Mô hình phát triển kinh tế Đông Nam Á
Khi nói tới Đông Nam Á người ta nghĩ ngay tới các nước ASEAN, nhưng thuật
ngừ hình phát triển kinh tế Đông Nam Á được Ngân hàng Thế giới các chuyên
gia Harvard cũng như các học giả trên thế giới thường sử dụng để nói chủ yếu đến bốn
quốc gia tốc độ phát triển nhanh Đông Nam Á Indonesia, Malaysia,
Philippines Thái Lan. Trong khi các nền kinh tể Đông Á được như “những con
rồng Châu A” thì các các quốc gia phát triển theo hình Đông Nam Á lại được
như “những con hổ Châu Ẩ”.
Người ta thể khái quát một số đặc trưng chủ yếu của hình phát triển kinh tế
Đông Nam Á như sau:
- Tận khai các nguồn tài nguyên thiên nhiên lao đồng dồi dào rẻ mạt mục
tiêu xuất khẩu
- Đẩy mạnh thu hút đầu nước ngoài, nhất các công ty xuyên quốc gia
(Transnational Corporations - TNCs), và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu
- Nền kinh tế phụ thuộc vào nước ngoài
Đông Nam Á là một khu vực đông dân, xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp và lạc
hậu . Dân sổ đônglao động dồi dào, tăng nhanh, một mặt, nhân tố gây khó khăn
cho việc giải quyết các vấn đề xã hộicác quốc gia này (việc làm và nạn thất nghiệp,
trình độ học vấn nạn chữ, dịch vụ y tế các căn bệnh hội, nạn suy dinh
dưỡng trẻ em,...). Tuy vậy, mặt khác, như trên chúng ta đã đề cập, cộng với tài
nguyên thiên nhiên dồi dào, đây cũng lại lợi thế hấp dẫn vốn công nghệ nước
ngoài để đắp cho sự lạc hậu nghèo nàn của các quốc gia Đông Nam Á. Đồng
thời, vào cuối những năm 1970, thức tỉnh học tập kinh nghiệm thành công của các
quốc gia láng giềng Đông Á trong việc tiến hành công nghiệp hoá hướng vào xuất
khẩu, nên để khai thác được những lợi thế sẵn nhằm giải quyết những vấn đề kinh
tế-xã hội trầm kha của mình, các quốc gia Đông Nam Á đã từ bỏ mô hình công nghiệp
hoá thay thế nhập khẩu trước đó để chuyển mạnh sang hình công nghiệp hoá dựa
trên việc thu hút vốn đầu công nghệ nước ngoài vào các ngành khai khoáng
chế biến, chế tạo trình độ công nghệ thấp hoặc trung bình nhằm khai thác tài
nguyên thiên nhiên và nguồn lao động dư thừa phục vụ cho xuất khẩu.
Tốc độ tăng trưởng nhanh từ nửa cuối những năm 1980 đến quá nửa đầu những
năm 1990. Tuy vậy, đáng tiếc là, khủng hoảng sau khủng hoảng tài chính, tiền tệ
Châu Á 1997-1998 khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 thì hình này đã bộc lộ
nhiều vấn đề hết sức nghiêm trọng như:
- Sự tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào các nguồn lực bên ngoài thị
trường quốc tế. Hơn nữa, hai thế mạnh chủ yếu của các nước này nguồn tài nguyên
thiên nhiên dồi dào nguồn lao động giá rẻ đang giảm dần ý nghĩa do (1) giá xuất
khẩu nguyên liệu thô chế không ngừng giảm so với giá nhập khẩu máy móc,
thiết bị công nghệ phẩm; (2) Trong điều kiện khoa học - kỹ thuật ngày càng phát
triển thì nhu cầu về sức lao động rẻ, ít kỹ năng sẽ giảm đi thay vào đó nhu cầu
1
lớn về lao động trình độ kỹ thuật tay nghề cao. Vi vậy, sự tăng trưởng của các
nước này ngày càng thiếu cơ sở vững chắc.
- Nợ nước ngoài của các nước Đông Nam Á rất lớn. Nhiều nước đang “sổng
dở chết dở nợ nước ngoài”. Theo Tạp chí Nhà Kinh tế (The Economist), mức nợ
công trên đầu người năm 2010 của Indonesia 743 USD, Malaysia 4.184 USD,
Philippines 1.071 USD Thái Lan 2.064 USD . Những khó khăn về kinh tế dễ
làm tăng lạm phát và tăng tỉ lệ người thất nghiệp ở các nước này.
- Một hậu quả hội khác sự phân hoá bất bình đẳng ngày càng lớn giữa
người giàu người nghèo, giữa thành thị, các vùng được đầu vùng nông thôn,
miền núi ít khả năng tiếp cận được với các nguồn lực phát triển kinh tế (vốn, công
nghệ và cơ sở hạ tầng) và xã hội (hệ thong giáo dục, bảo hiểm và y tế).
Chính những vấn đề trên đã làm cho các nước theo hình Phát triển kinh tế
Đông Nam Á rơi vào bế tắc. Đồng thời, cùng với tình trạng trì trệ kéo dài của kinh tế
thế giới từ sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 tới nay, rồi khủng hoảng nợ công
trên toàn thê giới, các nước theo hình này buộc phải điều chỉnh, thậm chí thay đổi
một cách toàn diện sâu rộng hình hay chiến lược công nghiệp hoá hay phát
triển của mình thì mới thê tiêp tục tôn tại phát triển trong cuộc cạnh tranh toàn
cầu ngày càng khốc liệt.
Mặc vẫn còn rất nhiều khó khăn cần giải quyết nhưng các nền kinh tể Đông Á
(Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông một nghĩa nào đó Singapore) đã
thực sự trở thành “Những con rồng châu Á”, với tốc độ tăng trưởng cao liên tục nhiều
thập kỷ, đưa nền kinh tế của mình bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, hay chủ yếu là
nông nghiệp lạc hậu nghèo đói vượt qua được bẫy thu nhập trung bình (trừ Trung
Quốc) để trờ thành những nền kinh tế tổng sản phẩm lên tới hàng trăm, hàng ngàn
tỉ USD, với tổng sản phẩm nội địa theo đầu người thuộc loại đứng đầu thế giới, cộng
với trình độ khoa học công nghệ hiện đại một năng lực đổi mới canh tranh
khó bị tranh chấp ngày càng lớn mạnh. Trong khi đó, các quốc gia Đông Nam Á
(trước hết các quốc gia ASEAN, như Indonesia, Malaysia, Philipines Thái Lan)
cho đến nay vẫn đang phải vật lộn với những khó khăn kinh tế, chính trị và xã hội nan
giải, không dễ vượt qua, nếu không giải quyết được các vấn đề đó, họ vẫn mãi chỉ
“Tiểu Hổ” hoặc “Rồng Tre” không thể lớn nổi thành Hổ, “Hổ Con”, hoặc
thành Rồng thực sự.
Tại sao lại như vậy?
Trước hết, có thể nói, so với các nền kinh tế Đông Á (hay hẹp hơn là Đông Bắc Á),
các nước Đông Nam Á nói chung, các quốc gia ASEAN nói riêng, ràng, những
nền kinh tế được thiên nhiên ưu đãi, giàu tài nguyên thiên nhiên vị trí địa
(kinh tế chính trị) thuận lợi. Một mặt, những lợi thế đó đã tạo cho họ được
những điều kiện cùng thuận lợi để phát triển, nhưng mặt khác chúng cũng gây cho
họ tâm chủ quan hoặc lại nhất định, hay quên đi sự quyết tâm đổi mới
không ngừng, hoặc sẽ lựa chọn một hình phát triển của “kẻ tưởng mình lắm tiền
nhiều của” . Quả đúng như vậy, cho đến rất gần đây, thậm chí hiện nay, các nền kinh
tế ASEAN vẫn (đang) đi theo hình dựa chủ yếu (hay ỷ) vào việc khai thác lợi thế
vị trí địa lý, lao động giá rẻ, nông nghiệp nhiệt đới tài nguyên thiên nhiên phong
phú. Điều đó có nghĩa là, so với các nước và lãnh thổ Đông Á, ở các nước ASEAN, cơ
cấu kinh tể sản phẩm vẫn chủ yếu thiên về các ngành khai thác các sản phẩm
2
công nghiệp tiêu hao nhiều các yểu tố đầu vào, như nguyên nhiên liệu lao động,
hoặc các công nghệ hàm lượng tri thức thấp hoặc trung bình. Các ngành sản
phẩm công nghiệp của họ chủ yếu mới đạt đến giai đoạn đầu nguồn (upstream) hoặc
cao một chút, trình độ chế biến nông (cả sản phẩm công nghiệp lẫn nông sản), hay
gia công lắp ráp, còn giai đoạn hạ nguồn (downstream), chế biến sâu tinh chưa
cao, hoặc mới chỉ bước đi ban đầu. Hậu quả sức cạnh tranh của các quốc gia, các
doanh nghiệp các sản phẩm của Đông Nam Á chưa cao, chưa sự đột phá nào.
Nói cách khác, nêu các nên kinh tế Đông Á tìm cách lấy nguyên nhiên liệu của toàn
thế giới để sản xuất hàng hóa với giá trị gia tăng cao hơn n cho thế giới, thì các
nước ASEAN như Philippines, Indonesia và Việt Nam lạichiều hướng xúc nguyên
liệu của mình đi bán đê mua thành phâm công nghiệp từ ngoài vê đê tiêu dùng.
Thứ hai, ngoại trừ Malaysia, các nước đang phát triển Đông Nam Á đều đã từng
trải qua những giai đoạn thăng trầm chính trị biến động hội phức tạp, hoặc luôn
tiêm ân những nguy xung đột sắc tộc, tôn giáo (Indonesia, Thái Lan) khủng
(Philippines). Khác với Đông Á, chính phủ các nước này bị chi phối bởi chủ nghĩa
thân hữu, bởi các nhóm lợi ích, các công ty độc quyền, thậm chí một số gia đình
giáo phái quyền thế, nên đã bị suy yếu một cách đáng kể vấn nạn tham nhũng
nền chính ữị bẩn thỉu chạy theo đồng tiền. Trong bối cảnh đó, các chiến lược, chính
sách biện pháp phát triển thường bị bóp méo hướng đến phục vụ cho mục đích
làm giàu của một số ít gia đình thế lực, hay một bộ phận dân giàu có, thay
nhăm đến việc mang lại lợi ích lâu dài cho đại đa số dân chúng cho cả quốc gia.
Hậu quả là, chât lượng quy tăng trưởng liên tục suy giảm, sự t bình (đẳng)
trong hội ngày càng dồn nén, gia tăng, rồi bùng nổ thành các cuộc biểu tình lớn,
bạo động đảo chính quân sự lật đổ các chính quyền Indonesia, Thái Lan,
Philippines, đe dọa gây ra những xáo trộn Malaysia (sau thời Mohammed
Mahathir), làm suy giảm lòng tin của dân chúng, của các nhà đầu tư cả trong lẫn ngoài
nước, khiến các nước này cứ mãi luẩn quẩn với việc tranh giành quyền bính, rất khó
có thể bứt phá được như ở một số nền kinh tế Đông A.
Thứ ba, trong nhiều năm tiến hành công nghiệp hóa, tốc độ tăng trưởng cao luôn
được ưu tiên thái quá đã khiển cho quá trình đô thị hóa ở những nước này diễn ra một
cách “hỗn loạn”, còn sở hạ tầng(kinh tế kỹ thuật, cứng mềm) thì ngày càng
lạc hậu tương đối, không đáp ứng được với các chiến lược tăng trưởng cuộc sống
của dân chúng . Trên thực tế, tại các quốc gia ASEAN, đã hình thành các đại đô thị
với hàng chục triệu con người từ các địa phương dồn về phải sống lay lắt trong các
khu ổ chuột dọc theo bờ sông hay bên rìa các đại thành phố ở Jakarta, Bangkok, Kuala
Lumpur, Manila Cebu, với điều kiện sống làm việc chỉ thấy từ cách đây hàng
chục, thậm chí gần một trăm năm trước. Trong khi đó, trừ Trung Quốc, các nền kinh
tế Đông Á đã đạt được những kết quả đáng tự hào hơn nhiều so với các nước Đông
Nam Á, nhất ASEAN phương diện xây dựng sở hạ tầng cần thiết cho sự tăng
trưởng kinh tế và đô thị hóa nhanh .
Tại sao các nước Đông Nam Á (chủ yếu là các nước ASEAN) lại thất bại nhiều đến
vậy trong lĩnh vực đô thị hoá sở hạ tầng? thể nói, sự yếu kém về sở hạ
tầng tại các nước ASEAN, trước hết, do các chính phủ của họ đã không sớm nhận
ra vai trò quan trọng của sở hạ tầng đối với tăng trưởng kinh tế đô thị hóa
nhanh. Mặc dù từ cách đây hơn 40 năm về trước, khi bắt đầu bước vào giai đoạn CNH
hướng về xuất khẩu, họ đã được các chuyên gia các tổ chức quốc tế cảnh báo rằng,
3
cần sớm chú ý đến quy hoạch và đầu tư cho cơ sở hạ tầng và đô thị . Song đáng tiếc là
tầm quan trọng của không chỉ vấn đề đô thị hoá, mà cả vấn đề cơ sở hạ tầng, đã không
được các giới chức các quôc gia này sớm nhận ra hoặc không được chú ý thích
đáng, nên các nguôn vốn đã không được ưu tiên cho các lĩnh vực này và, nếu có, thì
lại được sử dụng một cách không hiệu quả, khác hẳn so với khu vực Đông Á.
Những thưc trạng tương phản y thể hiện rất khi so sánh Tokyo, Seoul Taipei
với Bangkok, Manila, Jakarta: Thành phố các nước Đông Á là động lực cho tăng
trưởng đổi mới kinh tê, trong khi bộ mặt các thành phố các nước ASEAN ô
nhiễm, ùn tắc, ngập nước, đắt đỏ, bất tiện gây trở ngại cho cả kinh doanh lẫn cuộc
sống của người dân . Đồng hành với tình trạng đó những tai họa như nghèo đói, tội
phạm sự bất lực trong việc cung cấp các dịch vụ đô thị bản như giao thông,
điện, nước sạch của các thành phố tại các quốc gia này. Hậu quả tất yếu sự bùng nổ
các phong trào biểu tình đô thị đã nhiều lần làm chao đảo chính quyền Bangkok,
Manila, và Jakarta. Cùng với sự thất bại trong quản lý đô thị, các nước ASEAN còn có
xu hướng đầu quá mức o các dự án khổng lồ trong hầu hết trường hợp đều
chứng tỏ chưa cân thiết lãng phí. Một nhân tố quan trọng nữa, như đã được đề
cập đến ừên, các quyết định đầu của nhà nước o sở hạ tầng các nước
ASEAN thường bị chi phôi thao túng bởi các nhóm lợi ích đặc biệt. Chính phủ các
quốc gia này đã thất bại ứong việc bảo vệ những quyêt định của mình khỏi sự can
thiệp tính chính trị. Hậu quả là, địa chỉ mục đích đầu thường bị làm cho sai
lệch, không quốc kế dân sinh như vốn phải nữa. trong thực tiễn, do quá
trình đô thị hóa nhanh chóng, nhưng thiếu quy hoạch, thiếu đầu tổ chức quản
phù hợp, nên các quốc gia này đang phải gánh chịu nhiều vấn đề nan giải rất khó
khắc phục, mặc dù gần đây họ đã phải chi rất nhiều tiền để giải quyết .
Thứ tư, về mối quan hệ giữa nhà nước doanh nghiệp, kinh nghiệm cho thấy,
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thường tỉ lệ nghịch với sự can thiệp của nhà
nước vào nền kinh tế. Nói chung, so với các khu vực khác, nhà nước châu Á vai
ữò khá lớn. Tuy vậy, ở Đông Á, về cơ bản chính phủ (hầu như) chỉ hỗ trợ hay tạo điều
kiện và môi trường thân thiện sao cho các doanh nghiệp tư nhân có thể thành công, mà
rất ít khi làm thay hoặc bảo hộ lâu dài, tạo tâm lại cho giới kinh doanh, trong đó
các doanh nghiệp nhân. Nhờ đó, các nền kinh tế này đã sớm nhiều ngành,
nhiều doanh nghiệp thể cạnh tranh ngang ngửa với các công ty Âu, Mỹ, ngay cả
trong các lĩnh vực vốn không phải ưu thế của họ . Trong khi đó, Indonesia,
Malaysia Philippines, Thái Lan trong nhiều thập kỷ qua chỉ tìm cách thu hút thật
nhiều FDI, nhưng nhìn chung lại không tạo ra được môi trường hỗ trợ thích họp để
các doanh nghiệp trong ngoài nước thể bước lên những bậc thang công nghệ
năng lực canh tranh cao hơn. Các nước này thường bảo hộ nhiều ngành công nghiệp
trong một thời gian khá dài, dẫn đến việc lãng phí những nguồn lực khổng lồ quý
báu.
Kết quả là, chỉ tạo ra những doanh nghiệp lại, thụ động, kém cạnh tranh, đặc
biệt là trong khu vực nhà nước. Chẳng hạn, Tập đoàn Thép Krakatau của Indonesia và
hãng ôtô Proton của Malaysia những dụ về hậu quả tai hại của chính sách vưcm
tới bậc thang công nghệ cao hơn trong điều kiện được bảo hộ lâu dài. Ngành công
nghiệp thép của Indonesia hiện đang hấp hối sau 30 năm được bảo hộ. Tương tự như
vậy, ngành hàng không Indonesia vốn được trợ cấp hào phóng thì nay “đang chết dần
chết mòn” sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997-98 khủng hoảng kinh tế toàn cầu
4
hiện nay do không khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế về máy bay cỡ
nhỏ. Còn Malaysia, mặc dù nhiều năm ưu tiên cao cho việc phát triển Hãng ôtô Proton
thành các thương hiệu ôtô quốc gia khu vực nhằm cạnh tranh với các hãng ôtô của
nước ngoài, trước hết Nhật Bản, song cho đến nay, thương hiệu ôtô này vẫn chỉ
được một bộ phận nhỏ những người thu nhập thấp trong nước tiêu thụ, còn việc
chinh phục thị trường ôtô thế giới, thậm chí khu vực, vẫn chỉ một giấc xa vời.
Đó hậu quả tất yếu của chủ nghĩa bản thân hữu tồn tại phổ biến các quốc gia
này, với việc nhà nước thường bị chi phối bởi/và câu kết với một số ít gia đình thế
lực cũng như các công ty độc quyền nhằm khai thác các ưu đãi tham nhũng tài sản
của nhà nước vì quyền lợi ích kỷ của mình, thay vì vì lợi ích quốc gia thật sự.
Thứ năm, trong một thời gian dài, các nước Đông Nam Á đã thành công trong việc
huy động một tỷ lệ đầu rất cao với hy vọng lặp lại kỳ tích tăng trưởng của các nền
kinh tế Đông Á, nhưng đáng tiếc họ đã thất bại, trong đó nguyên nhân chủ yếu là suất
sinh lợi của các khoản đầu các nước Đông Nam Á thấp hơn nhiều. Tham nhũng
chắc chắn là một trong những thủ phạm khi các quỹ đầu tư công bị bòn rút và thay đổi
mục đích sử dụng, hệ quả chi phí kinh doanh bị đội lên cao. Bên cạnh tham
nhũng thì một nguyên nhân quan trọng khác tự do hóa tài chính đã được thực hiện
quá sớm, toong khi hệ thống tài chính được thiết kế không thích hợp và chưa sẵn sàng.
Kết quả sự xuất hiện của các khoản đầu rủi ro sự hình thành bong bóng tài
sản. Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997 bộc lộ mức độ đầu quá
mức vào các bất động sảntính đầu Thái Lan và Indonesia. Cuộc khủng hoảng
này cũng phơi y tính thiếu công khai minh bạch một cách hệ thống toong
quản trị nội bộ công tytoong các bảng cân đối tài khoản của ngân hàng ở Thái Lan
Indonesia, do cácquan chức năng hai nước này đã không vận dụng chuẩn xác
những quy tắc điều tiết càn thiết theo chuẩn mực quốc tế . thể nói, cuộc khủng
hoảng tài chính-tiền tệ châu Á 1997 cũng bắt nguồn từ sự liên kết giữa chính sách tự
do hóa tài chính quá ư vội vàng và bất cẩn mà hậu quả là những cuộc khủng hoảng tài
chính xảy ra sau đó làm tiêu tan thành quả và công sức phấn đấu liên tục của các quốc
gia .
Thứ sáu, thể nói, hiệu năng của nhà nước các quốc gia Đông Nam Á, chủ yếu
ASEAN, không mạnh mẽ quyết liệt được như khu vực Đông Á. Phải chăng
ngoài s khác biệt về văn hoá, sự khác biệt đó còn bắt nguồn từ những nguyên nhân
sau? Một là, trái hẳn so với Đông Á, các quốc gia ASEAN, do không có sự “ngăn
cách hay ít có sự độc lập tương đối” giữa nhà nước với các nhóm lợi ích (chính trị, tôn
giáo) các tập đoàn kinh tế lớn, nên chính phủ các nước này rất khó trong việc xác
định và xây dựng được một cách đúng đắn ngay từ đầu những nhân tố cơ bản cần thiết
cho phát triển kinh tế-xã hội. Chính thế, sở hạ tầng kinh tế, giáo dục, y tế, an
sinh hội đã không được đầu thích đáng và, do vậy, đã không thỏa mãn được kỳ
vọng của nhân dân về chất lượng. Thực tế cho thấy, trong nhiều năm qua, kinh tế
các nước này không hẳn được điều hành một cách công tâm bởi những nhà
chuyên môn thực sự, với mục tiêu sự phát triển chung của đất nước luôn được đặt
lên hàng đầu. Chính thế, uy tín khó khăn lắm mới được của một số nhà nước
ASEAN trên phương diện quản đã dần bị xói mòn một số sai lầm, do
không theo kịp được với sự phức tạp ngày càng tăng của nền kinh tế. Hậu quả là,
trong nhiêu năm qua, người dân các quôc gia này tương đôi thât vọng với các dịch
vụ thiêt yêu đó một trong các do dân đên những cuộc biêu tình làm chao đảo
5
nhiều chính phủ lung lay sự lãnh đạo của các đảng cầm quyền như Indonesia,
Thái Lan Philippines. Hai là, so với các chính phủ Đông Á, chính phủ các nước
ASEAN chưa thê hiện rõ được những quyêt tâm chính trị mạnh mẽ của họ để thay đôi
khi cần thiết. Chẳng hạn, Hàn Quốc đã phản ứng một cách mạnh mẽ, quyết liệt
thực sự hiệu quả trước những yếu kém trong cấu trúc nền kinh tế họ nhận ra được
từ cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á năm 1997, họ phải cầu đến sự trợ
giúp của IMF kèm theo những thoả hiệp rất khắc nghiệt. Nhưng, nhờ đó họ đã trỗi dậy
mạnh mẽ vững vàng hơn, để tự tin tham gia vào hàng ngũ các nước công nghiệp
phát triển (OECD). Trong khi đó, hầu như chưa một nước ASEAN nào làm thành
công được tới mức như vậy, ngay cả Indonesia Malaysia, được coi thành công
nhất ASEAN trong việc thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng tài chính này. Ba là, nếu các
chính phủ Đông Á, ngay từ đầu, đã chủ trương thượng tôn pháp luật, trong đó hệ
thống tư pháp không chịu sự chi phối của các thế lực chính trị có tính đảng phái, thì
các nước ASEAN, duy chỉ có Singapore là quốc gia đầu tiên ưu tiên cao cho việc củng
cố hệ thống luật pháp, còn hầu hết các nước khác, do stồn tại của chủ nghĩa bản
thân hữu và sự chi phối của các nhóm lợi ích đặc biệt, gồm cả các tập đoàn kinh tế lẫn
các giới chức tôn giáo, một số gia đình có quyền thế và, thậm chí cả một số hoàng gia,
nên môi trường thuận lợi, khuyến khích giao dịch kinh tế đầu đã không hay
chậm được hình thành. Đồng thời, việc đề cao thượng tôn pháp luật đã không trở
thành một khí then chốt sắc bén để chống tham nhũng suốt nhiều thập kỷ qua.
Bổn là, đồng thời, khác với Đông Á, các nhà lãnh đạo của các nước ASEAN đã không
hoàn toàn được những quyết định dựa trên những phân tích chính sách chất
lượng và kịp thời. Bởi vì, khác với Đông Á, họ đã không tạo ra được những tranh luận
chính sách thực sự thẳng thắn cởi mở giữa các nhà hoạch định chính sách trong
chính phủ, các nhà khoa học, giới kinh doanh, giới truyền thông, đại diện người lao
động và người tiêu dùng về nội dung và đường hướng của chính sách kinh tế. Điều đó
có nghĩa là, các chính sách kinh tế ở ASEAN được đề ra phần nhiều vẫn không phải là
kết quả của sự tranh luận hợp tác giữa những tác nhân tham gia thực hiện, chịu tác
động thụ hưởng những kết quả của các chính sách đó, phần nhiều đều do các
quan chức tại các bộ chuyên ngành độc quyền đề ra theo một cách thiếu công khai
minh bạch. Chính thế, các chính sách này rất dễ bị các nhóm lợi ích thao túng
bóp méo vì những lợi ích cục bộ, thiển cận và thiếu tầm nhìn dài hạn.
Thứ bảy, so với các nền kinh tế Đông Á, vấn đề công bằng hội, trong đó trọng
tâm việc phát triển nguồn nhân lực, đã không được các nước Đông Nam Á
(ASEAN) coi trọng đúng mức, nếu không muốn nói bị coi nhẹ. thể nói, nếu
hình Đông Á, cho đen nay, sự tăng trưởng nhanh về kinh tế thường được kết hợp
hay đi liền với việc tạo dựng duy trì sự công bằng hội tới mức ít ra thể
châp nhận được đối với hầu hết tác nhân tham gia, thì trái lại, tình trạng bất bình đẳng
lại vẻ như ngày càng rộng sâu săc hơn Indonesia, Malaysia, Philippines
Thái Lan. Phải chăng đây là hậu quả của tình trạng “mải tranh giành quyền lực, lợi lộc
và tham nhũng của các nhóm lợi ích, các tầng lớp chóp bu”, và của việc lao theo chính
sách “tăng trưởng cao bằng mọi giá” quên mất người dân diễn ra từ nhiều thập kỷ
sau khi giành được độc lập ở các quốc gia Đông Nam Á này. Ở các quốc gia này, mặc
dù mức phân phối thu nhập đồng đều hơn so với các nước ở Châu Phi và Mỹ La-tinh ,
song bất bình đẳng hội vẫn thể hiện rệt các nước này không chỉ phân phối
thu nhập mà còn ở cả ba phương diện quan trọng của chính sách phát triển con người,
6
đó là giáo dục, y tế, và mạng lưới an sinh xã hội. Đáng tiếc là trong quá trình tìm cách
để “hoá Rồng, hoá Hổ”, các quốc gia Đông Nam Á đã không làm tót được cả ba vấn
đề này.
Hệ thống giáo dục kém không những khiến nguồn nhân lực không đáp ứng được
yêu câu phát triên lâu dài của đât nước bản thân họ lại không hội để thể
nâng cao được thu nhập. các nước ASEAN, bản thân hệ thống giáo dục đào tạo,
ở hầu như tất cả các cấp học, đều tỏ ra thua kém so vớikhu vực Đông Á. Mặc dù có
sự khác nhau nhất định giữa các quốc gia, song nói chung, hệ thống giáo dục Đông
Nam Á đã không được hưởng những điều kiện những khoản đầu tốt nhất. Hậu
quả chất lượng các nhà trường kèm theo đó chất lượng giáo dục (dạy học)
không cao, không phủ khắp tới mọi miền đất nước, với những điều kiện cơ sở trường
lớp chất lượng dạy học như nhau. Do đó, không phải ai cũng thể tiếp cận
binh đẳng được đến các điều kiện này. Con em những gia đình giàu thì được vào
các trường chất lượng cao hoặc ra nước ngoài, tới các nước tiên tiến Âu, Mỹ, để học
tập, còn con em những gia đình nghèo, nông thôn, các vùng sâu vùng xa hay của
những gia đình bị coi “bên lề, nhập các đô thị”, thì buộc phải bằng lòng với
việc học các trường chất lượng thấp, “không tên tuổi”, thậm chí “trường không ra
trường, lớp không ra lớp”, hoặc buộc phải bỏ học, do không tiền để đóng học phí.
Sản phẩm tất yếu của nền giáo dục “không công bằng” đó nguồn nhân lực sự
chênh lệch đáng kể về chất lượng. Kết quả những học sinh nghèo tốt nghiệp các
trường “không đạt chuẩn” thích ứng kém hơn với thị trường lao động và, do vậy, phải
nhận mức lương thấp hơn. Như vậy, thất bại của hệ thống trường phổ thông và đại học
của nhiều nước ASEAN đã gây nên di hại lâu dài cho sự tăng trưởng công bằng
hội của quốc gia .
về hệ thống chăm sóc sức khoẻ, nhất mạng lưới y tế công cộng, không ai thê
bác bỏ được thực hiên nhiên là, cùng với s cải thiện kinh tế suốt hơn hơn bốn
thập kỷ phát triển thăng trầm vừa qua, loại dịch vụ công này hầu hết các nước
ASEAN cũng đã được phát triển đáng kể nhờ đó, đã đóng góp không nhỏ vào tiến
trình phát triên này cũng như vào việc cải thiện sức khoẻ cho người dân của mình.
Chẳng hạn, biểu hiện tập trung và rõ rệt nhất của thành công này là tuổi thọ bình quân
của hầu hết các nước ASEAN đã được nâng lên trên 70 tuổi, tỉ lệ người già (trên
60) trong dân chúng đang ngày càng lớn hơn. Tuy vậy, so với lĩnh vực nàyĐông Á,
thì cả trình độ, tốc độ, độ bao phủ và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ở ASEAN
thấp chậm cải thiện hơn nhiều. Ngay như hiện nay, chi phí khám chữa bệnh vẫn
còn một nỗi kinh hoàng việc được tiếp cận với các dịch vụ y tế chất lượng cao
(thậm chí tàm tạm) vẫn một ước xa vời đối với nhiều người mức thu nhập
thấp trung bình, nhất những gia đình nông dân, miền núi (vùng đông bắc Thái
Lan) hoặc các đảo xa (ở Indonesia, Malaysia Philipines). Hậu quả là, so với các
quốc gia Đông Á, sức khoẻ của người dân các quốc gia ASEAN chậm được cải thiện,
tỉ lệ chết của trẻ sinh dưới 5 tuổi, vẫn cao dịch bệnh thường xuyên tái phát
các khu chuột đô thị, các vùng nông thôn miền núi, do ô nhiễm môi trường, điều
kiện sinh hoạt ăn uống kém do thiếu những điều kiện chăm sóc sức khoẻ tối
thiểu .
Đâu tác nhân của stồn tại dai dẳng làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng
hội ở Đông Nam Á?
7
Trước tiên, như trên chúng ta vừa phân tích, sự tiếp cận giáo dục không đồng
đều, nhất cấp giáo dục đại học dạy nghề. Campuchia, Myanmar Việt
Nam, chỉ 10% số người theo đuổi giáo dục đại học, Malaysia, Thái Lan
Indonesia cao hơn một chút, song vẫn thấp xa so với 86% Mỹ khoảng 60%
Nhật và Anh. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ước tính tình trạng bất bình đẳng sẽ
giảm đáng kể khoảng 13 - 16% nếu khoảng chênh lệch trong tiếp cận giáo dục được
thu hẹp'7.
Thứ hai hình tăng trưởng hướng mạnh về xuất khẩu của phần lớn các nền
kinh tế ASEAN. đi kèm với hình này thường các chính sách khuyến khích
như ưu đãi về đất đai, miễn giảm thuế cho nhà đầu tư, hay miễn giảm thuế khi đầu
vào các khu công nghiệp. Hệ quả lợi nhuận ngày càng tập trung hay đổ dồn vào
người sở hữu vốn (hay người giàu) - vốn chỉ chiếm số ít trong dân chúng - thay
hướng đến phục vụ cho số đông nghèo khổ.
Thứ ba là vấn đề về thông tin hạn chế, và hệ thống y tế và phúc lợi không đến được
với người nghèo, nhất hiệu quả của mạng lưới an sinh hội - rất thấp không
phủ kín được phần lớn dân chúng (nghèo khó ở nông thôn và miền núi xa xôi).
Cuối cùng làm gia tăng trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng hội các
quốc gia Đông Nam Á sự tồn tại dai dẳng lan rộng của nạn tham nhũng - kẻ thù
của người nghèo sự công bằnghội. Đáng tiếc là, trong khi Đông Ả, trừ Trung
Quốc, hầu hét các quốc gia đều được xếp vào nhóm nước mức tham nhũng thấp
nhât thê giới, thì theo chỉ quản trị của Ngân hàng Thế giới, trong s mười nước
ASEAN, chỉ ba nước Brunei, Malaysia Singapore, kiểm soát tham nhũng tốt
hon những nước có cùng mức độ tăng trưởng.
Tương tự như các nền kinh tế Đông Á, ngày nay, cùng với những khiếm khuyết của
hình cung cách phát triển cũ, các quốc gia Đông Nam Á, với cốt lõi một số
nước ASEAN còn chịu ảnh hưởng (thuận, nghịch) của những biên đổi to lớn của môi
trường kinh tế và chính trị khu vực Ỷà thể giới mang lại.
- Thứ nhất, nói chung, hầu hết các nước trên thế giới, từ các nền kinh tế lớn (như
Mỹ, EU, Nhật Bản Trung Quốc), đang trỗi dậy (như BRICs), đến các nước đang
phát triên, nhỏ, trong mấy năm gần đây, đều đang gặp phải những khó khăn không dễ
khăc phục găn với hình phát triển kinh tế hiện thời. Tất c họ đều buộc phải thay
đổi ở các mức độ và phạm vi khác nhau mô hình phát triển kinh tểâẵ tồn tại qua nhiều
thập kỷ từ sau Chiến ừanh thứ hai hoặc sau khi giành được độc lập, đã phát huy hết
tác dụng hoặc không còn phù hợp với hoàn cảnh mới, tìm cách chuyển sang
hình phát triển mới với những đặc trưng khác. Trong trào lưu chung đó, các nước
Đông Nam Á (với hạt nhân là các quốc gia ASEAN) cũng không phải là ngoại lệ hoặc
không thể đứng ngoài, mà chỉ làm như thế nào và theo một mô hình với sắc thái ra sao
thôi.
- Thứ hai, so với khoảng hơn ba thập kỷ trước, khi ASEAN bắt đầu tăng tốc quá
trình công nghiệp hóa, ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã phát triển rất
mạnh mẽ sâu rộng với những thành tựu cùng quan trọng, tiêu biểu sự ra
đời phát triển của công nghệ thông tin, của internet, khiến cho thế giới đã trở nên
“phang hơn”, việc chuyển sang nền kinh tế tri thức với những đặc điểm khác hẳn
trước đang trở thành một xu hướng tất yếu ở hầu hết mọi quốc gia. Trong bối cảnh đó,
các vấn đề như cấu kinh tế, định hướng thị trường, phát triển nguồn nhân lực, nhất
8
nguồn nhân lực chất lượng cao, cùng cung cách quản công ty quản trị nền
kinh tế phải được đánh giá xây dựng lại hoặc phải điều chỉnh lại theo hướng khác
hẳn trước.
- Thứ ba, ngày nay, cùng với toàn cầu hóa hội nhập quốc tế, các quy tắc của
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) không cho phép các nước bảo hộ các ngành
công nghiệp non trẻ bằng các trợ cấp trực tiếp, hành chính cũng như các biện pháp
thuế quan phi thuế quan như trước nữa. Ngay cả cho các nước ASEAN có được
phép thực hiện những chính sách bảo hộ này, thì nhiều khả năng chúng cũng sẽ
không vận hành theo cùng một cách như trước. thế, vai trò, các công cụ chính
sách điều chỉnh của nhà nước nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp cũng không còn hoàn
toàn như trước được nữa. Bên cạnh đỏ, toàn cầu hóa đi kèm tính bất định gia tăng
cùng sự dịch chuyển của các luồng vốn cũng chứa đựng không ít rủi ro, có thể gây bất
ổn thậm chí khủng hoảng nếu thiểu những cải cách chính sách bên trong
lộ trình mở cửa tài chính thích họp. Thêm vào đó, một số giao dịch quốc tế,dụ như
dòng vổn ngắn hạn, cần phải được kiểm soát để tránh hiện tượng đổ bộ hay rút lui bất
thình lình. Sẽ có một sự dịch chuyển rất mạnh trong cấu trúc kinh tể toàn cầu. Kinh tế
toàn cầu nói chung nền kinh tế của từng quốc gia nói riêng sẽ được cấu lại,
trong đó các ngành, các sản phẩm tiết kiệm năng lượng thân thiện với môi trường sẽ
được quan tâm hơn. Thế giới không thể tiếp tục hình tăng trưởng kinh tế dựa vào
sự tiêu thụ của các nước phát triển, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch đang nổi lên, biến đổi
khí hậu đang trở thành vấn đề toàn cầu. hình kinh mới với đường lối cân bằng,
bình đăng phô quát hơn sẽ thúc đây sự bên vững, xóa đói nghèo, tăng cường phúc
lợi .
- Thứ tư, cùng với quá trình toàn cầu hoá, mở cửa để hội nhập khu vực quốc
tế ngày càng sâu rộng đã trở thành một thực tế không thể chối bỏ, sự họp tác kinh
tế quôc không còn đơn thuần chỉ đầu xuất nhập khẩu, phải nền kinh
tế mạng, sự họp tác theo chuỗi giá trị gia tăng trên sở lợi thế so sánh. Điều đó
càng khiên cho cung cách điêu hành quản trị nền kinh tế toàn cầu, khu vực, quốc
gia và công ty vào cuôi thê kỷ XXđâu thể kỷ XXI cũng có những thay đổi căn bản
và mạnh mẽ. Những thay đổi trong hoạt động kinh doanh toàn cầu đã khiến cho những
hình của các quôc gia y trở nên lỗi thời. Câu hỏi của ngày hôm nay không
còn liệu một quôc gia thể tự mình đi từ việc sản xuất áo sơ-mi lên sản suất thép
rồi ôtô hay không. Ngày nay, trên thế giới chỉ còn một số rất ít các hãng sản xuất ô
độc lập, thách thức đặt ra cho các nước công nghiệp hóa muộn làm thế nào để
kết nối với những hệ thống sản xuất toàn cầu hiện hữu trên cơ sở giảm giá thành, tăng
năng suât và cài tiên kỹ thuật. Bảo hộ thương mại không phải là một công cụ hữu hiệu
để đạt được mục tiêu y. Hơn nữa, sự thay đổi hệ thống tiền tệ quốc tế thời kỳ hậu
Bretton Woods đã hạn chế phạm vi hoạt động của chính sách tỷ giá hối đoái. Thêm
vào đó, đầu trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với
các nước đang phát triển, cho phép các nước khai thác lợi thế này thông qua những
chính sách công nghiệp của mình.
- Thứ năm, trong hơn một thập niên qua, giá nguyên vật liệu, nhất xăng dầu,
trên thế giới, lên xuống thất thường, song xu hướng chủ đạo tăng nhanh hiện
đang dừng mức cao, cho thấy kỷ nguyên tài nguyên rẻ đã kết thúc mở ra kỷ
nguyên khan hiếm (thậm chí cạn kiệt) nguyên nhiên liệu không thể tái sinh. Điều đó
không chỉ làm thay đổi tương quan lực lượng giữa các nước giàu tài nguyên (dầu mỏ,
9
khí đốt, đất hiếm) với các quốc gia tiêu thụ nhiều tài nguyên thiên nhiên khác, tác
động tiêu cực đến sự tăng trưởng chung của nền kinh tế toàn cầu và của từng quốc gia.
Điều quan trọng là, thực trạng đó đang sẽ buộc các nước (trong đó các nước
ASEAN) phải xem t lại hình tăng trưởng chiến lược phát triển dựa vào khai
thác hay tiêu tốn nhiều tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm của mình trước đây, để
chuyển sang hình hiệu quả hơn, tiết kiệm tài nguyên nhiên liệu hơn, nhất
những loại nguyên nhiên liệu không thể tái tạo được, và không hay giảm thiểu được ô
nhiễm môi trường. Hay nói cách khác, thế giới đang nhu cầu chuyển sang một nền
kinh tế xanh và bền vững.
Đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua tính nghiêm trọng, tác
động kéo dài và đụng chạm đến những vấn đề rất cơ bản và cốt lõi của các nền kinh tế
quốc gia toàn cầu, không thể giải quyết được nếu chỉ dừng lại các giải pháp
thông thường, thậm chí buộc người ta phải xem lại không chỉ các chính sách,
cả hình lẫn cung cách quản nền kinh tế (toàn cầu quốc gia) quản trị
công ty trước đây. Đó là những vấn đề cơ bản nào?
Thứ nhất, có lẽ đó sự lạc hậu, bất lực, không tương thích không phù hợp của
câu chức, các cung cách vận hành, điêu chỉnh quản trị của các tổ chức chính
trị, kinh tế tài chính-tiền tệ quốc tế như Liên hợp quốc, IMF WB, ra đời trên cơ
sở của hoàn cảnh và trình độ phát triển kinh tế và chính trị sau chiến tranh thế giới thứ
hai, trước những hoàn cảnh mới và hoàn toàn khác của đầu thế kỷ XXL
Thứ hai, từ cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, với sự xuất hiện của chủ
nghĩa tự do mới, quan hệ giữa nhà nước và thị trường đã bị đảo lộn theo hướng vai trò
của nhà nước ngày càng bị thu hẹp đến mức tối thiểu, còn thị trường được khuyến
khích, ngày càng lấn sân hay lấn át nhà nước được coi quyền lực gần như
tuyệt đôi không bị kiêm soát trong việc vận hành nên kinh cả hội. Nguyên
cân bằng, hài hoà trong việc giải quyết mối quan hệ giữa thị trường nhà nước
trong vận hành nền kinh tế thị trường bị vi phạm nghiêm trọng. Dường như cuộc
khủng hoảng lần này nảy sinh một phần lớn là do sự mất cân đối nghiêm trọng đó.
Thứ ba, trong gần ba thập kỷ qua, trong khi các nền kinh tế công nghiệp phát triên,
trước hêt Mỹ, đâu tàu của nên kinh thê giới, phát triển chủ yếu theo hình của
một xã hội tiêu dùng, hạn chế tiết kiệm và phụ thuộc vào hàng tiêu dùng nhập khâu từ
bên ngoài, thì các nên kinh đang phát triên, nhât châu Á, lại thiên về việc tiết
kiệm, thúc đẩy đầu để phát triển hình công nghiệp hóa theo chiều rộng, gia
công bằng nguồn vốn bên ngoài và hướng về xuất khẩu. Mối cân bằng này đã tiến dần
đến mất cân đối nghiêm trọng chỗ, các nền kinh tế phát triển đã trở n tiêu dùng
thái quá, vượt cả những họ sản xuất ra, khiến họ phải phụ thuộc vàong nhập
khẩu, phải đi vay để đầu tiết kiệm trong nước quá thấp, thiếu hụt ngân sách
cán cân thanh toán ngày càng nghiêm trọng. Trong khi đó, các nền kinh tế châu Á lại
tiết kiệm quá nhiều tiêu dùng quá ít, họ phải phụ thuộc nặng vào nước ngoài, nhất
Mỹ các nước phát fríen khác, về thị trường cho các mặt hàng xuất khẩu của
mình, cũng như về nguồn cung cấp vốn (đầu trực tiếp, gián tiếp, kiều hối). Hậu
quả là, khi nền tài chính sau đó kinh tế Mỹ các bạn hàng chủ yếu bị trục trặc,
thị trường tiêu thụ khổng lồ cho các mặt hàng xuất khẩu của châu Á bị thu hẹp đột
10
ngột, dễ đẩy các nền kinh tế này vào suy thoái và khủng hoảng nghiêm trọng do nguồn
cung cấp vốn và thị trường tiêu thụ hàng xuất khẩu của họ bị cắt giảm đáng kể .
Thứ tư, không ít các ý kiến cho rằng, một trong những nguyên nhân căn bản gây ra
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nghiêm trọng như vậy, một phần không nhỏ, là do,
cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh do thị trường điều tiết một cách không
kiểm soát, nhân loại đã bị đẩy tới giới hạn của các nguồn lực tự nhiên, phải đối mặt
với những cuộc khủng hoảng thiếu lương thực, nguyên liệu năng lượng, với tình
trạng ô nhiêm biên đổi khí hậu nghiêm trọng đang tác động trực tiếp tới sự tồn
vong của mình không thể không giải quyết ngay nhằm tránh nổ ra những cuộc
chiến tranh kinh tế và thương mại nghiệm trọng.
Tính chất cơ bản và lâu dài của các vấn đề này cho thấy việc giải quyết chúng cũng
đòi hỏi những giải pháp cũng rất bản lâu dài, song phải cần làm ngay. Do đó,
ngay từ khi khủng hoảng nổ ra, người ta cũng đã bàn, cam kết bước đầu đã
những chính sách giải pháp theo hướng này. Một là, trong lĩnh vực quản trị phát
triên toàn câu, người ta đã cam kêt phải nhanh chóng cải tô các chức chính trị, kinh
tài chính quốc tế, nhất Liên hợp quốc, Quỹ Tiền tệ quốc tế Ngân hàng Thế
giới để gia tăng hiệu quả của quản trị nền kinh tế toàn cầu, khiến cho chúng trở nên
minh bạch hơn, đảm bảo nguyện vọng nhu cầu của từng quốc gia đều được lắng
nghe tính đến, phù họp với tương quan lực lượng trật tự mới giữa các quốc gia.
Trên thực tê, trong vài năm qua, đã có rât nhiều các cuộc hội nghị, hội thảo các cấp, để
bàn và đưa ra các giải pháp theo hướng trên cho vấn đề này. Hai là, cuộc khủng hoảng
lần này, nổ ra một phan do sự chi phối thái quá trong một thời gian dài của chủ
nghĩa tự do mới, đã đưa người ta đến nhận thức thống nhất như sau: Mặc sự can
thiệp của nhà nước cần thiết, song không nghĩa nhà nước cần can thiệp nhiều
hơn, phải hiệu quả hơn phù họp hơn với năng lực vốn của nó. Điểu quan
ữọng là, sự can thiệp của nhà nước không được đi ngược lại các nguyên tắc của kinh
tế thị trường và không thay thế các thể ché kinh tế thị trường. Ba là, cuộc khủng hoảng
tài chính suy thoái kinh tế lầny cũng khiến người ta vỡ ra một điều là, các nước
châu Á, nhất các nước đang phát ưiển Đông Nam Á, không thể tiếp tục thắt lưng
buộc bụng, tiết kiệm chi tiêu, tập trung cho đầu sản xuất để xuất khẩu sang các thị
trường hướng về tiêu dùng các nước công nghiệp phát triển, các nước phát triển,
như Mỹ, cũng không thể “lao theo” hội tiêu dùng quên mất thói quen tiết kiệm
để đầu cho sản xuất được nữa. Với nhận thức như vậy, nên ngay từ bây giờ, nhiều
nước châu Á đang kế hoạch chuyển sang một chính sách công nghiệp thương
mại, ngoài việc đẩy mạnh xuất khẩu, còn lấy nhu cầu nội địa làm động lực tăng trưởng
chính, còn các nước công nghiệp phát triển cũng cần những chính sách khuyến
khích người dân hạn chế tiêu dùng cố gắng tiết kiệm để đầu tư. Tuy vậy, để thể
hiện thực hoá được ý đồ này, cả các nước châu Á lẫn các nước phát triển sẽ phải thay
đổi cả một nền văn hóa, một phong cách tiêu dùng một đường lối phát triển đã
từ nhiều thập niên qua, và chắc chắn điều đó không thể làm được trong ngày một ngày
hai. Bổn là, ý kiến cho rằng, hình tăng trưởng không chú trọng đúng mức tới
tính hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên sự bền vững trong khai thác
tài nguyên thiên nhiên tuy vẫn có thể tiếp tục thành công trong một thời gian nhưng về
lâu dài chắc chắn sẽ phải trả giá rất đắt.thế, nên một ừong những vấn đềcác tổ
chức quốc tế, các nước đang bàn đến nhiều nhất một số nước đã bắt đầu những
cam kết cùng nhau giảm bớt lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, tiến hành chuyển
11
đổi cơ cấu kinh tế và cải tiến công nghệ theo hướng xây dựng một nền kinh tế xanh và
phát triển bền vững, thống nhất coi đó một trong những giải pháp bản để tránh
xảy ra khủng hoảng và duy trì sự tồn tại của loài người. Đó là một nền kinh tế có công
nghệ cao, tiêu hao ít nguyên nhiên liệu, không gây ô nhiêm môi trường. Năm là, phải
nói rằng, trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, tầng lóp hay nhóm người
bị tác động tiêu cực nặng nề nhất hay dễ bị tổn thương nhất là những người nghèo,
thu nhập thấp. hầu hết các quốc gia, khủng hoảng lần này đã khiến cho đội ngũ
người nghèo trở nên đông đảo nghèo khó hơn, khiến cho chênh lệch giàu nghèo
doãng rộng ra hơn bao giờ hết hậu quả là bất bình đẳng bất mãn hội càng trở
nên nghiêm trọng n. Đê giảm thiêu những tác động tiêu cực đến người nghèo,
thường chiếm tỉ lệ cao trong dân số các nước Đông Nam Á, hầu hết các chính phủ đều
đã những gói kích câu khổng lồ, nhằm không chỉ cứu vớt các tổ chức tài chính tín
dụng các tập đoàn kinh doanh lớn khỏi bị phá sàn, còn để trợ cấp cho nhóm
người nghèo nhât trong hội, giúp họ sớm ổn định cuộc sống sau khủng hoảng. Tuy
vậy, sẽ là hoàn toàn không đủ và không căn bản, nếu chỉ dừng ở những giải pháp ngắn
hạn, nhất thời như vậy. Do đó, theo khuyến cáo của các chuyên gia, giải pháp quan
trọng, căn bản lâu dài các nước cần tiến hành phải tiến đến một chiến
lược, một hình phát triển khác, phù hợp với bối cảnh mới, thể giúp giảm nghèo
bền vững giảm thiêu sbât bình đăng - mâm mông của sự bât mãn rối loạn
hội.
Trong bổi cảnh xu hướng điều chỉnh chung như vậy, mỗi nền kinh tế cần tự
đánh giá chọn cho mình những cách giải quyết tốt nhất thông qua các giải pháp cải
cách điều chỉnh phù họp. Các nước Đông Nam Á, cốt lõi các quốc gia
ASEAN, cũng vậy, muốn “hoá Rồng, hoá Hổ”, họ không thể không tham gia vào tiến
trình chung đó của nhân loại.
a. Indonesia
Indonesia một quốc gia trẻ- chỉ thực sự độc lập từ năm 1949, khi Lan quyết
định từ bỏ chế độ cai trị thực dân việc kiểm soát các sở sản xuất cung cấp
hàng hoá của mình tại quốc gia này. Nhưng có thể nói, vận mệnh của đất nước này chỉ
thực sự bắt đầu xoay chuyển vào khoảng năm 1998, khi Tổng thống Suharto bị phế
truất khỏi chiếc ghế tổng thống ông đã độc quyền nắm giữ liên tục (hơn 30 năm)
từ năm 1967. Sự quá độ sang nền dân chủ đã mở ra một kỷ nguyên kinh tể và chính trị
mới làm xoay chuyển hẳn đất nước 246 triệu dân hầu hết theo đạo Hồi (tới 88%
dân số) này. Từ đó, các chính phủ Indonesia khác nhau kế tiếp cố gắng những
chính sách điều chỉnh nhằm đưa nền kinh tế Indonesia thoát ra khỏi “vùng trũng kinh
tế khu vực”. Tuy vậy, theo nhận định của các chuyên gia trong ngoài nước, những
cải cách căn bản lâu dài hơn chỉ thực s bắt đầu khi Tổng thống Susilo Bambang
Yudhoyono lên nắm quyền (vào cuối năm 2004) chấm dứt được thời kỳ chao đảo
chính trị liên tục hậu Suharto. Những cải cách đó đã bắt đầu đụng chạm đến những
vấn đề cốt lõi nhất của nền kinh tế, đó đánh giá lại con đường hay hình tăng
trưởng kinh tế tồn tại suốt từ thời Suharto, hiện vẫn còn để lại những di chứng rất
nặng nề hướng dần đến một hình tăng trưởng mới, không chỉ tốc độ cao,
sức cạnh tranh sáng tạo,còn bền vũng, công bằng hơn và thu hút được sự tham
gia của đông đảo người dân.
12
(ỉ) Mục tiêu chuyển đổi: thể nói, biểu hiện tập trung nhất (cả về mục tiêu, nội
dung, biện pháp,...) của việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Indonesia được
thể hiện trong Quy hoạch tổng thể “Tăng cường Mở rộng Phát triển Kinh tế
Indonesia 2011-2025” (Master Plan for "Acceleration and Expansion of Indonesia's
Economic Development 2011-2025" - MP3EI) do Chính phủ Indonesia triển khai từ
ngày 27 tháng 5m 2011. Trong đó, mục tiêu chủ đạo của MP3EI xây dựng được
một nền kinh tế Indonesia tăng trưởng cao, cân đối, tự do, dân chủ, công bằng bền
vững nhằm tạo nền tảng biến Indonesia thành một trong 10 nền kinh tế phát triển lớn
nhất thế giới vào năm 2025, với thu nhập bình quân đầu người dự tính đạt 14.250-
15.500USD tổng sản phẩm nội địa đạt 4.000-4.500 tỉ USD. Để đạt được những
mục tiêu này, dự kiến Indonesia phải đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình
thực từ 6,4% đến 7,5%/năm cho cả thời kỳ 2011-2014. Cùng với tăng trưởng kinh
tế như vậy, tôc độ lạm phát cũng phải giảm từ 6,5% trong thời kỳ 2011-2014 xuống
còn 3,0% vào năm 2025 .
(2) Những nhân tố tác động: Công cuộc chuyển đổi hình phát triển này của
Indonesia chịu tác động của những nhân tố chủ yếu sau:
Thứ nhất, Indonesia có những tiềm năng (hay thuận lợi) to lớn về nhân khẩu, sự dồi
dào phong phú các nguồn tài nguyên thiên nhiên, những lợi thế về địa sự ổn
định tương đối về chính trị hiện nay của nó. (i) về dân số, với 246 triệu người,
Indonesia nước đông dân thứ nước số người theo đạo Hồi lớn nhất thế
giới (chiếm 88% dân số cả nước). Sức mua ngày càng tăng nhanh của số dân khổng lồ
này đang tạo ra một thị trường đáng kể . Hơn nữa, cùng với số dân lớn, việc gia tăng
chất lượng nguồn nhân lực càng tạo ra được một lợi thế cạnh tranh tốt. Hiện nước này
đang trải qua thời kỳ dân số đông với “cơ cấu dân số vàng”. Điều quan trọng là, nếu
giáo dục phổ thông tiếp tục được cải thiện, thì năng suất lao động của Indonesia sẽ
tăng trưởng theo cấp số nhân, (ii) về tài nguyên thiên nhiên, Indonesia giàu cả các
nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái sinh được (nông sản) lẫn các nguồn tài nguyên
thiên nhiên không thể tái sinh được (khai thác khoáng sản). Việc s dụng các
nguồn tài nguyên thiên nhiên này sẽ đạt hiệu quả tối đa nếu Indonesia có thể xây dựng
được những ngành công nghiệp chế biến giá trị gia tăng cao, đồng thời giảm dần
được việc xuất khẩu nguyên nhiên liệu thô như trước đây. Hiện Indonesia là một trong
những nước lớn sản xuất xuất khẩu nhiều loại nguyên nhiên liệu trên thế giới.
Chẳng hạn, Indonesia là nước sản xuất và xuất khẩu lớn nhất dầu cọ, thứ hai về ca cao
và thiếc trên thế giới, về trữ lượng nickel và bauxite, Indonesia đứng thứ tư và thứ bẩy
trên thế giới, và là một trong những nước sản xuất lớn nhất thép, đồng, cao su và nghề
cá. Đồng thời, Indonesia có trữ lượng khổng lồ về than, năng lượng địa nhiệt, và nước
được dùng cho các ngành công nghiệp thuộc khu vực I như, dệt, đóng tàu, vận tải
cũng như thực phẩm đồ uống, (iii) về vị ứí địa lý, Indonesia quần đảo lớn nhất
thế giới, trải dài 5.200 km từ đông sang tây rộng 1.870 km. Indonesia liên hệ
trực tiếp với các thị trường lớn nhất thế giới, do nằm trên một ứong những tuyến hàng
hải sôi động kinh tế nhất thế giới - Eo biển Malacca - tuyến vận tải biển bằng
Container hàng đầu thế giới. Indonesia nằm cách hai nền kinh tể lớn tăng trưởng
nhanh nhất thế giới: Trung Quốc Ấn Độ 5 giờ đồng hồ đi lại. (iv) về ổn định và uy
tín của Indonesia, mặc cho tới nay nền kinh tế-xã hội Indonesia vẫn còn tồn tại rất
nhiều vấn đề (như thất nghiệp, lạm phát, mức sống chưa cao bất bình đẳng,...) gây
không ít khó khăn bất mãn cho người dân, song từ sau kỷ nguyên Suharto, nhất
13
dưới thời của Tổng thống s. B. Yudhoyono, nhờ những cải cách khác nhau, nền kinh
tế Indonesia đã trở nên thị trường hơn, nền chính trị hội Indonesia cũng cởi
mở dân chủ hơn so với thời trị của cựu Tổng thống Suharto, hoặc ít ra cũng ổn
định ít nguy rối loạn hơn nhiều .Đặc biệt hiện nay, Indonesia nước ASEAN
duy nhất chân trong Nhóm các nền kinh tế phát triển mới nổi (G20), tham gia
thực sự vào việc đánh giá, bàn thảo vạch ra giải pháp cũng như đường hướng phát
ừiển cho các vấn đề toàn cầu. thể nói, đó những tiền đề cùng quan trọng
thuận lợi cho việc khởi xướng, thực hiện thắng lợi của những đổi mới cải cách
rất căn bản ở quốc gia này.
Thứ hai, tuy vậy, bức tranh Indonesia hiện nay không chỉ toàn màu hồng, trái lại,
quôc gia này cũng đang đứng trước những vân đê, những khó khăn thách thức
không nhỏ, nếu không muốn nói hết sức nghiêm trọng cần vượt qua giải quyết,
từ tât cả các phương diện (cả kinh tê, chính trị lân xã hội), cả trong lân ngoài nước, cả
trước măt lân lâu dài, nhiều khó khăn, thách thức nảy sinh từ bàn thân từ việc
loại bỏ hình cũ. Trong số đó, thể kể ra như sau: (i) Mặc thu nhập quốc dân
theo đâu người đã tăng liên tục từ 2.200ƯSD năm 2000 lên 3.563USD năm 2012,
song Indonesia vân bị coi một nước thu nhập trung bình thấp. Trong 246 triệu
dân, vẫn hơn 32 triệu người hiện đang sống dưới mức nghèo khổ gần 1/2 số hộ
vẫn nằm quanh ngưỡng nghèo đói quốc gia với 200.262 rupiah (22USD)/tháng.
Không những thế, tốc độ tăng việc làm luôn thấp hơn tốc độ tăng dân số, nên thất
nghiệp hay thiếu việc làm vẫn luôn vấn đề thường trực cần giải quyết. Tệ n nữa
là, mặc đã cải thiện so với hơn một thập kỷ trước, song dịch vụ công kém tới
mức, vẫn bị đánh giá chưa tương xứng với tiêu chuẩn thu nhập trung bình. Chẳng
hạn, Indonesia vẫn còn kém về các chỉ số liên quan đến giáo dục, y tế sở hạ
tầng; do đó, theo đánh giá của Liên họp quốc, Indonesia không đạt được một số chỉ
tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) vào năm 2015. Ví dụ, các số liệu từ năm 2009 cho
thay, Indonesia vẫn tới 307 trẻ sinh bị chết trong số 100.000 em được sinh ra,
gấp 3 lần mục tiêu MDG đặt ra cho năm 2015 105. Đồng thời, tỉ lệ chết của
mẹ vẫn cao, cũng rất thể không hoàn thành được chỉ tiêu MDG. Ngoài ra, bất
chấp những tiến bộ gần đây, tỉ lệ dân số được tiếp cận với các điều kiện vệ sinh tiêu
chuẩn mới đạt 68% dân số, vẫn thấp xa so với mục tiêu 86% của thiên niên kỷ , (ii)
Mặc dù, từ sau khi Tổng thống s. B. Yudhoyono lên cầm quyền, nền kinh tế Indonesia
có những khởi sắc nhất định, tuy vậy, nhìn xa hơn, do triển vọng không chắc chắn của
nền kinh tế thế giới, Indonesia thấy phải tự chuẩn bị (có những cải cách giải pháp
căn bản hơn) để sẵn sàng cho những tác động nghịch tiềm tàng do schậm lại (thậm
chí rối loạn) của nền kinh tế Trung Quốc, do sự giảm hơn nữa của giá cả hàng hoá,
cho khả năng tái diễn tình trạng rối loạn các nước bạn hàng chính hay trên các thị
trường hàng hoá và tài chính chủ yếu, như Mỹ và EU . (iii) Mặc dù, cho đến nay, động
lực tăng trưởng chính của kinh tế Indonesia vẫn là nhu cầu trong nước, chủ yếu đến từ
đầu tiêu dùng trong nước. xuất khẩu của Indonesia chỉ chiếm 25% GDP, so
với trung bình 70% của các quốc gia Đông Nam Á còn lại. Sức mạnh thật sự của nước
này thị trường trong nước khổng lồ, nhờ tầng lớp trung lưu đang lớn lên nhanh
chóng - 50 triệu người Indonesia kiếm hon 4.000 USD/năm, con số này sẽ tăng 3
đến 5%/năm . thể nói, đây một yếu tổ giúp Indonesia không bị tác động quá
nghiêm trọng của/và thể thoát nhanh ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn càu
vừa qua. Mặc dù, theo nhiêu đánh giá, trong tưong lai xa, tình trạng hướng nội cũng
14
như tác động của hai nhân tố trong nước này vẫn tiếp tục mạnh khiến tốc độ tăng
trưởng kinh tế vẫn cao, song trong bôi cảnh toàn câu hóa hội nhập quốc tế khu
vực ASEAN ngày càng sâu rộng, Indonesia chắc chắn vẫn phải xem xét để tận dụng
được những lợi thế và giảm thiêu những tác động tiêu cực của cả hai xu hướng (hướng
ngoại hướng nội) cho sự phát triển cao bền vững của mình, (iv) cấu kinh tế
hiện hành của Indonesia dựa chủ yếu vào nông nghiệp những ngành công nghiệp
khai thác tận dụng tài nguyên thiên nhiên. Chỉ rất ít các ngành công nghiệp tập
trung vào những sản phâm có giá trị gia tăng cao. Ngoài ra, còn sự chênh lệch phát
triển giữa miền tây miền đông của Indonesia. Việc dựa vào nông nghiệp như bệ
đỡ vừa là một lợi thế của nền kinh tế Indonesia khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra
khiến nhu cầu giá hàng công nghiệp sa sút, song cũng khiến nước này chậm chân
thiếu sức cạnh tranh trong các cuộc cạnh tranh toàn cầu các mặt hàng công
nghiệp giá trị gia tăng cao. thế, trong tương lai, bài toán đặt ra cho Indonesia
phải làm sao vừa phát triển được các ngành công nghiệp hiện đại giá trị gia tăng
cao để tham gia cuộc chơi toàn cầu, lại vừa tận dụng được những ưu thế của một nước
nông nghiệp, để mở rộng phát ừiển kinh tế ra toàn quốc theo hướng nhanh, bền vững
bình đẳng hơn. (v) Một thách thức khác đối với quần đảo khổng lồ này sở hạ
tầng cho các hoạt động kinh tế. Bản thân sở hạ tầng một phổ rất rộng chưa
được chú ý phát triển đầy đủ Indonesia. Đặc biệt, cho đến nay, sự kết nối (hệ thống
đường giao thông và mạng lưới thông tin liên lạc) giữa các khu vực (và các đảo) thành
một thể liên thông thống nhất để thúc đẩy mở rộng sự phát triển kinh tế, theo
đánh giá chưa tốt. Do đó, chi phí vận tải hậu cần Indonesia chưa sức hấp
dẫn, nhờ đó sức cạnh tranh của sản phẩm chậm được cải thiện, nên chưa tác dụng
thúc đẩy tăng trường kinh tế , (vi) Chất lượng nguồn nhân lực cũng đang là một thách
thức lớn đối với Indonesia. Hiện chỉ khoảng 50% công nhân Indonesia đạt trinh độ
giáo dục sơ cấp, và chỉ có 8% có bằng giáo dục chính quy. Chất lượng nguồn nhân lực
còn nhiều vấn đề của quốc gia này hậu quả của việc tiếp cận chưa tốt không
đồng đều đến nền giáo dục chất lượng, các điều kiện y tế, cũng như sở hạ tầng
bản. (vii) Hiện Indonesia cũng đang phải đương đầu với nhiều vấn đề nan giải do
việc đô thị hóa nhanh chóng gây ra. Năm 2010, đã 53% dân số Indonesia sống
các đô thị, người ta dự đoán rằng, vào năm 2025, dân số các đô thị sẽ đạt tới
65%. Tình trạng này đã, đang sẽ còn tác động tiêu cực, trực tiếp thấy trước đến
việc cung cấp các dịch vụ công, đến hình di cư, đến những thay đổi của hình
cấu tiêu dùng sản xuất. Đồng thời, còn tác động đến cấu việc làm,
những xung đột ngày càng tăng trong sử dụng đât, và làm tăng nhu cầu phải có các
sở hạ tầng đáng tin cậy đê làm cơ sở cho việc phân phối hàng hoá và dịch vụ cho phàn
lớn dân cư. (viii) Indonesia cũng phải đối mặt với thách thức (thậm chí nghiêm trọng
hơn so với nhiều nước) do biến đổi khí hậu toàn cầu. Nhiều chỉ số đang tác động đáng
kể đến cuộc sống con người như mực nước biển dâng cao, nhiệt độ khí quyển tăng,
những thay đổi trong chu kỳ mưa, những biên đôi khí hậu cực đoan, (ix) Ngoài ra,
Indonesia vẫn còn phải đối mặt với nhiều lo ngại không m phần nghiêm trọng
cấp bách khác đang cản trở sự phát triển, gây khó cho các doanh nghiệp và người dân:
Đó là, tệ quan liêu nạn tham nhũng tràn lan, tài chính đối ngoại thu nhập của
chính phủ vẫn thấp dưới mức trung bình BBB (xem Hộp 4.1), tỉ lệ nợ được định giá
bàng ngoại tệ cao khiên cho tài chính công của Indonesia chịu tác động của những
biên động tiên tệ, những không nhất quán trong luật pháp, thiếu cơ sở hạ tầng,...
15
Từ những thực tế trên, thể thấy, mặc những yếu tố bản của Indonesia vẫn
mạnh nước này vẫn còn khá nhiều điều kiện (kinh tế chính trị) thuận lợi, song
tốc độ tăng trưởng cao không thể tự động diễn ra. Bản thân người Indonesia cũng
nhận thấy, để có thể đạt được sự phát triển cao, công bằng và bền vững, Indonesia còn
phải dần dần từ bỏ hình cũ, có những cải cách triệt để,tiến đến xác lập một mô
hình tăng trưởng khác trước khả năng không chỉ tận dụng được các thế mạnh của
mình mà điều quan trọng là phải khắc phục được nhiều tồn tại và thách thức kể trên.
(3) Những định hướng chuyển đổi chủ yếu: Trong bối cảnh trong ngoài nước
như vậy, để thể tạo ra được bước chuyển căn bản, lâu dài thúc đẩy được sự phát
triên kinh của mình, trước hết, theo MP3EI, Indonesia cần phải một lối duy
mới, một lôi làm việc mới, và một cung cách kinh doanh mới. Cụ thể, thay vì chỉ kiểm
soát như trước đây, những quy định ở cấp trung ương và khu vực cần được hợp lý hoá
đê tạo thuận lợi cho kinh doanh. Một lối tư duy mới cần được dựa trên tinh thần “kinh
doanh phải khác trước”. Việc thực hiện “Lối duy mới về phát triển kinh tế” cần
sự phân nhiệm ràng những nỗ lực cộng tác giữa chính phủ, các chính quyền địa
phương, các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp nhân được sự đồng
thuận, ủng hộ tham gia của nhân dân . Thứ hai, nếu trước đây, nhà nướclndonesia
can thiệp quá sâu vào nền kinh tế không chỉ bằng các chính sách, kế hoạch, mà còn cả
sự can thiệp trực tiếp thông qua các công ty nhà nước các biện pháp hành chính,
nhât là trong thời kỳ Suharto. Hậu quả là năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, doanh
nghiệp nên kinh tế Indonesia chậm được cải thiện. Đồng thời, chủ nghĩa thân hữu,
tệ quan liêu của các cấp chính quyền nạn tham nhũng đã phát triển tràn lan ăn
sâu gây trở ngại không chỉ cho sản xuất cả đời sống dân sinh. Tới đây, theo
MP3EI, nhà nước dần dần sẽ chỉ còn đóng vai trò điều tiết (regulator), chứ không can
thiệp (trực tiếp) vào nền kinh tế nữa. Họ chỉ dừng lại vai trò chủ yếu người tạo
thuận lợi (facilitator), chất xúc tác (catalyst) hay tạo môi trường bình đẳng, minh
bạch thân thiện cho các doanh nghiệp (cả khu vực nhân lẫn khu vực công) phát
triển , còn phạm vi mức độ tham gia của khu vực nhân sẽ ngày càng được mở
rộng sâu hơn. Quan điểm này không chỉ được, một phần, do những hậu quả
tai hại do s can thiệp quá sâu, lấn át cả khu vực nhân của nhà nước đối với nền
kinh tế, như vừa nói trên; phần khác còn do nguồn tài trợ cho sphát triển (ngày
càng sâu rộng trong tương lai) thông qua ngân sách nhà nước của Indonesia rất hạn
chế, nên để hỗ trợ quá trình chuyển đổi để đạt được tăng trưởng kinh tế cao,
Indonesia sẽ phải dựa chủ yếu vào sự tham gia của các doanh nghiệp, nhất các
doanh nghiệp nhân, cả trong ngoài nước (thông qua phương thức PPP). Đe cho
sự điều chỉnh vai trò giữa nhà nước nhân Indonesia trở thành hiện thực, các
chính sách của chính phủ sẽ phải được hợp hoá phạm vi bao hàm của chúng sẽ
được thu hẹp dần để cho phép khu vực tư nhân được tham gia rộng khắp hơn. Các quy
định sẽ đơn giản, rõ ràng không để xẩy ra bất cứ sự hiểu lầm nào để làm tăng thêm
lòng tin và tối đa hoá sự tham gia từ các nhà đầu tư vào việc xây dựng các ngành công
nghiệp sở hạ tầng cần thiết. Muốn vậy, Indonesia sẽ phải đánh giá lại tất cả các
khung khổ pháp luật hiện hành phải những bước đi chiến lược để thay đổi các
quy chế. Theo đó, vai trò của chính phủ sẽ dừng lại việc đề ra thực thi một loạt
các quy định quy chế nhàm tạo thuận lợi khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng
các ngành công nghiệp và cơ sở hạ tầng khu vực. Những khuyến khích này có thể bao
gồm chính sách ưu đãi về thuế quan, thuế, thuế quan nhập khẩu, các quy định về lao
16
động, cấp phép, đât đai,... chính phủ trung ương các chính quyên địa phương sẽ
tạo lập một mối quan hệ đáng tin cậy trong và giữa các trung tâm tăng trưởng kinh tế .
Thứ ba, trong MP3EI hai nội dung chính: tăng cường mở rộng. Một là, thông
qua tăng cường hay thúc đẩy phát triển, người ta hy vọng Indonesia thể thúc đẩy
được sự phát triển của các chương trình kinh tế-xã hội then chốt; hai là, mở rộng
nghĩa tạo cho sự phát triển kinh tế không những lan rộng ra khắp cả nước, còn
làm cho tất cả các vùng các cộng đồng trên toàn Indonesia thể được hưởng một
cách bình đẳng những hiệu quả tích cực do phát triển kinh tể mang lại, điều trước
đây không được chú y.
Để thực hiện được hai nội dung đó, trọng tâm phát triển trong MP3EI sẽ được phân
thành 8 chương trình phát triển lớn:nông nghiệp, khai khoáng, năng lượng, công
nghiệp, hàng hải, du lịch, viễn thông, phát triển các vùng chiến lược. Tám Chương
trình này bao trùm 22 ngành khu vực chiến lược chính sẽ được ưu tiên đầu để
phát triển. Đó đóng tàu, dệt, thực phẩm đồ uống, thép, thiết bị quốc phòng, dầu
cọ, cao su, ca cao, chăn nuôi, gỗ, dầu mỏ và khí đốt, than, nickel, đồng, bôxít, nghề cá,
du lịch, lương thực nông nghiệp, khu vực Jabodetabek, khu vực chiến lược quanh
eo biển Sunda, thiết bị vận tải, công nghệ thông tin liên lạc. Đồng thời, nhằm
khuếch trương sự phát triển ra cả nước, MP3EI cũng đã xác định phát triển 6 hành
lang kinh tế bằng cách thành lập các trung tâm phát triển trong phạm vi mỗi hành lang
phát triển các cụm liên kết ngành công nghiệp khu kinh tế đặc biệt dựa trên các
nguồn lực hàng hoá tương ứng một sở hạ tầng công nghệ tiên tiến. Các hành
lang kinh tế cũng sẽ tập trung vào việc phát triển sở hạ tầng, với tổng kinh phí cho
giai đoạn I (2011-2014) ước tính cần tới 150 tỉ USD, do cả khu vực chính phủ lẫn
nhân đóng góp theo phương thức ppp. thể nói, sở những ngành khu vực này
được ưu tiên phát triển do chúng thể tận khai được những lợi thế sẵn của
Indonesia cả về nguồn lực lẫn vị trí địa chính trị cũng như thể giúp tránh tập
trung thái quá tiềm lực kinh tế vào một vài khu vực hoặc đại đô thị, tiến đến một nền
kinh tế phát triển khá đồng đều giữa các khu vực . Thứ tư, hạn chế đầu vào các
ngành công nghiệp công nghệ sử dụng khai thác tài nguyên thiên nhiên không
thể tái sinh, hạn chế dần tiến đến chỗ ngừng hoàn toàn việc xuất khẩu tài nguyên
thiên nhiên thô. Phát ữiển những ngành, những công nghệ và phương thức kinh doanh
thể nâng cao được giá trị gia tăng của cả các sản phẩm công lẫn nông nghiệp
hạn chế được lượng phát thải khí nhà kính, có những cải cách để gia tăng hiệu quả của
các mạng lưới phân phối và hậu cần, nhất là hậu cần hàng hải, và phát triển các ngành
công nghiệp phụ trợ để tham gia vào các mạng sản xuất toàn cầu khu vực ASEAN.
Thứ năm, tăng đầu cho công tác nghiên cứu phát triển, chú ý cải thiện hệ thống
giáo dục theo hướng nâng cao chất lượng giáo dục cũng như hội tiếp cận giáo dục
cho đông đảo người dân hầu khắp các vùng miền trong cả nước. Tăng cường hơn
nữa hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia trong các lĩnh vực sản xuất marketing
với trọng tâm là tăng cường sức cạnh tranh toàn cầu bền vững nhằm đạt được nền kinh
tê dựa vào đôi mới và sáng tạo. Đông thời, chú ý đâu tư mở rộng và nâng cấp hệ thống
y chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cũng như thúc đẩy những thay đổi về thể chế
cần cho việc cải cách hệ thống bảo hiểm hội, trước hết cho người nghèo những
tầng lớp dễ bị tổn thương để gia tăng hội được chăm sóc y tế cho mọi người. Hy
vọng việc phát triển nâng cấp chất lượng giáo dục, y tế chế độ an sinh hội
17
rộng khắp công bằng sẽ góp phần cải thiện được chất lượng dân s nguồn nhân
lực đang ở thời kỳ “cơ cấu vàng”.
(4) Một i kết quả đảnh giá: Trong vài năm qua, trên sở nhận thức được
những thuận lợi khó khăn của đất nước, cũng như của việc thực thi những nhiệm
vụ đặt ra trong các chiến lược phát triển, nhất trong MP3EI, nên Chính phủ
Indonesia đã hết sức cổ gắngnhiều biện pháp nhằm biển những mục tiêu phát triển
trên thành hiện thực.
Trước hết, bằng MP3EI, họ đã thực s nhìn thẳng vào các vấn đề của đất nước,
không chỉ nhìn thấy những thuận lợi còn chỉ được những khó khăn thách
thức. Từ đó, đã soát loại bỏ dần hầu hết những văn bản, những quy định được
coi gây “tắc nghẽn” cho kinh doanh sinh hoạt của người dân. Tiến hành những
cải cách hành chính mạnh mẽ để đơn giản hoá các thủ tục thông qua quyết sách và cấp
phép câp trung ương, loại bỏ tệ quan liêu, cửa quyên sau đó tham nhũng của
các chính quyền địa phương và của đội ngũ công chức các cấp.
Thứ hai, tiến hành cải cách từng bước hệ thống giáo dục, y tế bảo hiểm hội
theo hướng chất lượng, rộng khắp, công bằng hướng về học sinh các gia đình
nghèo và các địa phương xa xôi và hẻo lánh.
Thứ ba, tiến hành đầu mạnh cho các sở hạ tầng, trước hét giao thông
mạng lưới thông tin liên lạc, chủ yếu các Hành lang kinh tế các cụm liên kết
ngành. Chẳng hạn, cho đến năm 2012, chính phủ đã giải ngân một khoản tài chính trị
giá 420 tỉ USD để tài trợ cho việc xây dựng một mạng lưới đường cao tốc, sân bay, và
hải cảng ữên phạm vi cả nước.
Thứ tư, tiến hành cải cách chế độ tiền lương theo hướng thị trường để đáp ứng đòi
hỏi nâng cao cuộc sống của người dân, đồng thời loại bỏ hầu hết các khoản trợ cấp
của chính phủ, như trợ cấp nhiên liệu,...nhằm giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách.
Thứ năm, nhằm tiết kiệm tài nguyên đảm bảo sự phát triển bền vững, Indonesia
đã quyết định ngừng xuất khẩu tài nguyên thô từ sau năm 2014 và tiến hành đàm phán
lại họp đồng với các công ty khai thác chế biến trong nước, những ưu đãi nhất
định cho các nhà đầu thành lập doanh nghiệp khai thác chế biến tài nguyên .
Đồng thời, buộc các nhà đầu tư nước ngoài thoái 51% cổ phần trong các mỏ nội địa để
bàn giao lại cho các công ty trong nước sau 10 năm vận hành khai thác. Chính phủ
nước này cũng đã ban hành những lệnh cấm xuất khẩu khoáng sản thô, bao gồm đồng,
nikel, sắt, bauxite vào đầu năm 2013.
Thứ sáu, từ m 2011-2014, Indonesia đã kế hoạch đầu 470 tỉ USD vào các
lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp chế tạo, khai khoáng, ngư nghiệp, du lịch,
thông tin viễn thông, năng lượng. Thủ đô Jacarta s một trọng điểm đầu trong
quy hoạch này.
Thứ bẩy, hỗ trợ các điều kiện kinh tế cho những doanh nghiệp nhỏ vừa, giúp họ
nâng cao trình độ công nghệ để thể phát triển được các ngành công nghiệp phụ trợ,
phục vụ cho các doanh nghiệp FDI và xuất khẩu.
Thứ tám, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, với cả các tổ chức liên chính phủ, chính phủ
lẫn phi chính phủ, nhằm tranh thủ sự ủng hộ tài trợ của quốc tế cho quá trình
chuyển đổi kinh tế phát triển đất nước. Chẳng hạn, vào cuối năm 2012, Nhóm
Ngân hàng Thế giới (the World Bank Group) đã phê duyệt Chiến lược Đối tác Quốc
18
gia cho Indonesia (Country Partnership Strategy for Indonesia) mới. Chiến lược này,
được phát triển trên sở vấn các đối tác khác nhau, chi phối chương trình của
Ngân hàng Thê giới cho Indonesia cho các tài khoá từ năm 2013 đến 2015 . Cụ thể,
vào tháng 4 năm 2013, danh sách các dự án cho vay của WB gồm 70 dự án đang còn
hiệu lực, với tổng giá trị cam kết lên tới 7,612 tỉ USD, nhằm nâng cao hiệu quả
quản của chính phủ các câp chính quyên Indonesia, tạo cho các cộng đồng
tiếng nói quan ừọng hơn, cải thiện cơ sở hạ tầng, năng lượng và phát triển nông thôn .
Tập đoàn Ngân hàng Thế giới còn tham gia vào hai vấn đề liên ngành khác, tức
giới, cũng như quản trị và chống tham nhũng ở Indonesia.
Nhờ những định hướng cải cách trên những hành động cụ thể trong nhiều năm
qua, nhất từ khi Tổng thống S.B. Yudhoyono lên cầm quyền, bất chấp sự tăng
trưởng chậm của nền kinh tế thế giới và tình trạng vẫn không chắc chắn của thị trường
tài chính toàn cầu, nền kinh tế Indonesia vẫn tăng trưởng khá mạnh (trung bình ữên
6,0%) trong suốt 4 năm tính đến năm 2012 xấp XỈ6,0% năm 2013, cao thứ hai
trong G20 chỉ sau có Trung Quốc, về ổn định kinh tế mô, Indonesia đã thể hoàn
thành được nhiều chỉ tiêu tài khoá. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, ngoài GDP
tăng cao ôn định, lạm phát của quôc gia này vân được kiểm soát chỉ khoảng
trên dưới 4,0% năm 2012, một phần do đồng rupiah tương đối ổn định. Đồng thời,
thiếu hụt tài khoản hiện hành của Indonesia giảm chỉ còn 2,4% GDP, nên kết quả
họ đã thành công trong việc giảm đáng kể tỉ lệ Nợ/GDP từ 61% năm 2003 xuống còn
24% năm 2012 và đưa dự trữ ngoại tệ của đất nước lên 110,3 tỉ USD (10/2012), tương
đương với 6,1 tháng nhập khẩu và thanh toán dịch vụ nợ nước ngoài của chính phủ .
Tuy vậy, sao chăng nữa công cuộc cải cách chuyển đổi hình tăng trưởng
kinh tế của Indonesia mới bắt đầu và chỉ đi được những bước đầu tiên (dù thành công)
trên con đường dài đầy khó khăn. Câu trả lời cho câu hỏi liệu quốc gia này thể đạt
được mục tiêu cuối cùng đã vạch ra hay không vẫn còn phía trước. Nhưng có một
điều chắc chắn con đường này không hề dễ dàng, đầy khó khăn, vì: (i) Mặc
có nhiều thuận lợi, song như trên đã đề cập, Indonesia nói chung và công cuộc chuyển
đổi này nói riêng cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn không dễ vượt qua; (ii) Bản
thân mục tiêu nội dung chuyển đổi này, được đánh giá, là đầy tham vọng không
dễ thực hiện; (iii) Mặc chính phủ của Tổng thống Yudhoyono uy tín cao
MP3EI được sự quan tâm ủng hộ của đông đảo người dân, song nhân Tổng
thống, nội các đảng của ông, cũng như các kế hoạch cải cách chuyển đổi của
ông không phải không vấp phải sự chống đối (quyết liệt) của không ít người được
hưởng lợi từ chế độ hình bị tác động tiêu cực của quá trình chuyển đổi
này. (iv) mặc chính phủ của Tổng thống Yudhoyono thể thừa khôn
ngoan, sự quyết tâm tính kiên trì để thực hiện đến cùng công cuộc chuyển đổi
hình phát triển khó khăn song tất yếu này, nhưng nhiệm kỳ của ông chỉ tồn tại đến hết
năm 2014, các chính quyền đảng phái cầm quyền kế tiếp (với triết cương
lĩnh chính trị khác) liệu có đủ quyết tâm, có thể tạo được sự thông hiểu, đồng thuận
ủng hộ của đông đảo dân chúng (thuộc mọi tầng lớp) đối với công cuộc này hay
không vẫn là một câu hỏi còn để ngỏ.
b. Malaysia
Để đạt được mục tiêu đưa Malaysia sớm thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình trở
thành nước công nghiệp phát triển bền vững, chính phủ của Thủ tướng Malaysia,
19
Rajib Tun Razak, kể từ khi lên nắm quyền, sau một loạt biện pháp tự do hoá, đã bắt
tay vào công cuộc chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế.
(1) Công cuộc chuyển đổi này xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, mặc từ trước khi nổ ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Malaysia đã cố
gắng đa dạng hoá thị trường xuất khẩu nhằm giúp làm giảm bớt tính dễ tổn thưcmg
cho nền kinh tế của mình trước các tác động bên ngoài, gần đây đã các chính
sách nhằm khai thác triệt để thị trường nội địa, song do quy tương đối nhỏ của thị
trường trong nước , nên tương lai của nền kinh tế Malaysia sẽ tiếp tục phụ thuộc vào
sự thành bại kinh tế của một sổ bạn hàng chính (như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc,
ASEAN), cho đến nay vẫn tiêu thụ một phần đáng kể xuất khẩu của Malaysia. Đe
giảm thiểu được tình trạng phụ thuộc đó, không có cách nào khác, Malaysia phải có sự
điều chỉnh chiến lược hay mô hình kinh tế đối ngoại.
Thứ hai, Malaysia mặc một nước đang phát triển tiên tiến thành tựu tăng
trưởng kinh tế đầy ấn tượng, song hiện cũng đang bị kẹt trong tình trạng khó khăn
chung của kinh tế toàn cầu đang phải tìm cách thoát ra khỏi bẫy thu nhập trung
bình. Theo đánh giá của các nhà khoa học trong và ngoài Malaysia, sở dĩ quốc gia này
rơi vào bẫy thu nhập trung bình là (i) do nước này thiếu ngành công nghiệp thứ ba, tức
lâu nay họ quá coi trọng những ngành công nghiệp chế tạo dựa vào đầu tư, sử dụng và
khai thác tài nguyên thiên nhiên (nhất dầu mỏ, khí đốt) lao động tay nghề
thấp; (ii) do giáo dục thiếu chất lượng, thiếu bí quyết công nghệ; (iii) do Nhà nước, mà
cốt lõi chính phủ liên minh do Tổ chức Thống nhất Lai (The United Malays
National Organisation - ƯMNO) đứng đầu, vẫn can thiệp sâu vào nền kinh tế bằng các
biện pháp bảo hộ và nâng đỡ các doanh nghiệp lớn, của nhà nước; và (iv) do nước này
“nghiện” hình tăng trưởng kinh tế hướng về xuất khẩu, với sở hạ tầng kém,
thay tích cực hướng tới sản xuất theo chuỗi giá trị gia tăng cao tìm kiếm
quyết và công nghệ cần để sản xuất những sản phẩm như thế .
Thứ ba, với sự cố gắng lâu dài của chính phủ của cựu thủ tướng Mahathir
Mohammed,Malaysia được coi quốc gia đang phát triển tiên tiến nhất trong
ASEAN, sở hạ tầng phát ữiển hơn cả nguồn nhân lực được chăm lo trên cả
ba phương diện giáo dục, y tế an sinh hội. Tuy vậy, so với mục tiêu đề ra cũng
như với yêu câu phát triên đê trở thành “các con Hổ con châu Á”, những lĩnh vực
trên Malaysia vẫn được coi kém phát triển, không phù hợp, đang những trở
ngại lớn cho sự phát triên của cả nên kinh tế lẫn sinh hoạt của người dân. Đặc biệt,
không những kém phát triển, độ bao phủ của hệ thống giáo dục, chăm sóc sức
khoẻ an sinh hội còn rất chênh lệch giữa các vùng nhóm dân cư. Trong thực
tế, những người nghèo cả đô thị lẫn các vùng nông thôn đảo xa của Malaysia rất
ít hội để tiếp cận hưởng thụ các dịch vụ này, nhất những dịch vụ chất
lượng cao. Điều đó không chỉ tạo ra nguồn nhân lực không như mong đợi, mà còn gây
ra sự bất bình đăng, bât công và hậu quả là bât mãn xã hội ngày càng sâu sắc .
Thứ tư, mặc dù chính trường Malaysia không bị chao đảo mạnh và kéo dài như một
vài nước ASEAN láng giềng, song hơn một thập kỷ qua, ừật tự chính ừị ứong nước
đang thay đổi nhanh chóng hình như đó cũng một trong những động lực chính
thúc đẩy sự chuyển đổi này. Cụ thể, sau 55 năm tồn tại chính quyền liên minh cầm
quyền do một đảng (ƯMNO) chi phối , nền chính ừị Malaysia đã đạt tới lối rẽ mới đòi
phải có một chính phủ kiểu mới cho người Malaysia, (i) Lần đàu tiên trong lịch sử, tất
20

Preview text:

Mô hình phát triển kinh tế Đông Nam Á
Khi nói tới Đông Nam Á người ta nghĩ ngay tới các nước ASEAN, nhưng thuật
ngừ Mô hình phát triển kinh tế Đông Nam Á được Ngân hàng Thế giới và các chuyên
gia Harvard cũng như các học giả trên thế giới thường sử dụng để nói chủ yếu đến bốn
quốc gia có tốc độ phát triển nhanh ở Đông Nam Á là Indonesia, Malaysia,
Philippines và Thái Lan. Trong khi các nền kinh tể Đông Á được ví như “những con
rồng Châu A” thì các các quốc gia phát triển theo Mô hình Đông Nam Á lại được ví
như “những con hổ Châu Ẩ”.
Người ta có thể khái quát một số đặc trưng chủ yếu của Mô hình phát triển kinh tế Đông Nam Á như sau: -
Tận khai các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao đồng dồi dào rẻ mạt vì mục tiêu xuất khẩu
- Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là các công ty xuyên quốc gia
(Transnational Corporations - TNCs), và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu -
Nền kinh tế phụ thuộc vào nước ngoài
Đông Nam Á là một khu vực đông dân, xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp và lạc
hậu . Dân sổ đông và lao động dồi dào, tăng nhanh, một mặt, là nhân tố gây khó khăn
cho việc giải quyết các vấn đề xã hội ở các quốc gia này (việc làm và nạn thất nghiệp,
trình độ học vấn và nạn mù chữ, dịch vụ y tế và các căn bệnh xã hội, nạn suy dinh
dưỡng ở trẻ em,...). Tuy vậy, mặt khác, như trên chúng ta đã đề cập, cộng với tài
nguyên thiên nhiên dồi dào, đây cũng lại là lợi thế hấp dẫn vốn và công nghệ nước
ngoài để bù đắp cho sự lạc hậu và nghèo nàn của các quốc gia Đông Nam Á. Đồng
thời, vào cuối những năm 1970, thức tỉnh và học tập kinh nghiệm thành công của các
quốc gia láng giềng Đông Á trong việc tiến hành công nghiệp hoá hướng vào xuất
khẩu, nên để khai thác được những lợi thế sẵn có nhằm giải quyết những vấn đề kinh
tế-xã hội trầm kha của mình, các quốc gia Đông Nam Á đã từ bỏ mô hình công nghiệp
hoá thay thế nhập khẩu trước đó để chuyển mạnh sang mô hình công nghiệp hoá dựa
trên việc thu hút vốn đầu tư và công nghệ nước ngoài vào các ngành khai khoáng và
chế biến, chế tạo có trình độ công nghệ thấp hoặc trung bình nhằm khai thác tài
nguyên thiên nhiên và nguồn lao động dư thừa phục vụ cho xuất khẩu.
Tốc độ tăng trưởng nhanh từ nửa cuối những năm 1980 đến quá nửa đầu những
năm 1990. Tuy vậy, đáng tiếc là, khủng hoảng và sau khủng hoảng tài chính, tiền tệ
Châu Á 1997-1998 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 thì mô hình này đã bộc lộ
nhiều vấn đề hết sức nghiêm trọng như: -
Sự tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào các nguồn lực bên ngoài và thị
trường quốc tế. Hơn nữa, hai thế mạnh chủ yếu của các nước này là nguồn tài nguyên
thiên nhiên dồi dào và nguồn lao động giá rẻ đang giảm dần ý nghĩa do (1) giá xuất
khẩu nguyên liệu thô và sơ chế không ngừng giảm so với giá nhập khẩu máy móc,
thiết bị và công nghệ phẩm; (2) Trong điều kiện khoa học - kỹ thuật ngày càng phát
triển thì nhu cầu về sức lao động rẻ, ít kỹ năng sẽ giảm đi mà thay vào đó là nhu cầu 1
lớn về lao động có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao. Vi vậy, sự tăng trưởng của các
nước này ngày càng thiếu cơ sở vững chắc. -
Nợ nước ngoài của các nước Đông Nam Á là rất lớn. Nhiều nước đang “sổng
dở chết dở vì nợ nước ngoài”. Theo Tạp chí Nhà Kinh tế (The Economist), mức nợ
công trên đầu người năm 2010 của Indonesia là 743 USD, Malaysia là 4.184 USD,
Philippines là 1.071 USD và Thái Lan là 2.064 USD . Những khó khăn về kinh tế dễ
làm tăng lạm phát và tăng tỉ lệ người thất nghiệp ở các nước này. -
Một hậu quả xã hội khác là sự phân hoá và bất bình đẳng ngày càng lớn giữa
người giàu và người nghèo, giữa thành thị, các vùng được đầu tư và vùng nông thôn,
miền núi ít có khả năng tiếp cận được với các nguồn lực phát triển kinh tế (vốn, công
nghệ và cơ sở hạ tầng) và xã hội (hệ thong giáo dục, bảo hiểm và y tế).
Chính những vấn đề trên đã làm cho các nước theo Mô hình Phát triển kinh tế
Đông Nam Á rơi vào bế tắc. Đồng thời, cùng với tình trạng trì trệ kéo dài của kinh tế
thế giới từ sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 tới nay, rồi khủng hoảng nợ công
trên toàn thê giới, các nước theo mô hình này buộc phải điều chỉnh, thậm chí thay đổi
một cách toàn diện và sâu rộng mô hình hay chiến lược công nghiệp hoá hay phát
triển của mình thì mới có thê tiêp tục tôn tại và phát triển trong cuộc cạnh tranh toàn
cầu ngày càng khốc liệt.
Mặc dù vẫn còn rất nhiều khó khăn cần giải quyết nhưng các nền kinh tể Đông Á
(Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và ở một nghĩa nào đó là Singapore) đã
thực sự trở thành “Những con rồng châu Á”, với tốc độ tăng trưởng cao liên tục nhiều
thập kỷ, đưa nền kinh tế của mình bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, hay chủ yếu là
nông nghiệp lạc hậu và nghèo đói vượt qua được bẫy thu nhập trung bình (trừ Trung
Quốc) để trờ thành những nền kinh tế có tổng sản phẩm lên tới hàng trăm, hàng ngàn
tỉ USD, với tổng sản phẩm nội địa theo đầu người thuộc loại đứng đầu thế giới, cộng
với trình độ khoa học và công nghệ hiện đại và một năng lực đổi mới và canh tranh
khó bị tranh chấp và ngày càng lớn mạnh. Trong khi đó, các quốc gia Đông Nam Á
(trước hết là các quốc gia ASEAN, như Indonesia, Malaysia, Philipines và Thái Lan)
cho đến nay vẫn đang phải vật lộn với những khó khăn kinh tế, chính trị và xã hội nan
giải, không dễ vượt qua, mà nếu không giải quyết được các vấn đề đó, họ vẫn mãi chỉ
là “Tiểu Hổ” hoặc “Rồng Tre” mà không thể lớn nổi thành Hổ, dù là “Hổ Con”, hoặc thành Rồng thực sự. Tại sao lại như vậy?
Trước hết, có thể nói, so với các nền kinh tế Đông Á (hay hẹp hơn là Đông Bắc Á),
các nước Đông Nam Á nói chung, các quốc gia ASEAN nói riêng, rõ ràng, là những
nền kinh tế được thiên nhiên ưu đãi, vì giàu tài nguyên thiên nhiên và có vị trí địa
(kinh tế và chính trị) thuận lợi. Một mặt, những lợi thế đó đã tạo cho họ có được
những điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển, nhưng mặt khác chúng cũng gây cho
họ tâm lý chủ quan hoặc ỷ lại nhất định, mà lơ là hay quên đi sự quyết tâm đổi mới
không ngừng, hoặc sẽ lựa chọn một mô hình phát triển của “kẻ tưởng mình lắm tiền
nhiều của” . Quả đúng như vậy, cho đến rất gần đây, thậm chí hiện nay, các nền kinh
tế ASEAN vẫn (đang) đi theo mô hình dựa chủ yếu (hay ỷ) vào việc khai thác lợi thế
vị trí địa lý, lao động giá rẻ, nông nghiệp nhiệt đới và tài nguyên thiên nhiên phong
phú. Điều đó có nghĩa là, so với các nước và lãnh thổ Đông Á, ở các nước ASEAN, cơ
cấu kinh tể và sản phẩm vẫn chủ yếu thiên về các ngành khai thác và các sản phẩm 2
công nghiệp tiêu hao nhiều các yểu tố đầu vào, như nguyên nhiên liệu và lao động,
hoặc các công nghệ có hàm lượng tri thức thấp hoặc trung bình. Các ngành và sản
phẩm công nghiệp của họ chủ yếu mới đạt đến giai đoạn đầu nguồn (upstream) hoặc
cao một chút, ở trình độ chế biến nông (cả sản phẩm công nghiệp lẫn nông sản), hay
gia công và lắp ráp, còn giai đoạn hạ nguồn (downstream), chế biến sâu và tinh chưa
cao, hoặc mới chỉ ở bước đi ban đầu. Hậu quả là sức cạnh tranh của các quốc gia, các
doanh nghiệp và các sản phẩm của Đông Nam Á chưa cao, chưa có sự đột phá nào.
Nói cách khác, nêu các nên kinh tế Đông Á tìm cách lấy nguyên nhiên liệu của toàn
thế giới để sản xuất hàng hóa với giá trị gia tăng cao hơn bán cho thế giới, thì các
nước ASEAN như Philippines, Indonesia và Việt Nam lại có chiều hướng xúc nguyên
liệu của mình đi bán đê mua thành phâm công nghiệp từ ngoài vê đê tiêu dùng.
Thứ hai, ngoại trừ Malaysia, các nước đang phát triển ở Đông Nam Á đều đã từng
trải qua những giai đoạn thăng trầm chính trị và biến động xã hội phức tạp, hoặc luôn
tiêm ân những nguy cơ xung đột sắc tộc, tôn giáo (Indonesia, Thái Lan) và khủng bô
(Philippines). Khác với Đông Á, chính phủ ở các nước này bị chi phối bởi chủ nghĩa
thân hữu, bởi các nhóm lợi ích, các công ty độc quyền, thậm chí một số gia đình và
giáo phái quyền thế, nên đã bị suy yếu một cách đáng kể vì vấn nạn tham nhũng và
nền chính ữị bẩn thỉu chạy theo đồng tiền. Trong bối cảnh đó, các chiến lược, chính
sách và biện pháp phát triển thường bị bóp méo và hướng đến phục vụ cho mục đích
làm giàu của một số ít gia đình có thế lực, hay một bộ phận dân cư giàu có, thay vì
nhăm đến việc mang lại lợi ích lâu dài cho đại đa số dân chúng và cho cả quốc gia.
Hậu quả là, chât lượng và quy mô tăng trưởng liên tục suy giảm, sự bât bình (đẳng)
trong xã hội ngày càng dồn nén, gia tăng, rồi bùng nổ thành các cuộc biểu tình lớn,
bạo động và đảo chính quân sự lật đổ các chính quyền ở Indonesia, Thái Lan, và
Philippines, và đe dọa gây ra những xáo trộn ở Malaysia (sau thời Mohammed
Mahathir), làm suy giảm lòng tin của dân chúng, của các nhà đầu tư cả trong lẫn ngoài
nước, khiến các nước này cứ mãi luẩn quẩn với việc tranh giành quyền bính, rất khó
có thể bứt phá được như ở một số nền kinh tế Đông A.
Thứ ba, trong nhiều năm tiến hành công nghiệp hóa, tốc độ tăng trưởng cao luôn
được ưu tiên thái quá đã khiển cho quá trình đô thị hóa ở những nước này diễn ra một
cách “hỗn loạn”, còn cơ sở hạ tầng(kinh tế và kỹ thuật, cứng và mềm) thì ngày càng
lạc hậu tương đối, không đáp ứng được với các chiến lược tăng trưởng và cuộc sống
của dân chúng . Trên thực tế, tại các quốc gia ASEAN, đã hình thành các đại đô thị
với hàng chục triệu con người từ các địa phương dồn về và phải sống lay lắt trong các
khu ổ chuột dọc theo bờ sông hay bên rìa các đại thành phố ở Jakarta, Bangkok, Kuala
Lumpur, Manila và Cebu, với điều kiện sống và làm việc chỉ thấy từ cách đây hàng
chục, thậm chí gần một trăm năm trước. Trong khi đó, trừ Trung Quốc, các nền kinh
tế Đông Á đã đạt được những kết quả đáng tự hào hơn nhiều so với các nước Đông
Nam Á, nhất là ASEAN ở phương diện xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết cho sự tăng
trưởng kinh tế và đô thị hóa nhanh .
Tại sao các nước Đông Nam Á (chủ yếu là các nước ASEAN) lại thất bại nhiều đến
vậy trong lĩnh vực đô thị hoá và cơ sở hạ tầng? Có thể nói, sự yếu kém về cơ sở hạ
tầng tại các nước ASEAN, trước hết, là do các chính phủ của họ đã không sớm nhận
ra vai trò quan trọng của cơ sở hạ tầng đối với tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa
nhanh. Mặc dù từ cách đây hơn 40 năm về trước, khi bắt đầu bước vào giai đoạn CNH
hướng về xuất khẩu, họ đã được các chuyên gia và các tổ chức quốc tế cảnh báo rằng, 3
cần sớm chú ý đến quy hoạch và đầu tư cho cơ sở hạ tầng và đô thị . Song đáng tiếc là
tầm quan trọng của không chỉ vấn đề đô thị hoá, mà cả vấn đề cơ sở hạ tầng, đã không
được các giới chức ở các quôc gia này sớm nhận ra hoặc không được chú ý thích
đáng, nên các nguôn vốn đã không được ưu tiên cho các lĩnh vực này và, nếu có, thì
lại được sử dụng một cách không có hiệu quả, khác hẳn so với khu vực Đông Á.
Những thưc trạng tương phản này thể hiện rất rõ khi so sánh Tokyo, Seoul và Taipei
với Bangkok, Manila, và Jakarta: Thành phố ở các nước Đông Á là động lực cho tăng
trưởng và đổi mới kinh tê, trong khi bộ mặt các thành phố ở các nước ASEAN là ô
nhiễm, ùn tắc, ngập nước, đắt đỏ, và bất tiện gây trở ngại cho cả kinh doanh lẫn cuộc
sống của người dân . Đồng hành với tình trạng đó là những tai họa như nghèo đói, tội
phạm và sự bất lực trong việc cung cấp các dịch vụ đô thị cơ bản như giao thông,
điện, nước sạch của các thành phố tại các quốc gia này. Hậu quả tất yếu là sự bùng nổ
các phong trào biểu tình ở đô thị đã nhiều lần làm chao đảo chính quyền ở Bangkok,
Manila, và Jakarta. Cùng với sự thất bại trong quản lý đô thị, các nước ASEAN còn có
xu hướng đầu tư quá mức vào các dự án khổng lồ mà trong hầu hết trường hợp đều
chứng tỏ là chưa cân thiết và lãng phí. Một nhân tố quan trọng nữa, như đã được đề
cập đến ở ừên, là các quyết định đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng ở các nước
ASEAN thường bị chi phôi và thao túng bởi các nhóm lợi ích đặc biệt. Chính phủ các
quốc gia này đã thất bại ứong việc bảo vệ những quyêt định của mình khỏi sự can
thiệp có tính chính trị. Hậu quả là, địa chỉ và mục đích đầu tư thường bị làm cho sai
lệch, không vì quốc kế dân sinh như vốn nó phải có nữa. Và trong thực tiễn, do quá
trình đô thị hóa nhanh chóng, nhưng thiếu quy hoạch, thiếu đầu tư có tổ chức và quản
lý phù hợp, nên các quốc gia này đang phải gánh chịu nhiều vấn đề nan giải rất khó
khắc phục, mặc dù gần đây họ đã phải chi rất nhiều tiền để giải quyết .
Thứ tư, về mối quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp, kinh nghiệm cho thấy,
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thường tỉ lệ nghịch với sự can thiệp của nhà
nước vào nền kinh tế. Nói chung, so với các khu vực khác, nhà nước ở châu Á có vai
ữò khá lớn. Tuy vậy, ở Đông Á, về cơ bản chính phủ (hầu như) chỉ hỗ trợ hay tạo điều
kiện và môi trường thân thiện sao cho các doanh nghiệp tư nhân có thể thành công, mà
rất ít khi làm thay hoặc bảo hộ lâu dài, tạo tâm lý ỷ lại cho giới kinh doanh, trong đó
có các doanh nghiệp tư nhân. Nhờ đó, các nền kinh tế này đã sớm có nhiều ngành,
nhiều doanh nghiệp có thể cạnh tranh ngang ngửa với các công ty Âu, Mỹ, ngay cả
trong các lĩnh vực vốn không phải là ưu thế của họ . Trong khi đó, Indonesia,
Malaysia Philippines, và Thái Lan trong nhiều thập kỷ qua chỉ tìm cách thu hút thật
nhiều FDI, nhưng nhìn chung lại không tạo ra được môi trường hỗ trợ thích họp để
các doanh nghiệp trong và ngoài nước có thể bước lên những bậc thang công nghệ và
năng lực canh tranh cao hơn. Các nước này thường bảo hộ nhiều ngành công nghiệp
trong một thời gian khá dài, dẫn đến việc lãng phí những nguồn lực khổng lồ và quý báu.
Kết quả là, chỉ tạo ra những doanh nghiệp ỷ lại, thụ động, và kém cạnh tranh, đặc
biệt là trong khu vực nhà nước. Chẳng hạn, Tập đoàn Thép Krakatau của Indonesia và
hãng ôtô Proton của Malaysia là những ví dụ về hậu quả tai hại của chính sách vưcm
tới bậc thang công nghệ cao hơn trong điều kiện được bảo hộ lâu dài. Ngành công
nghiệp thép của Indonesia hiện đang hấp hối sau 30 năm được bảo hộ. Tương tự như
vậy, ngành hàng không Indonesia vốn được trợ cấp hào phóng thì nay “đang chết dần
chết mòn” sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997-98 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu 4
hiện nay và do không có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế về máy bay cỡ
nhỏ. Còn Malaysia, mặc dù nhiều năm ưu tiên cao cho việc phát triển Hãng ôtô Proton
thành các thương hiệu ôtô quốc gia và khu vực nhằm cạnh tranh với các hãng ôtô của
nước ngoài, trước hết là Nhật Bản, song cho đến nay, thương hiệu ôtô này vẫn chỉ
được một bộ phận nhỏ những người có thu nhập thấp ở trong nước tiêu thụ, còn việc
chinh phục thị trường ôtô thế giới, thậm chí khu vực, vẫn chỉ là một giấc mơ xa vời.
Đó là hậu quả tất yếu của chủ nghĩa tư bản thân hữu tồn tại phổ biến ở các quốc gia
này, với việc nhà nước thường bị chi phối bởi/và câu kết với một số ít gia đình có thế
lực cũng như các công ty độc quyền nhằm khai thác các ưu đãi và tham nhũng tài sản
của nhà nước vì quyền lợi ích kỷ của mình, thay vì vì lợi ích quốc gia thật sự.
Thứ năm, trong một thời gian dài, các nước Đông Nam Á đã thành công trong việc
huy động một tỷ lệ đầu tư rất cao với hy vọng lặp lại kỳ tích tăng trưởng của các nền
kinh tế Đông Á, nhưng đáng tiếc họ đã thất bại, trong đó nguyên nhân chủ yếu là suất
sinh lợi của các khoản đầu tư ở các nước Đông Nam Á thấp hơn nhiều. Tham nhũng
chắc chắn là một trong những thủ phạm khi các quỹ đầu tư công bị bòn rút và thay đổi
mục đích sử dụng, và hệ quả là chi phí kinh doanh bị đội lên cao. Bên cạnh tham
nhũng thì một nguyên nhân quan trọng khác là tự do hóa tài chính đã được thực hiện
quá sớm, toong khi hệ thống tài chính được thiết kế không thích hợp và chưa sẵn sàng.
Kết quả là sự xuất hiện của các khoản đầu cơ rủi ro và sự hình thành bong bóng tài
sản. Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997 bộc lộ mức độ đầu tư quá
mức vào các bất động sản có tính đầu cơ ở Thái Lan và Indonesia. Cuộc khủng hoảng
này cũng phơi bày tính thiếu công khai và minh bạch một cách có hệ thống toong
quản trị nội bộ công ty và toong các bảng cân đối tài khoản của ngân hàng ở Thái Lan
và Indonesia, do các cơ quan chức năng ở hai nước này đã không vận dụng chuẩn xác
những quy tắc điều tiết càn thiết và theo chuẩn mực quốc tế . Có thể nói, cuộc khủng
hoảng tài chính-tiền tệ châu Á 1997 cũng bắt nguồn từ sự liên kết giữa chính sách tự
do hóa tài chính quá ư vội vàng và bất cẩn mà hậu quả là những cuộc khủng hoảng tài
chính xảy ra sau đó làm tiêu tan thành quả và công sức phấn đấu liên tục của các quốc gia .
Thứ sáu, có thể nói, hiệu năng của nhà nước ở các quốc gia Đông Nam Á, chủ yếu
là ASEAN, không mạnh mẽ và quyết liệt được như ở khu vực Đông Á. Phải chăng
ngoài sự khác biệt về văn hoá, sự khác biệt đó còn bắt nguồn từ những nguyên nhân
sau? Một là, trái hẳn so với ở Đông Á, ở các quốc gia ASEAN, do không có sự “ngăn
cách hay ít có sự độc lập tương đối” giữa nhà nước với các nhóm lợi ích (chính trị, tôn
giáo) và các tập đoàn kinh tế lớn, nên chính phủ các nước này rất khó trong việc xác
định và xây dựng được một cách đúng đắn ngay từ đầu những nhân tố cơ bản cần thiết
cho phát triển kinh tế-xã hội. Chính vì thế, cơ sở hạ tầng kinh tế, giáo dục, y tế, và an
sinh xã hội đã không được đầu tư thích đáng và, do vậy, đã không thỏa mãn được kỳ
vọng của nhân dân về chất lượng. Thực tế cho thấy, trong nhiều năm qua, kinh tế vĩ
mô ở các nước này không hẳn được điều hành một cách công tâm bởi những nhà
chuyên môn thực sự, với mục tiêu vì sự phát triển chung của đất nước luôn được đặt
lên hàng đầu. Chính vì thế, uy tín khó khăn lắm mới có được của một số nhà nước
ASEAN trên phương diện quản lý vĩ mô đã dần bị xói mòn vì một số sai lầm, do
không theo kịp được với sự phức tạp ngày càng tăng của nền kinh tế. Hậu quả là,
trong nhiêu năm qua, người dân ở các quôc gia này tương đôi thât vọng với các dịch
vụ thiêt yêu và đó là một trong các lý do dân đên những cuộc biêu tình làm chao đảo 5
nhiều chính phủ và lung lay sự lãnh đạo của các đảng cầm quyền như ở Indonesia,
Thái Lan và Philippines. Hai là, so với các chính phủ Đông Á, chính phủ các nước
ASEAN chưa thê hiện rõ được những quyêt tâm chính trị mạnh mẽ của họ để thay đôi
khi cần thiết. Chẳng hạn, Hàn Quốc đã phản ứng một cách mạnh mẽ, quyết liệt và
thực sự hiệu quả trước những yếu kém trong cấu trúc nền kinh tế mà họ nhận ra được
từ cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á năm 1997, dù họ phải cầu đến sự trợ
giúp của IMF kèm theo những thoả hiệp rất khắc nghiệt. Nhưng, nhờ đó họ đã trỗi dậy
mạnh mẽ và vững vàng hơn, để tự tin tham gia vào hàng ngũ các nước công nghiệp
phát triển (OECD). Trong khi đó, hầu như chưa một nước ASEAN nào làm và thành
công được tới mức như vậy, ngay cả Indonesia và Malaysia, được coi là thành công
nhất ASEAN trong việc thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng tài chính này. Ba là, nếu các
chính phủ Đông Á, ngay từ đầu, đã chủ trương thượng tôn pháp luật, trong đó hệ
thống tư pháp không chịu sự chi phối của các thế lực chính trị có tính đảng phái, thì ở
các nước ASEAN, duy chỉ có Singapore là quốc gia đầu tiên ưu tiên cao cho việc củng
cố hệ thống luật pháp, còn hầu hết các nước khác, do sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản
thân hữu và sự chi phối của các nhóm lợi ích đặc biệt, gồm cả các tập đoàn kinh tế lẫn
các giới chức tôn giáo, một số gia đình có quyền thế và, thậm chí cả một số hoàng gia,
nên môi trường thuận lợi, khuyến khích giao dịch kinh tế và đầu tư đã không hay
chậm được hình thành. Đồng thời, việc đề cao thượng tôn pháp luật đã không trở
thành một vũ khí then chốt và sắc bén để chống tham nhũng suốt nhiều thập kỷ qua.
Bổn là, đồng thời, khác với Đông Á, các nhà lãnh đạo của các nước ASEAN đã không
hoàn toàn có được những quyết định dựa trên những phân tích chính sách có chất
lượng và kịp thời. Bởi vì, khác với Đông Á, họ đã không tạo ra được những tranh luận
chính sách thực sự thẳng thắn và cởi mở giữa các nhà hoạch định chính sách trong
chính phủ, các nhà khoa học, giới kinh doanh, giới truyền thông, đại diện người lao
động và người tiêu dùng về nội dung và đường hướng của chính sách kinh tế. Điều đó
có nghĩa là, các chính sách kinh tế ở ASEAN được đề ra phần nhiều vẫn không phải là
kết quả của sự tranh luận và hợp tác giữa những tác nhân tham gia thực hiện, chịu tác
động và thụ hưởng những kết quả của các chính sách đó, mà phần nhiều đều do các
quan chức tại các bộ chuyên ngành độc quyền đề ra theo một cách thiếu công khai và
minh bạch. Chính vì thế, các chính sách này rất dễ bị các nhóm lợi ích thao túng và
bóp méo vì những lợi ích cục bộ, thiển cận và thiếu tầm nhìn dài hạn.
Thứ bảy, so với các nền kinh tế Đông Á, vấn đề công bằng xã hội, trong đó trọng
tâm là việc phát triển nguồn nhân lực, đã không được các nước Đông Nam Á
(ASEAN) coi trọng đúng mức, nếu không muốn nói là bị coi nhẹ. Có thể nói, nếu ở
mô hình Đông Á, cho đen nay, sự tăng trưởng nhanh về kinh tế thường được kết hợp
hay đi liền với việc tạo dựng và duy trì sự công bằng xã hội tới mức ít ra là có thể
châp nhận được đối với hầu hết tác nhân tham gia, thì trái lại, tình trạng bất bình đẳng
lại có vẻ như ngày càng rộng và sâu săc hơn ở Indonesia, Malaysia, Philippines và
Thái Lan. Phải chăng đây là hậu quả của tình trạng “mải tranh giành quyền lực, lợi lộc
và tham nhũng của các nhóm lợi ích, các tầng lớp chóp bu”, và của việc lao theo chính
sách “tăng trưởng cao bằng mọi giá” mà quên mất người dân diễn ra từ nhiều thập kỷ
sau khi giành được độc lập ở các quốc gia Đông Nam Á này. Ở các quốc gia này, mặc
dù mức phân phối thu nhập đồng đều hơn so với các nước ở Châu Phi và Mỹ La-tinh ,
song bất bình đẳng xã hội vẫn thể hiện rõ rệt ở các nước này không chỉ ở phân phối
thu nhập mà còn ở cả ba phương diện quan trọng của chính sách phát triển con người, 6
đó là giáo dục, y tế, và mạng lưới an sinh xã hội. Đáng tiếc là trong quá trình tìm cách
để “hoá Rồng, hoá Hổ”, các quốc gia Đông Nam Á đã không làm tót được cả ba vấn đề này.
Hệ thống giáo dục kém không những khiến nguồn nhân lực không đáp ứng được
yêu câu phát triên lâu dài của đât nước mà bản thân họ lại không có cơ hội để có thể
nâng cao được thu nhập. Ở các nước ASEAN, bản thân hệ thống giáo dục và đào tạo,
ở hầu như tất cả các cấp học, đều tỏ ra thua kém so với ở khu vực Đông Á. Mặc dù có
sự khác nhau nhất định giữa các quốc gia, song nói chung, hệ thống giáo dục ở Đông
Nam Á đã không được hưởng những điều kiện và những khoản đầu tư tốt nhất. Hậu
quả là chất lượng các nhà trường và kèm theo đó là chất lượng giáo dục (dạy và học)
không cao, không phủ khắp tới mọi miền đất nước, với những điều kiện cơ sở trường
lớp và chất lượng dạy và học như nhau. Do đó, không phải ai cũng có thể tiếp cận
binh đẳng được đến các điều kiện này. Con em những gia đình giàu có thì được vào
các trường chất lượng cao hoặc ra nước ngoài, tới các nước tiên tiến Âu, Mỹ, để học
tập, còn con em những gia đình nghèo, ở nông thôn, ở các vùng sâu vùng xa hay của
những gia đình bị coi là “bên lề, nhập cư ở các đô thị”, thì buộc phải bằng lòng với
việc học ở các trường chất lượng thấp, “không tên tuổi”, thậm chí “trường không ra
trường, lớp không ra lớp”, hoặc buộc phải bỏ học, do không có tiền để đóng học phí.
Sản phẩm tất yếu của nền giáo dục “không công bằng” đó là nguồn nhân lực có sự
chênh lệch đáng kể về chất lượng. Kết quả là những học sinh nghèo tốt nghiệp các
trường “không đạt chuẩn” thích ứng kém hơn với thị trường lao động và, do vậy, phải
nhận mức lương thấp hơn. Như vậy, thất bại của hệ thống trường phổ thông và đại học
của nhiều nước ASEAN đã gây nên di hại lâu dài cho sự tăng trưởng và công bằng xã hội của quốc gia .
về hệ thống chăm sóc sức khoẻ, nhất là mạng lưới y tế công cộng, không ai có thê
bác bỏ được thực tê hiên nhiên là, cùng với sự cải thiện vê kinh tế suốt hơn hơn bốn
thập kỷ phát triển thăng trầm vừa qua, loại dịch vụ công này ở hầu hết các nước
ASEAN cũng đã được phát triển đáng kể và nhờ đó, đã đóng góp không nhỏ vào tiến
trình phát triên này cũng như vào việc cải thiện sức khoẻ cho người dân của mình.
Chẳng hạn, biểu hiện tập trung và rõ rệt nhất của thành công này là tuổi thọ bình quân
của hầu hết các nước ASEAN đã được nâng lên trên 70 tuổi, và tỉ lệ người già (trên
60) trong dân chúng đang ngày càng lớn hơn. Tuy vậy, so với lĩnh vực này ở Đông Á,
thì cả trình độ, tốc độ, độ bao phủ và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ở ASEAN
thấp và chậm cải thiện hơn nhiều. Ngay như hiện nay, chi phí khám chữa bệnh vẫn
còn là một nỗi kinh hoàng và việc được tiếp cận với các dịch vụ y tế chất lượng cao
(thậm chí tàm tạm) vẫn là một ước mơ xa vời đối với nhiều người có mức thu nhập
thấp và trung bình, nhất là những gia đình nông dân, ở miền núi (vùng đông bắc Thái
Lan) hoặc các đảo xa (ở Indonesia, Malaysia và Philipines). Hậu quả là, so với các
quốc gia Đông Á, sức khoẻ của người dân các quốc gia ASEAN chậm được cải thiện,
tỉ lệ chết của trẻ sơ sinh và dưới 5 tuổi, vẫn cao và dịch bệnh thường xuyên tái phát ở
các khu ổ chuột đô thị, các vùng nông thôn và miền núi, do ô nhiễm môi trường, điều
kiện sinh hoạt và ăn uống kém và do thiếu những điều kiện chăm sóc sức khoẻ tối thiểu .
Đâu là tác nhân của sự tồn tại dai dẳng và làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng xã hội ở Đông Nam Á? 7
Trước tiên, như trên chúng ta vừa phân tích, là sự tiếp cận giáo dục không đồng
đều, nhất là ở cấp giáo dục đại học và dạy nghề. Ở Campuchia, Myanmar và Việt
Nam, chỉ 10% số người theo đuổi giáo dục đại học, ở Malaysia, Thái Lan và
Indonesia có cao hơn một chút, song vẫn thấp xa so với 86% ở Mỹ và khoảng 60% ở
Nhật và Anh. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ước tính tình trạng bất bình đẳng sẽ
giảm đáng kể khoảng 13 - 16% nếu khoảng chênh lệch trong tiếp cận giáo dục được thu hẹp'7.
Thứ hai là mô hình tăng trưởng hướng mạnh về xuất khẩu của phần lớn các nền
kinh tế ASEAN. Vì đi kèm với mô hình này thường là các chính sách khuyến khích
như ưu đãi về đất đai, miễn giảm thuế cho nhà đầu tư, hay miễn giảm thuế khi đầu tư
vào các khu công nghiệp. Hệ quả là lợi nhuận ngày càng tập trung hay đổ dồn vào
người sở hữu vốn (hay người giàu) - vốn chỉ chiếm số ít trong dân chúng - thay vì
hướng đến phục vụ cho số đông nghèo khổ.
Thứ ba là vấn đề về thông tin hạn chế, và hệ thống y tế và phúc lợi không đến được
với người nghèo, nhất là hiệu quả của mạng lưới an sinh xã hội - rất thấp và không
phủ kín được phần lớn dân chúng (nghèo khó ở nông thôn và miền núi xa xôi).
Cuối cùng làm gia tăng và trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng xã hội ở các
quốc gia Đông Nam Á là sự tồn tại dai dẳng và lan rộng của nạn tham nhũng - kẻ thù
của người nghèo và sự công bằng xã hội. Đáng tiếc là, trong khi ở Đông Ả, trừ Trung
Quốc, hầu hét các quốc gia đều được xếp vào nhóm nước có mức tham nhũng thấp
nhât thê giới, thì theo chỉ sô quản trị của Ngân hàng Thế giới, trong số mười nước
ASEAN, chỉ có ba nước là Brunei, Malaysia và Singapore, kiểm soát tham nhũng tốt
hon những nước có cùng mức độ tăng trưởng.
Tương tự như các nền kinh tế Đông Á, ngày nay, cùng với những khiếm khuyết của
mô hình và cung cách phát triển cũ, các quốc gia Đông Nam Á, với cốt lõi là một số
nước ASEAN còn chịu ảnh hưởng (thuận, nghịch) của những biên đổi to lớn của môi
trường kinh tế và chính trị khu vực Ỷà thể giới mang lại. -
Thứ nhất, nói chung, hầu hết các nước trên thế giới, từ các nền kinh tế lớn (như
Mỹ, EU, Nhật Bản và Trung Quốc), đang trỗi dậy (như BRICs), đến các nước đang
phát triên, nhỏ, trong mấy năm gần đây, đều đang gặp phải những khó khăn không dễ
khăc phục găn với mô hình phát triển kinh tế hiện thời. Tất cả họ đều buộc phải thay
đổi ở các mức độ và phạm vi khác nhau mô hình phát triển kinh tểâẵ tồn tại qua nhiều
thập kỷ từ sau Chiến ừanh thứ hai hoặc sau khi giành được độc lập, đã phát huy hết
tác dụng hoặc không còn phù hợp với hoàn cảnh mới, và tìm cách chuyển sang mô
hình phát triển mới với những đặc trưng khác. Trong trào lưu chung đó, các nước
Đông Nam Á (với hạt nhân là các quốc gia ASEAN) cũng không phải là ngoại lệ hoặc
không thể đứng ngoài, mà chỉ làm như thế nào và theo một mô hình với sắc thái ra sao thôi. -
Thứ hai, so với khoảng hơn ba thập kỷ trước, khi ASEAN bắt đầu tăng tốc quá
trình công nghiệp hóa, ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã phát triển rất
mạnh mẽ và sâu rộng với những thành tựu vô cùng quan trọng, mà tiêu biểu là sự ra
đời và phát triển của công nghệ thông tin, của internet, khiến cho thế giới đã trở nên
“phang hơn”, và việc chuyển sang nền kinh tế tri thức với những đặc điểm khác hẳn
trước đang trở thành một xu hướng tất yếu ở hầu hết mọi quốc gia. Trong bối cảnh đó,
các vấn đề như cơ cấu kinh tế, định hướng thị trường, phát triển nguồn nhân lực, nhất 8
là nguồn nhân lực chất lượng cao, cùng cung cách quản lý công ty và quản trị nền
kinh tế phải được đánh giá và xây dựng lại hoặc phải điều chỉnh lại theo hướng khác hẳn trước. -
Thứ ba, ngày nay, cùng với toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các quy tắc của
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) không cho phép các nước bảo hộ các ngành
công nghiệp non trẻ bằng các trợ cấp trực tiếp, hành chính cũng như các biện pháp
thuế quan và phi thuế quan như trước nữa. Ngay cả dù cho các nước ASEAN có được
phép thực hiện những chính sách bảo hộ này, thì nhiều khả năng là chúng cũng sẽ
không vận hành theo cùng một cách như trước. Vì thế, vai trò, các công cụ và chính
sách điều chỉnh của nhà nước nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp cũng không còn hoàn
toàn như trước được nữa. Bên cạnh đỏ, toàn cầu hóa đi kèm tính bất định gia tăng
cùng sự dịch chuyển của các luồng vốn cũng chứa đựng không ít rủi ro, có thể gây bất
ổn và thậm chí khủng hoảng nếu thiểu những cải cách chính sách vĩ mô bên trong và
lộ trình mở cửa tài chính thích họp. Thêm vào đó, một số giao dịch quốc tế, ví dụ như
dòng vổn ngắn hạn, cần phải được kiểm soát để tránh hiện tượng đổ bộ hay rút lui bất
thình lình. Sẽ có một sự dịch chuyển rất mạnh trong cấu trúc kinh tể toàn cầu. Kinh tế
toàn cầu nói chung và nền kinh tế của từng quốc gia nói riêng sẽ được cơ cấu lại,
trong đó các ngành, các sản phẩm tiết kiệm năng lượng thân thiện với môi trường sẽ
được quan tâm hơn. Thế giới không thể tiếp tục mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào
sự tiêu thụ của các nước phát triển, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch đang nổi lên, biến đổi
khí hậu đang trở thành vấn đề toàn cầu. Mô hình kinh té mới với đường lối cân bằng,
bình đăng và phô quát hơn sẽ thúc đây sự bên vững, xóa đói nghèo, tăng cường phúc lợi . -
Thứ tư, cùng với quá trình toàn cầu hoá, mở cửa để hội nhập khu vực và quốc
tế ngày càng sâu rộng đã trở thành một thực tế không thể chối bỏ, và sự họp tác kinh
tế quôc tê không còn đơn thuần chỉ có đầu tư và xuất nhập khẩu, mà phải là nền kinh
tế mạng, là sự họp tác theo chuỗi giá trị gia tăng trên cơ sở lợi thế so sánh. Điều đó
càng khiên cho cung cách điêu hành và quản trị nền kinh tế toàn cầu, khu vực, quốc
gia và công ty vào cuôi thê kỷ XX và đâu thể kỷ XXI cũng có những thay đổi căn bản
và mạnh mẽ. Những thay đổi trong hoạt động kinh doanh toàn cầu đã khiến cho những
mô hình cũ của các quôc gia này trở nên lỗi thời. Câu hỏi của ngày hôm nay không
còn là liệu một quôc gia có thể tự mình đi từ việc sản xuất áo sơ-mi lên sản suất thép
rồi ôtô hay không. Ngày nay, trên thế giới chỉ còn một số rất ít các hãng sản xuất ô tô
độc lập, và thách thức đặt ra cho các nước công nghiệp hóa muộn là làm thế nào để
kết nối với những hệ thống sản xuất toàn cầu hiện hữu trên cơ sở giảm giá thành, tăng
năng suât và cài tiên kỹ thuật. Bảo hộ thương mại không phải là một công cụ hữu hiệu
để đạt được mục tiêu này. Hơn nữa, sự thay đổi hệ thống tiền tệ quốc tế thời kỳ hậu
Bretton Woods đã hạn chế phạm vi hoạt động của chính sách tỷ giá hối đoái. Thêm
vào đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với
các nước đang phát triển, cho phép các nước khai thác lợi thế này thông qua những
chính sách công nghiệp của mình. -
Thứ năm, trong hơn một thập niên qua, giá nguyên vật liệu, nhất là xăng dầu,
trên thế giới, dù lên xuống thất thường, song xu hướng chủ đạo là tăng nhanh và hiện
đang dừng ở mức cao, cho thấy kỷ nguyên tài nguyên rẻ đã kết thúc và mở ra kỷ
nguyên khan hiếm (thậm chí cạn kiệt) nguyên nhiên liệu không thể tái sinh. Điều đó
không chỉ làm thay đổi tương quan lực lượng giữa các nước giàu tài nguyên (dầu mỏ, 9
khí đốt, và đất hiếm) với các quốc gia tiêu thụ nhiều tài nguyên thiên nhiên khác, tác
động tiêu cực đến sự tăng trưởng chung của nền kinh tế toàn cầu và của từng quốc gia.
Điều quan trọng là, thực trạng đó đang và sẽ buộc các nước (trong đó có các nước
ASEAN) phải xem xét lại mô hình tăng trưởng và chiến lược phát triển dựa vào khai
thác hay tiêu tốn nhiều tài nguyên thiên nhiên, và gây ô nhiễm của mình trước đây, để
chuyển sang mô hình có hiệu quả hơn, tiết kiệm tài nguyên nhiên liệu hơn, nhất là
những loại nguyên nhiên liệu không thể tái tạo được, và không hay giảm thiểu được ô
nhiễm môi trường. Hay nói cách khác, thế giới đang có nhu cầu chuyển sang một nền
kinh tế xanh và bền vững.
Đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua là tính nghiêm trọng, tác
động kéo dài và đụng chạm đến những vấn đề rất cơ bản và cốt lõi của các nền kinh tế
quốc gia và toàn cầu, mà không thể giải quyết được nếu chỉ dừng lại ở các giải pháp
thông thường, và thậm chí nó buộc người ta phải xem lại không chỉ các chính sách,
mà cả mô hình lẫn cung cách quản lý nền kinh tế (toàn cầu và quốc gia) và quản trị
công ty trước đây. Đó là những vấn đề cơ bản nào?
Thứ nhất, có lẽ đó là sự lạc hậu, bất lực, không tương thích và không phù hợp của
cơ câu tô chức, các cung cách vận hành, điêu chỉnh và quản trị của các tổ chức chính
trị, kinh tế và tài chính-tiền tệ quốc tế như Liên hợp quốc, IMF và WB, ra đời trên cơ
sở của hoàn cảnh và trình độ phát triển kinh tế và chính trị sau chiến tranh thế giới thứ
hai, trước những hoàn cảnh mới và hoàn toàn khác của đầu thế kỷ XXL
Thứ hai, từ cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, với sự xuất hiện của chủ
nghĩa tự do mới, quan hệ giữa nhà nước và thị trường đã bị đảo lộn theo hướng vai trò
của nhà nước ngày càng bị thu hẹp đến mức tối thiểu, còn thị trường được khuyến
khích, ngày càng lấn sân hay lấn át nhà nước và được coi là có quyền lực gần như
tuyệt đôi và không bị kiêm soát trong việc vận hành nên kinh tê và cả xã hội. Nguyên
lý cân bằng, hài hoà trong việc giải quyết mối quan hệ giữa thị trường và nhà nước
trong vận hành nền kinh tế thị trường bị vi phạm nghiêm trọng. Dường như cuộc
khủng hoảng lần này nảy sinh một phần lớn là do sự mất cân đối nghiêm trọng đó.
Thứ ba, trong gần ba thập kỷ qua, trong khi các nền kinh tế công nghiệp phát triên,
trước hêt là Mỹ, đâu tàu của nên kinh tê thê giới, phát triển chủ yếu theo mô hình của
một xã hội tiêu dùng, hạn chế tiết kiệm và phụ thuộc vào hàng tiêu dùng nhập khâu từ
bên ngoài, thì các nên kinh tê đang phát triên, nhât là châu Á, lại thiên về việc tiết
kiệm, thúc đẩy đầu tư để phát triển mô hình công nghiệp hóa theo chiều rộng, gia
công bằng nguồn vốn bên ngoài và hướng về xuất khẩu. Mối cân bằng này đã tiến dần
đến mất cân đối nghiêm trọng ở chỗ, các nền kinh tế phát triển đã trở nên tiêu dùng
thái quá, vượt cả những gì mà họ sản xuất ra, khiến họ phải phụ thuộc vào hàng nhập
khẩu, phải đi vay để đầu tư vì tiết kiệm trong nước quá thấp, thiếu hụt ngân sách và
cán cân thanh toán ngày càng nghiêm trọng. Trong khi đó, các nền kinh tế châu Á lại
tiết kiệm quá nhiều và tiêu dùng quá ít, họ phải phụ thuộc nặng vào nước ngoài, nhất
là Mỹ và các nước phát fríen khác, về thị trường cho các mặt hàng xuất khẩu của
mình, cũng như về nguồn cung cấp vốn (đầu tư trực tiếp, gián tiếp, và kiều hối). Hậu
quả là, khi nền tài chính và sau đó là kinh tế Mỹ và các bạn hàng chủ yếu bị trục trặc,
thị trường tiêu thụ khổng lồ cho các mặt hàng xuất khẩu của châu Á bị thu hẹp đột 10
ngột, dễ đẩy các nền kinh tế này vào suy thoái và khủng hoảng nghiêm trọng do nguồn
cung cấp vốn và thị trường tiêu thụ hàng xuất khẩu của họ bị cắt giảm đáng kể .
Thứ tư, không ít các ý kiến cho rằng, một trong những nguyên nhân căn bản gây ra
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nghiêm trọng như vậy, một phần không nhỏ, là do,
cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh do thị trường điều tiết một cách không
kiểm soát, nhân loại đã bị đẩy tới giới hạn của các nguồn lực tự nhiên, phải đối mặt
với những cuộc khủng hoảng thiếu lương thực, nguyên liệu và năng lượng, với tình
trạng ô nhiêm và biên đổi khí hậu nghiêm trọng đang tác động trực tiếp tới sự tồn
vong của mình và không thể không giải quyết ngay nhằm tránh nổ ra những cuộc
chiến tranh kinh tế và thương mại nghiệm trọng.
Tính chất cơ bản và lâu dài của các vấn đề này cho thấy việc giải quyết chúng cũng
đòi hỏi những giải pháp cũng rất cơ bản và lâu dài, song phải cần làm ngay. Do đó,
ngay từ khi khủng hoảng nổ ra, người ta cũng đã bàn, cam kết và bước đầu đã có
những chính sách và giải pháp theo hướng này. Một là, trong lĩnh vực quản trị phát
triên toàn câu, người ta đã cam kêt phải nhanh chóng cải tô các tô chức chính trị, kinh
tê và tài chính quốc tế, nhất là Liên hợp quốc, Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế
giới để gia tăng hiệu quả của quản trị nền kinh tế toàn cầu, khiến cho chúng trở nên
minh bạch hơn, đảm bảo nguyện vọng và nhu cầu của từng quốc gia đều được lắng
nghe và tính đến, phù họp với tương quan lực lượng và trật tự mới giữa các quốc gia.
Trên thực tê, trong vài năm qua, đã có rât nhiều các cuộc hội nghị, hội thảo các cấp, để
bàn và đưa ra các giải pháp theo hướng trên cho vấn đề này. Hai là, cuộc khủng hoảng
lần này, nổ ra một phan là do sự chi phối thái quá trong một thời gian dài của chủ
nghĩa tự do mới, đã đưa người ta đến nhận thức thống nhất như sau: Mặc dù sự can
thiệp của nhà nước là cần thiết, song không có nghĩa là nhà nước cần can thiệp nhiều
hơn, mà phải có hiệu quả hơn và phù họp hơn với năng lực vốn có của nó. Điểu quan
ữọng là, sự can thiệp của nhà nước không được đi ngược lại các nguyên tắc của kinh
tế thị trường và không thay thế các thể ché kinh tế thị trường. Ba là, cuộc khủng hoảng
tài chính và suy thoái kinh tế lần này cũng khiến người ta vỡ ra một điều là, các nước
châu Á, nhất là các nước đang phát ưiển Đông Nam Á, không thể tiếp tục thắt lưng
buộc bụng, tiết kiệm chi tiêu, tập trung cho đầu tư sản xuất để xuất khẩu sang các thị
trường hướng về tiêu dùng ở các nước công nghiệp phát triển, và các nước phát triển,
như Mỹ, cũng không thể “lao theo” xã hội tiêu dùng mà quên mất thói quen tiết kiệm
để đầu tư cho sản xuất được nữa. Với nhận thức như vậy, nên ngay từ bây giờ, nhiều
nước châu Á đang có kế hoạch chuyển sang một chính sách công nghiệp và thương
mại, ngoài việc đẩy mạnh xuất khẩu, còn lấy nhu cầu nội địa làm động lực tăng trưởng
chính, còn các nước công nghiệp phát triển cũng cần có những chính sách khuyến
khích người dân hạn chế tiêu dùng và cố gắng tiết kiệm để đầu tư. Tuy vậy, để có thể
hiện thực hoá được ý đồ này, cả các nước châu Á lẫn các nước phát triển sẽ phải thay
đổi cả một nền văn hóa, một phong cách tiêu dùng và một đường lối phát triển đã có
từ nhiều thập niên qua, và chắc chắn điều đó không thể làm được trong ngày một ngày
hai. Bổn là, có ý kiến cho rằng, mô hình tăng trưởng không chú trọng đúng mức tới
tính hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và sự bền vững trong khai thác
tài nguyên thiên nhiên tuy vẫn có thể tiếp tục thành công trong một thời gian nhưng về
lâu dài chắc chắn sẽ phải trả giá rất đắt. Vì thế, nên một ừong những vấn đề mà các tổ
chức quốc tế, các nước đang bàn đến nhiều nhất và một số nước đã bắt đầu có những
cam kết cùng nhau giảm bớt lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, tiến hành chuyển 11
đổi cơ cấu kinh tế và cải tiến công nghệ theo hướng xây dựng một nền kinh tế xanh và
phát triển bền vững, thống nhất coi đó là một trong những giải pháp cơ bản để tránh
xảy ra khủng hoảng và duy trì sự tồn tại của loài người. Đó là một nền kinh tế có công
nghệ cao, tiêu hao ít nguyên nhiên liệu, không gây ô nhiêm môi trường. Năm là, phải
nói rằng, trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, tầng lóp hay nhóm người
bị tác động tiêu cực và nặng nề nhất hay dễ bị tổn thương nhất là những người nghèo,
có thu nhập thấp. Ở hầu hết các quốc gia, khủng hoảng lần này đã khiến cho đội ngũ
người nghèo trở nên đông đảo và nghèo khó hơn, khiến cho chênh lệch giàu nghèo
doãng rộng ra hơn bao giờ hết và hậu quả là bất bình đẳng và bất mãn xã hội càng trở
nên nghiêm trọng hơn. Đê giảm thiêu những tác động tiêu cực đến người nghèo,
thường chiếm tỉ lệ cao trong dân số các nước Đông Nam Á, hầu hết các chính phủ đều
đã có những gói kích câu khổng lồ, nhằm không chỉ cứu vớt các tổ chức tài chính tín
dụng và các tập đoàn kinh doanh lớn khỏi bị phá sàn, mà còn để trợ cấp cho nhóm
người nghèo nhât trong xã hội, giúp họ sớm ổn định cuộc sống sau khủng hoảng. Tuy
vậy, sẽ là hoàn toàn không đủ và không căn bản, nếu chỉ dừng ở những giải pháp ngắn
hạn, nhất thời như vậy. Do đó, theo khuyến cáo của các chuyên gia, giải pháp quan
trọng, căn bản và lâu dài mà các nước cần tiến hành là phải tiến đến có một chiến
lược, một mô hình phát triển khác, phù hợp với bối cảnh mới, có thể giúp giảm nghèo
bền vững và giảm thiêu sự bât bình đăng - mâm mông của sự bât mãn và rối loạn xã hội.
Trong bổi cảnh và xu hướng điều chỉnh chung như vậy, mỗi nền kinh tế cần tự
đánh giá và chọn cho mình những cách giải quyết tốt nhất thông qua các giải pháp cải
cách và điều chỉnh phù họp. Các nước Đông Nam Á, mà cốt lõi là các quốc gia
ASEAN, cũng vậy, muốn “hoá Rồng, hoá Hổ”, họ không thể không tham gia vào tiến
trình chung đó của nhân loại. a. Indonesia
Indonesia là một quốc gia trẻ- chỉ thực sự độc lập từ năm 1949, khi Hà Lan quyết
định từ bỏ chế độ cai trị thực dân và việc kiểm soát các cơ sở sản xuất và cung cấp
hàng hoá của mình tại quốc gia này. Nhưng có thể nói, vận mệnh của đất nước này chỉ
thực sự bắt đầu xoay chuyển vào khoảng năm 1998, khi Tổng thống Suharto bị phế
truất khỏi chiếc ghế tổng thống mà ông đã độc quyền nắm giữ liên tục (hơn 30 năm)
từ năm 1967. Sự quá độ sang nền dân chủ đã mở ra một kỷ nguyên kinh tể và chính trị
mới làm xoay chuyển hẳn đất nước 246 triệu dân mà hầu hết theo đạo Hồi (tới 88%
dân số) này. Từ đó, các chính phủ Indonesia khác nhau kế tiếp cố gắng có những
chính sách điều chỉnh nhằm đưa nền kinh tế Indonesia thoát ra khỏi “vùng trũng kinh
tế khu vực”. Tuy vậy, theo nhận định của các chuyên gia trong và ngoài nước, những
cải cách căn bản và lâu dài hơn chỉ thực sự bắt đầu khi Tổng thống Susilo Bambang
Yudhoyono lên nắm quyền (vào cuối năm 2004) và chấm dứt được thời kỳ chao đảo
chính trị liên tục hậu Suharto. Những cải cách đó đã bắt đầu đụng chạm đến những
vấn đề cốt lõi nhất của nền kinh tế, đó là đánh giá lại con đường hay mô hình tăng
trưởng kinh tế tồn tại suốt từ thời Suharto, hiện vẫn còn để lại những di chứng rất
nặng nề và hướng dần đến một mô hình tăng trưởng mới, không chỉ có tốc độ cao, có
sức cạnh tranh và sáng tạo, mà còn bền vũng, công bằng hơn và thu hút được sự tham
gia của đông đảo người dân. 12
(ỉ) Mục tiêu chuyển đổi: Có thể nói, biểu hiện tập trung nhất (cả về mục tiêu, nội
dung, biện pháp,...) của việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Indonesia được
thể hiện trong Quy hoạch tổng thể “Tăng cường và Mở rộng Phát triển Kinh tế
Indonesia 2011-2025” (Master Plan for "Acceleration and Expansion of Indonesia's
Economic Development 2011-2025" - MP3EI) do Chính phủ Indonesia triển khai từ
ngày 27 tháng 5 năm 2011. Trong đó, mục tiêu chủ đạo của MP3EI là xây dựng được
một nền kinh tế Indonesia tăng trưởng cao, cân đối, tự do, dân chủ, công bằng và bền
vững nhằm tạo nền tảng biến Indonesia thành một trong 10 nền kinh tế phát triển lớn
nhất thế giới vào năm 2025, với thu nhập bình quân đầu người dự tính đạt 14.250-
15.500USD và tổng sản phẩm nội địa đạt 4.000-4.500 tỉ USD. Để đạt được những
mục tiêu này, dự kiến Indonesia phải đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình
thực té từ 6,4% đến 7,5%/năm cho cả thời kỳ 2011-2014. Cùng với tăng trưởng kinh
tế như vậy, tôc độ lạm phát cũng phải giảm từ 6,5% trong thời kỳ 2011-2014 xuống còn 3,0% vào năm 2025 .
(2) Những nhân tố tác động: Công cuộc chuyển đổi mô hình phát triển này của
Indonesia chịu tác động của những nhân tố chủ yếu sau:
Thứ nhất, Indonesia có những tiềm năng (hay thuận lợi) to lớn về nhân khẩu, sự dồi
dào và phong phú các nguồn tài nguyên thiên nhiên, những lợi thế về địa lý và sự ổn
định tương đối về chính trị hiện nay của nó. (i) về dân số, với 246 triệu người,
Indonesia là nước đông dân thứ tư và là nước có số người theo đạo Hồi lớn nhất thế
giới (chiếm 88% dân số cả nước). Sức mua ngày càng tăng nhanh của số dân khổng lồ
này đang tạo ra một thị trường đáng kể . Hơn nữa, cùng với số dân lớn, việc gia tăng
chất lượng nguồn nhân lực càng tạo ra được một lợi thế cạnh tranh tốt. Hiện nước này
đang trải qua thời kỳ dân số đông với “cơ cấu dân số vàng”. Điều quan trọng là, nếu
giáo dục phổ thông tiếp tục được cải thiện, thì năng suất lao động của Indonesia sẽ
tăng trưởng theo cấp số nhân, (ii) về tài nguyên thiên nhiên, Indonesia giàu có cả các
nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái sinh được (nông sản) lẫn các nguồn tài nguyên
thiên nhiên không thể tái sinh được (khai thác và khoáng sản). Việc sử dụng các
nguồn tài nguyên thiên nhiên này sẽ đạt hiệu quả tối đa nếu Indonesia có thể xây dựng
được những ngành công nghiệp chế biến có giá trị gia tăng cao, đồng thời giảm dần
được việc xuất khẩu nguyên nhiên liệu thô như trước đây. Hiện Indonesia là một trong
những nước lớn sản xuất và xuất khẩu nhiều loại nguyên nhiên liệu trên thế giới.
Chẳng hạn, Indonesia là nước sản xuất và xuất khẩu lớn nhất dầu cọ, thứ hai về ca cao
và thiếc trên thế giới, về trữ lượng nickel và bauxite, Indonesia đứng thứ tư và thứ bẩy
trên thế giới, và là một trong những nước sản xuất lớn nhất thép, đồng, cao su và nghề
cá. Đồng thời, Indonesia có trữ lượng khổng lồ về than, năng lượng địa nhiệt, và nước
được dùng cho các ngành công nghiệp thuộc khu vực I như, dệt, đóng tàu, vận tải
cũng như thực phẩm và đồ uống, (iii) về vị ứí địa lý, Indonesia là quần đảo lớn nhất
thế giới, trải dài 5.200 km từ đông sang tây và rộng 1.870 km. Indonesia có liên hệ
trực tiếp với các thị trường lớn nhất thế giới, do nằm trên một ứong những tuyến hàng
hải sôi động và kinh tế nhất thế giới - Eo biển Malacca - tuyến vận tải biển bằng
Container hàng đầu thế giới. Indonesia nằm cách hai nền kinh tể lớn và tăng trưởng
nhanh nhất thế giới: Trung Quốc và Ấn Độ 5 giờ đồng hồ đi lại. (iv) về ổn định và uy
tín của Indonesia, mặc dù cho tới nay nền kinh tế-xã hội Indonesia vẫn còn tồn tại rất
nhiều vấn đề (như thất nghiệp, lạm phát, mức sống chưa cao và bất bình đẳng,...) gây
không ít khó khăn và bất mãn cho người dân, song từ sau kỷ nguyên Suharto, nhất là 13
dưới thời của Tổng thống s. B. Yudhoyono, nhờ những cải cách khác nhau, nền kinh
tế Indonesia đã trở nên thị trường hơn, và nền chính trị và xã hội Indonesia cũng cởi
mở và dân chủ hơn so với thời trị vì của cựu Tổng thống Suharto, hoặc ít ra cũng ổn
định và ít nguy cơ rối loạn hơn nhiều .Đặc biệt hiện nay, Indonesia là nước ASEAN
duy nhất có chân trong Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20), tham gia
thực sự vào việc đánh giá, bàn thảo và vạch ra giải pháp cũng như đường hướng phát
ừiển cho các vấn đề toàn cầu. Có thể nói, đó là những tiền đề vô cùng quan trọng và
thuận lợi cho việc khởi xướng, thực hiện và thắng lợi của những đổi mới và cải cách
rất căn bản ở quốc gia này.
Thứ hai, tuy vậy, bức tranh Indonesia hiện nay không chỉ toàn màu hồng, trái lại,
quôc gia này cũng đang đứng trước những vân đê, những khó khăn và thách thức
không nhỏ, nếu không muốn nói là hết sức nghiêm trọng cần vượt qua và giải quyết,
từ tât cả các phương diện (cả kinh tê, chính trị lân xã hội), cả trong lân ngoài nước, cả
trước măt lân lâu dài, và nhiều khó khăn, thách thức nảy sinh từ bàn thân và từ việc
loại bỏ mô hình cũ. Trong số đó, có thể kể ra như sau: (i) Mặc dù thu nhập quốc dân
theo đâu người đã tăng liên tục từ 2.200ƯSD năm 2000 lên 3.563USD năm 2012,
song Indonesia vân bị coi là một nước có thu nhập trung bình thấp. Trong 246 triệu
dân, vẫn có hơn 32 triệu người hiện đang sống dưới mức nghèo khổ và gần 1/2 số hộ
vẫn nằm quanh ngưỡng nghèo đói quốc gia với 200.262 rupiah (22USD)/tháng.
Không những thế, tốc độ tăng việc làm luôn thấp hơn tốc độ tăng dân số, nên thất
nghiệp hay thiếu việc làm vẫn luôn là vấn đề thường trực cần giải quyết. Tệ hơn nữa
là, mặc dù đã có cải thiện so với hơn một thập kỷ trước, song dịch vụ công kém tới
mức, vẫn bị đánh giá là chưa tương xứng với tiêu chuẩn thu nhập trung bình. Chẳng
hạn, Indonesia vẫn còn kém về các chỉ số liên quan đến giáo dục, y tế và cơ sở hạ
tầng; do đó, theo đánh giá của Liên họp quốc, Indonesia không đạt được một số chỉ
tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) vào năm 2015. Ví dụ, các số liệu từ năm 2009 cho
thay, Indonesia vẫn có tới 307 trẻ sơ sinh bị chết trong số 100.000 em được sinh ra,
gấp 3 lần mục tiêu mà MDG đặt ra cho năm 2015 là 105. Đồng thời, tỉ lệ chết của bà
mẹ vẫn cao, và cũng rất có thể không hoàn thành được chỉ tiêu MDG. Ngoài ra, bất
chấp những tiến bộ gần đây, tỉ lệ dân số được tiếp cận với các điều kiện vệ sinh tiêu
chuẩn mới đạt 68% dân số, vẫn thấp xa so với mục tiêu 86% của thiên niên kỷ , (ii)
Mặc dù, từ sau khi Tổng thống s. B. Yudhoyono lên cầm quyền, nền kinh tế Indonesia
có những khởi sắc nhất định, tuy vậy, nhìn xa hơn, do triển vọng không chắc chắn của
nền kinh tế thế giới, Indonesia thấy phải tự chuẩn bị (có những cải cách và giải pháp
căn bản hơn) để sẵn sàng cho những tác động nghịch tiềm tàng do sự chậm lại (thậm
chí rối loạn) của nền kinh tế Trung Quốc, do sự giảm hơn nữa của giá cả hàng hoá, và
cho khả năng tái diễn tình trạng rối loạn ở các nước bạn hàng chính hay trên các thị
trường hàng hoá và tài chính chủ yếu, như Mỹ và EU . (iii) Mặc dù, cho đến nay, động
lực tăng trưởng chính của kinh tế Indonesia vẫn là nhu cầu trong nước, chủ yếu đến từ
đầu tư và tiêu dùng trong nước. Vì xuất khẩu của Indonesia chỉ chiếm 25% GDP, so
với trung bình 70% của các quốc gia Đông Nam Á còn lại. Sức mạnh thật sự của nước
này là thị trường trong nước khổng lồ, nhờ tầng lớp trung lưu đang lớn lên nhanh
chóng - 50 triệu người Indonesia kiếm hon 4.000 USD/năm, và con số này sẽ tăng 3
đến 5%/năm . Có thể nói, đây là một yếu tổ giúp Indonesia không bị tác động quá
nghiêm trọng của/và có thể thoát nhanh ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn càu
vừa qua. Mặc dù, theo nhiêu đánh giá, trong tưong lai xa, tình trạng hướng nội cũng 14
như tác động của hai nhân tố trong nước này vẫn tiếp tục mạnh khiến tốc độ tăng
trưởng kinh tế vẫn cao, song trong bôi cảnh toàn câu hóa và hội nhập quốc tế và khu
vực ASEAN ngày càng sâu rộng, Indonesia chắc chắn vẫn phải xem xét để tận dụng
được những lợi thế và giảm thiêu những tác động tiêu cực của cả hai xu hướng (hướng
ngoại và hướng nội) cho sự phát triển cao và bền vững của mình, (iv) Cơ cấu kinh tế
hiện hành của Indonesia dựa chủ yếu vào nông nghiệp và những ngành công nghiệp
khai thác và tận dụng tài nguyên thiên nhiên. Chỉ có rất ít các ngành công nghiệp tập
trung vào những sản phâm có giá trị gia tăng cao. Ngoài ra, còn có sự chênh lệch phát
triển giữa miền tây và miền đông của Indonesia. Việc dựa vào nông nghiệp như là bệ
đỡ vừa là một lợi thế của nền kinh tế Indonesia khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra
khiến nhu cầu và giá hàng công nghiệp sa sút, song cũng khiến nước này chậm chân
và thiếu sức cạnh tranh trong các cuộc cạnh tranh toàn cầu ở các mặt hàng công
nghiệp có giá trị gia tăng cao. Vì thế, trong tương lai, bài toán đặt ra cho Indonesia là
phải làm sao vừa phát triển được các ngành công nghiệp hiện đại có giá trị gia tăng
cao để tham gia cuộc chơi toàn cầu, lại vừa tận dụng được những ưu thế của một nước
nông nghiệp, để mở rộng phát ừiển kinh tế ra toàn quốc theo hướng nhanh, bền vững
và bình đẳng hơn. (v) Một thách thức khác đối với quần đảo khổng lồ này là cơ sở hạ
tầng cho các hoạt động kinh tế. Bản thân cơ sở hạ tầng có một phổ rất rộng và chưa
được chú ý phát triển đầy đủ ở Indonesia. Đặc biệt, cho đến nay, sự kết nối (hệ thống
đường giao thông và mạng lưới thông tin liên lạc) giữa các khu vực (và các đảo) thành
một thể liên thông và thống nhất để thúc đẩy và mở rộng sự phát triển kinh tế, theo
đánh giá là chưa tốt. Do đó, chi phí vận tải và hậu cần ở Indonesia chưa có sức hấp
dẫn, nhờ đó sức cạnh tranh của sản phẩm chậm được cải thiện, nên chưa có tác dụng
thúc đẩy tăng trường kinh tế , (vi) Chất lượng nguồn nhân lực cũng đang là một thách
thức lớn đối với Indonesia. Hiện chỉ có khoảng 50% công nhân Indonesia đạt trinh độ
giáo dục sơ cấp, và chỉ có 8% có bằng giáo dục chính quy. Chất lượng nguồn nhân lực
còn nhiều vấn đề của quốc gia này là hậu quả của việc tiếp cận chưa tốt và không
đồng đều đến nền giáo dục có chất lượng, các điều kiện y tế, cũng như cơ sở hạ tầng
cơ bản. (vii) Hiện Indonesia cũng đang phải đương đầu với nhiều vấn đề nan giải do
việc đô thị hóa nhanh chóng gây ra. Năm 2010, đã có 53% dân số Indonesia sống ở
các đô thị, và người ta dự đoán rằng, vào năm 2025, dân số ở các đô thị sẽ đạt tới
65%. Tình trạng này đã, đang và sẽ còn tác động tiêu cực, trực tiếp và thấy trước đến
việc cung cấp các dịch vụ công, đến mô hình di cư, đến những thay đổi của mô hình
và cơ cấu tiêu dùng và sản xuất. Đồng thời, nó còn tác động đến cơ cấu việc làm,
những xung đột ngày càng tăng trong sử dụng đât, và làm tăng nhu cầu phải có các cơ
sở hạ tầng đáng tin cậy đê làm cơ sở cho việc phân phối hàng hoá và dịch vụ cho phàn
lớn dân cư. (viii) Indonesia cũng phải đối mặt với thách thức (thậm chí nghiêm trọng
hơn so với nhiều nước) do biến đổi khí hậu toàn cầu. Nhiều chỉ số đang tác động đáng
kể đến cuộc sống con người như mực nước biển dâng cao, nhiệt độ khí quyển tăng,
những thay đổi trong chu kỳ mưa, và những biên đôi khí hậu cực đoan, (ix) Ngoài ra,
Indonesia vẫn còn phải đối mặt với nhiều lo ngại không kém phần nghiêm trọng và
cấp bách khác đang cản trở sự phát triển, gây khó cho các doanh nghiệp và người dân:
Đó là, tệ quan liêu và nạn tham nhũng tràn lan, tài chính đối ngoại và thu nhập của
chính phủ vẫn thấp dưới mức trung bình BBB (xem Hộp 4.1), tỉ lệ nợ được định giá
bàng ngoại tệ cao khiên cho tài chính công của Indonesia dê chịu tác động của những
biên động tiên tệ, những không nhất quán trong luật pháp, thiếu cơ sở hạ tầng,... 15
Từ những thực tế trên, có thể thấy, mặc dù những yếu tố cơ bản của Indonesia vẫn
mạnh và nước này vẫn còn khá nhiều điều kiện (kinh tế và chính trị) thuận lợi, song
tốc độ tăng trưởng cao không thể tự động diễn ra. Bản thân người Indonesia cũng
nhận thấy, để có thể đạt được sự phát triển cao, công bằng và bền vững, Indonesia còn
phải dần dần từ bỏ mô hình cũ, có những cải cách triệt để, và tiến đến xác lập một mô
hình tăng trưởng khác trước có khả năng không chỉ tận dụng được các thế mạnh của
mình mà điều quan trọng là phải khắc phục được nhiều tồn tại và thách thức kể trên.
(3) Những định hướng chuyển đổi chủ yếu: Trong bối cảnh trong và ngoài nước
như vậy, để có thể tạo ra được bước chuyển căn bản, lâu dài thúc đẩy được sự phát
triên kinh tê của mình, trước hết, theo MP3EI, Indonesia cần phải có một lối tư duy
mới, một lôi làm việc mới, và một cung cách kinh doanh mới. Cụ thể, thay vì chỉ kiểm
soát như trước đây, những quy định ở cấp trung ương và khu vực cần được hợp lý hoá
đê tạo thuận lợi cho kinh doanh. Một lối tư duy mới cần được dựa trên tinh thần “kinh
doanh phải khác trước”. Việc thực hiện “Lối tư duy mới về phát triển kinh tế” cần có
sự phân nhiệm rõ ràng và những nỗ lực cộng tác giữa chính phủ, các chính quyền địa
phương, các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân và được sự đồng
thuận, ủng hộ và tham gia của nhân dân . Thứ hai, nếu trước đây, nhà nướclndonesia
can thiệp quá sâu vào nền kinh tế không chỉ bằng các chính sách, kế hoạch, mà còn cả
sự can thiệp trực tiếp thông qua các công ty nhà nước và các biện pháp hành chính,
nhât là trong thời kỳ Suharto. Hậu quả là năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, doanh
nghiệp và nên kinh tế Indonesia chậm được cải thiện. Đồng thời, chủ nghĩa thân hữu,
tệ quan liêu của các cấp chính quyền và nạn tham nhũng đã phát triển tràn lan và ăn
sâu gây trở ngại không chỉ cho sản xuất mà cả đời sống dân sinh. Tới đây, theo
MP3EI, nhà nước dần dần sẽ chỉ còn đóng vai trò điều tiết (regulator), chứ không can
thiệp (trực tiếp) vào nền kinh tế nữa. Họ chỉ dừng lại ở vai trò chủ yếu là người tạo
thuận lợi (facilitator), là chất xúc tác (catalyst) hay tạo môi trường bình đẳng, minh
bạch và thân thiện cho các doanh nghiệp (cả khu vực tư nhân lẫn khu vực công) phát
triển , còn phạm vi và mức độ tham gia của khu vực tư nhân sẽ ngày càng được mở
rộng và sâu hơn. Quan điểm này không chỉ có được, một phần, là do những hậu quả
tai hại do sự can thiệp quá sâu, lấn át cả khu vực tư nhân của nhà nước đối với nền
kinh tế, như vừa nói ở trên; phần khác còn là do nguồn tài trợ cho sự phát triển (ngày
càng sâu rộng trong tương lai) thông qua ngân sách nhà nước của Indonesia là rất hạn
chế, nên để hỗ trợ quá trình chuyển đổi và để đạt được tăng trưởng kinh tế cao,
Indonesia sẽ phải dựa chủ yếu vào sự tham gia của các doanh nghiệp, nhất là các
doanh nghiệp tư nhân, cả trong và ngoài nước (thông qua phương thức PPP). Đe cho
sự điều chỉnh vai trò giữa nhà nước và tư nhân Indonesia trở thành hiện thực, các
chính sách của chính phủ sẽ phải được hợp lý hoá và phạm vi bao hàm của chúng sẽ
được thu hẹp dần để cho phép khu vực tư nhân được tham gia rộng khắp hơn. Các quy
định sẽ đơn giản, rõ ràng và không để xẩy ra bất cứ sự hiểu lầm nào để làm tăng thêm
lòng tin và tối đa hoá sự tham gia từ các nhà đầu tư vào việc xây dựng các ngành công
nghiệp và cơ sở hạ tầng cần thiết. Muốn vậy, Indonesia sẽ phải đánh giá lại tất cả các
khung khổ pháp luật hiện hành và phải có những bước đi chiến lược để thay đổi các
quy chế. Theo đó, vai trò của chính phủ sẽ dừng lại ở việc đề ra và thực thi một loạt
các quy định và quy chế nhàm tạo thuận lợi và khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng
các ngành công nghiệp và cơ sở hạ tầng khu vực. Những khuyến khích này có thể bao
gồm chính sách ưu đãi về thuế quan, thuế, thuế quan nhập khẩu, các quy định về lao 16
động, cấp phép, và đât đai,... chính phủ trung ương và các chính quyên địa phương sẽ
tạo lập một mối quan hệ đáng tin cậy trong và giữa các trung tâm tăng trưởng kinh tế .
Thứ ba, trong MP3EI có hai nội dung chính: tăng cường và mở rộng. Một là, thông
qua tăng cường hay thúc đẩy phát triển, người ta hy vọng Indonesia có thể thúc đẩy
được sự phát triển của các chương trình kinh tế-xã hội then chốt; Và hai là, mở rộng
nghĩa là tạo cho sự phát triển kinh tế không những lan rộng ra khắp cả nước, mà còn
làm cho tất cả các vùng và các cộng đồng trên toàn Indonesia có thể được hưởng một
cách bình đẳng những hiệu quả tích cực do phát triển kinh tể mang lại, điều mà trước đây không được chú y.
Để thực hiện được hai nội dung đó, trọng tâm phát triển trong MP3EI sẽ được phân
thành 8 chương trình phát triển lớn:nông nghiệp, khai khoáng, năng lượng, công
nghiệp, hàng hải, du lịch, viễn thông, và phát triển các vùng chiến lược. Tám Chương
trình này bao trùm 22 ngành và khu vực chiến lược chính sẽ được ưu tiên đầu tư để
phát triển. Đó là đóng tàu, dệt, thực phẩm và đồ uống, thép, thiết bị quốc phòng, dầu
cọ, cao su, ca cao, chăn nuôi, gỗ, dầu mỏ và khí đốt, than, nickel, đồng, bôxít, nghề cá,
du lịch, lương thực và nông nghiệp, khu vực Jabodetabek, khu vực chiến lược quanh
eo biển Sunda, thiết bị vận tải, và công nghệ thông tin liên lạc. Đồng thời, nhằm
khuếch trương sự phát triển ra cả nước, MP3EI cũng đã xác định phát triển 6 hành
lang kinh tế bằng cách thành lập các trung tâm phát triển trong phạm vi mỗi hành lang
và phát triển các cụm liên kết ngành công nghiệp và khu kinh tế đặc biệt dựa trên các
nguồn lực hàng hoá tương ứng và một cơ sở hạ tầng và công nghệ tiên tiến. Các hành
lang kinh tế cũng sẽ tập trung vào việc phát triển cơ sở hạ tầng, với tổng kinh phí cho
giai đoạn I (2011-2014) ước tính cần tới 150 tỉ USD, do cả khu vực chính phủ lẫn tư
nhân đóng góp theo phương thức ppp. Có thể nói, sở dĩ những ngành và khu vực này
được ưu tiên phát triển là do chúng có thể tận khai được những lợi thế sẵn có của
Indonesia cả về nguồn lực lẫn vị trí địa chính trị cũng như là có thể giúp tránh tập
trung thái quá tiềm lực kinh tế vào một vài khu vực hoặc đại đô thị, tiến đến một nền
kinh tế phát triển khá đồng đều giữa các khu vực . Thứ tư, hạn chế đầu tư vào các
ngành công nghiệp và công nghệ sử dụng và khai thác tài nguyên thiên nhiên không
thể tái sinh, hạn chế dần và tiến đến chỗ ngừng hoàn toàn việc xuất khẩu tài nguyên
thiên nhiên thô. Phát ữiển những ngành, những công nghệ và phương thức kinh doanh
có thể nâng cao được giá trị gia tăng của cả các sản phẩm công lẫn nông nghiệp và
hạn chế được lượng phát thải khí nhà kính, có những cải cách để gia tăng hiệu quả của
các mạng lưới phân phối và hậu cần, nhất là hậu cần hàng hải, và phát triển các ngành
công nghiệp phụ trợ để tham gia vào các mạng sản xuất toàn cầu và khu vực ASEAN.
Thứ năm, tăng đầu tư cho công tác nghiên cứu và phát triển, chú ý cải thiện hệ thống
giáo dục theo hướng nâng cao chất lượng giáo dục cũng như cơ hội tiếp cận giáo dục
cho đông đảo người dân ở hầu khắp các vùng miền trong cả nước. Tăng cường hơn
nữa hệ thống đổi mới và sáng tạo quốc gia trong các lĩnh vực sản xuất và marketing
với trọng tâm là tăng cường sức cạnh tranh toàn cầu bền vững nhằm đạt được nền kinh
tê dựa vào đôi mới và sáng tạo. Đông thời, chú ý đâu tư mở rộng và nâng cấp hệ thống
y tê và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cũng như thúc đẩy những thay đổi về thể chế
cần cho việc cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội, trước hết cho người nghèo và những
tầng lớp dễ bị tổn thương để gia tăng cơ hội được chăm sóc y tế cho mọi người. Hy
vọng việc phát triển và nâng cấp chất lượng giáo dục, y tế và chế độ an sinh xã hội 17
rộng khắp và công bằng sẽ góp phần cải thiện được chất lượng dân sổ và nguồn nhân
lực đang ở thời kỳ “cơ cấu vàng”.
(4) Một vài kết quả và đảnh giá: Trong vài năm qua, trên cơ sở nhận thức rõ được
những thuận lợi và khó khăn của đất nước, cũng như của việc thực thi những nhiệm
vụ đặt ra trong các chiến lược phát triển, nhất là trong MP3EI, nên Chính phủ
Indonesia đã hết sức cổ gắng có nhiều biện pháp nhằm biển những mục tiêu phát triển trên thành hiện thực.
Trước hết, bằng MP3EI, họ đã thực sự nhìn thẳng vào các vấn đề của đất nước,
không chỉ nhìn thấy những thuận lợi mà còn chỉ rõ được những khó khăn và thách
thức. Từ đó, đã rà soát và loại bỏ dần hầu hết những văn bản, những quy định được
coi là gây “tắc nghẽn” cho kinh doanh và sinh hoạt của người dân. Tiến hành những
cải cách hành chính mạnh mẽ để đơn giản hoá các thủ tục thông qua quyết sách và cấp
phép ở câp trung ương, loại bỏ tệ quan liêu, cửa quyên và sau đó là tham nhũng của
các chính quyền địa phương và của đội ngũ công chức các cấp.
Thứ hai, tiến hành cải cách từng bước hệ thống giáo dục, y tế và bảo hiểm xã hội
theo hướng chất lượng, rộng khắp, công bằng và hướng về học sinh các gia đình
nghèo và các địa phương xa xôi và hẻo lánh.
Thứ ba, tiến hành đầu tư mạnh cho các cơ sở hạ tầng, trước hét là giao thông và
mạng lưới thông tin liên lạc, chủ yếu ở các Hành lang kinh tế và các cụm liên kết
ngành. Chẳng hạn, cho đến năm 2012, chính phủ đã giải ngân một khoản tài chính trị
giá 420 tỉ USD để tài trợ cho việc xây dựng một mạng lưới đường cao tốc, sân bay, và
hải cảng ữên phạm vi cả nước.
Thứ tư, tiến hành cải cách chế độ tiền lương theo hướng thị trường để đáp ứng đòi
hỏi nâng cao cuộc sống của người dân, đồng thời loại bỏ hầu hết các khoản trợ cấp
của chính phủ, như trợ cấp nhiên liệu,...nhằm giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách.
Thứ năm, nhằm tiết kiệm tài nguyên và đảm bảo sự phát triển bền vững, Indonesia
đã quyết định ngừng xuất khẩu tài nguyên thô từ sau năm 2014 và tiến hành đàm phán
lại họp đồng với các công ty khai thác và chế biến trong nước, có những ưu đãi nhất
định cho các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp khai thác và chế biến tài nguyên .
Đồng thời, buộc các nhà đầu tư nước ngoài thoái 51% cổ phần trong các mỏ nội địa để
bàn giao lại cho các công ty trong nước sau 10 năm vận hành và khai thác. Chính phủ
nước này cũng đã ban hành những lệnh cấm xuất khẩu khoáng sản thô, bao gồm đồng,
nikel, sắt, bauxite vào đầu năm 2013.
Thứ sáu, từ năm 2011-2014, Indonesia đã có kế hoạch đầu tư 470 tỉ USD vào các
lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp chế tạo, khai khoáng, ngư nghiệp, du lịch,
thông tin viễn thông, năng lượng. Thủ đô Jacarta sẽ là một trọng điểm đầu tư trong quy hoạch này.
Thứ bẩy, hỗ trợ các điều kiện kinh tế cho những doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp họ
nâng cao trình độ công nghệ để có thể phát triển được các ngành công nghiệp phụ trợ,
phục vụ cho các doanh nghiệp FDI và xuất khẩu.
Thứ tám, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, với cả các tổ chức liên chính phủ, chính phủ
lẫn phi chính phủ, nhằm tranh thủ sự ủng hộ và tài trợ của quốc tế cho quá trình
chuyển đổi kinh tế và phát triển đất nước. Chẳng hạn, vào cuối năm 2012, Nhóm
Ngân hàng Thế giới (the World Bank Group) đã phê duyệt Chiến lược Đối tác Quốc 18
gia cho Indonesia (Country Partnership Strategy for Indonesia) mới. Chiến lược này,
được phát triển trên cơ sở tư vấn các đối tác khác nhau, chi phối chương trình của
Ngân hàng Thê giới cho Indonesia cho các tài khoá từ năm 2013 đến 2015 . Cụ thể,
vào tháng 4 năm 2013, danh sách các dự án cho vay của WB gồm 70 dự án đang còn
hiệu lực, với tổng giá trị cam kết lên tới 7,612 tỉ USD, và nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý của chính phủ và các câp chính quyên Indonesia, tạo cho các cộng đồng có
tiếng nói quan ừọng hơn, cải thiện cơ sở hạ tầng, năng lượng và phát triển nông thôn .
Tập đoàn Ngân hàng Thế giới còn tham gia vào hai vấn đề liên ngành khác, tức là
giới, cũng như quản trị và chống tham nhũng ở Indonesia.
Nhờ những định hướng cải cách trên và những hành động cụ thể trong nhiều năm
qua, nhất là từ khi Tổng thống S.B. Yudhoyono lên cầm quyền, bất chấp sự tăng
trưởng chậm của nền kinh tế thế giới và tình trạng vẫn không chắc chắn của thị trường
tài chính toàn cầu, nền kinh tế Indonesia vẫn tăng trưởng khá mạnh (trung bình ữên
6,0%) trong suốt 4 năm tính đến năm 2012 và xấp XỈ6,0% năm 2013, cao thứ hai
trong G20 chỉ sau có Trung Quốc, về ổn định kinh tế vĩ mô, Indonesia đã có thể hoàn
thành được nhiều chỉ tiêu tài khoá. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, ngoài GDP
tăng cao và ôn định, lạm phát của quôc gia này vân được kiểm soát và chỉ ở khoảng
trên dưới 4,0% năm 2012, một phần do đồng rupiah tương đối ổn định. Đồng thời,
thiếu hụt tài khoản hiện hành của Indonesia giảm chỉ còn 2,4% GDP, nên kết quả là
họ đã thành công trong việc giảm đáng kể tỉ lệ Nợ/GDP từ 61% năm 2003 xuống còn
24% năm 2012 và đưa dự trữ ngoại tệ của đất nước lên 110,3 tỉ USD (10/2012), tương
đương với 6,1 tháng nhập khẩu và thanh toán dịch vụ nợ nước ngoài của chính phủ .
Tuy vậy, dù sao chăng nữa công cuộc cải cách và chuyển đổi mô hình tăng trưởng
kinh tế của Indonesia mới bắt đầu và chỉ đi được những bước đầu tiên (dù thành công)
trên con đường dài đầy khó khăn. Câu trả lời cho câu hỏi liệu quốc gia này có thể đạt
được mục tiêu cuối cùng đã vạch ra hay không vẫn còn ở phía trước. Nhưng có một
điều chắc chắn là con đường này không hề dễ dàng, mà đầy khó khăn, vì: (i) Mặc dù
có nhiều thuận lợi, song như trên đã đề cập, Indonesia nói chung và công cuộc chuyển
đổi này nói riêng cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn không dễ vượt qua; (ii) Bản
thân mục tiêu và nội dung chuyển đổi này, được đánh giá, là đầy tham vọng và không
dễ thực hiện; (iii) Mặc dù chính phủ của Tổng thống Yudhoyono có uy tín cao và
MP3EI được sự quan tâm và ủng hộ của đông đảo người dân, song cá nhân Tổng
thống, nội các và đảng của ông, cũng như các kế hoạch cải cách và chuyển đổi của
ông không phải không vấp phải sự chống đối (quyết liệt) của không ít người được
hưởng lợi từ chế độ và mô hình cũ và bị tác động tiêu cực của quá trình chuyển đổi
này. Và (iv) mặc dù chính phủ của Tổng thống Yudhoyono có thể có thừa khôn
ngoan, sự quyết tâm và tính kiên trì để thực hiện đến cùng công cuộc chuyển đổi mô
hình phát triển khó khăn song tất yếu này, nhưng nhiệm kỳ của ông chỉ tồn tại đến hết
năm 2014, và các chính quyền và đảng phái cầm quyền kế tiếp (với triết lý và cương
lĩnh chính trị khác) liệu có đủ quyết tâm, có thể tạo được sự thông hiểu, đồng thuận và
ủng hộ của đông đảo dân chúng (thuộc mọi tầng lớp) đối với công cuộc này hay
không vẫn là một câu hỏi còn để ngỏ. b. Malaysia
Để đạt được mục tiêu đưa Malaysia sớm thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và trở
thành nước công nghiệp phát triển bền vững, chính phủ của Thủ tướng Malaysia, 19
Rajib Tun Razak, kể từ khi lên nắm quyền, sau một loạt biện pháp tự do hoá, đã bắt
tay vào công cuộc chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế.
(1) Công cuộc chuyển đổi này xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, mặc dù từ trước khi nổ ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Malaysia đã cố
gắng đa dạng hoá thị trường xuất khẩu nhằm giúp làm giảm bớt tính dễ tổn thưcmg
cho nền kinh tế của mình trước các tác động bên ngoài, và gần đây đã có các chính
sách nhằm khai thác triệt để thị trường nội địa, song do quy mô tương đối nhỏ của thị
trường trong nước , nên tương lai của nền kinh tế Malaysia sẽ tiếp tục phụ thuộc vào
sự thành bại kinh tế của một sổ bạn hàng chính (như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, EƯ
và ASEAN), cho đến nay vẫn tiêu thụ một phần đáng kể xuất khẩu của Malaysia. Đe
giảm thiểu được tình trạng phụ thuộc đó, không có cách nào khác, Malaysia phải có sự
điều chỉnh chiến lược hay mô hình kinh tế đối ngoại.
Thứ hai, Malaysia mặc dù là một nước đang phát triển tiên tiến có thành tựu tăng
trưởng kinh tế đầy ấn tượng, song hiện cũng đang bị kẹt trong tình trạng khó khăn
chung của kinh tế toàn cầu và đang phải tìm cách thoát ra khỏi bẫy thu nhập trung
bình. Theo đánh giá của các nhà khoa học trong và ngoài Malaysia, sở dĩ quốc gia này
rơi vào bẫy thu nhập trung bình là (i) do nước này thiếu ngành công nghiệp thứ ba, tức
lâu nay họ quá coi trọng những ngành công nghiệp chế tạo dựa vào đầu tư, sử dụng và
khai thác tài nguyên thiên nhiên (nhất là dầu mỏ, khí đốt) và lao động có tay nghề
thấp; (ii) do giáo dục thiếu chất lượng, thiếu bí quyết công nghệ; (iii) do Nhà nước, mà
cốt lõi là chính phủ liên minh do Tổ chức Thống nhất Mã Lai (The United Malays
National Organisation - ƯMNO) đứng đầu, vẫn can thiệp sâu vào nền kinh tế bằng các
biện pháp bảo hộ và nâng đỡ các doanh nghiệp lớn, của nhà nước; và (iv) do nước này
“nghiện” mô hình tăng trưởng kinh tế hướng về xuất khẩu, với cơ sở hạ tầng kém,
thay vì tích cực hướng tới sản xuất theo chuỗi có giá trị gia tăng cao và tìm kiếm bí
quyết và công nghệ cần để sản xuất những sản phẩm như thế .
Thứ ba, với sự cố gắng lâu dài của chính phủ của cựu thủ tướng Mahathir
Mohammed,Malaysia được coi là quốc gia đang phát triển tiên tiến nhất trong
ASEAN, có cơ sở hạ tầng phát ữiển hơn cả và nguồn nhân lực được chăm lo trên cả
ba phương diện giáo dục, y tế và an sinh xã hội. Tuy vậy, so với mục tiêu đề ra cũng
như với yêu câu phát triên đê trở thành “các con Hổ con ở châu Á”, những lĩnh vực
trên ở Malaysia vẫn được coi là kém phát triển, không phù hợp, và đang là những trở
ngại lớn cho sự phát triên của cả nên kinh tế lẫn sinh hoạt của người dân. Đặc biệt,
không những kém phát triển, mà độ bao phủ của hệ thống giáo dục, chăm sóc sức
khoẻ và an sinh xã hội còn rất chênh lệch giữa các vùng và nhóm dân cư. Trong thực
tế, những người nghèo ở cả đô thị lẫn các vùng nông thôn và đảo xa của Malaysia rất
ít có cơ hội để tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ này, nhất là những dịch vụ chất
lượng cao. Điều đó không chỉ tạo ra nguồn nhân lực không như mong đợi, mà còn gây
ra sự bất bình đăng, bât công và hậu quả là bât mãn xã hội ngày càng sâu sắc .
Thứ tư, mặc dù chính trường Malaysia không bị chao đảo mạnh và kéo dài như một
vài nước ASEAN láng giềng, song hơn một thập kỷ qua, ừật tự chính ừị ứong nước
đang thay đổi nhanh chóng và hình như đó cũng là một trong những động lực chính
thúc đẩy sự chuyển đổi này. Cụ thể, sau 55 năm tồn tại chính quyền liên minh cầm
quyền do một đảng (ƯMNO) chi phối , nền chính ừị Malaysia đã đạt tới lối rẽ mới đòi
phải có một chính phủ kiểu mới cho người Malaysia, (i) Lần đàu tiên trong lịch sử, tất 20