
LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
Trong 8 chương học thì Chương 7 khó nhất và Chương 8 đòi hỏi tư duy nhất
Câu hỏi: Tòa án có thẩm quyền giải quyết các loại vụ án nào?
=> Dân sự, HNGĐ, Lao động, Kinh doanh - Thương mại, Hành chính, Hình sự. Trong đó
khó xử nhất là hành chính vì 1 bên mang quyền lực Nhà nước (dân kiện quan, Tòa án
cũng Nhà nước mà Nhà nước xử Nhà nước thì tạo tâm lý khó xử), dễ nhất là HNGĐ =>
Lao động => HS => DS.
Lưu ý: Bên cạnh Tòa án nhân dân còn có Tòa án quân sự => Tòa án quân sự chỉ có chức
năng xử án hình sự thôi. => Tòa án nhân dân thẩm quyền nhiều hơn Tòa án quân sự
BÀI 1: KHÁI QUÁT
I. Tranh chấp hành chính và giải quyết tranh chấp hành chính
1. Tranh chấp hành chính
- Thuật ngữ “tố tụng” thường được sử dụng để chỉ quá tình giải quyết tranh chấp hoặc xử
lý các vụ việc chưa thống nhất giữa các bên liên quan, do chủ thể có thẩm quyền thực
hiện nhằm đưa ra quyết định, kết luận giải quyết vụ việc đó. (bao gồm TTDS, TTHC,
TTHS, TT Trọng tài TM, TT cạnh tranh)
- Nguyên nhân phát sinh tranh chấp hành chính: Trong quá trình thực hiện hoạt động
hành chính, các cơ quan hành chính và những người có thẩm quyền trong cơ quan đó có
thể ban hành các quyết định hay thực hiện các hành vi hành chính gây ảnh hướng đến
quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Khi cá nhân, tổ chức phản đổi các quyết
định hành chính, hành vi hành chính đó sẽ làm phát sinh tranh chấp hành chính.
=> Tranh chấp hành chính: là tranh chấp phát sinh giữa cá nhân, tổ chức với chủ thể
thực hiện hoạt động hành chính, khi cá nhân, tổ chức cho rằng hoạt động hành chính đó
là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Các cá nhân cơ
quan hành chính phản đối với quyết định trong hoạt động quản lý nhà nước thì sẽ phát
sinh tranh chấp hành chính.
Lưu ý: Cũng có ý kiến cho rằng, đây chỉ là một sự phản ứng của cá nhân tổ chức đó bởi
vì người thực hiện hoạt động quản lý chỉ cho rằng đây là nhân danh Nhà nước nhằm mục
đích ổn định công bằng trực tự xã hội. Tuy nhiên, không phải mọi tranh chấp phải là do 2
bên cùng phản ứng mà có thể chỉ do 1 bên phản ứng với hành vi của bên kia.
- Đặc điểm trong tranh chấp hành chính:
1

+ Không mang tính bình đẳng vì 1 bên là chủ thể quản lý nhân danh quyền lực
Nhà nước áp đặt lên đối tượng bị quản lý bằng các quyết định đơn hành không cần sự
đồng ý của đối tượng bị quản lý.
+ Các tình tiết trong tranh chấp hành chính thường, tồn tại dưới dạng văn bản và
chủ yếu do bên bị tranh chấp nắm giữ.
+ Bên bị tranh chấp luôn là chủ thể quản lý nhà nước. => Đây là lý do làm cho án
hành chính là án khó xử nhất.
- Vụ án hành chính là vụ án phát sinh khi cá nhân, tổ chức khởi kiện hợp lệ các quyết
định hành chính hay hành vi hành chính hoặc các quyết định khác theo quy định của pháp
luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được Tòa án có thẩm quyền thụ lý.
- Hay VAHC là vụ việc phát sinh khi cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án
xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật
buộc thôi việc, danh sách cử tri, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh của cơ quan nhà nước và được Tòa án thụ lý theo quy định của pháp luật.
Nhận định: Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ án hành chính khi có đơn khởi kiện.
=> Nhận định Đúng. Phải có đơn khởi kiện, khởi kiện là điều kiện cần, thụ lý là điều kiện
đủ. Nếu không có khởi kiện thì làm sao có thụ lý. Trước đây Luật có quy định VKS có
chức năng khởi tố vụ án hành chính theo pháp lệnh TTGQCVAHC 1996 nhưng hiện nay
đã không còn.
VKS có 2 chức năng: công tố và kiểm sát. Trong TTHC thì VKS chỉ giữ chức năng kiểm
sát không giữ chức năng công tố vụ án hành chính.
Lưu ý: Trong khởi kiện vụ án hành chính thì lĩnh vực đất đai là khởi kiện nhiều nhất
(nhất là quyết định bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất), thuế (quyết
định truy thu thuế và quyết định xử phạt thuế) - hải quan, tài nguyên môi trường khoáng
sản.
Lưu ý: Viên chức không khởi kiện vụ án hành chính, chỉ có công chức
Bài tập: Ông A có 100m2 đất trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q1. UBND Q1, TPHCM
ban hành quyết định thu hồi đất của ông A 30m2 mục đích thu hồi mở rộng đường, quyết
định bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng thu hồi đất 70tr/m2. Ông A cho rằng quyết
định bồi thường không thỏa đáng, tư vấn cho ông A nên làm gì?
=> Ông A nên khởi kiện ra Tòa án nhân dân TPHCM và yêu cầu Tòa án tuyên huỷ quyết
định thu hồi đất và quyết định bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng thu hồi đất.
=> 3 quyền luật định: khiếu nại, khởi kiện, tố cáo.
2

- Đặc điểm vụ án hành chính
+ Đối tượng tranh chấp trực tiếp trong vụ án hành chính là tính hợp pháp của các
khiếu kiện hành chính (quyết định hành chính, hành vi hành chính, danh sách cử tri bầu
cử, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý
vụ việc cạnh tranh của cơ quan nhà nước) (khoản 1 Điều 193) (ngoài ra Tòa án còn có thể
xem xét BTTH và yêu cầu xem xét trách nhiệm xử lý kỷ luật đối với người bị kiện) =>
Tiêu chí đánh giá tính hợp pháp gồm pháp luật nội dung (thẩm quyền, thời hạn thời hiệu,
trình tự thủ tục, căn cứ pháp lý, hình thức quyết định, nội dung quyết định khó xác định
nhất) => chỉ xem xét tính hợp pháp thôi chứ không gọi là xem xét tính hợp lý vì hợp pháp
bao gồm hợp lý rồi, phải hợp lý mới hợp pháp vì không hợp lý thì không bảo đảm tính
khả thi của pháp luật => không hợp pháp.
+ Người khởi kiện trong vụ án hành chính là cá nhân, tổ chức mà có quyền lợi bị
xâm phạm trực tiếp bởi các đối tượng khiếu kiện (khoản 8 Điều 3 Luật TTHC:
“Người
khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định
hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết
khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong
hoạt động kiểm toán nhà nước; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử
tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi
chung là danh sách cử tri).”
+ Người bị kiện trong vụ án hành chính luôn là người có thẩm quyền ban hành
hoặc thực hiện các khiếu kiện (cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan
Nhà nước theo khoản 9 Điều 3 Luật TTHC:
“Người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân
có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết
định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết
khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, danh sách cử tri bị khởi kiện.”)
=> Đây là
đặc điểm cơ bản giúp phân biệt.
Câu hỏi: Vậy tại sao người bị kiện trong vụ án hành chính luôn là cơ quan nhà nước hoặc
người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước?
=> Vì xuất phát từ đối tượng tranh chấp trong án hành chính là tranh chấp về tính hợp
pháp của những hình thức quản lý nhà nước mà những cơ quan nhà nước mới được
quyền ban hành hoặc thực hiện những hình thức quản lý này.
Câu hỏi: Tại sao lại là tính hợp pháp của quyết định mà không phải là cái tài sản bị ảnh
hưởng bởi quyết định đó?
=> Vì tài sản thì sẽ là khởi kiện theo tố tụng dân sự. Lý luận: ví dụ về vấn đề thu hồi đất
thì quyết định thu hồi đất của UBND đối với ông A là quyết định đơn phương => mối
3

quan hệ phục tùng mệnh lệnh => quyền lực công của Nhà nước => Nhà nước thu hồi đất
không phải hướng tới tài sản mà vì mục đích công cộng. Vì thế chỉ có ông A mới hướng
tới tài sản.Do đó đối tượng tranh chấp ở đây là tính hợp pháp của quyết định, ông A cho
là không hợp pháp còn Nhà nước cho là hợp pháp nên xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn lợi
ích.
Câu hỏi: Cơ quan hành chính Nhà nước theo quy định của Hiến pháp hiện hành?
=> Chính phủ, Bộ - cơ quan ngang bộ, UBND các cấp. Trong đó UBND cấp xã không
chia thành các cơ quan chuyên môn. Trong hành chính, hay bị kiện nhất là UBND cấp
huyện về thu hồi đất và bồi thường thiệt hại. Trong đó, UBND huyện có thẩm quyền đối
với cá nhân, HGĐ còn UBND tỉnh thì tổ chức.
Câu hỏi: Phân biệt đặc điểm VAHC với các vụ án Dân sự
Hành chính Dân sự
Đối tượng tranh
chấp chính
Tính hợp pháp của khiếu kiện quyền ts, nhân thân
Người bị kiện
Người có thẩm quyền ban hành hoặc
thực hiện các khiếu kiện (cơ quan
Nhà nước, người có thẩm quyền trong
cơ quan Nhà nước theo khoản 9 Điều
3 Luật TTHC:
“Người bị kiện là cơ
quan, tổ chức, cá nhân có quyết định
hành chính, hành vi hành chính, quyết
định kỷ luật buộc thôi việc, quyết
định giải quyết khiếu nại về quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết
định giải quyết khiếu nại trong hoạt
động kiểm toán nhà nước, danh sách
cử tri bị khởi kiện.”)
=> Đây là đặc
điểm cơ bản giúp phân biệt.
Không có hạn chế
Người khởi kiện Phải bị xâm phạm trực tiếp
Câu hỏi: Trong TTDS,
có trường hợp nào
nguyên đơn không bị
xâm phạm lợi ích hợp
pháp vẫn được đứng
tên là nguyên đơn
4

không?
=> Có, trong dân sự
không bắt buộc bị xâm
phạm trực tiếp
Tư cách đương sự Người khởi kiện - Người bị kiện
Điều 54
Nguyên đơn - bị đơn
Cơ chế đối thoại hoà giải
Nhận định: Người khởi kiện trong một số vụ án hành chính chỉ có thể là cá nhân.
=> Nhận định Đúng. Căn cứ khoản 4 Điều 30 Luật TTHC:
“Khiếu kiện danh sách cử tri.”
và Điều 27 Hiến pháp 2013:
“Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ
hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực
hiện các quyền này do luật định.”
và đối với các quyết định kỷ luật buộc thôi việc mà
theo Điều 2 Luật CB, CC thì phải là CDVN.
Nhận định: Người khởi kiện trong một số vụ án hành chính chỉ có thể là công dân Việt
Nam.
=> Nhận định Đúng. Căn cứ khoản 4 Điều 30 Luật TTHC:
“Khiếu kiện danh sách cử tri.”
và Điều 27 Hiến pháp 2013:
“Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ
hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực
hiện các quyền này do luật định.”
và đối với các quyết định kỷ luật buộc thôi việc mà
theo Điều 2 Luật CB, CC thì phải là CDVN.
Theo Điều 30: với danh sách cử tri thì chắc chắn tổ chức không được quyền khởi kiện,
với quyết định kỷ luật buộc thôi việc thì cũng sẽ tương tự như vậy. Và các loại khiếu kiện
này thì người khởi kiện cũng chỉ có thể là CDVN chứ không thể là cá nhân bất kỳ. Với
QĐ kỷ luật buộc thôi việc thì chỉ có thể là CDVN vì theo Điều 2 Luật CB,CC thì muốn
trở thành CB,CC thì bắt buộc phải là công dân VN mà người khởi kiện chỉ có thể là công
chức. Với danh sách cử tri thì chỉ có thể là CDVN vì Điều 27 HP 2013 quy định bầu cử,
ứng cử là quyền của công dân nên người được đi bầu cử trong mọi trường hợp phải là
công dân mà một người chỉ được khởi kiện đối với danh sách cử tri với ĐK: một là
không có tên trong danh sách, hai là có tên nhưng tên sai nên người đi khởi kiện với danh
sách cử tri bắt buộc phải là cử tri.
Nhận định: Người khởi kiện trong vụ án hành chính chỉ có thể là cá nhân.
=> Nhận định Sai. Căn cứ khoản 8 Điều 3 Luật TTHC:
“Người khởi kiện là cơ quan, tổ
chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành
5

chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà
nước; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội
đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách cử tri.”
Câu hỏi: Trong án hành chính, người khởi kiện là cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm
quyền trong cơ quan nhà nước được không?
=> Tại Điều 5 Luật TTHC quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền yêu cầu Toà
án bảo vệ quyền và lợi ích. Bên cạnh đó, tại Điều 115 Luật TTHC quy định cơ quan, tổ
chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án. Tại khoản 11 Điều 3 quy định: “Cơ quan, tổ
chức bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức
kinh tế, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức
khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật”. Như vậy, căn cứ vào
những quy định của pháp luật thì cơ quan nhà nước có hoặc người có thẩm quyền trong
cơ quan nhà nước có quyền được khởi kiện một cơ quan nhà nước khác về quyết định
hành chính, hành vi hành chính.
Lưu ý: Ví dụ UBND TP Thủ Đức có thể kiện UBND TPHCM về thu hồi đất nhma ngta
chỉ thường kiến nghị xem xét.
2. Phương pháp giải quyết tranh chấp
- Phương thức khiếu nại: là phương thức do chủ thể có thẩm quyền quản lý hành chính
thực hiện theo thủ tục hành chính do Luật khiếu nại quy định. => chính chủ thể có thẩm
quyền ban hành ban hành quyết định hành chính hoặc cấp trên của họ xem lại quyết định
hành chính của họ và tiến hành giải quyết khiếu nại
+ Ưu điểm: trực tiếp, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian tiền bạc, độ am hiểu của
người giải quyết khiếu nại cao, có thể xem xét và điều chỉnh văn bản nếu phù hợp.
+ Khuyết điểm: thiếu khách quan vì bản thân chủ thể ban hành quyết định đó cũng
chính là chủ thể giải quyết khiếu nại => ý chí của chủ thể đó ngay từ đầu đã như vậy, khó
thay đổi => “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Còn đối với cấp trên giải quyết vẫn không khách
quan vì cơ cấu tổ chức của cơ quan nhà nước ở Việt Nam là theo cơ cấu “song trùng trực
thuộc” - việc chịu sự quản lý đồng thời của hai cơ quan cấp trên trực tiếp; một theo sự
quản lý của ngành dọc, và một theo sự quản lý của lãnh thổ theo chiều ngang => giữa cấp
trên và cấp dưới có mối quan hệ về mặt quản lý chuyên môn khi khiếu nại => cấp dưới
làm sai thì cấp trên chịu trách nhiệm => có xu hướng bao bọc.
- Phương thức tố tụng hành chính: là phương thức do tòa án giải quyết theo thủ tục tư
pháp do Luật tố tụng hành chính quy định. => khởi kiện ra Tòa án
6

+ Ưu điểm: độc lập, khách quan công bằng, minh bạch, quy trình thủ tục chặt chẽ,
có sự giám sát của Viện kiểm sát, được tiến hành bởi đội ngũ có trình độ chuyên môn.
+ Khuyết điểm: tốn tiền, Tòa án chỉ có thể tuyên bố hoạt động, quyết định hành
chính đó là đúng hay sai, chứ không thể sửa đổi theo mong muốn mà chúng ta cho là phù
hợp và đúng với pháp luật vì Tòa án là cơ quan tư pháp chứ không thực hiện việc quản lý
hành chính => thủ tục dài, chờ Tòa tuyên bố, rồi chờ thi hành án, bên kia nhận quyết
định/ bản án của Tòa xong mới xem xét sửa. Theo Toà án sẽ mất cỡ 9 tháng còn theo
khiếu nại cả lần 1 và 2 thì mất 75 ngày. Tòa án chỉ có thể huỷ bỏ quyết định và buộc
người ban hành quyết này ban hành quyết định mới đúng luật. Như vậy, điểm hạn chế lớn
nhất khi thực hiện bằng con đường khởi kiện Tòa án hiện nay là không được triệt để.
Người ra quyết định trái luật này cũng là người phải ban hành quyết định mới. Toà án chỉ
dừng lại ở việc huỷ bỏ quyết định, làm cho quyết định không còn hiệu lực thi hành, việc
thi hành phán quyết đó phụ thuộc quá lớn vào người bị kiện.
=> Ở Việt Nam có 2 phương thức để giải quyết 1 tranh chấp hành chính là khiếu nại và
khởi kiện. Hai phương thức này được gọi là tài phán hành chính. Như vậy, có thể hiểu tài
phán hành chính là giải quyết một vụ án hành chính bằng con đường khiếu nại hoặc khởi
kiện lên Tòa án. Tài phán hành chính là tổng thể những quyền hạn của Tòa án (khởi kiện)
hoặc cơ quan hành chính (khiếu nại) về việc đánh giá khía cạnh pháp lý của những sự
kiện cụ thể, trong đó có việc giải quyết những tranh chấp hành chính và áp dụng những
chế tài theo luật định. Hiện nay, thuật ngữ tài phán hành chính được giới khoa học pháp
lý ở nước ta tiếp cận theo 2 nghĩa:
+ Theo nghĩa rộng, tài phán hành chính là tất cả các hình thức giải quyết tranh
chấp hành chính. Tức là giải quyết tranh chấp hành chính bằng con đường khiếu nại hoặc
khởi kiện.
+ Theo nghĩa hẹp, tài phán hành chính là giải quyết tranh chấp hành chính bằng
con đường TAND. Ở Việt Nam hiện nay hiểu theo nghĩa hẹp khá phổ biến.
Phân biệt: khiếu nại và khởi kiện
Xem thêm tại:
https://ttt.hanam.gov.vn/Pages/phan-biet-khieu-nai-hanh-chinh-va-khoi-kien-hanh-
chinh.aspx
https://lsvn.vn/phan-biet-giua-khieu-nai-hanh-chinh-va-khoi-kien-hanh-
chinh1655220181.html
Khiếu nại Khởi kiện
7

Khái niệm Theo quy định tại khoản 1 Điều
2 Luật Khiếu nại 2011 về khiếu
nại như sau:
“Khiếu nại là việc
công dân, cơ quan, tổ chức hoặc
cán bộ, công chức theo thủ tục
do Luật này quy định, đề nghị cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền xem xét lại quyết định
hành chính, hành vi hành chính
của cơ quan hành chính nhà
nước, của người có thẩm quyền
trong cơ quan hành chính nhà
nước hoặc quyết định kỷ luật cán
bộ, công chức khi có căn cứ cho
rằng quyết định hoặc hành vi đó
là trái pháp luật, xâm phạm
quyền, lợi ích hợp pháp của
mình.”
Luật Tố tụng hành chính 2015
không nêu khởi kiện hành chính là
gì. Tuy nhiên, về bản chất của
khởi kiện vụ án hành chính là việc
cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy
định của pháp luật tố tụng hành
chính yêu cầu Tòa án có thẩm
quyền giải quyết vụ án hành chính
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của mình bị xâm phạm trực tiếp
bởi các loại đối tượng hành chính
trên (quyết định hành chính, hành
vi hành chính, quyết định kỷ luật
buộc thôi việc, quyết định giải
quyết khiếu nại về quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh…).
Luật Luật Khiếu nại năm 2011 Luật Tố tụng hành chính năm
2015
Khiếu nại là việc công dân, cơ
quan, tổ chức hoặc cán bộ, công
chức đề nghị xem xét lại quyết
định hành chính, hành vi hành
chính của chủ thể có thẩm quyền
khi bị xâm phạm quyền và lợi
ích hợp pháp của mình.
Khiếu kiện là việc thông qua con
đường tố tụng, khởi kiện vụ án
hành chính tại Tòa án để yêu cầu
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình. Đối tượng khởi kiện
hành chính là những đối tượng
được quy định tại Điều 30 Luật
TTHC.
Chủ thể Người khiếu nại (là công dân, cơ
quan, tổ chức, cán bộ, công chức
có quyền khiếu nại); Người bị
khiếu nại; Người giải quyết
khiếu nại (Thủ trưởng cơ quan,
tổ chức ban hành quyết định
hành chính, hành vi hành chính);
Người có quyền, nghĩa vụ liên
quan.
=> Trong khiếu nại, người bị
khiếu nại chính là người giải
quyết khiếu nại lần 1 là một
người (đối với quyết định hành
chính, quyết định kỷ luật cán bộ
công chức)
Người khởi kiện (cơ quan, tổ chức,
cá nhân); Người bị kiện; Người
giải quyết (Tòa án có thẩm quyền
giải quyết cụ thể là Thẩm phán
được Chánh án phân công giải
quyết. Nếu vụ án đưa ra xét xử thì
phải có Hội đồng xét xử gồm
Thẩm phán và các Hội thẩm nhân
nhân dân); Người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan.
=> Người bị kiện là cơ quan, tổ
chức, cá nhân có quyết định hành
chính, hành vi hành chính, quyết
định buộc thôi việc, quyết định
giải quyết khiếu nại về quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh, danh
sách cử tri bị khởi kiện. Người giải
quyết vụ án trong khởi kiện là
8

Thẩm phán và các Hội thẩm nhân
dân. Ở đây người bị kiện và người
giải quyết trong khởi kiện là hai
người hoàn toàn khác nhau.
Đối tượng
khiếu nại,
khởi kiện
Đối tượng trong Khiếu nại hành
chính gồm 03 đối tượng: Quyết
định hành chính; Hành vi hành
chính; Quyết định kỷ luật cán bộ,
công chức (khoản 1 Điều 2 Luật
Khiếu nại năm 2011).
Đối tượng trong khởi kiện vụ án
hành chính gồm 05 đối tượng:
Quyết định hành chính; Hành vi
hành chính; Quyết định kỷ luật
buộc thôi việc từ Tổng cục trưởng
và tương đương trở xuống; Quyết
định giải quyết khiếu nại về quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh;
Khiếu kiện danh sách cử tri (Điều
30 Luật Tố tụng hành chính 2015).
Hình thức
khiếu nại,
khởi kiện
Công dân có thể lựa chọn 1 trong
2 hình thức: Khiếu nại trực tiếp
hoặc khiếu nại bằng đơn (theo
Điều 8 Luật Khiếu nại 2011).
Khởi kiện vụ án hành chính công
dân chỉ được 1 hình thức: Khởi
kiện bằng đơn khởi kiện (Điều 117
Luật Tố tụng hành chính 2015).
Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện
và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến
Tòa án có thẩm quyền giải quyết
vụ án bằng một trong các phương
thức sau đây: Nộp trực tiếp tại Tòa
án, gửi qua dịch vụ bưu chính, gửi
trực tuyến qua Cổng thông tin điện
tử của Tòa án (nếu có).
Thời hiệu Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày,
kể từ ngày nhận được quyết định
hành chính hoặc biết được quyết
định hành chính, hành vi hành
chính (Điều 9 Luật Khiếu nại
2011) Trường hợp người khiếu
nại không thực hiện được quyền
khiếu nại theo đúng thời hiệu vì
ốm đau, thiên tai, địch họa, đi
công tác, học tập ở nơi xa hoặc
vì những trở ngại khách quan
khác mà có giấy tờ hợp lệ làm
căn cứ để chứng minh, thì thời
gian có trở ngại đó không tính
vào thời hiệu khiếu nại.
Thời hiệu khởi kiện: 01 năm kể từ
ngày nhận được hoặc biết được
quyết định hành chính, hành vi
hành chính, quyết định kỷ luật
buộc thôi việc. 30 ngày kể từ ngày
nhận được quyết định giải quyết
khiếu nại về quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh. Từ ngày nhận
được thông báo kết quả giải quyết
khiếu nại của cơ quan lập danh
sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn
giải quyết khiếu nại mà không
nhận được thông báo kết quả giải
quyết khiếu nại của cơ quan lập
danh sách cử tri đến trước ngày
bầu cử 05 ngày (khoản 2, 3 Điều
116 Luật Tố tụng hành chính
2015).
9

Nhận định: Khi phát sinh tranh chấp hành chính, cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ có thể
khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
=> Nhận định Sai. Không phải khi phát sinh tranh chấp hành chính, cá nhân, cơ quan, tổ
chức chỉ có thể khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình mà cá nhân, cơ quan, tổ chức còn có thể sử dụng phương thức khiếu nại.
Điều 5 Luật TTHC:
“Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành
chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của
Luật này.”
Điều 115 Luật TTHC:
“1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối
với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong
trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm
quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại
không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết
khiếu nại về quyết định, hành vi đó.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định giải
quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại
trong hoạt động kiểm toán nhà nước trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó.
3. Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án về danh sách cử tri trong trường hợp đã khiếu
nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định
của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không
đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó.”
Điều 28 Luật TTHC về bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính:
“Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại; cá nhân có quyền tố cáo hành vi, quyết
định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ
cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động tố tụng hành chính. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng
pháp luật; thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết cho người đã khiếu nại, tố cáo.”
II. Khái niệm, đối tượng, phương pháp điều chỉnh:
1. Khái niệm, nhiệm vụ Luật TTHC:
- Thuật ngữ “tố tụng” thường được sử dụng để chỉ quá trình giải quyết tranh chấp hoặc
xử lý các vụ việc chưa thống nhất giữa các bên liên quan, do chủ thể có thẩm quyền thực
hiện nhằm đưa ra quyết định, kết luận giải quyết vụ việc đó.
- Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, thuật ngữ “tố tụng” được sử dụng trong 5 trường
hợp (1) quá trình giải quyết vụ án hình sự, (2) quá trình giải quyết vụ án hành chính, (3)
10

quá trình giải quyết vụ việc dân sự, (4) quá trình giải quyết tranh chấp thương mại bằng
trọng tài và (5) quá trình xử lý vụ việc cạnh tranh cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh
thực hiện.
- Tố tụng hành chính là quá trình thực hiện những hoạt động khác nhau của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng nhằm thụ lý và giải quyết
đúng đắn các vụ án hành chính theo quy định của pháp luật.
- Tố tụng hành chính Việt Nam có những đặc điểm sau:
+ Thứ nhất, tố tụng hành chính việt nam là trình tự tố tụng tư pháp được pháp luật
điều chỉnh độc lập bằng một hệ thống quy phạm thống nhất và riêng biệt;
+ Thứ hai, là trình tự tố tụng được áp dụng để giải quyết các vụ án hành chính mà
đối tượng tranh chấp là khiếu kiện về hoạt động hành chính;
Lưu ý: Khiếu kiện là việc thông qua con đường tố tụng, khởi kiện vụ án hành chính tại
Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đối tượng khởi kiện hành
chính là những đối tượng được quy định tại Điều 30.
+ Thứ ba, cơ quan giải quyết vụ án hành chính là Tòa án nhân dân. Việc thiết lập
tòa hành chính chuyên trách ở cấp tỉnh và cấp cao không tạo thành hệ thống toà án hành
chính độc lập. Đó chỉ là sự phân công nhiệm vụ trong nội bộ hệ thống Tòa án nhân dân
mà thôi;
+ Thứ tư, trong tố tụng hành chính, sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân là bắt
buộc;
+ Thứ năm, khi tiến hành hoạt động tố tụng, chủ thể tiến hành vừa tuân thủ các
nguyên tắc chung của hoạt động tố tụng được Hiến pháp quy định, vừa tuân thủ các
nguyên tắc riêng phù hợp với tính chất đặc thù của tranh chấp hành chính. Thủ tục tố
tụng hành chính.
- Luật Tố tụng hành chính là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
gồm tổng thể các quy phạm pháp luật mang tính thủ tục tư pháp được nhà nước ban
hành để điều chỉnh bằng phương pháp mệnh lệnh và phương pháp bình đẳng các quan hệ
xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân, bảo đảm
cho việc giải quyết vụ án hành chính được nhanh chóng, khách quan, đúng pháp luật,
từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và của nhà nước, góp phần
góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính ổn định, thông
suốt và hiệu lực của nền hành chính quốc gia.
11

+ Thứ nhất, Luật Tố tụng hành chính là một ngành luật độc lập trong hệ thống
pháp luật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam vì có đối tượng điều chỉnh và phương
pháp điều chỉnh, nguồn và nhiệm vụ riêng;
+ Thứ hai, đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng hành chính là các quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình TAND giải quyết các vụ án hành chính; đây là những quan hệ tố
tụng tư pháp;
+ Thứ ba, phương pháp điều chỉnh của Luật Tố tụng hành chính là sự kết hợp giữa
phương pháp mệnh lệnh mang tính quyền lực - phục tùng thể hiện ý chí đơn phương của
chủ thể tiến hành tố tụng với phương pháp bình đẳng giữa các đương sự và người tham
gia tố tụng cũng như giữa một số chủ thể tiến hành tố tụng với nhau;
+ Thứ tư, Luật Tố tụng hành chính hình thành từ hệ thống các quy phạm pháp luật
mang tính thủ tục nhưng là thủ tục tư pháp; hoạt động do Luật Tố tụng hành chính điều
chỉnh là hoạt động tư pháp;
+ Thứ năm, Luật Tố tụng hành chính không chỉ hướng đến giải quyết nhanh
chóng, khách quan và đúng pháp luật vụ án hành chính qua đó bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà còn nhằm giáo dục
mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; bảo đảm tính ổn định, thông suốt và hiệu
lực của nền hành chính quốc gia.
- Nhiệm vụ của Luật TTHC: Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Luật Tố tụng
hành chính:
“...Luật Tố tụng hành chính
góp phần bảo vệ
công lý, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân (chỉ là góp phần thôi bởi lẽ 1
bên trong tranh chấp hành chính mang quyền lực Nhà nước, vì vậy cần có chủ thể khách
quan độc lập đứng ra giải quyết từ đó giảm thiểu phần nào sự hoài nghi, lo lắng);
giáo
dục mọi người
nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật (Luật Tố tụng hướng đến nhiệm vụ
này bằng việc thiết lập cơ chế hủy bỏ những quyết định hành chính trái pháp luật, buộc
chấm dứt hành vi trái pháp luật hoặc hướng đến việc bác bỏ các yêu cầu không có căn cứ,
khẳng định tính đúng đắn của các hoạt động hành chính bị kiện khi không có dấu hiệu vi
phạm pháp luật. Đồng thời, thông qua cơ chế giải quyết vụ án hành chính việc phân tích
làm rõ nội dung tranh chấp cũng góp phần tuyên truyền, giáo dục pháp luật hành chính,
tố tụng cho các đương sự và cho những người có quan tâm.) ;
bảo đảm tính ổn định
,
thông suốt và hiệu lực của nền hành chính quốc gia. (thiết lập cơ chế tài phán hành chính
không có nghĩa là thiết lập cơ chế để chống lại hay cản trở hoạt động bình thường, thông
suốt của nền hành chính quốc gia. Điều đó có nghĩa rằng loại bỏ cái sai nhưng phải gìn
giữ, duy trì và nâng đỡ cái đúng; điều chỉnh hoạt động không hợp pháp nhưng không vì
12

thế mà làm cản trở đến những hoạt động bình thường khác đang tồn tại. Chính vì nhằm
để thực hiện nhiệm vụ này nên Luật tố tụng đưa ra một số giới hạn nhằm bảo vệ nền hành
chính quốc gia như giới hạn về thẩm quyền của Tòa án, giới hạn quyền hạn của Hội đồng
xét xử, giới hạn về thời hiệu khởi kiện và đưa ra các điều kiện khác nhằm hạn chế việc
khởi kiện. Đều này giúp lý giải tại sao thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án cần phải
được thiết lập phù hợp với mức độ hoàn thiện của nền hành chính quốc gia.)”
2. Đối tượng điều chỉnh:
- Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hành chính được gọi là
quan hệ tố tụng hành chính. Các quan hệ này khác với các quan hệ trong tố tụng dân sự
và tố tụng hình sự bởi các đặc điểm của tranh chấp hành chính. Vì vậy các quan hệ tố
tụng hành chính được điều chỉnh bằng hệ thống các quy phạm pháp luật riêng, tập trung
trong một đạo luật mang tính pháp điển cao là Luật TTHC 2015.
- Đối tượng điều chỉnh của ngành Luật Tố tụng hành chính là các quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ án hành chính, cụ thể hơn đó là các quan hệ
xã hội phát sinh trong quá trình khởi kiện, thụ lý và xét xử các vụ án hành chính. Những
quan hệ xã hội được ngành Luật Tố tụng hành chính điều chỉnh gọi là quan hệ pháp luật
tố tụng hành chính.
=> Tuy nhiên, không phải mọi quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình Tòa án giải quyết
vụ án hành chính đều là quan hệ pháp luật tố tụng hành chính và đều được ngành Luật Tố
tụng hành chính điều chỉnh mà chỉ những quan hệ phát sinh với mục đích nhằm giải
quyết vụ án thì mới thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành Luật Tố tụng hành chính.
Ví dụ, quan hệ giữa người khiếu kiện với Kho bạc Nhà nước trong việc nộp tiền tạm ứng
án phí là quan hệ tài chính do ngành Luật Tài chính điều chỉnh; quan hệ giữa người ủy
quyền và người được ủy quyền tham gia tố tụng, quan hệ giữa đương sự với luật sư... là
quan hệ pháp luật dân sự và do ngành Luật Dân sự điều chỉnh.
Nhận định: Tất cả quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tòa án giải quyết vụ án hành
chính đều thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng hành chính Việt Nam.
=> Nhận định Sai. Phía trên
Nhận định: Quan hệ giữa người khởi kiện và Tòa án chỉ được luật Tố tụng hành chính
điều chỉnh sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án.
=> Nhận định Sai. Đối tượng điều chỉnh của ngành Luật Tố tụng hành chính là các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ án hành chính, cụ thể hơn đó
là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khởi kiện, thụ lý và xét xử các vụ án hành
chính
- Đối tượng điều chỉnh của ngành Luật Tố tụng hành chính gồm 03 nhóm chính sau đây:
13

+ Nhóm 1: Quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng (Toà án và Viện kiểm sát) và
người tiến hành tố tụng (Chánh án Tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên,
Thư ký Tòa án; Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên) với nhau. Ví
dụ như quan hệ giữa Tòa án với Viện kiểm sát trong việc thông báo thụ lý vụ án; quan hệ
giữa Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm trong việc chuyển hồ sơ vụ án để giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm. Đặc trưng của nhóm quan hệ này là các chủ thể có cùng
mục tiêu khi tham gia vào quan hệ pháp luật. Mục tiêu cụ thể là nhằm thực hiện chức
trách, nhiệm vụ, công vụ được giao còn mục tiêu chung sau cùng là nhằm giải quyết đúng
đắn vụ án. (Điều 36 Luật TTHC)
+ Nhóm 2: Quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng với
đương sự (người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) và với
những người tham gia tố tụng khác (người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền
lợi cho đương sự, người làm chứng, người giám định và người phiên dịch). Ví dụ như
quan hệ giữa Tòa án với người khởi kiện trong việc nộp đơn khởi kiện, quan hệ giữa Tòa
án với các đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, lấy lời khai, trong quá trình xét xử tại
phiên tòa... Đây là nhóm quan hệ xã hội chủ yếu trong đối tượng điều chỉnh của Luật Tố
tụng hành chính nói riêng và luật tố tụng nói chung. Với tư cách là một bên chủ thể có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung tranh chấp đang được Tòa án xem xét giải
quyết, một bên là chủ thể có quyền và nhiệm vụ giải quyết vụ việc, các quan hệ nhóm
này không thể không tồn tại trong quá trình tố tụng hành chính.
+ Nhóm 3: Quan hệ giữa các đương sự, những người tham gia tố tụng khác với
nhau. Đây là nhóm đối tượng điều chỉnh không phổ biến và không phát sinh một cách
chủ động. Các quan hệ xã hội thuộc nhóm này chỉ phát sinh trên cơ sở tổ chức, cho phép
của chủ thể tiến hành tố tụng. Ví dụ như quan hệ giữa người khởi kiện và người bị kiện
trong việc đối thoại do Tòa án tổ chức trong quá trình giải quyết vụ án.
=> Việc một quan hệ xã hội có thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng hành chính
hay không không chỉ dựa vào chủ thể tham gia quan hệ xã hội đó là ai mà quan trọng
hơn là mục đích của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ xã hội đó. Nói cách khác, chỉ
được coi là đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng hành chính khi mục tiêu đó là nhằm
làm phát sinh, giải quyết vụ án hành chính. Những quan hệ nằm ngoài mục đích này thì
không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng hành chính mà có thể được điều
chỉnh bằng các quy phạm của các ngành luật khác.
Ví dụ, quan hệ giữa Chánh án Tòa án với Thẩm phán trong việc phân công Thẩm phán
xem xét đơn kiện, phụ trách giải quyết vụ án, thay đổi người tiến hành tố tụng là quan hệ
hành chính nội bộ thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hành chính hoặc quan hệ giữa
người làm chứng với đương sự trong việc hỗ trợ chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt phục vụ
14

việc làm chứng; quan hệ giữa đương sự với người bảo vệ quyền lợi của đương sự... cũng
là những quan hệ không do Luật Tố tụng hành chính điều chỉnh mà thuộc phạm vi điều
chỉnh của Luật Dân sự.
Ví dụ:
- Thẩm phán lấy lời khai của người khời kiện trong vụ án → Nhóm 2
- TAND Quận 4 tổng đạt hồ sơ vụ án hành chính cho VKSND Quận 4 đề nghiên cứu hồ
sơ Nhóm 1
- Người bảo vệ quyền lợi cho đương sự tức là luật sư đề nghị xét xử thay đổi thư ký Toà
án tại phiên toà → Nhóm 2
- Ông A ký 1 hợp đồng dịch vụ pháp lý để thuê Luật sư A bảo vệ quyền lợi của mình tại
phiên tòa trong án hành chính → Không thuộc nhóm nào vì luật TTHC không điều chỉnh
hợp đồng dịch vụ này. Ở đây luật dân sự điều chỉnh hợp đồng dịch vụ pháp lý.
3. Giai đoạn tố tụng hành chính
Quá trình giải quyết vụ án hành chính được chia thành các giai đoạn:
- Giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án: Mục tiêu, nhiệm vụ của giai đoạn này là làm phát
sinh vụ án hành chính. Các hoạt động trong giai đoạn này chủ yếu do người khởi kiện và
Tòa án thực hiện. Do đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình nên nó không phụ thuộc vào
kết quả của bất cứ hoạt động hay giai đoạn tố tụng nào trước đó®. Điều duy nhất để thực
hiện giai đoạn này là việc thực hiện quyền khởi kiện của cá nhân, tổ chức theo quy định
về quyền khởi kiện và thời hiệu khởi kiện. Giai đoạn này kết thúc bằng việc Tòa án quyết
định thụ lý vụ án hành chính nhưng cũng có thể Tòa án không/từ chối thụ lý vụ án mà trả
lại đơn khởi kiện 2. Trong trường hợp vụ án được thụ lý, các giai đoạn tố tụng tiếp theo
sẽ được tiến hành. Trường hợp việc khởi kiện bị từ chối, các hoạt động tố tụng tiếp theo
sẽ không phát sinh. Người khởi kiện có thể khiếu nại về việc từ chối thụ lý hoặc khởi
kiện lại nếu đã đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện.
- Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm: giai đoạn này là làm rõ các tình tiết trong vụ án để
giải quyết vụ án tại phiên xét xử sơ thẩm với các hoạt động chủ yếu như xác minh, thu
thập chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ, tổ chức đối thoại, ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
theo thủ tục sơ thẩm. Về thời hạn, giai đoạn này bắt đầu khi Tòa án thụ lý vụ án!3 và kết
thúc khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ
và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp việc giải quyết vụ án bị chấm dứt vì vụ án
bị Tòa án đình chỉ giải quyết, quá trình giải quyết vụ án sẽ dừng lại. Nếu có kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong giai
đoạn này thì quá trình tố tụng sẽ chuyển hẳn sang giai đoạn phúc thẩm.
15

- Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính: Giai đoạn này bắt đầu ngay sau khi có
quyết định đưa vụ án ra xét xử với rất nhiều hoạt động cụ thế với sự tham gia của nhiều
chủ thể khác nhau nhưng trọng tâm nhất là hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử sơ
thẩm. Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là đưa ra phán quyết về cách thức giải quyết vụ
việc bằng việc ban hành một bản án sơ thẩm.
- Giai đoạn xem xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực (giai đoạn phúc
thẩm): Giai đoạn này bắt đầu từ khi có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm cho
đến khi kết việc xem xét lại vụ việc bằng một bản án hoặc quyết định phúc thẩm. Nó bao
gồm rất nhiều các hoạt động với tính chất và mục đích khác nhau như: hoạt động kháng
cáo, kháng nghị phúc thẩm, hoạt động thụ lý phúc thấm, hoạt động xác minh, thu thập
chứng cứ trong giai đoạn phúc thẩm, hoạt động xét xử phúc thẩm... Trong một chừng
mực nào đó, giai đoạn này gần như tương đồng với ba giai đoạn khởi kiện thụ lý, chuẩn
bị xét xử và xét xử sơ thẩm. Chính vì vậy, giai đoạn này được gọi là thủ tục phúc thẩm.
Với tính chất như trên, nhiệm vụ, mục tiêu của giai đoạn phúc thẩm là rất rộng: Về phía
người kháng cáo, kháng nghị thì nhằm yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại bản án,
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực; về phía Tòa án thì mục tiêu là thụ lý và xem xét lại
bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị.
- Giai đoạn xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (giai đoạn giám đốc
thẩm, tái thẩm): Tương tự như giai đoạn phúc thẩm, giai đoạn này không đương nhiên
phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính. Nó chỉ phát sinh khi có kháng
nghị, yêu cầu, kiến nghị của người có thẩm quyền để yêu cầu xem xét lại bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (bao gồm cả sơ thẩm lẫn phúc thẩm) vì có căn
cứ cho rằng bản án quyết định đó là không đúng pháp luật hoặc không phù hợp với sự
thật khách quan.
- Giai đoạn thi hành án: Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết vụ án. Giai
đoạn thi hành án bắt đầu từ khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành. Với
nhiệm vụ thực thi các quyết định trong bản án, quyết định đã có hiệu lực, giai đoạn này
mang lại ý nghĩa thực tế cho quá trình giải quyết vụ án hành chính.
=> Dù được phân chia thành các giai đoạn nhưng quá trình giải quyết một vụ án hành
chính cụ thể có thể không trải qua tất cả các giai đoạn nêu trên (trong trường hợp không
có kháng cáo, kháng nghị thì không phát sinh giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái
thẩm) hoặc vụ án bị đình chỉ giải quyết trước khi có phán quyết của tòa.
Nhận định: Vụ án hành chính phải trải qua đầy đủ 6 giai đoạn.
Sai vì nếu 1 vụ án khi xét xử sơ thẩm xong mà đương sự không kháng cáo, viện kiểm sát
không kháng nghị thì lúc này vụ án hành chính sẽ kết thúc.
16

Như vậy, 1 vụ án hành sẽ trải qua ít nhất 2 giai đoạn:
- Trường hợp 1, người khởi kiện đi kiện, Toà án thụ lý nhưng sau đó người khởi kiện rút
đơn kiện. Lúc này Toà sẽ ban hành quyết định đình chỉ vụ án và kết thúc án. Như vậy sẽ
chỉ trải qua 2 giai đoạn.
- Trường hợp 2, người khởi kiện đi kiện, Toà án thụ lý xong thì người khởi kiện chết. Lúc
này Toà sẽ ban hành quyết định đình chỉ vụ án. Như vậy sẽ chỉ trải qua 2 giai đoạn.
Câu hỏi: Có thể khởi kiện xong quay lại khiếu nại được không?
=> Điều 33 Luật TTHC
4. Phương pháp điều chỉnh
- Phương pháp điều chỉnh của Luật Tố tụng hành chính là cách thức mà các quy phạm
của Luật Tố tụng hành chính tác động lên các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh
của nó, làm cho chúng phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt trong những trường hợp, hoàn
cảnh cụ thể. Tùy vào tính chất của quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ tố
tụng cũng như mục tiêu của quan hệ đó mà quy phạm pháp luật tố tụng hành chính có
những phương pháp điều chỉnh tương ứng. Xét một cách tổng thể, ngành Luật Tố tụng
hành chính sử dụng hai phương pháp điều chỉnh: phương pháp quyền uy và phương pháp
bình đẳng.
+ Phương pháp quyền uy được sử dụng để điều chỉnh nhóm các mối quan hệ giữa
chủ thể tiến hành tố tụng với chủ thể tham gia tố tụng là nhóm quan hệ chủ yếu, tính chất
của quan hệ này là quyền uy - phục tùng. Điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng
+ Phương pháp bình đẳng để điều chỉnh các mối quan hệ còn lại thuộc đối tượng
điều chỉnh của nó. Theo phương pháp bình đẳng, các chủ thể không có quyền áp đặt ý chí
của mình đối với bên kia mà hai bên chủ thể được quyền tự do ý chí trong phạm vi luật
cho phép khi ứng xử với chủ thể còn lại trong quan hệ tố tụng đó. Điều chỉnh giữa đương
sự với đương sự, người tham gia tố tụng, đương sự với người tham gia tố tụng, cơ quan
tiến hành tố tụng với người tiến hành tố tụng.
1) Bình đẳng - định đoạt là hình thức chủ yếu được sử dụng để điều chỉnh mối
quan hệ giữa các đương sự, những người tham gia tố tụng khác với nhau. Theo phương
pháp này, các đương sự và những người tham gia tố tụng tự mình thực hiện quyền và
nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và được Tòa án bảo đảm, không phụ thuộc ý chí
của chủ thể bên kia, nghĩa là không bị áp đặt về mặt ý chí bởi chủ thể còn lại trong quan
hệ pháp luật đó, kể cả chủ thể tiến hành tố tụng. Họ hoàn toàn có quyền tự định đoạt
những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong vụ án. Sự bình
đẳng trong tố tụng hành chính nói riêng và trong tố tụng nói chung không giống với sự
17

bình đẳng trong quan hệ pháp luật nội dung (quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế, lao
động...). Trong các quan hệ pháp luật tố tụng hành chính, các đương sự vừa thực hiện
quyền và nghĩa vụ một cách bình đẳng, vừa được Tòa án bảo đảm cho sự bình đẳng này
giữa các chủ thể. Sự bình đẳng ở đây có nội dung là bình đẳng trong việc hưởng quyền và
thực hiện nghĩa vụ trong tố tụng trước Tòa án chứ không phải bình đẳng trong việc thực
hiện các quyền và nghĩa vụ trong pháp luật nội dung mà họ đang tranh chấp. Trong tố
tụng hành chính, nguyên tắc bình đẳng phải được quan tâm đúng mức vì trước khi phát
sinh tranh chấp hành chính, quan hệ hành chính nội dung giữa các chủ thể là quan hệ
quyền lực - phục tùng (người quản lý có quyền đơn phương áp đặt ý chí còn người bị
quản lý phải phục tùng) nhưng sau khi vụ án phát sinh, quan hệ giữa các đương sự là bình
đẳng. Điều này làm cho tính bình đẳng trong tố tụng hành chính dễ trở nên méo mó, hình
thức.
2) Phương pháp bình đẳng - phối hợp là phương pháp được sử dụng để điều chỉnh
quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng (TAND và VKSND) và người tiến hành tố tụng
khác hệ thống với nhau (Chánh án, Viện trưởng Viện Kiểm sát, kiểm tra viên, Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, thẩm tra viên và Thư ký Tòa án). Theo phương
pháp điều chỉnh này, các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng hành chính phải phối
hợp với nhau, hỗ trợ nhau trên cơ sở bình đẳng với mục đích giải quyết vụ án hành chính
được nhanh chóng, khách quan và đúng pháp luật. Đồng thời, các chủ thể phải đảm bảo
tính hợp pháp trong hoạt động tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng khác. Quan hệ
phối hợp phát sinh là nhằm thực hiện chức năng của chủ thể tham gia vào quan hệ tố tụng
hành chính. Ở đây không có sự áp đặt, mang tính mệnh lệnh bắt buộc của chủ thể này đối
với chủ thể khác. Ví dụ, khi Viện kiểm sát cùng cấp hay Viện kiểm sát trên một cấp của
Tòa án đã xét xử sơ thẩm kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án hoặc quyết
định sơ thẩm chưa có hiệu lực thì tính chất và hậu quả của hoạt động kháng nghị là như
nhau: bản án, quyết định bị kháng nghị không phát sinh hiệu lực thi hành và thủ tục phúc
thẩm có thể phát sinh.
Nhận định: Quan hệ giữa toán nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân được điều chỉnh
bằng phương pháp mệnh lệnh.
18

=> Còn phương pháp bình đẳng - phối hợp là phương pháp được sử dụng để điều chỉnh
quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng (TAND và VKSND) và người tiến hành tố tụng
khác hệ thống với nhau (Chánh án, Viện trưởng Viện Kiểm sát, kiểm tra viên, Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, thẩm tra viên và Thư ký Tòa án).
Nhận định: Quan hệ giữa người tiến hành tố tụng với nhau phải được điều chỉnh bằng
phương pháp bình đẳng.
=> Nhận định Sai.
Câu hỏi: Đối với 3 nhóm thuộc đối tượng điều chỉnh ở trên, nhóm nào áp dụng phương
pháp nào?
- Nhóm 1: Phương pháp mệnh lệnh - quyền uy. Ví dụ: Viện trưởng VKSND phân công
kiểm sát viên kiểm sát một phiên tòa nào đó; Chánh án TAND phân công Thẩm phán, thư
ký tham gia một vụ án cụ thể nào đó. Phương pháp phối hợp - chế ước. Ví dụ: Phối hợp
giữa Toà án và VKS để giải quyết án và kiểm sát án.
- Nhóm 2: Phương pháp mệnh lệnh - quyền uy. Vì ở đây một bên là cơ quan mang quyền
lực nhà nước và một bên là người tham gia tố tụng. Ví dụ: Thẩm phán triệu tập một
người đến Tòa để lấy lời khai.
- Nhóm 3: Phương pháp bình đẳng. Bình đẳng giữa người khởi kiện và người bị kiện.
Trong án hành chính, người bị kiện luôn là cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền
trong cơ quan nhà nước. Ví dụ: Chủ tịch xã, Chủ tịch tỉnh, Giám đốc Công an tỉnh,… khi
tham gia vào án hành chính thì bình đẳng như nhau. Họ không được quyền sử dụng
quyền lực nhà nước.
Việc sử dụng các phương pháp tác động đến các đối tượng nhằm giúp cho vụ án hành
chính được chính xác, đúng đắn, khách quan.
5. Nguồn của Luật TTHC
- Nguồn của Luật Tố tụng hành chính Việt Nam là những văn bản quy phạm pháp luật có
chứa các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tố tụng trong quá trình giải quyết
các vụ án hành chính.
- Giáo trình tr.43
III. Các nguyên tắc của ngành Luật TTHC (giáo trình tr.61)
- Các nguyên tắc của Luật Tố tụng hành chính Việt Nam là những quan điểm tư tưởng
mang tính chỉ đạo, được quy định trong Luật Tố tụng hành chính mà các chủ thể tiến
hành và tham gia tố tụng cũng như mọi cá nhân, tổ chức có liên quan khác phải tuân thủ
khi tham gia quá trình tố tụng hành chính.
19

- Nguyên tắc cơ bản của Tố tụng hành chính là những tư tưởng chỉ đạo, những phương
châm mang tính định hướng, chi phối toàn bộ hoặc một số hoạt động trong quá trình giải
quyết vụ án hành chính đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được kịp thời, khách quan và
đúng pháp luật.
- Chia làm 2 nhóm:
+ Nhóm nguyên tắc chung
+ Nhóm nguyên tắc đặc thù
- Khi tìm hiểu nội dung từng nguyên tắc, có ba nội dung cần nắm:
+ Cơ sở pháp lý của nguyên tắc đó;
+ Yêu cầu của nguyên tắc đó đối với việc quy định và áp dụng pháp luật tố tụng
hành chính
+ Thể hiện của nguyên tắc đó trong pháp luật tố tụng hành chính và pháp luật khác
có liên quan.
- Ý nghĩa:
+ Giải quyết xung đột pháp luật
+ Giải quyết khoảng trống pháp luật
- Các nguyên tắc chung là những nguyên tắc không chỉ của riêng tố tụng hành chính mà
còn của cả những những ngành luật tố tụng khác (tố tụng dân sự, tố tụng hình sự). Trong
tố tụng hành chính chúng cũng phải được tuân thủ tuy có những biểu hiện riêng nhất định
phù hợp với tính chất của tranh chấp hành chính. Các nguyên tắc riêng của Luật TTHC là
những nguyên tắc mà nội dung hoàn toàn xuất phát từ tính chất của vụ án hành chính và
trình tự tố tụng hành chính.
1) Nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong tố tụng hành chính (Điều 4)
2) Nguyên tắc về cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hành
chính (Điều 9)
3) Nguyên tắc về nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền
4) Nguyên tắc về bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính.
5) Nguyên tắc về bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
(Điều 19)
6) Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử. (Điều 18)
7) Nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án hành chính. (Điều 12)
20
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.