
















Preview text:
Đề cương Cơ sở văn hóa Việt Nam I. Các khái niệm văn hóa 1. Hồ Chí Minh
- Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống , loiaf người mới sáng tạo và
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết , đạo đức , pháp luật , khoa học , tôn giáo , văn
học nghệ thuật , những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn , ở và các
phương thức sử dụng , toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa . 2. Unesco
- Theo nghĩa rộng nhất “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng
biệt tinh thần và vật chất , trị tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã
hội hay của một nhóm người trong xã hội .Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn
chương , nhũng lối sống , nhũng quyền cơ bản của con người , những hệ thống
các giá trị , những tập tục và những tín ngưỡng : văn hóa đem lại cho con người
khả năng suy xét về bản thân . Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những
sinh vật đặc biệt nhân bản , có lí tính , có óc phê phán và dẫn thân một cách đạo
lí .Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện , tự ý thức được bản thân , tự
biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu
của bản thân , tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên
những công trình vượt trội lên bản thân .
Như vậy , văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt .Văn hóa là tổng thể
nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra . Văn
hóa là chìa khao của sự phát triển .
Có 2 loại di sản văn hóa là vật thể ( đình , đền , miếu ,...) và văn hóa phi vật
thể ( ca nhạc , truyền thống , phong tục , lễ hội ,...) II.
Phân biệt văn hóa , văn minh , văn hiến , văn vật 1. Văn minh
- Phương Đông : Văn minh chỉ tia sáng của đạo đức ,biểu hiện ở chính trị , pháp
luật , văn học , nghệ thuật
- Phương Tây : Văn minh chỉ xã hội đạt tới giai đoạn tổ chức đô thị và có chữ viết
Văn minh chỉ trình độ phát triển của văn hóa về phương diện vật chất ,
đặc trưng cho một khu vực rộng lớn , một thời đại và của cả nhân loại
Văn minh có thể so sánh có thể so sánh cao thấp thì văn hóa chỉ là sự khác biệt 2. Văn hiến
- Văn là đẹp , hiến là hiền tài : văn hiến thiên về giá trị văn hóa tinh thần do
những người hiền tài sáng tạo ra , văn hiến thể hiện tính dân tộc , tính lịch sử hết sức rõ rệt . 3. Văn vật
- Văn là vẻ đẹp , vật là vật chất : văn vật thiên về những giá trị văn hóa vật chất
chúng biểu hiện ở những công trình , hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử 4. Văn hóa
- Văn hóa là khái niệm đồng nhất, chứa cả giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần.
Văn hóa luôn mang tính lịch sử, tính dân tộc. Khái niệm văn hóa và các nền văn
hóa cổ đại đều xuất pát từ các nước phương Đông có nền kinh tế nông nghiệp
trồng lúa: Trung Hóa, Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập,…. Nền văn hóa phương tây
xuất hiện sớm nhất là văn hóa Hy Lạp và La Mã cũng có nguồn gốc từ phương
Đông, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nền văn hóa Ai Cập và Lưỡng Hà.
Văn hóa thể hiện giá trị vật chất và tinh thần , văn hiến thể hiện giá trị
tinh thần , văn vật thể hiện giá trị vật chất , văn minh thể hiện giá trị vật chất khoa học kỹ thuật
Văn hóa , văn hiến , văn vật mang tính lịch sử dân tộc , và gắn với
Phương Đông - nông nghiệp . Văn minh là sự phát triển giai đoạn quôc tế
thường gắn với Phương tây – đô thị III.
Vai trò của con người và vị trí chủ khách thể văn hóa
- Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa
- Con người là sản phẩm của văn hóa
- Con người là đại diện mang những giá trị văn hóa do minh sáng tạo ra , bị
những giá trị văn hóa tác động trở lại => khách thể
Con người Việt Nam : chủ khách thể của văn hóa Việt Nam - Yêu nước - Cần cù
- Ứng xử linh hoạt và mềm dẻo
- Tính chất tiểu nông , tâm lý bình quân , cào bằng, tác phong tùy tiện , thủ cựu , gia trưởng
- Vai trò cá nhân không được đề cao IV.
Các khái niệm tiếp xúc và giao lưu văn hóa
- Giao lưu và tiếp xúc văn hóa là sự vận động thường xuyên của xã hội , gắn bó
với tiến hóa xã hội những cũng gắn bó với sự phát triển của văn hóa , là sự vận
động thường xuyên của văn hóa .
- Giao lưu văn hóa là kết quả của trao đổi , vừa là chính bản thân của sự trao đổi .
Những yếu tố lạc hậu,bảo thủ sẽ dần dần mất đi thay thế bằng những yếu tố
được coi là văn minh,hiện đại.
- Giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi dân tộc
chủ thể . Quá trình này luôn luôn đặt mỗi dân tộc phải xử lý tốt mối quan hệ
biện chứng giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh .
- Tiếp biến và giao lưu văn hóa là quy luật phát triển của văn hóa , quy luật tất
yếu của đời sống , một nhu cầu tự nhiên của con người hiện tại
1. Giao lưu văn hóa Trung Hoa
Sự giao lưu tiếp biến giữa văn hóa VN và văn hóa Trung Hoa là một sự giao
lưu,tiếp biến rất dài qua nhiều thời kỳ lịch sử VN.Cho đến nay,không một nhà
văn hóa nào phủ nhận sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đến văn hóa
VN.Qúa trình giao lưu tiếp biến ấy diễn ra theo cả hai đường cưỡng bức và không cưỡng bức.
Trung Hoa là một trong nhưng trung tâm văn hóa lớn ở phương Đông, có nền
văn hóa lâu đời và phát triển rực rở.Văn hóa Trung Hoa là nền văn hóa nông
nghiệp xuất phát từ nông nghiệp xuất phát từ nông nghiệp trồng khô (trồng kê
và lúa mạch) trên đất hoàng thổ của vùng trung du Hoàng Hà. Do nắm trên ngã
ba trong đại lục Châu Á và miền bình nguyên Âu - Á, nên văn hóa Trung Hoa
vừa mang những đặc điểm văn hóa du mục của các dân cư phương bắc và tây
bắc, vừa thấu hiểu tinh hoa của văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước của các dân cư phương Nam.
Cùng với sự bành trướng về phương nam các triều đại phong kiến Trung Hoa,
đã diễn ra Trung hoa thâu hóa văn hóa phương nam, hán hóa các nền văn hóa
phương nam.Vị trí địa lí và những diễn biến của lịch sử đã tạo các điều kiện gặp
gỡ và tiếp xúc thường xuyên giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa.
Vấn đề đặt là trong cuộc tiếp xúc không cân sức này, người Việt Nam làm thế
nào để văn hóa dân tộc vẫn tồn tại và phát triển, vẫn khẳn định được bản sắc văn hóa của mình..
Giao lưu cưỡng bức diễn ra ở hai giai đoạn lịch sử điển hình: từ thế kỉ I đến thế
kỹ thứ X và từ 1407 đến 1427 suốt thiên niên sau công nguyên, các đế chế
Phương Bắc ra sức thực hiện các chính sách đồng hóa về phương diện văn hóa
nhằm biến nước ta trở thành một quận, huyện của trung Hoa. Từ 1407 đến 1427
là giai đoạn nhà Minh xâm chiếm Đại Việt , là kẻ thù tàn bạo đối với văn hóa
Đại Việt. Minh Thành tổ ban lệnh cho viên tướng Trương Phụ chỉ huy binh
tướng vào xâm lược Đại Việt: "Binh lính vào nước Nam, trừ sách vở và bản in
đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy, ngoài ra hết thải mọi sách vở khác, văn
tự cho đến ca lý dân gian hay sách dạy trẻ nhỏ... một mãnh một chữ đều phải đốt
hết. Khắp trong nước phàm những bia do người Trung Quốc dựng từ xưa đến
nay thì đều giữ gìn cẩn thận còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ chớ đê còn".
Giao lưu tiếp biến văn hóa một cách tự nguyện là dạng thức thứ hai của quan hệ
giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa..
Trước thời kỳ Bắc thuộc đã từng diễn ra giao lưu tự nhiên giữa dân tộc người
Hán với cư dân Bách Việt nghiên cứu lịch sử văn minh Trung Hoa người ta thấy
có nhiều yếu tố văn hóa phương Nam đã được người hán tiếp nhận từ cổ đại
những yếu tố này nhập sâu vào văn hóa hán, được hệ thống hóa, nâng cao "chữ
nghĩa hóa" rồi truyền bá trở lại phương nam dưới dáng vẻ mới..Hiện nay đã phát
hiện được trống đồng và nhiều đồ đồng Đông Sơn trên đất trung Hoa, đồng thời
cũng phát hiện nhiều vật phẩm mang dấu ấn trung hoa trong các di chỉ khảo cổ học ở Việt Nam.
.Ở thời kỳ độc lập tự chủ, nhà nước quân chủ Đại Việt được mô phỏng theo mô
hình nhà nước phong kiến trung hoa. Nhà lý, nhà trần về tổ chức chính trị xã hội
lấy cơ chế nho giáo làm gốc tuy vẫn chịu ảnh hưởng rất đậm của phật giáo đến
nhà lê đã hoàn toàn tự nguyện và chịu ảnh hưởng của nho giáo sâu sắc..
.Cũng cần nhận thức rõ rang ngay cả trong giao lưu cưỡng bức, người việt luôn
có ý thức chống lại sự đồng hóa về phương diện văn hóa, chuyển thế bị động
thành thế chủ động bằng cách bản địa hóa văn hóa hán để tự làm giàu cho bản
thân mình mà không bị đồng hóa về phương diện văn hóa..
Cả hai dạng thức của giao lưu tiếp biến văn hóa : văn hóa Việt Nam với văn hóa
Trung Hoa đều là nhân tố cho sự vận động của văn hóa Việt Nam ,người Việt
luôn có ý thức vược lên, thâu hóa những giá trị văn hóa trung hoa để làm giàu
cho văn hóa dân tộc và đã đạt được những thành tựu đáng kể trong giao lưu tiếp
biến với văn hóa trung hoa..
.Về văn hóa vật thể: người Việt đã tiếp nhận một số kỹ thuật trong sản xuất như:
kỹ thuật rèn, đúc sắt, gang để làm ra công cụ sản xuất và sinh hoạt, kỹ thuật
dùng phân để làm tăng độ mầu mở cho đất, dân gian gọi là "phân bắc", kỹ thuật
xây cất nơi ở bằng gạch ngối. Người Việt cũng học được kinh nghiệm dùng đá
đắp để ngân song biển, biến cải kỷ làm đồ gốm (gốm tráng men)....
.Về văn hóa phi vật thể: Việt Nam tiếp nhận ngôn ngữ của người Trung Hoa (cả
từ vựng lẫn chữ viết), tiếp thu hệ tư tưởng Trung Hoa cổ đại (nho gia, đạo gia)
trên tinh thần hỗn dung, hòa hợp vói tính ngưỡng bản địa và các hệ tư tưởng
khác, mô phỏng hệ thống giáo dục theo tinh thần nho giáo, tiếp nhận một số
phong tục lễ tết lễ hội,....
2, Giao lưu văn hóa phương Tây
Giao lưu và tiếp biến với văn hóa phương Tây đặc biệt ở nửa sau của thế kỷ XII
đã tạo bước chuyển có tính chất bước ngoặt trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam.
Giao lưu với văn hóa phương Tây đã từng phát triển rất sớm trong lịch sử.
Nghiên cứu văn hóa khảo cổ người ta thấy trong văn hóa Óc Eo có nhiều di vật
của cư dân La Mã cổ đại, chứng tổ họ đã có những quan hệ thương mại quốc tế
rộng rãi. Thế kỷ XVI , các linh mục phương Tây đã vào truyền giáo ở vùng Hải
Hậu (nay thuộc tỉnh Nam Định) và chúa Trịnh vua Lê ở Đàng ngoài cũng như
các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi nhà Tây Sơn đều có quan hệ phương Tây.
Tuy nhiên, giao lưu văn hóa toàn diện thực sự diễn ra khi Pháp xâm lược Việt Nam.
Qúa trình giao lưu văn hóa VN và văn hóa phương Tây giai đoạn này đã khiến
người VN thay đổi lại cấu trúc nền văn hóa của mình và đi vào vòng quay văn
minh công nghiệp.Diện mạo văn hóa VN thay đổi theo các phương diện:
-Chữ Quốc ngữ:chữ Quốc ngữ ra đời,từ chỗ là chữ để các giáo sĩ truyền bá đạo
Thiên chúa đã trở thành loại chữ được sử dụng phổ biến trong nhân dân.Hãy
cùng tìm hiểu sự ra đời của chữ Quốc ngữ.
Vào thế kỷ XVII,các nước phương Tây thường xuyên sang VN buôn bán qua
con đường biển.Tiếp theo đó là các vị giáo sĩ Bồ Đào Nha sang để truyền bá
Thiên Chúa Giáo.Để thuận lợi cho con đường giảng đạo và ghi chép lại tài liệu
cho người bản xứ,các giáo sĩ người Bồ Đào Nha này đã dùng kí tự trong bảng
chữ cái Bồ Đào nha,La tinh và Hi Lạp để phiên âm giọng người Việt.
-Sự xuất hiện của các phương tiện văn hóa như:nhà in,máy in ở VN..
-Sự xuất hiện của báo chí,nhà xuất bản
-Sự xuất hiện của một loạt các thể loại ,loại hình văn nghệ mới như tiểu
thuyết,thơ mới,điện ảnh,kịch nói,hội họa…
Điều đáng quan tâm ở đây là sự tiếp xúc này xảy ra trong điều kiện nước ta vừa
phải đánh đuổi quân xâm lược,vừa phải tiếp nhận nền văn hóa Tây phương tiên
tiến để hiện đại hóa đất nước.Chỉ trong một thời gian ngắn mà diện mạo đất
nước đã thay đổi hẳn,rời bỏ phương thức sản xuất châu Á. V.
Những thành tố của văn hóa 1.Phật giáo: Một số nét chính: a.Người sáng lập:
Siddhartha Gautama sinh năm 563 TCN tại Lapilavastu.Ông vốn là hoàng tử
của nhà vua Sat đô đa na,nước Capilavatu(ngày nay là vùng đất bao gồm một
phần miền nam nước Nepan và một phần các bang Utta Pra đe sơ và Bida của
Ấn Độ).Năm 29 tuổi,ông bỏ cuộc sống giàu sang ở cung điện và gia đình đi tìm
cho mình con đường giải thoát.Năm 35 tuổi ông đã tìm ra được một con đường
gọi là Buddla nghĩa là giác ngộ,mà người ta hay gọi đó là Bụt hay là Phật.Về
sau các đệ tử tôn ông là Sakia Muni.Quãng đời còn lại,Phật đi các nơi để truyền
bá học thuyết của mình.Năm 80 tuổi Phật qua đời. b.Học thuyết Phật giáo:
-Học thuyết:chân lí về nỗi đau khổ và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ.Chân lí ấy
được thể hiện trong tứ diệu đế:khổ đế,tập đế,diệt đế,đạo đế.
-Thuyết nhân duyên:nhân là nguyên nhân.Duyên là những điều kiện để sự việc
xảy ra.“Mọi việc trên đời xảy ra đều do nhân duyên mà thành”.Có nhân thì ắt có quả.Gieo gì gặt nấy.
-Thế giới, vũ trụ, theo quan niê •m Phâ •t giáo, là luôn vâ •n đô •ng, biến đổi, các biến
đổi diễn ra nhanh như chớp mắt, và thế giới thì không có trước, không có sau,
vô thủy, vô chung. Đó cũng chính là lẽ vô thường, tức không có gì là tồn tại cố
định, mà có đó, mất đó.Con người cũng thuô •c dòng chảy không ngừng đó, nên
không gì là bản thân ta cả, tức vô ngã. Những biến đổi này, nói theo ngôn ngữ
hiê •n đại, là do tự thân vâ •
n đô •ng, không xuất phát từ bên ngoài, mà từ lẽ nhân
duyên, theo luâ •t nhân quả, nghiê •p báo. Tùy thuô •c vào nghiê •p báo mà biến đổi
của các sinh linh diễn ra trong cõi phàm và siêu phàm, hoán chuyển từ cõi này
sang cõi kia, đó là luân hồi.
-Nhân sinh quan Phâ •t giáo xuất phát từ quan niê •m cho rằng đời là bể khổ, và
nguyên nhân của nó là sinh, lão, bê •nh, tử, là những ham muốn nhục dục, xuất
phát từ sự che lấp trí tuê • bởi ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức), làm cho ta cố
chấp trong viê •c phân biê •t cái ta và cái khác ta, dẫn đến thái đô • “ngã chấp”, trọng
cái ta, khiến con người ta vô minh. Muốn thoát khỏi bể khổ thì phải diê •t dục,
nhẫn nhục, từ bi, hỉ xả, hy sinh, đi theo con đường của bát chánh đạo: chánh
kiến, chánh tư duy, chánh nghiê •p, chánh ngữ, chánh mê •nh, chánh tinh tiến,
chánh niê •m, chánh định.
Những giáo lý mang nă •ng tính triết lý, đạo đức này đã có mô •t ảnh hưởng sâu rô •
ng lên phong tục, tâ •p quán, văn hóa, văn minh của nhiều dân tô •c, trong đó có Viê • t Nam ta.
c.Sự du nhập của Phật giáo vào VN:
-Ban đầu Phật giáo du nhập vào VN qua con đường biển của các thương gia người Ấn.
-Ở văn hóa Óc Eo,người ta tìm thấy sự hiện diện của cả Ấn Độ giáo và Phật giáo.
-Ở văn hóa Chăm pa:Phật giáo được định vị bởi ngôi chùa ở Đồng Dương thờ Laksmidralokeevara.
-Ở Giao Châu với nền văn hóa Kinh:từ thế kỉ II,đã có các tăng sư như:Khương
Cư người Ấn Độ,Ma Ha Kì Vực người Trung Quốc vào truyền đạo.
-Năm 580,thiền sư Tỳ ni đa lưu chi lập thiền phái đầu tiên mang tên ông.Ngôi
chùa Dâu,Bắc Ninh-ngôi chùa đầu tiên ở VN là nơi ông sáng lập thiền phái và tu
hành.Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi vốn mang nhiều yếu tố Mâ •t giáo. Mâ •t giáo
quan niê •m trong vũ trụ có mô •t lực lượng siêu nhiên mà nếu biết sử dụng, người
tu hành sẽ bước mau trên con đường thành đạo, có thể là tức thời. Mâ •t giáo chú
trọng cúng bái, thần chú, ấn quyết. Sấm vĩ là sự suy trắc về tương lai trên cơ sở
âm dương, ngũ hành tương khắc. Phong thủy là môn thuâ •t xem xét địa thế trong
tương quan với thành bại, vâ •n mê •nh của công viê •c, con người, quốc gia, trên cơ
sở sự sắp xếp tinh tú trên bầu trời và “long mạch” trên mă •t đất. Chính sự kết
hợp của Mâ •t giáo, sấm vĩ, phong thủy đã đẩy mạnh vai trò xã hô •i của Phâ •t giáo
trong những thế kỷ trước khi giành được đô •c lâ •p, và ngay cả ở buổi đầu của kỷ nguyên này.
-Ngoài ra còn dòng thiền Vô Ngôn Thông,dòng thiền do sư Thảo Đường lập ra
và phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông lập ra.Phâ •t giáo Trúc Lâm chủ
trương nhâ •p thế, đạo Phâ •t phụng sự đời sống, đời sống tâm linh giải thoát đời
sống xã hô •i, Phâ •t giáo đời Trần thâ •t sự tạo nên mô •t sự thống nhất chính trị,
thống nhất tinh thần dân tô •c trên phương diê •n quốc gia mô •t cách rô •ng khắp. Yếu
tố liên kết nhân tâm của Phâ •t giáo Trúc Lâm đã khiến thời kỳ này có mô •t nền
tảng chính trị bình dị, dân chủ, thân dân. Mô •t tiếng “đánh” đồng lòng của Hô •i
nghị Diên Hồng và ba lần liên tục đánh bại quân xâm lược nhà Nguyên, chính là
thể hiê •n sự thống nhất dân tô •c trên tinh thần Phâ •t giáo
-Trong buổi đầu nhà Lý, các thiền sư còn can dự trực tiếp vào công viê •c chính
sự. Triều đình cần đến sức học, tài ngoại giao, khả năng giáo dục, sự liên kết
nhân tâm của họ.Nhưng đến đời Trần, tình hình đã khác đi. Các vua Trần là
những người có tri thức, lại uyên bác Phâ •t học. Nhưng dù vị trí trực tiếp trong công viê •
c chính sự của các tăng sĩ không còn nữa, Phâ •t giáo lại vẫn phát triển
rực rỡ hơn bao giờ hết, ảnh hưởng trực tiếp lên chính trị, kinh tế văn hóa, xã hô •i
đời Trần, trở thành mô •t tinh thần dân tô •c thời bấy giờ.
-Từ giữa thế kỉ XIV,Phật giáo mới bắt đầu suy yếu.
d.Những ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa VN:
- Vào Việt Nam rất sớm theo con đường hòa bình , được người dân tiếp nhận
một cách tự nguyện và được bén rễ rất sớm trong đời sống
- Phật giáo nhập thế , có vai trò rất lớn trong việc ổn định xã hội , phát triển
văn hóa và bảo vệ đất nước trước các thảm họa của ngoại xâm
- Mặc dù chịu nhiều biến động chính trị nhưng mà xuyên suốt quá trình lịch sử
phật giáo vẫn gắn bó sâu sắc với người dân Việt Nam , bộ phận không thể
thiếu . Phật giáo ở Việt Nam được Việt hóa theo hướng tín ngưỡng hóa
- Tín ngưỡng hóa : trong các chùa thờ đồng thời phật lẫn các vị thần siêu nhiên 2.Nho giáo. a.Người sáng lập: -Khổng Tử(551-479 TCN)
Khổng Tử tên Khâu,tự là Trọng Ni,người nước Lỗ.Ông làm quan nước Lỗ được
3 năm và 13 năm đi chu du các nước,phần lớn cuộc đời KT dành cho dạy học.
-Mạnh tử(372-289) tên Kha.người đất Châu.Ông là học trò của Tử Tư.Ông
muốn học để ra làm quan nhưng không toại nguyện.Khi về giá cùng một số
huynh đẹ thân tín ông mở trường học.Tất cả các sách của ông và một số vua các
nước chư hầu,các học trò thân thiết được ghi lại thành sách gọi chung là Mạnh Tử. a.1.Giáo lý nguyên sơ:
-Quan tâm đến đạo đức để giữ cho xã hội bình an.
-Coi trọng nghĩa,lễ,trí,tín,dung nhưng nhiều hơn cả là chữ nhân
-Nhân theo ông là lòng thương người:điều mình không muốn thì không làm cho
ngươi khác,mình muốn lập thân thì cũng giúp cho người khác lập thân,mình
muốn thành đạt thì cũng giúp cho người khác thành đạt.
-Chủ trương của ông là dùng nhân nghĩa để cai trị dân: “Cai trị dân mà
dùng mệnh lệnh,đưa dân vào khuôn phép mà dùng hình phạt thì dân có thể tránh
được tội lỗi nhưng không biết liêm sỉ.Cai trị dân mà dùng đạo đức,đưa dân vào
khuôn phép mà dùng lễ thì dân sẽ biết liêm sỉ và thực lòng,quy phục…”
-Mạnh Tử có một lòng tin ở mệnh trời.Về đạo đức:đề cập đến tính thiện:”nhân
chi sơ,tính bản thiện”.
-Về đường lối cai trị:tiếp nối chủ trương nhâ chính của Khổng Tử.Nhưng không
chủ trương khôi phục trật tự xã hội Tây Chu mà chủ trương thống nhất.
b.Ảnh hưởng đến văn hóa VN:
-Buổi ban đầu:được truyền vào Giao Châu từ rất sớm,chủ yếu bởi chính quyền
đô hộ nên sự tiếp nhận của người dân rât dè dặt.
-Suốt thời Bắc thuộc,Nho giáo phát triển giữa hai tâm lí xã hội,người Hán thì
muốn Hán hóa Giao Châu mà người Việt thì chống lại Hán hóa.Như vậy có thể
nói,vào thời Bắc thuộc,Nho giáo có du nhập vào VN nhưng có vị thế và chưa
bắt rễ được vào đời sống của người dân.
-Sau thời Bắc thuộc,dưới các triều đại Ngô,Đinh,Tiền Lê,Nho giáo chưa phát triển.
-Đến nhà Lý,giai cấp cầm quyền cai trị dựa vào Nho giáo(như lập văn miếu
quốc tử giám).Nho giáo bắt đầu có vai trò lớn trong xã hội.Thứ nhất,về mặt thi
cử: cho xây dựng văn miếu,lập đền thờ Chu Công,Khổn Tử và Tứ phối,. mở
khoa thi đầu tiên vào 1075 để chọn người tài.Vào 1252,lập Quốc học việc .Về
mặt tư tưởng:quán triệt tư tưởng mệnh trời.Đề cao nhân,nghĩa,lễ,trí,tín.Trong
nhân dân Phật giáo vẫn phổ biến hơn.
-Thời Tiền Lê:chế độ thi cử Nho học ổn định và phát triển.Nhà nước lấy Nho
giáo làm tư tưởng trị dân,chỉnh đốn bộ máy thống trị.Khoa cử thúc đẩy,tầng lớp
Nho sĩ đông đảo.Người đỗ đạt được làm lễ vinh quy,khắc tên trên bia đá…Nho
giáo trở thành thứ tôn giáo độc tôn.
-Thời Nguyễn:nhà Nguyễn càng chú trọng hơn nữa,cho Nho giáo là quốc
giáo.Dùng nó để điều hành bộ máy cai trị.Mở rộng hệ thống trường học đến
phủ,huyện…Tuy nhiên đã bắt đầu suy yếu.
-Thế kỉ XVI-XVII:Nho giáo vẫn là công cụ để giai cấp cầm quyền cai trị nhà
nước và ổn định trật tự xã hội. c.Phân tích: -Về mặt tư tưởng:
- Du nhập sớm , phát triển mạnh thời kỳ đất nước tự chủ , góp phần mở mang
bờ cõi , thống nhất đất nước .
- Được thay đổi , biến hóa , tiếp thu có chỉnh sửa cho phù hợp vs đất nước
- Vd : trung, hiếu nhưng mà ở Việt Nam còn phụ thuộc vào tình hình , hoàn
cảnh đất nước ( thời kỳ cần vương ) . Hiếu với cha mẹ tiểu hiếu , hiếu với nước đại hiếu
- Thủ cựu , bảo thủ , máy móc , rập khuôn và thường lệ thuộc vào bên ngoài
- Bổ sung tính tôn ti,trật tự xã hội do Nho giáo đem lại
- Nâng cao nhận thức của người dân theo tầm vĩ mô
- Đưa vào những suy luận logic,có lý tưởng củng cố tư tưởng cào bằng,cho qua của dân gian.
-Về mặt bộ máy cai trị:
+Từ thời độc lập,bộ máy phong kiến VN đã tiếp nhận mô hình bộ máy cai trị
phong kiến tiên tiến hiệu quả của TQ. Tính từ thời Lý chỉ có hai bộ là Hình và
Lễ.Đến thời Trần đã có 4 bộ Hình,Lại,Binh,Bộ.Đến thời Lê đã tăng lên 6
bộ:Lại,Lễ,Bộ,Binh,Công,Hình. Về giáo dục - đào tạo
Kể từ khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam vào thời đầu Công nguyên thì nền
học vấn theo Nho học (bằng chữ Hán) cũng bén rễ ở Việt Nam. Đến đây thì văn
hóa truyền thống ở Việt Nam được bổ sung thêm trí thức Hán học. Thế kỉ X,
Nho học tiếp tục phát triển trong văn hóa Đại Việt. Kể từ 1075, nhà nước mở
khoa thi và từ thời Trần trở đi, các khoa thi trở nên đều đặn. Nho sĩ Việt Nam
xưa học Tứ thư – Ngũ kinh chủ yếu vẫn là để làm quan. Tuy vậy, trong lịch sử
Nho học Việt Nam cũng có nhiều nhà nho nổi danh với các công trình và thành
tựu nghiên cứu Nho học. Trong số ấy phải kê đến Lê Quý Đôn (1726-1783),
Ngô Thì Nhậm (1746-1803), Nguyễn Huy Oánh (1713-1798), Nguyễn Du (1765-1820).
Về văn học – nghệ thuật Ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc – và nói chung
trong một thời gian dài Nho giáo được coi là ý thức hệ chính thống. Vì vậy Nho
giáo chi phối văn học nghệ thuật. Nghệ thuật Việt Nam cả hình khối lẫn diễn
xướng đều chịu chi phối mạnh mẽ. Quan niệm CÁI ĐẸP, CÁI HAY của Nho
giáo cũng chi phối ngòi bút. Văn chương phải là để giáo hóa, có quan hệ đến thế
đạo, nhân tâm, có tác dụng tu dưỡng tính tình nên phải có nội dung đạo lý.
Trong suốt thời kì phong kiến Việt Nam, dòng văn học cổ điển theo Nho giáo
tồn tại song song với dòng văn học dân gian. Nhìn chung, Nho giáo đã kìm hãm
sự phát triển của văn hóa nghệ thuật Việt Nam cổ trung đại.
3. Tín ngưỡng phồn thực
- Thực chất của tín ngưỡng phồn thực là khát vọng cầu mong sự sinh sôi nảy nở
của con người và tạo vật, lấy các biểu tượng về sinh thực khí và hành vi giao
phối làm đối tượng. Tín ngưỡng này có mặt rất sớm trong cơ tầng văn hóa ĐNA
cổ đại nhưng có sự biến thiên khác nhau giữa các vùng, do ảnh hưởng có văn
hóa Hán nhiều hay ít . Nó hội nhập và đan xen với các loại hình văn hóa nghệ thuật khác
- Với người Việt, dấu vết của tín ngưỡng phồn thực còn lại cho chúng ta thấy nó
từng có mặt từ thời xa xưa. Tượng linga, yoni bằng đất nung tìm thấy ở di tích
Mả Đồng ( Hà Tây), tượng nam nữ giao hợp trên nắp thạp đồng Đào Thịnh,…
chính là bằng chứng cho thấy sự gắn bó của tín ngưỡng này từ thời xa xưa với cư dân nơi đây
- Trong nghệ thuật, tranh dân gian Đông Hồ của 2 bức tranh phảng phất hình
bóng của tín ngưỡng này. Đó là bức tranh hứng dừa và đánh ghen. Điêu khắc
đình làng của 1 số ngôi đình như đình Phùng ( Hà Tây), Đệ Tứ ( Nam Định),…
còn khắc chạm hình ảnh nam nữ đùa giỡn nhau khi tắm ở hồ sen, hay đùa giỡn
nhau trong cơ thể trần đầy gợi cảm
- Trong VHDG, số lượng câu đố mà ngta cho là đố thanh giảng tục, đố tục giảng
thanh chính là lưu thanh sót lại của tín ngưỡng phồn thực thời xa xưa. Trong
văn học thành văn, từ Nguyễn Du đến Hồ Xuân Hương đã có những tác phẩm
tràn đây tính nhân văn, khi vẽ lên những dáng vẻ đẹp đẽ, khỏe mạnh của cơ thể con người
- Đáng lưu ý là sự tồn tại của tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội cổ truyền. Nhân
vật phụng thờ của các lễ hội cổ truyền một số làng quê chính là các biểu tượng
của tín ngưỡng phồng thực như ông thánh Bôn mà 1 số làng quê ở Thanh Hóa
thờ phụng,…Tín ngưỡng phồn thực tồn tại đậm đặc nhất là các trò diễn, trò chơi
của một số lễ hội cổ truyền. Có thể kể đến những trò diễn gợi bong phảng phất
tín ngưỡng này như trò chen của lễ hội làng Nga ( Bắc Giang), những trò diễn
mô tả lại hành vi giao phối bằng các biểu tượng như trò múa Mo ở Sơn Đồng
( Hoài Đức, Hà Tây ),…..
- Qua biến thiên lịch sử, tín ngưỡng phồn thực đã trở thành trầm tích văn hóa
trong làng văn hóa Việt Nam
3. Tín ngưỡng thờ thành Hoàng Làng
- Là một từ Hán, thành hoàng có nghĩa gốc ban đầu là hào bao quanh thành, nếu
hào có nước sẽ gọi là trì ( thành trì ). Thành hoàng làng là vị thần bảo trợ thành
quách cụ thể. Tục thờ vị thần bảo trợ thành quách - tức thần thành hoàng đã có
ở Trung Quốc từ xưa, nói như Phan Kế Bính trong “Việt Nam phong tục” là có
từ thời Tam Quốc. Dấu tích của việc thờ cúng này ở Trung Quốc ngta hay nhớ
tới sự kiện năm 550 Mộ Dung Nghiễm thờ thần thành hoàng. Ở VN, thời Bắc
thuộc, Lý Nguyên Gia, sau đó là Cao Biên đã coi thần song Tô Lịch làm thần
thành hoàng làng Đại La. Ở kỉ nguyên độc lập, các vương triều như Lí, Trần, Lê
vẫn duy trì tục thờ thần thành hoàng của thành Thăng Long. Nhà Nguyễn cho
xây các miếu thờ thành hoàng ở các tỉnh và lập bài vị thờ thành hoàng ở kinh đô Huế
- Trong khi đó thành hoàng được phụng thờ ở các làng quê lại là một dòng chảy
khác của tín ngưỡng thờ thành hoàng làng. Với người dân ở cộng đồng làng xã,
vị thần thành hoàng làng được coi như một vị thánh. Mỗi làng quê có một vị
thánh của mình: trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ. Với
các vương triều, vị thành hoàng làng được xem như một “viên chức” thay mặt
triều đình, nhà vua coi sóc, chăm nom một làng quê cụ thể, bởi “viên chức” này
do nhà vua đưa về các làng quê bằng một quyết định cụ thể: Sắc phong (còn gọi
là sắc thần). Các vương triều khác nhau sẽ có các sắc phong thần khác nhau.
Một vị thành hoàng có thể có nhiều sắc phong khác nhau. Ngay một triều đại
cũng có thể phong sắc nhiều lần cho một vị thần, nhưng số mĩ tự thì lần sau bao h cx gia tăng hơn lần trc.
- Trong sự phát triển của tín ngưỡng thờ thành hoàng đáng chú ý thì là sự kiện
năm 1572 nhà Lê sai Hàn lâm viện đông các đại học sĩ, tiễn sĩ Nguyễn Bính xác
định lại thần tích các vị thần ở làng quê, do dân quê khai báo nộp về cho triều
đình. Như thế, dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, Nguyễn Bính đã biên
soạn lại các thần tích cho thành hệ thống. Cần lưu ý là lời khai của dân gian
thực chất là quá trình sang tạo của dân gian để nhằm thiêng hóa nhân vật được
phụng thờ. Toàn bộ vốn văn hóa mà người dân có được sẽ được dùng trong quá
trình sang tạo này. Thành thử, trong thần tích các vị thần có nhiều lớp văn hóa
từ các mảnh vụn của thần thoại đến văn hóa Nho giáo, Phật giáo, … Dưới bàn
tay của Nguyễn Bính, thần tích - bản sang tạo này của dân gian được nhào nặn
dưới ánh sáng của tư tưởng Nho giáo. Văn bản cố định này được đưa về các
làng quê lưu trữ trong đình làng. Và một lần nữa thần tích lại được sinh thành
trong dân gian, bằng lời kể và trí tưởng tượng dân gian nhưng khởi phát của quá
trình sinh thành này lại bắt đầu từ các nhà Nho- nhân vật sang tạo văn hóa ở các làng quê
- Trong các thành hoàng được thờ phụng, có rất nhiều các nhân vật lịch sử - văn
hóa. Có các vương triều hoặc người dân ở các làng quê đều đưa những nhân vật
lịch sử - văn hóa vào làm thành hoàng. Nói cách khác, các nhân vật lịch sử -
văn hóa của dân tộc có sự hóa than vào các thành hoàng làng.
- Thành hoàng ở các làng quê được thờ phụng trong đình làng và miếu như Phan
Kế Bính trong “ Việt Nam phong tục” đã ghi: đình là nơi thờ vong, miếu là nơi
quỷ thần bằng y. Thành hoàng của người Việt ở Nam bộ chỉ có 1 thiết chế thờ phụng mà ko có miếu
- Thành hoàng làng là nhân vật trung tâm của một sinh hoạt văn hóa mà các làng
quê cũng như các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian gọi là lễ hội. Đó là ngày
tưởng niệm vị thánh của làng. Nói cách khác, thành hoàng như một thanh nam
châm hút all các sinh hoạt văn hóa ở các làng quê để trình diễn trong một ngày
hay vài ngày tùy theo tiến trình ngày hội. Đối với người dân, thành hoàng là chỗ
dựa tinh thần, nơi gửi gắm niềm tin cho họ, giúp họ vượt qua những khó khăn
của cuộc đời đầy song gió. 4. Lễ hội
- Cư dân việt và cư dân các dân tộc ít người ở Việt Nam là những cư dân nông
nghiệp sống bằng nghề trồng lúa nước. Vòng quay của thiên nhiên và mùa vụ
tạo ra trong họ những nhu cầu tâm linh. Khoảng thời gian nghỉ ngơi này là dịp
để người dân vừa cảm ơn thần linh đã phù hộ cho một mùa màng đã qua, vừa
cầu xin thần linh phù hộ cho một mùa màng sắp tới. Dần dà, biến thiên thời gian
đã lắng đọng nhiều phù sa văn hóa trong lễ hội. Sinh hoạt văn hóa ấy của cư dân được gọi là lễ hội.
- Lễ hôi bao h cũng gắn bó với một cộng đồng dân cư nhất định. Nếu Tết âm
lịch là sinh hoạt của cả cộng đồng thì ngày hội là ngày Tết của 1 cộng đồng dân
cư nhất định nào đó. Lễ hội gắn bó với từng làng quê, các làng quê khác nhau
thì ngày hội cũng khác nhau. Mặt khác, lễ hội mang tính tộc người rất rõ. Các
dân tộc khác nhau sẽ có những lễ hội khác nhau.
- Nhân vật trung tâm được thờ phụng của cộng đồng là nhân vật chính của ngày
lễ hội. Tất cả nghi lễ, lễ thức trò diễn, trò chơi đều hướng tới nhân vật được thờ
phụng này. Tùy theo từng tiêu chí phân loại mà ngta có thể chia hệ thống nhân
vật thờ phụng này thành các loại: nhân thần và thần tự nhiên; thành hoàng làng
và các phúc thần; nam thần và nữ thần cùng các Mẫu ….
- Đã thành một ước lệ, người ta chia lễ hội thành 2 bộ phận: lễ và hội. Phần lễ là
các nghi thức được thực thi trong lễ hội, thường là có sự giống nhau trong các lễ
hội, theo điều lệ các triều đình phong kiến. Tuy nhiên phần lễ đôi khi cũng có sự
khác nhau giữa các vùng. Phần hội là phần khác nhau giữa các lễ hội. Thành tố
đáng lưu ý trong phần hội là các trò diễn. Trò diễn là hoạt động mang tính nghi
lễ, diễn lại toàn bộ hay một phần hoạt động của cuộc đời nhân vật phụng thờ.
Trình tự của một trò diễn bao h cx đi từ nơi thờ vọng đến nơi gắn bó với một sự
kiện nào đó trong cuộc đời vị thánh.
- Các trò diễn trong lễ hội là các lớp văn hóa tín ngưỡng của các thời kì lịch sử
khác nhau lắng đọng lại, phản ảnh những sinh hoạt của cư dân nông nghiệp sống
với nghề trồng lúa nước, gắn kết vs nhân vật phụng thờ. Cùng vs các trò diễn là
trò chơi. Các trò chơi trong lễ hội thường không mang tính nghi lễ, nhưng cũng
có những trò chơi vốn trước kia là những trò diễn mang tính nghi lễ nhưng tính
nghi lễ đã mờ nhạt hoặc đứt gãy. VD như trọ chọi gà , đấu vật.
- Cuối cùng là thức cúng trong lễ hội. Có hai loại thức cúng: 1 là loại thức vô
cùng phổ biến ở all các lễ hội như hương, hoa quả…; 2 là loại thức cúng mang
tính nghi lễ, chỉ có ở 1 lễ hội riêng biệt, như món bánh trôi ở hội đền Hát Môn…
Không gian cuả lễ hội, vì thế bao gồm cả trong di tích lẫn ngoài di tích. Tùy lễ
hội ở từng địa phương, từng làng mà không gian sẽ có những nét kháu nhau.
- Giá trị của lễ hội chính là giá trị cộng cảm và giá trị cộng mệnh. Ngày lễ hội là
thời gian cư dân tụ họp để tưởng nhớ vị thánh của làng. Vì thế, đây là “một sinh
hoạt tập thể long trọng, thường đem lại niềm phấn chấn cho tất cả mọi người,
cho mỗi một con người. Những quy cách, những nghi thức của lễ hội mà mọi
người phải tuân theo, tạo nên niềm cộng cảm của toàn thể cộng đồng và do đó
thấy mình vươn lên ở tầm vóc cao hơn, với một sức mạnh lớn hơn.
- Mặt khác, lễ hội còn là một bảo tàng văn hóa, một thứ bảo tang tâm thức lưu
trữ các giá trị văn hóa, các sinh hoạt văn hóa. Đó có thể là các trò chơi, các tín
ngưỡng, các hình thức diễn xướng dân gian,… Trong các văn hóa làng, lễ hội là
một thành tố có tiềm năng to lớn
- Tuy nhiên, cũng cần thấy trong lễ hội có cả các yếu tố phí văn hóa, phần văn
hóa được lưu giữ. Đó là những yếu tố mê tín dị đoan cần loại bỏ khi kế thừa kho
tang lễ hội cổ truyền để xây dựng 1 nền văn hóa VN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc