









Preview text:
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Câu 1: Khái niệm Tố tụng hình sự và các giai đoạn của tố tụng hình sự
Khái niệm: Tố tụng hình sự là trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự, bao gồm các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và của cá nhân, cơ quan, tổ chức góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật Tố tụng hình sự.
- Các giai đoạn của tố tụng hình sự
Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn của tố tụng hình sự có nhiệm vụ riêng, mang đặc thù về phạm vi chủ thế, hành vi tổ tụng và văn bản tổ tụng. Trình tự tổ tụng để giải quyết vụ án hình sự có thể được chia thành các giai đoạn: khởi tố vụ án hình sự; điều tra vụ án hình sự; truy tố; xét xử vụ án hình sự; thi hành án hình sự.
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự. Giai đoạn này bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tiến hành kiểm tra, xác minh làm rõ sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay không và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tiếp theo sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong giai đoạn điều tra, cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật, tiến hành thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ làm rõ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự để ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.
Truy tố là giai đoạn bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận hồ sơ vụ án kèm theo bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và vật chứng (nếu có), tiến hành các hoạt động kiểm sát và kết thúc khi Viện kiểm sát ra quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng hoặc ra những quyết định tố tụng khác để giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Xét xử vụ án hình sự là giai đoạn bắt đầu từ khi Tòa án nhận được quyết định truy tố cùng bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố (theo thủ tục rút gọn) và toàn bộ hồ sơ vụ án Viện kiểm sát chuyển sang: Trong giai đoạn này, Toà án tiến hành giải quyết vụ án hình sự bằng việc mở phiên tòa xét xử để ra bản án hoặc các quyết định cần thiết khác. Giai đoạn xét xử được phân thành các trình tự khác nhau: xét xử sơ thấm, xét xử phúc thẩm, xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Thi hành án hình sự là giai đoạn kết thúc của tố tụng hình sự. Trong giai đoạn này, cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành án tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Câu 2: Một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
Nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là tư tưởng, quan điểm cơ bản, mang tính chỉ đạo, chi phối hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong các hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự.
1. Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự
2. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân
3. Suy đoán vô tội
4. Xác định sự thật vụ án
5. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
Xác định sự thật của vụ án là một nguyên tắc rất quan trọng của tố tụng hình sự, bảo đảm việc xử lý vụ án được công minh, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: "Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội."
Sự thật của vụ án là chân lý khách quan; sự thật của vụ án được xác định bằng chứng cứ bao gồm những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của người bị buộc tội.
Người bị buộc tội có quyền tham gia vào việc xác định sự thật của vự ấn. có quyền đưa ra chúng cứ và những yêu cầu, có quyền chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình, nhưng không bắt buộc phải có nghĩa vụ đưa ra chứng cử chứng minh mình vô tội, vì trách nhiệm chừng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong trường hợp người bị buộc tội không đưa ra hoặc không đưa ra được những chứng cứ chứng minh là họ vô tội thì không vì thế mà coi họ là người phạm tội.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.
Câu 3: Khái niệm và thuộc tính khách quan của chứng cứ.
a. Khái niệm: Tại Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về khái niệm chứng cứ như sau: "Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án"
b. Các thuộc tính của chứng cứ:
* Tính khách quan:
+ Nghĩa là chứng cứ luôn có thật, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người.
+ Những gì xuyên tạc, tưởng tượng, suy diễn, phỏng đoán theo chủ quan của con người thì không thể được coi là chứng cứ. Tính khách quan của chứng cứ được gọi là tính xác thực của chứng cứ.
+ Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phải hết sức thận trọng để đảm bảo tính khách quan của chứng cứ, phải tôn trọng sự thật khách quan, phải kiểm tra, xác minh những đồ vật, tài liệu thu được. Chỉ dùng làm chứng cứ những tình tiết đã được kiểm tra xác minh đảm bảo là có thật.
Câu 4: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp
Khái niệm: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp có tính chất cưỡng chế của Nhà nước trong tố tụng hình sự, do cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc gây khó khăn cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
GIỮ NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP (ĐIỀU 110 BLTTHS)
Giữ người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được áp dụng khi có căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc sau khi thực hiện tội phạm hay bị nghi thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
*Trường hợp áp dụng
Khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: Khi thuộc một trong các trường hợp khẩn cấp sau đây thì được giữ người:
Trường hợp thứ nhất: Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Giữ người trong trường hợp này cần thỏa mãn 2 điều kiện:
Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm:
Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109 (tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), điểm a khoản 2 Điều 113 (tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân) hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 (tội khủng bố) của Bộ luật Hình sự.
Tội phạm đang chuẩn bị thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và thuộc vào trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 14 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123 (tội giết người), Điều 168 (tội cướp tài sản) thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp cũng được áp dụng đối với người chuẩn bị thực hiện các tội phạm này.
Trường hợp thứ hai: Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn.
Giữ người trong trường hợp này cần thoả mãn 2 điều kiện:
Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm. Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy tức là họ phải trực tiếp nhìn thấy người thực hiện hành vi phạm tội. Đồng thời họ xác nhận đúng là người đã thực hiện hành vi phạm tội, việc xác nhận của họ về người đã thực hiện hành vi phạm tội phải là sự khẳng định chắc chắn.
Xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn. Việc đánh giá, xác định là cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn, dựa vào các căn cứ sau:
+ Căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội và loại tội phạm được thực hiện (thực tiễn cho thấy người phạm tội thường trốn khi thực hiện các tội trộm cắp, lừa đảo, giết người, cướp tài sản ...);
+ Căn cứ vào thái độ của người đó (sau khi phạm tội người đó đã bỏ trốn
hoặc đang tìm cách bỏ trốn...);
Căn cứ vào nhân thân của người đó (chưa xác định được nhân thân hoặc họ là đối tượng lưu manh, côn đồ hung hãn hoặc là phần tử chống chính quyền nhân dân, họ có nơi cư trú ở quá xa hoặc không có nơi cư trú rõ ràng).
Trường hợp thứ ba: Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.
Giữ người trong trường hợp này cần thỏa mãn 2 điều kiện:
Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm. Dấu vết của tội phạm tồn tại một cách khách quan và rất đa dạng. Việc phát hiện thấy dấu vết của tội phạm có thể thông qua khám xét chỗ ở, khám người; xem xét dấu vết trên thân thể; qua kiểm tra, kiểm soát hành chính...
Xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huy chứng cứ.
Việc đánh giá, xác định là cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn cũng dựa vào các căn cứ như ở trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp thứ hai, hoặc có căn cử cho rằng cần ngăn chặn ngay việc người đó tiêu huy chứng cứ như đang tầy, xóa dầu vết tội phạm, đang cất giấu công cụ, phương tiện phạm tội, đang tẩu tán tài sản vừa lấy được...
*Thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp (đọc thêm)
Theo khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự, những người sau đây có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp:….
*Thủ tục giữ người trong trường hợp khẩn cấp
Về lệnh và việc thi hành: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải có lệnh bằng văn bản của người có thẩm quyền. Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người và các nội dung quy định về văn bản tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Người thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ bị giữ của người bị giữ và phải lập biên bản về việc giữ người; giao lệnh cho người.
Khi tiến hành giữ người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến. Khi tiến hành giữ người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành giữ người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trán nơi tiến hành giữ người.
*Những việc phải tiến hành sau khi giữ hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp:
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khân cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó.
Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm c khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về.
Câu 5. Các biện pháp cưỡng chế đối với cá nhân, phân tích biện pháp áp giải?
Các biện pháp cưỡng chế đối với cá nhân gồm:
Áp giải ( K1-Đ127 - BLTTHS)
Dẫn giải (K2-Đ127-BLTTHS)
Kê biên tài sản (Đ128-BLTTHS)
Phong toả tài khoản(Đ129 - BLTTHS )
- Áp giải
Áp giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử.
Đối tượng áp dụng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự thì áp giải có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo).
Thẩm quyền áp dụng: Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định áp giải.
Thủ tục áp giải: Việc áp giải phải có quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền. Quyết định áp giải phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị áp giải; thời gian, địa điểm người bị áp giải phải có mặt và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Người thi hành quyết định áp giải phải đọc, giải thích quyết định và lập biên bản về việc áp giải theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải.
Chú ý: Không được bắt đầu việc áp giải người vào ban đêm; không được áp giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế.
Câu 6: Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:
- Không có sự việc phạm tội
Trường hợp có sự việc xảy ra nhưng không phải do tội phạm gây ra như thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, thú dữ... hoặc không có sự việc thực tế mà chỉ là do tin giá mạo, vu không, nhầm lần, tưởng lượng,... thì không khởi tố vụ án hình sự.
- Hành vi không cấu thành tội phạm:
Trường hợp có hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng không đủ các dầu hiệu cấu thành tội phạm, hoặc tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó là không đáng kể, hoặc hành vi đã có những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội thì không khởi tố vụ án hình sự.
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm mà họ thực hiện. Do đó không khởi tố vụ án hình sự nếu người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm đó. Việc giáo dục, răn đe đối với người đó được thực hiện bằng biện pháp khác.
- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật
Một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự là không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm. Do đó không khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật.
- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật Hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó không khởi tố vụ án hình sự khi đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Tội phạm đã được đại xá
Đại xá là sự khoan hồng của Nhà nước do Quốc hội quyết định, nhăm tha tội hoàn toàn và triệt để cho một số loại tội phạm nhất định, đối với hàng loạt người phạm tội, nhân sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước.
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thấm đối với người khác
Theo chính sách hình sự của Nhà nước ta, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết. Do đó không khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.
- Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.
Khi có một trong các căn cứ nêu trên thì người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết rõ lý do; nếu xét thấy cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Câu 7: Căn cứ khởi tố vụ án hình sự.
Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: "Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dầu hiệu tội phạm".
Như vậy, khi tiếp nhận, phát hiện sự việc có nghi vấn tội phạm, cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra, xác minh, thu thập thông tin, đồ vật, tài liệu.
Trên cơ sở sử dụng tổng hợp các thông tin, đồ vật, tài liệu để xác định và đánh giá chứng cứ, qua đó xem xét sự việc xảy ra là có dấu hiệu tội phạm hay không, nếu đã xác định có dấu hiệu tội phạm thì mới được ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Xác định có dấu hiệu tội phạm khi có đủ căn cứ chứng minh rằng trong sự việc xảy ra là có hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ mà theo quy định của Bộ luật Hình sự phải bị xử lý hình sự.
Căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm (6 căn cứ).
Để xác định dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền phải dựa trên những căn cứ được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, đó là:
*Tố giác của cá nhân
Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.
Cá nhân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan, tổ chức khác. Tố giác của cá nhân có thể bằng văn bản, qua điện thoại hoặc trực tiếp bằng lời,...
*Tin báo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền. Tin báo về tội phạm có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản.
*Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng
Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng về tội phạm là thông tin về sự việc có dấu hiệu tội phạm được đăng tải trên báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử và cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức Việt Nam. Khi có tin báo phản ánh sự việc có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi trách nhiệm của mình phải xem xét, xác minh tin báo đó, nếu thấy có dấu hiệu tội phạm thì ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
*Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước
Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.
*Người phạm tội tự thú
Tự thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện.
Khi người phạm tội đến tự thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú.
Khi có một trong các căn cứ nêu trên, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tiến hành kiểm tra, xác minh, nếu xác định có dấu hiệu tội phạm thì mới được khởi tố vụ án hình sự.
Câu 8: Thẩm quyền, trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự
1. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết.
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp quy định tại Điều 164 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lý của mình thì các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi tố vụ án hình sự; đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, ngoài các Cơ quan điều tra quy định tại Điều 163 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong khi làm nhiệm vụ của mình, nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thì có quyền khởi tố vụ án hình sự.
Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp: Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.
Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc hỏ lọt tội phạm.
2. Trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự
a. Tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
b. Kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
c. Tạm đình chỉ, phục hồi việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
d. Quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự
Trách nhiệm của Công an xã: Công an xã có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Câu 9: Thủ tục Khám xét người
Căn cứ quy định Điều 194 BLTTHS, khám xét người bao gồm các thủ tục sau:
1. Khi bắt đầu khám xét người, người thi hành lệnh khám xét phải đọc lệnh và đưa cho người bị khám xét đọc lệnh đó; giải thích cho người bị khám xét và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ.
Người tiến hành khám xét phải yêu cầu người bị khám xét đưa ra các tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án, nếu họ từ chối hoặc đưa ra không đầy đủ các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì tiến hành khám xét.
2. Việc khám xét người phải do người cùng giới thực hiện và có người khác cùng giới chứng kiến. Việc khám xét không được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét.
3. Có thể tiến hành khám xét người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
Khám xét người không cần lệnh: Có thể tiến hành khám xét người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.