tổ chức
- Đối tượng bị áp dụng: là công chức có chức danh từ tổng cục trưởng và tương đương trở xuống
Khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
- Vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu vi phạm luật cạnh tranh, bị cơ quan nhà nước có
thẩm quyền điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật, gồm hành vi cạnh tranh không lành
mạnh và hạn chế cạnh tranh. Nó gồm:
• Quyết định giải quyết khiếu nại của hội đồng cạnh tranh đối với quyết định của hội đồng
xử lý vụ việc cạnh tranh khi xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh.
• Quyết định giải quyết khiếu nại của bộ trưởng bộ công thương đối với quyết định của
thủ trưởng cơ quan quản lý vụ việc cạnh tranh khi xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan
đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Câu 24. Cách xử lý khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đối tượng
khiếu kiện hành chính có dấu hiệu trái pháp luật?
- Pháp luật hiện hành còn bỏ ngỏ;
- Kinh nghiệm từ Công văn số 39/1996/KHXX ngày 6/7/1996 của Chánh án Tòa án nhân dân
tốicao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp lệnh 1996 có hướng dẫn thi hành
hợp lý rằng: “ đồng thời với việc ra quyết định hủy bỏ quyết định hành chính hay kết luận hành
vi hành chính là trái pháp luật, tòa án cần kiến nghị với cơ quan đã ra văn bản quy phạm pháp lOMoAR cPSD| 61571106
luật trái với văn bản QPPL của cấp trên để cơ quan tự hủy bỏ. Nếu trong thời gian nhất định
mà vẫn chưa hủy bỏ, thì yêu cầu viện kiểm sát áp dụng các quy định tại chương II Luật tổ chức
VKS nhân dân kháng nghị văn bản nói trên.”
Câu 25. Nêu và phân tích thẩm quyền xét xử hành chính theo cấp tòa án?
Điều 31. Thẩm quyền của Tòa án cấp huyện
Tòa án cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây: 1.
Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước
từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án hoặc của người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đó, trừ quyết định hành chính, hành vi hành
chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. 2.
Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp
huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án đối với công chức thuộc thẩm
quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó. 3.
Khiếu kiện danh sách cử tri của cơ quan lập danh sách cử tri trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án.
Điều 32. Thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh
Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây: 1.
Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính
của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc
trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có
nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa
án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính. 2.
Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan thuộc một trong các
cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này và quyết định hành chính, hành vi hành chính
của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc
trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có
nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa
án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính. 3.
Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên
cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án và của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó. 4.
Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án. lOMoAR cPSD| 61571106 5.
Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan đại diện của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan
đó mà người khởi kiện có nơi cư trú trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường
hợp người khởi kiện không có nơi cư trú tại Việt Nam thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. 6.
Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp
tỉnh, bộ, ngành trung ương mà người khởi kiện có nơi làm việc khi bị kỷ luật trên cùng phạm vi
địa giới hành chính với Tòa án. 7.
Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà
người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án. 8.
Trường hợp cần thiết, Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên giải quyết vụ án hành chính thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện theo quy định tại Điều 31 của Luật này.
* Thẩm quyền của TAND cấp huyện - Gồm 3 nhóm:
+ Khiếu kiện QĐHC, HVHC của cơ quan từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới
hành chính với TA hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan NN đó.
+ Khiếu kiện kỷ luật buộc thôi viêc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở
xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với TA đối với công chức thuộc quyền quản lý của
cơ quan, tổ chức đó. ( Thực tế, tuyển dụng và kỷ luật buộc thôi việc của cấp xã do UBND cấp
huyện phụ trách =>….)
+ Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử ĐBQH, danh sách cử tri bầu cử ĐB HĐND của cơ
quan lập danh sách cử tri trên cùng một đơn vị địa giới hành chính đối với TA.
- Ngoại lệ: Một vụ việc rơi vào 1 trong 3 nhóm trên nhưng vẫn có thể không thuộc thẩm quyềncủa
TAND cấp huyện và sẽ được TAND cấp tỉnh lấy lên để giải quyết, gồm:
+ Khiếu kiện QĐHC, HVHC của UBND cấp huyện, chủ tịch UBND cấp huyện kiên quan
đến nhiều đối tượng, phức tạp
+ Khiếu kiện QĐHC, HVHC thuộc thẩm quyền giải quyết của TA cấp huyện mà các thẩm
phán của TA cấp huyện đều thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi.
+ Vụ án có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện
ngoại giao của nước CHXHCNVN ở nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.