



















Preview text:
Đề cương phát triển NL giao tiếp cho học
sinh trong dạy học tiếng việt Câu 1
1.1. Năng lực giao tiếp.
a, Năng lực ngôn ngữ:
Năng lực ngôn ngữ được nghiên cứu bởi Chomsky thường được phân biệt với hiệu suất ngôn ngữ.
NL ngôn ngữ là những hiểu biết hay những tri thức về ngôn ngữ đảm bảo cho việc diễn giải
một vấn đề, truyền đạt một tư tưởng, thông điệp, bộc lộ chính xác và tinh tế cảm xúc. NL
ngôn ngữ là năng lực gắn liền với khả năng hành dụng hay sự sẵn sàng biểu đạt suy nghĩ cảm
xúc, nhận thức về thế giới xung quanh bằng ngôn ngữ, lời nói. Năng lực ngôn ngữ đảm bảo
cho học sinh có tri thức tiếng việt sơ giản để thực hiện các hoạt động giao tiếp.
Trong môn Tiếng Việt ở cấp Tiểu học, việc hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ cho
học sinh được thể hiện qua 5 mạch kiến thức:
+ Ngữ âm và chữ viết: dạy cho học sinh về âm và vần, chữ, dấu thanh, về các quy tắc chính
tả như phân biệt c/k, ng/ngh,…
Một người muốn vận hành được ngôn ngữ, muốn nói được, viết được phải có hiểu biết về ngữ
âm, phải biết được âm và vần, biết cách phát âm và các quy tắc chính tả.
VD: Khi học bài 1 “a,c”,Sgk, TV 1, Cánh diều, tập1. Để đọc được tiếng “ca” học sinh cần có
kiến thức về âm và vần, biết cách phát âm đúng các tiếng “c”, “a”, ghép tiếng thành từ “cờ-a-
ca”. Để viết được tiếng “ca” thì học sinh cũng cần phải nắm được cách viết chữ “c”, chữ “a”,
cách nối chữ “c” với chữ “a” như thế nào để tạo được tiếng “ca”.
Hay ví dụ như: Khi học bài 22 “ng/ngh” để viết đúng, viết được những tiếng chứa ng/ngh như
“ngà”, “nghé” thì học sinh cũng cần phải nắm được quy tắc chính tả phân biệt ng/ngh.
+ Từ vựng: bao gồm mở rộng vốn từ và nghĩa của từ (từ có nghĩa giống nhau, từ có nghĩa trái
ngược nhau, từ đa nghĩa (nghĩa gốc, nghĩa chuyển),…)
Muốn giao tiếp được thì học sinh cần phải có được một lượng từ vựng nhất định. Chương
trình sách giáo khoa tiếng việt thiết kế các bài học theo chủ điểm và mở rộng vốn từ theo từng
chủ điểm để trao dồi cho học sinh vốn từ vựng cần thiết khi thực hành giao tiếp ở chủ đề đó.
Ví dụ: Sách giáo khoa thiết kế mở rộng vốn từ theo chủ điểm “Gia đình” lớp 2, để khi học bài
17 “Chị ngã em nâng” thì học sinh có đủ vốn từ khi nói về hoạt động, việc làm và tình cảm với anh, chị, em.
Khi đã có được vốn từ vựng rồi thì cũng cần phải hiểu nghĩa của nó. Chương trình sách giáo
khoa còn thiết kế thêm các phần chú thích, giải thích, các bài tập về nghĩa của từ như từ có
nghĩa giống nhau, từ có nghĩa trái ngược nhau, từ đa nghĩa,…để dạy cho học sinh về nghĩa
của từ, giúp cho các em có được vốn từ vựng phong phú hơn. * Ngữ pháp: - Từ loại:
+ Lớp 2 đến lớp 3: từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, từ chỉ đặc điểm
+ Lớp 4: danh từ, động từ, tính từ
+ Lớp 5 học đại từ, kết từ - Câu:
+ Câu phân loại theo cấu tạo: câu đơn, câu ghép
+ Câu phân loại theo mục đích nói: câu kể, câu hỏi, câu khiến, câu cảm
- Dấu câu: dấu gạch ngang, dấu gạch nối (lớp 5)
Để có thể giao tiếp được tốt hơn thì việc nắm vững được các kiến thức ngữ pháp như sử dụng
dấu câu, biết được các từ loại (danh từ, động từ, tính từ, đại từ, kết từ) và các kiểu câu (câu
đơn, câu ghép, câu kể, câu cảm,…) của học sinh là hết sức cần thiết.
VD: Khi học xong bài Luyện từ và câu “Câu đơn câu ghép”, sgk, TV 5, Tập 2, tr11. Thay vì
chỉ có khả năng viết được những câu đơn chỉ có một cụm chủ vị thì bây giờ học sinh có thể
biết thêm và viết được các câu ghép hay dựa vào kiến thức về câu ghép (do 2 hoặc nhiều cụm
chủ vị tạo thành). Điều này phục vụ tốt cho các hoạt động giao tiếp (nói, viết) của học sinh.
+ Hoạt động giao tiếp: dạy cho học sinh các biện pháp tu từ: so sánh (lớp 3), nhân hoá (lớp
4), điệp từ - điệp ngữ (lớp 5)
Muốn viết được những câu văn, đoạn văn, bài văn hay, sinh động thì học sinh cần trang bị
cho mình vốn kiến thức về việc sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhận hoá, điệp từ, điệp ngữ.
VD: BT3, trang 40, SGK Cánh diều, Lớp 4, tập 1. Viết 1-2 câu tả đò vật, con vật, cây cối có
sử dụng hình ảnh nhân hoá.
Để học sinh làm được bài tập trên thì các em phải nắm được kiến thức về nhân hoá và các cách nhân hóa như:
- Dùng từ xưng hô của con người để gọi tên sự vật.
- Dùng từ ngữ đặc điểm chỉ hoạt động của người để tả sự vật.
- Trò chuyện với vật như trò chuyện với người.
+ Sử dụng phương tiện trực quan trong nói và nghe.
VD: Khi học bài trao đổi: “trao đổi với bạn về việc em mong muốn cha mẹ (hoặc người lớn)
hiểu và giúp đỡ em thực hiện nguyện vọng của mình”, SGK Tiếng Việt 5, tập 1, tr9 thì ngoài
việc nắm được vốn từ vựng nhất định, có kiến thức về ngữ pháp thì học sinh cũng cần biết sử
dụng các dẫn chứng, lý lẽ, tranh ảnh, sơ đồ minh hoạ,… để tăng thêm sức thuyết phục khi nói,
tăng thêm hiệu quả giao tiếp.
Việc nắm chắc kiến thức về ngôn ngữ giúp cho học sinh tự tin hơn, mạnh dạn hơn trong quá
trình thực hành giao tiếp, sẵn sàng biểu đạt suy nghĩ cảm xúc, nhận thức về thế giới xung
quanh bằng ngôn ngữ, lời nói.
b, Năng lực diễn ngôn.
Năng lực diễn ngôn được tổ chức CEFR coi
là tiêu chí cốt lõi để đánh giá trình độ ngôn ngữ
của một cá nhân, tập trung ở khả năng diễn đạt. Năng lực này thể hiện khả năng sắp xếp và
trình bày (diễn đạt) các từ ngữ, các câu, các đoạn sao cho mạch lạc hiệu quả.
Ví dụ: Thông qua bài đọc “sầu riêng” học sinh nắm được cách trình bày bài văn tả câu cây cối cho logic: Mở bài:
Năng lực diễn ngôn có mối quan hệ với hiểu biết về giao tiếp ( NL ngôn ngữ), được xác lập
khi ngôn ngữ được sử dụng, hay nói cách khác là biểu thị ngôn ngữ trong ngữ cảnh hoặc trong cách dùng.
Trong môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học, việc rèn luyện, phát triển năng lực diễn ngôn cho học
sinh được thể hiện thông qua việc thực hành các kỹ năng đọc, viết, nói – nghe với đa dạng các
hoạt động thực hành, các bài tập, các kiểu bài, các dạng thức khác nhau.
+ Hoạt động đọc: bao gồm đọc thành tiếng, luyện diễn cảm (luyện đọc nâng cao)
Trong hoạt động đọc (đặc biệt là đọc diễn cảm), năng lực diễn ngôn giúp cho học sinh hiểu và
thể hiện đúng sắc thái, cảm xúc của văn bản. Qua việc luyện đọc, học sinh không chỉ rèn
luyện phát âm, ngắt nghỉ đúng mà còn học cách cảm thụ văn học và diễn đạt cảm xúc thông
qua giọng đọc. Từ đó giúp cho người học giao tiếp hiệu quả, phù hợp và thuyết phục hơn. VD:
+ Hoạt động viết: bao gồm kỹ thuật viết và viết đoạn văn, bài văn (viết sáng tạo)
Trong hoạt động viết, năng lực này thể hiện ở khả năng tổ chức các ý tưởng theo trình tự hợp
lý, lựa chọn từ ngữ phù hợp, sử dụng câu văn linh hoạt để tạo nên đoạn văn, bài văn có tính
thuyết phục và hấp dẫn. Với học sinh tiểu học, việc rèn luyện viết đúng, đủ ý, diễn đạt logic
sẽ tạo nền tảng vững chắc cho kỹ năng viết học thuật và giao tiếp sau này. VD:
+ Hoạt động nói – nghe: bao gồm việc xây dựng bài nói, lựa chọn từ ngữ, lời nói sao cho phù
hợp, trình bày bài nói sao cho lưu loát, mạch lạc và dễ hiểu.
Trong hoạt động nói và nghe: Năng lực diễn ngôn giúp cho học sinh biết xây dựng bài nói có
cấu trúc rõ ràng, biết lựa chọn từ ngữ phù hợp với nội dung và đối tượng giao tiếp. Học sinh
biết cách nói lưu loát, diễn đạt tự nhiên, mạnh dạn và tự tin khi trình bày trước tập thể. Điều
này không chỉ góp phần phát triển năng lực giao tiếp mà còn rèn luyện cho học sinh sự tự tin
và kỹ năng thuyết trình – một kỹ năng mềm quan trọng trong học tập và cuộc sống.
Trong đó hs được thực hành với đa dạng các hình thức: như nói thì có nói độc thoại (các kiểu
bài trình bày, giới thiệu), có nói hội thoại như các bài trao đổi về một vấn đề,..nêu ý kiến bày
tỏ thái độ tán thành hoặc phản đối
Chương trình 2018 lấy kỹ năng giao tiếp, đọc, viết nói và nghe lammf trục chính xuyên suốt
cả 3 cấp học cấp tiểu học là cấp học nền tảng và phải dạy thường xuyên. Trong đó có những
kiến thức chỉ dạy ở tiểu học: kỹ thuật đọc (phát âm, cách nhấn giọng, ngắt nghỉ hơi,..) chỉ dạy
ở tiểu học. kỹ thuật viết. Và việc hình thành cho học sinh các kỹ năng này sẽ giúp cho học
sinh nắm được có nền tảng VD:
Như vậy, việc phát triển năng lực diễn ngôn trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh tiểu học là
việc làm hết sức cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho học sinh phát triển
năng lực giao tiếp một cách toàn diện.
c, Năng lực văn hóa - xã hội
Năng lực văn hoá – xã hội là khả năng áp dụng một tập hợp các kiến thức đa văn hóa, kỹ năng
và phẩm chất trong quá trình giao tiếp liên văn hóa gắn với điều kiện/ tình huống cụ thể của cuộc sống.
Trong các bài dạy về đọc, viết nói và nghe thò chương trình, sách giáo khoa đã rất chú trọng
đén các bài tập tình huống phù hợp với ngữ cảnh và văn hoá giao tiếp của người việt:
Vd: Chủ điểm: giao tiếp và kết nói. Giới thiệu các cách chào khác nhau ở mỗi quốc gia:
Tiếng việt lớp 2, tập2 kết nối tri thức, giới thiệu về cách chào hỏi
VD: Khi dạy giữ phép lịch sự khi nêu yêu cầu đề nghị. Sách giáo khoa dạy học cho học sinh
phải biết cách xưng hô phù hợp, thường xuyên có thói quen dùng từ VD:
- Giùm, giúp, làm ơn: văn hóa giao tiếp của người Việt.
- Từ địa phương hay dùng: dấu ấn của đặc trưng địa phương
Đây là dạy học sinh về bối cảnh văn hoá xã hội VD:
Con heo ăn bắp => Miền bắc
Con lợn ăn ngô => Miền nam
- Gồm các yêu tố cơ bản:
1. Ngôn ngữ - văn hóa: gồm kiến thức về mục từ vựng với ngữ nghĩa văn hóa xã hội.
VD: Từ chỉ sản xuất địa phương
Mục từ chỉ đặc điểm tính cách
+ “êm” ở An Giang => cô dạy êm quá!
+ Xưng hô ở Huế: “Mệ nội, mệ ngoại”
1. Ngôn ngữ xã hội và những kiến thức về mặt ngôn ngữ của các tầng lớp xã hội các thế hệ khác nhau.
VD: Trend => Từ dùng từ đệm trong câu mình hay nói nhưng chưa chắc người khác đã hiểu
+ Dùng ngôn ngữ bình dân phù hợp với chiến lược giao tiếp, môi trường giao tiếp
+ Hội thảo khoa học : Dùng thuật ngữ chuyên ngành, khoa học để diễn giải.
2. Kiến thức văn hóa đặc thù của một vùng miền thói quen truyền thống của họ, chuẩn mực
ứng xử, nghi thức, khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ của vùng đó. VD 1: - Cháu ăn cơm chưa?
- Dạ thưa bác cháu ăn cơm rồi.
=> Với miền bắc chưa đủ lễ phép phải thêm từ “ạ”. VD 2: Xưng hô - Đại từ xưng hô
- Danh từ chỉ quan hệ thân tộc - Dùng tên
VD3: M bắc xưng hô (cháu – bác)
VD 4: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” lớp 4
VD5: “ Người gian khoan” “Đường đi Sa Pa” “ Mùa hoa phố hội” “Độc đáo Tháp Chăm”
d. Năng lực chiến lược.
- Thể hiện ở khả năng lập kế hoạch và thực hiện/ vận hành phương tiện diễn ngôn theo cách
hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu giao tiếp
Sau khi học sinh có đầy đủ hiểu biết về ngôn ngữ và biết các quy tắc dùng từ đặt câu và biết
được mình sẽ sử dụng nó trong hoàn cảnh văn hoá xã hội nào rồi thì một điều cần dạy cho học
sinh nữa là chiến lược làm sao đề giao tiếp hiệu quả
VD: Khi dạy bài kiến em đi học, nói lời xin phép mẹ để chuyển sang lớp của thầy kiến
Cách 1: Cơ bản nhất là tất cả học sinh trong lớp phải biết nói lời xin phép một cách trực tiếp\
Con xin phép mẹ chuyển sang lớp của thầy kiến
Nhưng để đa dạng hoá lời nói để cho Hs biết rằng có thể nói với nhiều cách khác nhau và để
cho lời xin phép của mình trở nên hiệu quả hơn thì giáo viên có thể gợi ý để học sinh tự tìm
kiếm hoặc giáo viên gợi ý để hs thể hiện 2 cách nói còn lại
Cách 2: cùng vs lời xin phép, nêu lý do
Con xin phép mẹ cho con được chuyển sang lớp của thầy kiến vì chữ của con nhỏ quá thầy
voi không thể đọc được.
Cách 3: cùng với lời xin phép nêu lý do và bày tỏ cảm xức của mình
Con xin phép mẹ cho con được chuyển sang lớp của thầy kiến vì chữ của con nhỏ quá thầy
voi không thể đọc được. Con buồn lắm mẹ ạ.
Khi mà học sinh đưa ra lý do như “Con xin phép mẹ chuyển sang lớp của thầy kiến vì thầy
voi chê chữ của con nhỏ quá”. Lúc đó GV cần đừa ra lời khuyên cho trẻ “Trong trường hợp
này, mình nên nêu lý do xuất phát từ bản thân mình” và không nên dùng các từ cách diễn đạt
như là thầy giáo chê chữ của mình nhỏ
VD 2: Mở bài gián tiếp, những chưa hay. Đặt thêm được
Mở bài gián tiếp còn có rất nhiều cách khác nhau. Không phải lúc nào cũng liệt kê các loài
hoa, mà em có thể kể 1 kỷ niệm hoặc một câu chuyện nhỏ của mình với cái cây mà mình sắp
tả. Ngoài ra còn có cách thứ 3 đó là em có thể dùng một câu hỏi, một câu đố về loài hoa mà
em định tả nêu em thích thì em cũng có thể trích dẫn một đoạn thơ, một câu hát để dẫn vào
bài tả loài cây, loài hoa như:
VD3: Khi dạy đọc, giáo viên có thể cung cấp cách ngắt dòng, nghỉ hơi khác nhau để truyền
tải thông điệp khác nhau.
Quê hương là chum khế ngọt
Cho con/ trèo hái mỗi ngày
Cách 1: nhấn mạnh cho con rằng hình ảnh thân thuộc đó rất gắn bó với tôi
Quê hương là chum khế ngọt
Cho con trèo hái/ mỗi ngày
Cách 2: nhấn mạnh mỗi ngày, tức là hình ảnh giản dị quen thuộc đó nó gắn bó với tôi từ ngày
từng ngày trong khoảng trời thơ ấu, gắn bó với tôi mỗi nagyf
1.2 Tầm quan trong của việc phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh tiểu học qua môn Tiếng Việt. (3 đ)
NL giao tiếp bao gồm 4 thành tố cơ bản là năng lực ngôn ngữ, năng lực diễn ngôn, năng lực
văn hoá-xã hội, năng lực chiến lược. Năng giao tiếp đóng vai trò rất quan trọng trong đời
nó đóng vai trò rất quan trọng
Sau đó bắt đầu trình bày. Tầm quan trong của việc phát triển năng lực giao tiếp có 3 ý
+ Năng lực giao tiếp quan trọng như thế nào? Phân tích ra (hoạt động giao tiếp quan trọng)
Năng lực NL ngôn ngữ được nghiên cứu bởi Chomsky thường được phân biệt với hiệu suất ngôn ngữ.
NL ngôn ngữ là những hiểu biết hay những tri thức về ngôn ngữ đảm bảo cho việc diễn giải
một vấn đề, truyền đạt một tư tưởng, thông điệp, bộc lộ
chính xác và tinh tế cảm xúc. cảm xúc
Là năng lực gắn liền với khả năng hành dụng hay sự sẵn sàng biểu đạt suy nghĩ cảm xúc,
nhận thức về thế giới xung quanh bằng ngôn ngữ, lời nói.
Trong môn Tiếng Việt ở cấp Tiểu học, việc hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ cho
học sinh được thể hiện qua 5 mạch kiến thức:
+ Ngữ âm và chữ viết: dạy cho học sinh về âm và vần, chữ, dấu thanh, về các quy tắc chính tả
như phân biệt c/k, ng/ngh,…
+ Từ vựng: Mở rộng vốn từ, nghĩa của từ (từ có nghĩa giống nhau, từ có nghĩa trái ngược
nhau, từ đa nghĩa (nghĩa gốc, nghĩa chuyển),…)
+ Ngữ pháp: dấu câu (dấu gạch ngang, dấu gạch nối (lớp 5)), từ loại (từ lớp 2 đến lớp 4 học từ
chỉ hoạt động, từ chỉ đặc điểm, danh từ, động từ, tính từ, lên lớp 5 học đại từ, kết từ), câu (các
kiểu câu “câu đơn/ câu ghép”, câu phân loại theo mục đích nói “câu kể, câu hỏi, câu khiến, câu cảm”)
+ Hoạt động giao tiếp: dạy cho học sinh các biện pháp tu từ: so sánh (lớp 3), nhân hoá (lớp 4),
điệp từ - điệp ngữ (lớp 5)
+ Biến thể ngôn ngữ: dạy cho học sinh biết cách sử dụng phương tiện trực quan trong nói và nghe.
Việc học sinh nắm được các kiến thức tiếng Việt hay sở hữu năng lực ngôn ngữ không chỉ
giúp các em học tốt môn Tiếng Việt mà còn mang lại nhiều lợi ích sâu rộng trong đời sống học tập và giao tiếp.
Một người muốn vận hành được ngôn ngữ phải có hiểu biết về ngữ âm, phải biết được âm và
vần, các quy tắc chính tả vỡ lòng. Khi có kiến thức về ngữ âm và chữ viết học sinh biết phát
âm đúng các tiếng, từ, câu. Nhờ có kiến thức về chữ viết học sinh có khả năng đọc được các
văn bản, viết được các đoạn văn, văn bản và nói được một cách chuẩn chỉnh. Từ đó giúp các
em tham gia giao tiếp tốt hơn, phục cho việc học và tự học của học sinh không chỉ trong môn
tiếng việt mà còn có các môn học khác.
VD: Khi dạy cho học sinh cách phát âm, quy tắc chính tả ng/ngh, tr42, Tiếng Việt 1 học sinh
sẽ biết đọc đúng, phát âm đúng khi gặp các trường hợp này. Từ đó các em biết đọc các văn
bản, biết viết đúng các tiếng chứa âm ng/ngh. Điều này giúp các em giao tiếp tốt hơn, phụ vụ
tốt cho học sinh trong việc học và tự học của mình.
Việc nắm chắc được kiến thức về từ vựng, có được vốn từ vựng phong phú, hiểu được nghĩa
của từ, nắm được các cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc câu, cách sử dụng các biện pháp tu từ nghệ
thuật hay sử dụng các phương tiện trực quan trong nói và nghe giúp cho học sinh tự tin hơn
khi giao tiếp và giúp cho việc nói, viết của học sinh trở nên tốt hơn, thuật tiện hơn, hiệu quả
hơn. Ngoài ra học sinh có vốn từ tốt, hiểu ngữ pháp sẽ dễ dàng hơn trong việc hiểu bài, diễn
đạt đúng và sáng tạo hơn khi nói và viết.
VD: Muốn viết được bài văn tả cây cối (lớp 4) thì học sinh buộc phải có vốn từ vựng nhất
định về đối tượng mà mình muốn miêu tả và lượng vốn từ này được bồi đắp thông qua các bài
đọc: cau, sầu riêng, cây si,…. Để bài văn thêm sinh động hơn, hay hơn, hấp dẫn hơn thì học
sinh cần có kiến thức về từ loại (sử dụng các từ chỉ đặc điểm, tính chất) hoặc sử dụng các biện
pháp tu từ (so sánh, nhận hoá).
Hay khi nói, “trao đổi với bạn về việc em mong muốn cha mẹ (hoặc người lớn) hiểu và giúp
đỡ em thực hiện nguyện vọng của mình”, SGK Tiếng Việt 5, tập 1, tr9 thì ngoài việc nắm
được vốn từ vựng nhất định, có kiến thức về ngữ pháp thì học sinh cũng cần biết sử dụng các
dẫn chứng, lý lẽ, tranh ảnh, sơ đồ minh hoạ,… để tăng thêm sức thuyết phục khi nói, tăng
thêm hiệu quả giao tiếp. Việc nắm chắc kiến thức về ngôn ngữ giúp cho học sinh tự tin hơn,
mạnh dạn hơn trong quá trình thực hành giao tiếp, sẵn sàng biểu đạt suy nghĩ cảm xúc, nhận
thức về thế giới xung quanh bằng ngôn ngữ, lời nói.
Ngoài ra, năng lực ngôn ngữ còn là nền tảng để học sinh có thể dựa vào đó hình thành và phát
triển các năng lực khác.
c, Năng lực văn hóa - xã hội
Năng lực văn hoá – xã hội là khả năng áp dụng một tập hợp các kiến thức đa văn hóa, kỹ năng
và phẩm chất trong quá trình giao tiếp liên văn hóa gắn với điều kiện/ tình huống cụ thể của cuộc sống.
Trong các bài dạy về đọc, viết nói và nghe thò chương trình, sách giáo khoa đã rất chú trọng
đén các bài tập tình huống phù hợp với ngữ cảnh và văn hoá giao tiếp của người việt:
Vd: Chủ điểm: giao tiếp và kết nói. Giới thiệu các cách chào khác nhau ở mỗi quốc gia:
Tiếng việt lớp 2, tập2 kết nối tri thức, giới thiệu về cách chào hỏi
VD: Khi dạy giữ phép lịch sự khi nêu yêu cầu đề nghị. Sách giáo khoa dạy học cho học sinh
phải biết cách xưng hô phù hợp, thường xuyên có thói quen dùng từ VD:
- Giùm, giúp, làm ơn: văn hóa giao tiếp của người Việt.
- Từ địa phương hay dùng: dấu ấn của đặc trưng địa phương
Đây là dạy học sinh về bối cảnh văn hoá xã hội VD:
Con heo ăn bắp => Miền bắc
Con lợn ăn ngô => Miền nam
- Gồm các yêu tố cơ bản:
1. Ngôn ngữ - văn hóa: gồm kiến thức về mục từ vựng với ngữ nghĩa văn hóa xã hội.
VD: Từ chỉ sản xuất địa phương
Mục từ chỉ đặc điểm tính cách
+ “êm” ở An Giang => cô dạy êm quá!
+ Xưng hô ở Huế: “Mệ nội, mệ ngoại”
3. Ngôn ngữ xã hội và những kiến thức về mặt ngôn ngữ của các tầng lớp xã hội các thế hệ khác nhau.
VD: Trend => Từ dùng từ đệm trong câu mình hay nói nhưng chưa chắc người khác đã hiểu
+ Dùng ngôn ngữ bình dân phù hợp với chiến lược giao tiếp, môi trường giao tiếp
+ Hội thảo khoa học : Dùng thuật ngữ chuyên ngành, khoa học để diễn giải.
4. Kiến thức văn hóa đặc thù của một vùng miền thói quen truyền thống của họ, chuẩn mực
ứng xử, nghi thức, khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ của vùng đó. VD 1: - Cháu ăn cơm chưa?
- Dạ thưa bác cháu ăn cơm rồi.
=> Với miền bắc chưa đủ lễ phép phải thêm từ “ạ”. VD 2: Xưng hô - Đại từ xưng hô
- Danh từ chỉ quan hệ thân tộc - Dùng tên
VD3: M bắc xưng hô (cháu – bác)
VD 4: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” lớp 4
VD5: “ Người gian khoan” “Đường đi Sa Pa” “ Mùa hoa phố hội” “Độc đáo Tháp Chăm”
d. Năng lực chiến lược.
- Thể hiện ở khả năng lập kế hoạch và thực hiện/ vận hành phương tiện diễn ngôn theo cách
hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu giao tiếp
Sau khi học sinh có đầy đủ hiểu biết về ngôn ngữ và biết các quy tắc dùng từ đặt câu và biết
được mình sẽ sử dụng nó trong hoàn cảnh văn hoá xã hội nào rồi thì một điều cần dạy cho học
sinh nữa là chiến lược làm sao đề giao tiếp hiệu quả
VD: Khi dạy bài kiến em đi học, nói lời xin phép mẹ để chuyển sang lớp của thầy kiến
Cách 1: Cơ bản nhất là tất cả học sinh trong lớp phải biết nói lời xin phép một cách trực tiếp\
Con xin phép mẹ chuyển sang lớp của thầy kiến
Nhưng để đa dạng hoá lời nói để cho Hs biết rằng có thể nói với nhiều cách khác nhau và để
cho lời xin phép của mình trở nên hiệu quả hơn thì giáo viên có thể gợi ý để học sinh tự tìm
kiếm hoặc giáo viên gợi ý để hs thể hiện 2 cách nói còn lại
Cách 2: cùng vs lời xin phép, nêu lý do
Con xin phép mẹ cho con được chuyển sang lớp của thầy kiến vì chữ của con nhỏ quá thầy
voi không thể đọc được.
Cách 3: cùng với lời xin phép nêu lý do và bày tỏ cảm xức của mình
Con xin phép mẹ cho con được chuyển sang lớp của thầy kiến vì chữ của con nhỏ quá thầy
voi không thể đọc được. Con buồn lắm mẹ ạ.
Khi mà học sinh đưa ra lý do như “Con xin phép mẹ chuyển sang lớp của thầy kiến vì thầy
voi chê chữ của con nhỏ quá”. Lúc đó GV cần đừa ra lời khuyên cho trẻ “Trong trường hợp
này, mình nên nêu lý do xuất phát từ bản thân mình” và không nên dùng các từ cách diễn đạt
như là thầy giáo chê chữ của mình nhỏ
VD 2: Mở bài gián tiếp, những chưa hay. Đặt thêm được
Mở bài gián tiếp còn có rất nhiều cách khác nhau. Không phải lúc nào cũng liệt kê các loài
hoa, mà em có thể kể 1 kỷ niệm hoặc một câu chuyện nhỏ của mình với cái cây mà mình sắp
tả. Ngoài ra còn có cách thứ 3 đó là em có thể dùng một câu hỏi, một câu đố về loài hoa mà
em định tả nêu em thích thì em cũng có thể trích dẫn một đoạn thơ, một câu hát để dẫn vào
bài tả loài cây, loài hoa như:
VD3: Khi dạy đọc, giáo viên có thể cung cấp cách ngắt dòng, nghỉ hơi khác nhau để truyền
tải thông điệp khác nhau.
Quê hương là chum khế ngọt
Cho con/ trèo hái mỗi ngày
Cách 1: nhấn mạnh cho con rằng hình ảnh thân thuộc đó rất gắn bó với tôi
Quê hương là chum khế ngọt
Cho con trèo hái/ mỗi ngày
Cách 2: nhấn mạnh mỗi ngày, tức là hình ảnh giản dị quen thuộc đó nó gắn bó với tôi từ ngày
từng ngày trong khoảng trời thơ ấu, gắn bó với tôi mỗi nagyf
NL giao tiếp sẽ có 4 thành tố cơ bản, nó đóng vai trò rất quan trọng
Sau đó bắt đầu trình bày. Tầm quan trong của việc phát triển năng lực giao tiếp có 3 ý
+ Năng lực giao tiếp quan trọng như thế nào? Phân tích ra (hoạt động giao tiếp quan trọng)
+ Phát triển năng lực giao tiếp cho ai???? Học sinh tiểu học (đối tượng học sinh tiểu học có nét đặc thù)
Học sinh tiểu học đã có vốn từ vựng nhưng chưa phong phú. Nhiều em chưa biết cách kết hợp
từ để đặt câu, nhiều em chưa biết cách sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá, điệp từ,
điệp ngữ để làm cho lời nói, cho câu văn của mình sống động hơn,………
Một số em đã có vốn từ nhưng chưa mạnh dạn sử dụng nên phải cho các em thực hành
thường xuyên (học sinh thiếu gì? Ghi ra? Dạy học là để bù khuyết cho nó?”””’
Một số em chất lượng kỹ năng không đồng đều. TỨc là đọc, tiếp nhận văn bản rất tốt nhưng
đòi hỏi sự sáng tạo trong nói và viết thì lại chưa có vì vậy tôi cần phải rèn luyện. những em
khác có thể có hiểu biết về ngôn ngữ rất phong phú, rất chăm chỉ thực hành, cũng hiểu được
giao tiếp lịch sự, văn hoá là thế nào???? Nhưng còn nghèo nàn về cách thể hiện, chưa biết
nhiều cách thể hiện và thể hiện sao cho hay cho hiệu quả
Qua môn tiếng việt thì môn tiếng việt như thế nào??/ nói rõ chương trình thì mục tiêu phát
triển năng lực giao tiếp ra sao?
Chương trình đã xác định lấy trục kỹ năng giao tiếp đọc viết nói nghe làm trực chính xuyên
suốt toàn bộ chương trình. Phát triển 2 nl nòng cốt, đặc thù là năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học….
Sách giáo khoa tiếng việt được xây dựng theo trục chủ điểm: Lớp nhỏ thì chủ điểm gần gủi,
lớp trên khi mà môi trường giao tiếp phát triển thì chủ điểm mở rộng. ngữ liệu dạy học đọc,
viết, nói, nghe rất gần gủi mở ra cho học sinh mộ chân trời rộng lớn về thế giới xung quanh.
Dạy cho học sinh những bài học về giao tiếp qua các bài thơ, các tác phẩm truyện,….
Điều đặc biệt là trong sách giáo khoa có những bài tập mang tính tình huống chỉ phục vụ trực
tiếp cho việc dạy giao tiếp ở học sinh
VD: lấy ví dụ ra các bài trao đổi, về vấn đề nào đó,….
VD: Kể lại một khi em nhận được món quà đặc biệt từ người thân.
- Khi nhận được món quà đặc biệt từ mẹ em nói gì với mẹ? + Con cảm ơn mẹ!
+ Mẹ là người tuyệt vời nhất trên thế giới này!
+ Sử dụng câu hỏi với mục đích khác: Mẹ ơi! Vì sao mẹ biết con rất thích món quà này?
=> Sử dụng câu hỏi để mà khen
=> Tất cả đều là các chiến lược giao tiếp khác nhau cho cùng một sự việc.
Phân tích tầm quan trọng của việc phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh tiểu học qua môn Tiếng Việt.
Qua môn tiếng việt thì học sinh tiểu học được phát triển năng lực giao tiếp như thế nào và chúng có ý nghĩa ra sao?
phải nắm được cấu tạo, bố cục của bài văn tả cây cối (mở bài giới thiệu đối tượng miêu tả,
thân bài tả từng bộ phận hoặc từng thời kỳ phát triển của đối tượng miêu tả, nêu lợi ích của
đối tượng miêu tả, kết bài nêu cảm nghĩ về đối tượng miêu tả).
Câu 2: Nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức dạy học Tiếng Việt theo
hướng phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh.(1.5đ)
Nguyên tắc 1: DH môn Tiếng Việt cần đảm bảo trang bị tri thức nền về các nhân tố giao tiếp
cho học sinh tiểu học; đồng thời hình thành các tri thức ngôn ngữ và kỹ năng thực hành để
người học có khả năng sẵn sàng tham gia hoạt động giao tiếp thông qua trải nghiệm hoặc tình huống giả định.
Đảm bảo các tri thức nền về các nhân tố giao tiếp tức là đảm bảo cho học sinh nắm được các
nhân tố giao tiếp như mục đích giao tiếp (giao tiếp để làm gì?), đối tượng (giao tiếp với ai? Ai
người nói – người nghe, người viết – người đọc), nội dung giao tiếp (giao tiếp về cái gì?),
phương tiện giao tiếp (lời nói, hình ảnh, cử chỉ, điệu bộ,…) và hoàn cảnh giao tiếp (môi
trường giao tiếp ra sao? Không gian, thời gian, tình huống, hoàn cảnh giao tiếp như thế nào?).
Đồng thời phải hình thành ở học sinh các tri thức ngôn ngữ (gồm 5 mạch là ngữ âm, từ vựng,
ngữ pháp, hoạt động giao tiếp, biến thể ngôn ngữ) và các kỹ năng năng thực hành: - Đọc
+ Kỹ thuật đọc: tư thế đọc, kỹ năng đọc thành tiếng, tốc độ đọc,…
+ Đọc hiểu: văn bản văn học, văn bản thông tin,… - Viết
+ Kỹ thuật viết: tư thế viết, kỹ năng viết chữ, trình bày bài viết,…
+ Viết câu, đoạn, bài văn: gồm các yêu cầu về quy trình tạo lập và yêu cầu thực hành viết theo
đặc điểm của từng bài văn. -Nói và nghe
+ Nói: âm lượng, tốc độ, cách diễn đạt, cách trình bày, thái độ, kết hợp các cử chỉ điệu bộ, phương tiện khi nói.
+ Nghe: Cách nghe, các ghi chép, hỏi đáp, thái độ, cử chỉ, điệu bộ khi nghe, phương tiện hỗ trợ,…
+ Nói và nghe tương tác: thái độ, sự tôn trọng nguyên tắc hội thoại (luân phiên lượt lời,…),
các quy định trong thảo luận, phỏng vấn.
=>>Nhờ việc nắm chắc, xác định được các nhân tố giao tiếp, hình thành các tri thức về ngôn
ngữ và các kỹ năng thực hành sẽ giúp cho học sinh tự tin hơn, sẵn sàng tham gia các hoạt
động giao tiếp và đảm bảo cho hoạt động giao tiếp của học sinh diễn ra hiệu quả. Ví dụ:
Khi dạy bài đọc “Kiến em đi học”, sgk Cánh Diều, lớp 1. Khi dạy phần đọc hiểu, câu hỏi thứ
3 “Nói lời kiến em xin phép mẹ cho phép chuyển sang lớp của thầy kiến”.
Trước khi cho học sinh tiến hành giao tiếp, trả lời câu hỏi, giáo viên cần đưa các các câu hỏi
định hướng để học sinh nắm được các nhân tố giao tiếp như:
+ Trong tình huống này thì ai sẽ là người nói? (kiến em nói) Nói với ai? (nói với mẹ) Nói về
điều gì? (lời xin phép).
+ Khi nói với mẹ thì xưng hô như thế nào? (gọi mẹ xưng con)
+ Giọng điệu, thái độ, cảm xúc khi nói ra sao? (lễ phép, chân thành, buồn)
+ Cần phải nói những gì? (nói lời xin phép mẹ cho chuyển sang lớp thầy kiến) Lý do là gì?
(chữ con nhỏ quá thầy voi không đọc được)
Khi nói, khuyến khích học sinh sử dụng thêm các cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, cảm xúc… để tăng
thêm tính thuyết phục, đáp ứng được mục đích nói, giúp cho hoạt động giao tiếp trở nên hiệu quả hơn.
Nguyên tắc 2: DH Tiếng Việt cần chú trọng kiến tạo môi trường giao tiếp tích cực thân
thiện nhằm khơi gợi hứng thú đọc, viết, nói, nghe cho HS.
Thông qua các hoạt động chia sẻ, khởi động, dẫn dắt, giới thiệu, kết nối vào bài học,… để
khơi gợi sự hứng thú ở học sinh, kiến tạo ra không khí, chất xúc tác giúp cho môi trường giao
tiếp trở nên tích cực hơn. (tạo được không khí học tập, tích cực, sôi nổi, vui vẻ, hào hứng),
luôn được khuyến khích, tạo cơ hội để được thể hiện, được thực hành ngôn ngữ.
Ví dụ 1: Hoạt động khởi động, trò chơi, câu đố chẳng hạn làm sao cho nó tích cực vui vẻ
nhất có teher. Hoặc các ứng dụng công nghệ thông tin để học sinh được chủ động làm
việc với các phương tiện trực quan
Ví dụ 1: Khi dạy đọc thành tiếng, giáo viên có thể sử dụng mẫu đọc, giọng đọc của giáo viên,
video, file âm thanh để kích thích sự hứng thú, khuyến khích học sinh sẵn sàng tham gia vào hoạt động đọc.
Ngoài ra, trong quá trình DH cần tạo điều kiện, khuyến khích học sinh chủ động giao tiếp,
giao tiếp mạnh dạn, tự tin như:
- Tăng cường khen ngợi, động viên kịp thời.
- Lắng nghe, ghi nhận câu trả lời, sản phẩm ngôn ngữ và sự tiến bộ của học sinh
- Định hướng, gợi ý để học sinh nâng cao sản phẩm ngôn ngữ của mình (hỗ trợ, gợi ý, sửa lỗi
cho học sinh dựa trên chính năng lực người học) từ đó giúp học sinh có những trải nghiệm giao tiếp tốt hơn.
Ví dụ 2 : Khi tả cây cối “cây hoa”. Học sinh có viết: “Trong khu vườn nhà em có rất nhiều
loài hoa đẹp: hoa cải, hoa hồng, hoa thạch thảo, hoa bạch trà... Trong các loài hoa xinh tươi
đó, em thích nhất là hoa thạch thảo.”. Như vậy khi sửa bài cho học sinh cần:
- Khen ngợi học sinh đã viết đúng mở bài, giới thiệu được đối tượng cần tả là cây hoa thạch
thảo và viết được mở bài gián tiếp.
- Dựa trên sản phẩm của học sinh để định hướng cho các em phát triển bài viết của mình hay
hơn, sinh động hơn như gợi ý cho các em thêm vào sau các loài hoa một số từ chỉ đặc điểm
(màu sắc, mùi hương,…) Hoặc khuyến khích học sinh sử dụng thêm các biện pháp tu từ: so sánh, nhân hoá,…
Cụ thể như: “Trong khu vườn nhà em có rất nhiều loài hoa đẹp như hoa cúc vàng ươm, hoa
hồng đỏ rực, hoa thạch thảo tím biếc, hoa bạch trà trắng tinh khiết,… Trong các loài hoa xinh
tươi đó, em thích nhất là hoa thạch thảo.”
Ví dụ 3: Nói – nghe “kể chuyện cô bé quàng khăn đỏ (đoạn 1)”. Khi học sinh quan sát tranh
mà vẫn chưa kể được thì giáo viên sẽ có các câu hỏi gợi ý để giúp em kể được câu chuyện như:
+ Trong tranh ngoài khăn đỏ còn có ai? (mẹ)
+ Mẹ đang đưa cho khăn đỏ cái gì? (giỏ bánh)
+ Mẹ đưa giỏ bánh để làm gì? (Mẹ đưa giỏ bánh để khăn đỏ đi tặng bà ngoại)
+ Trước lúc khăn đỏ đi mẹ có dặn khăn đỏ gì không? (Mẹ dặn không la cà dọc đường)
Sau đó giáo viên động viên, khuyến khích học sinh kể được câu chuyện. Cũng có thể đưa ra
những lời khen ngợi bạn đầu để khuyến khích học sinh.
Ví dụ 4: Khi dạy phát âm, phân biệt âm “c”, “t”. Nếu dạy bình thường mà học sinh phát âm
không được thì luyện theo mẫu, chưa được phân tích cấu âm, chưa được nữa thì trực quan.
Nếu vẫn chưa được nữa thì đưa ra cam kết “những lúc cô rảnh cô sẽ cùng luyện với con”.
Nguyên tắc 3: DH Tiếng Việt cần chú trọng phát triển, tích hợp hài hoà các kỹ năng giao
tiếp đọc, viết, nói, nghe.
Chương trình môn giáo dục phổ thông 2018 vẫn bảo lưu số tiết môn tiếng vietk nhưng thay
đổi ở 1 số chỗ có sự phân bố về thời lượng rèn luyện các kỹ năng đọc 60-63%, viết(22-25%), nói và nghe (10%)
Theo đó, đọc được xem là kỹ năng tiền đề, là cơ sở, nền tảng cho việc rèn luyện các kỹ năng
khác. Hs biết đọc sẽ chiếm lĩnh một công cụ rất quan trong dùng trong giao tiếp đó là chữ
viết, đó là âm và vần. Để trẻ bắt đầu từ việc học âm và vần biết ghép âm với vần để tạo thành
tiếng, biết ghép các tiếng với nhau để tạo thành từ, biết ghép các từ để tạo thành câu và từ đó
phát triển thành đoạn, thành bài
Nhờ hcocj đọc ở tiểu học mà hoc
Quá trình dạy học cần chú trọng tích hợp hài hoà các kỹ năng đọc, viết, nói, nghe. Khi học
đọc, học sinh không chỉ được đọc mà còn được tham gia viết (viết phiếu đọc sách), ghi chép
lại ý chính, những từ hay và chọn lọc từ ngữ để ghi…
Ví dụ 1: Khi dạy bài: “Trăng ơi từ đâu đến”. Ở câu hỏi: “Em thích chi tiết miêu tả đặc biệt
nào của trăng”. Học sinh sẽ vừa phải đọc, tìm hiểu thông tin, vừa phải ghi lại những chi tiết
có chọn lọc, những từ ngữ hay về trăng như: Trăng hồng như quả chín/ Trăng tròn như mắt
cá/ Trăng bay như quả bóng/ Trăng soi chú bộ độ/ Trăng soi vàng góc sân... Từ đó giúp học
sinh có thể nhớ được bài đọc lâu hơn.
Ngoài ra, việc đọc văn bản có thể giúp học sinh có chất liệu phụ vụ cho bài viết như có thêm
vốn từ vựng, cấu trúc bài, cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hoá, điệp từ,
điệp ngữ… Từ đó, cũng cố thêm năng lực ngôn ngữ cho học sinh, giúp các em tự tin, sẵn sàng giao tiếp.
Trong dạy học nói - nghe thảo luận thuyết trình về một vấn đề: Học sinh sẽ có khả năng nghe
và ghi lại những nội dung, thông tin quan trọng khi nghe ý kiến phát biểu của người khác (CT
2018, Lớp 4, tr 35) hoặc vừa nghe vừa ghi lại những nội dung, thông tin quan trọng từ ý kiến
của người khác (CT 2018, lớp 5, tr 39). Từ việc nghe và chép lại học sinh có thể dựa vào đó
đưa ra các câu hỏi hoặc nêu được suy nghĩ, ý kiến, cảm nhận cá nhân, phản hồi và tương tác...
Ví dụ 2: Khi dạy bài trao đổi: “Em đọc sách báo”, lớp 5, tập 2, tr 56. Sau khi đọc tác phẩm
học sinh phải ghi lại các ý chính của tác phẩm để lên lớp, chia sẻ với các bạn. Không chỉ được
đọc, được chia sẻ, trao đổi, học sinh còn được lắng nghe nhiều tác phẩm khác nhau của các
bạn khác. Khi nghe phải biết ghi chép ý chính, nghe rồi thì phải nhận xét, phản hồi, cho ý
kiến. Như vậy, Việc tích hợp hài hoà các kỹ năng giúp học sinh có khả năng tư duy, linh hoạt
và phát triển năng lực giao tiếp một cách toàn điện.
Ví dụ 3: Trước khi viết 4-5 câu về mùa em yêu thích, thì học sinh được tham gia nói về một
mùa em yêu thích. Việc nói được xây dựng trên cơ sở, sau khi nói xong học sinh sẽ có khả
năng viết được. Tức là trong quá trình nói, giáo viên sẽ định hướng để học sinh nói được bố
cục tương tự như bài việt:
+ Mùa em thích đó là mùa nào?
+ Mùa đó có đặc điểm gì?
+ Vì sao em thích mùa đó? Cảm nghĩ của em về mùa em yêu thích như thế nào? Câu 3: (1.5 đ)
Phương pháp luyện theo mẫu - Khái niệm:
+ PP luyện theo mẫu còn gọi nôm na là phương pháp mô phỏng, bắt chước. PP Luyện theo
mẫu là pp dạy học dưới sự tổ chức hướng dẫn của GV, HS sẽ tìm hiểu, phân tích đặc điểm,
cấu tạo của mẫu, từ đó HS biết phân tích sáng tạo dựa vào định hướng của mẫu.
+ PP Luyện theo mẫu là pp mà HS tạo ra các đơn vị ngôn ngữ, lời nói bằng mô phỏng lời thầy
giáo, sách giáo khoa… PP này gồm nhiều dạng bài tập như đặt câu theo mẫu cho trước, phát
âm hoặc đọc diễn cảm theo thầy giáo. - Quy trình:
Bước 1: Cung cấp mẫu (mẫu có sẵn ở SGK, mẫu do GV chủ động cung cấp thêm, mẫu huy động từ chính HS).
Bước 2: Phân tích mẫu (đặc điểm, cấu tạo của mẫu).
Bước 3: Tổ chức cho HS thực hành tạo lập lời nói theo định hướng của mẫu.
Bước 4: Đánh giá chất lượng lời nói trong sự đối chiếu với mẫu.
-Tác dụng của pp luyện theo mẫu trong việc phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh qua dạy học đọc.
Phương pháp này rất hữu ích trong dạy học đọc, vì nó có thể giúp cho học sinh luyện phát âm,
luyện đọc thành tiếng, đặc biệt là luyện đọc diễn cảm với các mẫu đọc của giáo viên hoặc file
ghi âm, video, clip,…từ đó giúp cho học sinh phát âm chuẩn hơn, kích thích hứng thú đọc,
khuyến khích học sinh chủ động, tự tin giao tiếp.
Ví dụ: Khi dạy bài đọc “Nắng”, ở phần luyện đọc từ khó như: thoắt, xâu kim, thẳng mạch,…
Kỹ Thuật sơ đồ tư duy
Dùng sơ đồ giúp hs trả lời tốt, ghi nhớ tốt/ Ví dụ:
Phương pháp hợp tác: + Khái niệm:
Dạy học hợp tác là phương pháp dạy học, trong đó dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo
viên, học sinh hoạt động theo nhóm nhỏ cùng thực hiện nhiệm vụ nhất định trong khoảng thời
gian nhất định, liên kết lại với nhau, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Các yếu tố của hợp tác nhóm:
+ Có sự phụ thuộc lẫn nhau tích cực.
+ Thể hiện trách nhiệm cá nhân.
+ Khuyến khích sự tương tác.
+ Rèn luyện kĩ năng xã hội.
+ Phát triển năng lực cho học sinh.
Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi học sinh tham gia một cách
chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm,
ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học; cơ hội được giao lưu, học
hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung. + Quy trình:
- Bước 1: Giáo viên nêu nhiệm vụ/ vấn đề cần tìm hiểu.
- Bước 2: Chia nhóm học tập, giao nhiệm vụ cho các nhóm, hướng dẫn hoạt động của các
nhóm, quy định rõ thời gian.
- Bước 3: Hs thảo luận nhóm. GV quan sát, hỗ trợ.
- Bước 4: Đại diện nhóm trình bày. Học sinh nhận xét, bổ sung.
- Bước 5: Giáo viên hướng dẫn rút ra kết luận, nhận xét, tổng kết.
+ Tác dụng của PP hợp tác trong việc phát triển năng lực giao tiếp, NL ngôn ngữ cho học sinh
thông qua dạy học nói – nghe (kể chuyện).
Việc áp dụng phương pháp dạy học hợp tác có nhiều tác dụng tích cực trong việc phát triển
năng lực giao tiếp cho học sinh tiểu học: -
Dạy học hợp tác tạo ra môi trường giao tiếp tích cực, sôi nổi, khuyến khích học sinh
tự tin, chủ động giao tiếp. Học sinh không chỉ được lắng nghe, có cơ hội được giao
lưu, học hỏi lẫn nhau mà còn được chủ động chia sẻ, phản hồi, tương tác, được nói,
được đưa ra ý kiến, quan điểm cá nhân một cách trực tiếp. -
Học sinh được thực hành giao tiếp (nói, viết) nhiều hơn giúp cải thiện kỹ năng diễn
đạt, sắp xếp ý và truyền đạt cảm xúc. -
Hình thành kỹ năng làm việc nhóm, biết lắng nghe, chịu trách nhiệm, hợp tác với
nhóm để hoàn thành nhiệm vụ từ đó phát triển cho học sinh các kỹ năng giao tiếp xã
hội, tạo tiền đề để học sinh sử dụng, ứng dụng các kiến thức, năng lực giao tiếp vào thực tiễn.
VD: Khi dạy bài trao đổi “ Em đọc sách báo”, giới thiệu về một tác phẩm (câu chuyện hoặc
bài thơ, bài văn, bài báo, vở kịch) mà em đã đọc về việc phân xử, giải quyết các tình huống
bất đồng trog cuộc sống. SGK Tiếng Việt lớp 5, tập 1, cánh diều, trang 114. Ở hoạt động 2:
Trao đổi về nội dung tác phẩm được giới thiệu:
A, Tác phẩm đó nói lên, điều gì?
B, Theo em, chúng ta nên nên lựa chọn thái độ ứng xử như thế nào trước những tình huống
bất đồng trong cuộc sống?
Giáo viên sẽ tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm 4 trong vòng 5 phút. Mỗi bạn sẽ trình bày ý
kiến của mình theo từng yêu cầu a,b. Các bạn còn lại lắng nghe, nhận xét, đánh giá. Sau đó cả
nhóm cùng thảo luận và thống nhất ý kiến chung về thái độ ứng xử phù hợp trước những tình
huống bất đồng trong cuộc sống. Đây là một vấn đề nóng, mang tính thời sự và việc dạy học
hợp tác sẽ cung cấp cho học sinh một môi trường tích cực, khuyến khích học sinh suy nghĩ,
trình bày ý kiến, học hỏi lẫn nhau và phát triển toàn diện kỹ năng giao tiếp của mình.
Kỹ thuật khăn trải bàn + Khái niệm:
Kĩ thuật “khăn trải bàn” là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt
động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh,
tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS và phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS. + Cách tiến hành:
* Bước 1: Giao nhiệm vụ học tập
- Chia học sinh thành các nhóm (4 học sinh /nhóm, hoặc có thể nhiều người hơn), mỗi học
sinh ngồi vào vị trí đã đánh số trên phiếu học tập.
- GV giao nhiệm vụ thảo luận và phát cho mỗi nhóm một phiếu học tập như hình vẽ.
* Bước 2: Làm việc cá nhân
-Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng thời gian nhất định, ghi câu trả lời vào phần giấy
của mình trên phiếu học tập.
* Bước 3: Thảo luận, thống nhất ý kiến chung.
Trên cơ sở ý kiến cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận, thống nhất ý kiến và viết vào ô ý
kiến chung (phần chính giữa tấm khăn trải bàn).
+ Tác dụng của KT khăn trải bàn trong việc phát triển năng lực giao tiếp, NL ngôn ngữ
cho học sinh thông qua dạy học nói – nghe (trao đổi).
VD: Khi dạy bài Luyện từ và câu “Luyện tập về đại từ”, lớp 5, tập 1. Ở bài tập 3:
Sau khi … gv tổ chức cho học sinh trao đổi * Nhận xét:
Kĩ thuật này giúp cho hoạt động nhóm có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều phải đưa ra ý kiến
của mình về chủ đề đang thảo luận, không ỷ lại vào các bạn học khá, giỏi.
Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với một chủ đề nhỏ trong tiết học, toàn thể học sinh
cùng nghiên cứu một chủ đề.
Sau khi các nhóm hoàn tất công việc giáo viên có thể gắn các mẫu giấy “khăn trải bàn” lên
bảng để cả lớp cùng nhận xét. Có thể dùng giấy nhỏ hơn, dùng máy chiếu phóng lớn.
Có thể thay số bằng tên của học sinh để sau đó giáo viên có thể đánh giá được khả năng nhận
thức của từng học sinh về chủ đề được nêu. Câu 4: (4đ) A, B, Cho bài tập, (chia sẻ, Cho bài tập+ bạn giiar
Cho bài tập, bạn đưa ra pp kt để Trong đó: + YÊU CẦU CẦN ĐẠT: -
Trình bày được, nêu được một số hiện trượng xưng hô chưa phù hợp mà em biết. -
Đưa ra được cách xử lý nếu bạn xưng hô chưa phù hợp và giải thích tạo sao lại làm như thế.
+ Cách thức vận dụng pp vào tổ chức tiết dạy. -
Hoạt động 1: Giới thiệu, nêu vấn đề, yêu cầu học sinh thảo luận nhóm 4 ( trong
trường hợp đặc biệt thì linh hoạt sắp xếp nhóm). -
Hoạt động 2: Mỗi nhóm có 10 phút để thực hành luyện nói nghe. - -