



















Preview text:
ĐỀ TÀI:
ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
NAM TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI – THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ KINH NGHIỆM.
______________________________________________________________ MỤC LỤC: I.
KHÁI QUÁT VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI. II.
NHỮNG THÀNH TỰU CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI. III.
NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI. IV.
KINH NGHIỆM CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI. V. KẾT LUẬN. I.
KHÁI QUÁT VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI.
Giai đoạn đầu sau thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam rơi vào tình thế
bị bao vây, cô lập. Trong khi đó, tình hình quốc tế và khu vực có nhiều
chuyển biến sâu sắc, đất nước ta đứng trước một số thời cơ và nhiều khó
khăn, thách thức lớn. Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đánh dấu sự đổi mới
của Đảng ta về đối ngoại, theo hướng hình thành đường lối đối ngoại độc lập,
tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển. Đường lối này được đề ra tại Đại hội
VI của Đảng (12/1986) và được bổ sung, phát triển qua các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo.
Một số nội dung cơ bản trong đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam là:
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động, tích cực
hội nhập quốc tế, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước trên thế giới,
không phân biệt chế độ chính trị, xã hội, tôn giáo, dân tộc, theo nguyên
tắc bình đẳng, cùng có lợi.
Chủ động, tích cực tham gia các hoạt động quốc tế, góp phần vào sự
nghiệp hòa bình, phát triển của nhân loại.
II. NHỮNG THÀNH TỰU CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI.
Nhờ việc đổi mới và triển khai một cách toàn diện đường lối đối ngoại, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, hiệu quả và góp
phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cụ thể là ở những mặt sau:
1. Củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước.
Ta đã phá thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tạo dựng môi trường
quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc:
Ngày 10/11/1991, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.
(Tổng Bí thư Đỗ Mười hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung
Hoa Giang Trạch Dân tại Bắc Kinh ngày 6-11-1991.)
-Quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ:
Ngày 11/7/1995, Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ.
(Tổng thống Bill Clinton tuyên bố Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức bình thường
hóa quan hệ ngày 11-7-1995.)
(Ngày 14/5/1997, ông Lê Văn Bàng trình quốc thư lên Tổng thống Mỹ Bill
Clinton, chính thức trở thành Đại sứ Việt Nam đầu tiên tại Mỹ.)
- Quan hệ giữa Việt Nam với ASEAN:
Tháng 7/1995, Việt Nam gia nhập ASEAN, đánh dấu sự hội nhập của Việt Nam
với khu vực Đông Nam Á.
(Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm tại Lễ ký kết Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN ngày 28/7/1995.)
Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với toàn
bộ 35 quốc gia châu Mỹ và 193 quốc gia trên thế giới (bao gồm
191/193 nước thành viên Liên Hiệp quốc), góp phần định vị Việt Nam
vững chắc hơn trong cục diện chiến lược ở khu vực và trên thế giới.
(Đại sứ Đặng Hoàng Giang (phải) và Đại sứ Dennis Francis ký “Thông cáo
chung thiết lập quan hệ ngoại giao giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và Cộng hòa Triniad & Tobago.)
(Ngày 21/9/2023, là cột mốc lịch sử trong quan hệ Việt Nam - Tonga. Việc thiết lập
quan hệ ngoại giao với Tonga, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với tổng cộng
193 quốc gia trên thế giới.)
2. Hội nhập kinh tế quốc tế có nhiều đột phá.
Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với nhiều tổ chức định chế tài
chính quốc tế, cụ thể:
- Ngày 15/9/1976, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của của
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định: Việt
Nam là một điểm sáng “trong bức tranh xám màu” của kinh tế toàn cầu.
(Thủ tướng Phạm Minh Chính tiếp Tổng Giám đốc IMF Kristalina Georgieva.)
- Ngày 21/9/1976 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Ngân hàng thế giới (WB).
(Đại diện Ngân hàng Nhà nước và WB tại Lễ Ký kết hiệp định viện trợ cho khoản
tài trợ không hoàn lại trị giá 2,2 triệu USD do Chính phủ Thụy Sỹ cung cấp để
thực hiện dự án "Tăng cường sự lành mạnh và phát triển của ngành ngân hàng".)
- Năm 1998, Việt Nam được công nhận là thành viên của Diễn đàn hợp
tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC).
(Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 26.)
- Đặc biệt, ngày 11/1/2007 Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức
thương mại thế giới (WTO). Dấu ấn WTO được ghi nhận rõ nét trong
việc đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế có độ mở cao, tới 200%
GDP và cải thiện cán cân thương mại hàng hóa, chuyển từ nhập siêu
sang xuất siêu. Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) là tiến một bước dài trên con đường hội nhập quốc tế. Kinh tế
Việt Nam được ví như một con tàu ra “biển lớn”.
( Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái thăm trụ sở Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) và làm việc với Phó Tổng Giám đốc WTO Trương Hướng Thần.)
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được nâng lên một
tầm cao hơn thông qua việc tham gia ký kết các hiệp định kinh tế đa
phương và song phương. Thực hiện chủ trương, chính sách lớn của
Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã trở thành thành viên của
nhiều Hiệp định thương mại và cũng đang tham gia đàm phán một số
hiệp định thương mại quan trọng khác. Tính đến năm 2023, Việt Nam
đã ký kết và thực thi 16 FTA và đang đàm phán với 3 FTA khác.
3. Vị thế quốc tế của đất nước không ngừng được nâng cao.
Tại Đại hội XIII của Đảng và một số Hội nghị Trung ương khóa XIII vừa
qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần khẳng định: "Đất nước ta
chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày
nay". Khẳng định đó càng được minh chứng sinh động, thuyết phục trong
thành quả nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Trên bình diện đa phương, Việt Nam có nhiều đóng góp hiệu quả và đảm
nhiệm thành công vai trò chủ chốt tại các tổ chức, diễn đàn, đặc biệt là
Liên hợp quốc, ASEAN. Việt Nam chủ động đưa ra nhiều ý tưởng sáng
tạo ở hầu hết tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, nhất là ASEAN,
ASEM, APEC, Liên hợp quốc, nhóm các nước G7, G20... Việt Nam trở
thành mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế khu vực và toàn
cầu. Hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh ngày càng đi vào chiều sâu,
đạt nhiều thành quả nổi bật, góp phần củng cố, nâng cao tiềm lực đất
nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Một số dẫn chứng cụ thể là:
- Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN 2010 và 2020. Trong đó,
Năm Chủ tịch ASEAN 2020 đã thành công toàn diện, vang dội, trọn
vẹn và thực chất đã thông qua hơn 550 cuộc họp, nhiều sáng kiến, ưu
tiên của Việt Nam đã trở thành tài sản chung của ASEAN; bảo đảm an
ninh, an toàn, trọng thị về lễ tân; quảng bá hình ảnh Cộng đồng
ASEAN và Việt Nam hòa bình, ổn định phát triển thịnh vượng trong
tâm thức của bạn bè quốc tế.
(Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự Hội nghị Cấp cao ASEAN - Nhật Bản lần thứ 21.)
-Đặc biệt, Việt Nam 2 lần được bầu giữ chức Uỷ viên không thường trực
Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009, nhiệm kỳ 2020
- 2021 (nhiệm kỳ 2020- 2021 đạt số phiếu gần như tuyệt đối 192/193 phiếu).
(Trưởng đoàn Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung (giữa) nhận lời
chúc mừng của đại diện ngoại giao các nước sau khi kết quả bỏ phiếu cho thấy
Việt Nam được bầu chọn là Ủy viên không thường trực HĐBA Liên hợp quốc
nhiệm kỳ 2020 – 2021 tại New York, Mỹ ngày 7/6.)
-2 lần là nước chủ nhà APEC (2006,2017).
(Cố Chủ tịch nước Trần Đại Quang và phu nhân đón Tổng thống Chile Michelle
Bachelet dự tiệc chiêu đãi Hội nghị Cấp cao APEC 2017 được tổ chức tại Đà Nẵng.)
4. Bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Trong bối cảnh quốc tế và khu
vực có nhiều phức tạp, chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững
độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo
đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Chủ động, kiên
quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp phù hợp, bảo vệ được chủ
quyền, biển, đảo, vùng trời và giữ được hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Cơ bản xây dựng được đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp
tác với các nước láng giềng. Đàm phán thành công với Malaysia về giải
pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở vùng biển chồng lấn giữa hai nước.
Thu hẹp diện tranh chấp vùng biển giữa Việt Nam và các nước
ASEAN. Đã ký với Trung Quốc Hiệp ước về phân định biên giới trên
bộ, Hiệp định phân Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác về nghề cá.
5. Chăm lo cho cộng đồng, phát huy mạnh mẽ nguồn lực của kiều bào.
- Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách
rời, là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Dù ở bất
cứ nơi đâu, đồng bào ta luôn hướng về Tổ quốc, gắn bó máu thịt với cội nguồn dân tộc.
- 5 năm qua, chúng ta đã triển khai công tác bảo hộ cho hơn 50.000 công
dân, gần 800.000 chiếc máy bay đưa hơn 200.000 công dân về nước an
toàn trong đại dịch COVID-19.
- Phát huy nguồn lực kiều bào, nhất là nguồn lực trí thức trong tổng thể
nguồn lực quốc gia là một trong những nhiệm vụ quan trọng không chỉ
trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước mà còn góp phần tăng cường
khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới
- Nhờ công tác thu hút nguồn lực kết hợp hiệu quả với công tác đại đoàn
kết dân tộc, ngày càng có nhiều kiều bào tham gia đóng góp nguồn lực
kinh tế, nguồn lực tri thức và nguồn lực “mềm” cho đất nước.
(Công dân về nước trong thời gian dịch Covid-19 bùng phát (Đậu Tiến Đạt))
(Hơn 40 kiều bào đến từ 17 quốc gia trên thế giới thăm quân và dân huyện đảo Trường
Sa và Nhà giàn DK1. (TTXVN))
(Đoàn 47 kiều bào từ 22 quốc gia về thăm Trường Sa.(Thu Phương/TTXVN ))
6. Công tác ngoại giao y tế/ngoại giao vaccine kịp thời, hiệu quả.
- Việt Nam từ chỗ tưởng chừng không thể có đủ vaccine để triển khai
chiến dịch tiêm chủng lớn nhất lịch sử cho nhân dân, nay đã tiếp nhận
hơn 180 triệu liều vaccine phòng COVID-19 và trở thành một trong
những quốc gia bao phủ vaccine cao nhất thế giới. Kết quả của ngoại
giao vaccine thực sự là kết tinh tổng lực, quyết liệt từ các cấp, các
ngành và từ trong đến ngoài nước.
- Phát biểu kết luận Hội nghị tổng kết công tác ngoại giao vaccine, Thủ
tướng Phạm Minh Chính nêu rõ: “Đến thời điểm này, chúng ta đã kiểm
soát được dịch COVID-19. Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng cảm ơn,
ghi nhận, biểu dương, đánh giá cao đóng góp của ngành ngoại giao
trong thực hiện ngoại giao vaccine, đóng góp vào thành công của chiến
lược vaccine và kiểm soát dịch bệnh COVID-19”.
- Trong tình trạng dịch bệnh cao trào, nước ta đã nhận được hơn 151
triệu liều vaccine và nhiều trang thiết bị y tế, ngoài ra, ta còn viện trợ
vật tư y tế và tài chính cho hơn 50 quốc gia và tổ chức quốc tế.
(Nhân viên y tế tiêm vaccine cho người dân. Ảnh:TTXVN)
(Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu khai mạc Hội nghị tổng kết công tác ngoại giao
vaccine - Ảnh: VGP/Nhật Bắc) Kết luận
: Những thành tựu của đường lối đối ngoại trong thời kỳ đổi mới
của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự nỗ lực của toàn Đảng,
toàn dân và toàn quân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là cơ sở vững
chắc để Việt Nam tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng, giữ vững môi
trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
III. NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI:
a) Hạn chế của đường lối đối ngoại:
Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kì đổi mới
đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu, đường
lối đối ngoại vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục, cụ thể như sau:
-Trong quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn, chúng ta còn lúng túng, bị động:
Chưa xây dựng được quan hệ lợi ích đan xen, tuỳ thuộc lẫn nhau với các nước lớn.
Ví dụ, trong lịch sử quan hệ Việt - Mỹ,
1986, VN tiến hành đổi mới cải thiện vị thế của mình.
1/1988, tổng thống Regan tuyên bố sẵn sàng bình thường hoá quan hệ
ngoại giao vs VN nếu VN rút hết quân đội ra khỏi Campuchia
=> hoàn toàn bị Mỹ áp đảo
1989, VN hoàn thành rút quân khỏi Campuchia
Mãi đến 28/1/1995, chính phủ 2 bên mở cơ quan liên lạc ở thủ đô 2 nước
7/1995, 2 bên chính thức bình thường hoá quan hệ ngoại giao
Thế nhưng, lúc bấy giờ, Việt Nam mình đang phải gánh chịu hậu quả nặng
nề của chiến tranh, mọi điều kiện cơ sở hạ tầng đều chưa hoàn thiện… Vậy
mà khi đàm phán với Việt Nam, Mỹ thường đòi hỏi áp dụng những tiêu chuẩn
của 1 nền kinh tế đã phát triển, mà Việt Nam với thực tế lúc bấy giờ chưa thể chấp nhận được.
Về phía Mỹ, thông qua việc bình thường hoá quan hệ, Mỹ muốn can thiệp
sâu vào công việc nội bộ của VN ở Châu Á - Thái Bình Dương. Ngoại trưởng
Chirstopher cho rằng việc Mỹ bình thường hoá quan hệ không vì kinh tế " …
tôi cho rằng việc tiến tới trong 1 mối quan hệ kinh tế vs VN sẽ nằm trong lợi
ích của Mỹ, nhưng chúng ta sẽ không bỏ qua các lợi ích khác của chúng ta
và đó là lợi của chúng ta trong việc thúc đẩy nhân quyền" Vậy nội dung và
mục đích của"ngoại giao nhân quyền" mà Mỹ áp dụng vào Việt Nam là
không thay đổi, cuối cùng vẫn là để Mỹ tiến tới xoá bỏ nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong lịch sử quan hệ Việt - Mỹ, Việt Nam đã phải chịu nhiều áp lực từ
phía Mỹ trong quá trình bình thường hóa quan hệ. Mỹ đã đưa ra nhiều
yêu cầu khắt khe, đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện những điều khoản
không phù hợp với lợi ích của Việt Nam.
Trong quan hệ với Mỹ, cần kết hợp đan xen giữa hợp tác và đấu tranh
chống lại những dụng ý xấu của Mỹ.
Ví dụ về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc: Trong quan hệ
với Trung Quốc, Việt Nam đã phải đối mặt với những hành động
gây hấn, xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông.
-Chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế của đất nước trong hội nhập quốc tế:
Việt Nam mặc dù sở hữu vị trí địa lý thuận lợi, nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú cùng nguồn nhân lực dồi dào nhưng vẫn chưa
thể phát huy hết những tiềm năng, lợi thế này trong hội nhập quốc
tế. Nguyên nhân của hạn chế này là do nhận thức về hội nhập quốc
tế của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân còn chưa đầy đủ; cơ
chế, chính sách, pháp luật về hội nhập quốc tế còn chưa đồng
bộ, hiệu quả chưa cao; năng lực hội nhập quốc tế của doanh
nghiệp, nhà đầu tư, người dân còn hạn chế.
-Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại của Đảng, Nhà
nước và đối ngoại nhân dân: