ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------- TRẦN NGỌC ANH
ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA GIAI ĐOẠN 1986-2006
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Mã số: 60.22.56
LUẬN VĂN THẠC SĨ: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Th.s: NGUYỄN THANH HẢI
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2010 1 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU …………………………………………………… 4
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG……………………………………. 11
1. Lý luận chung về kinh tế thị trường……………………………. 11
1.1. Cơ chế thị trường và kinh tế thị trường …………………... 15
1.2. Các giai đoạn hình thành phát triển kinh tế thị trường…… 19
1.3. Tính quy luật của sự hình thành và phát triển của KTTT … 29
2. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế thị trường ………….. 35
2.1. Mô hình phát triển tuần tự ………………………………... 35
2. 2. Mô hình phát triển rút ngắn ……………………………… 36
2. 3. Mô hình Thụy Điển ………………………………………. 43
2. 4. Mô hình kinh tế thị trường ở Trung Quốc ……………….. 45
3. Bài học kinh nghiệm về xây dựng kinh tế của các nước ……….. 48
Kết luận chương 1……………………………………………… 50
Chương 2: ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (1986-2006)……….. 51
1. Thực trạng nền kinh tế nước ta trước khi bước vào xây dựng
nền kinh tế thị trường………………………………………….... 51
1.1. Sự kém phát triển của nền kinh tế và mang nặng tính chất
tự cấp tự túc ……………………………………………….. 51
1.2. Ảnh hưởng của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp……………………………………. 61
2. Quá trình nhận thức của Đảng về xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ……………….. 64
2.1. Quan niệm và đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa……………………………… 64
2.2. Cơ chế quản lý kinh tế và vai trò của Nhà nước trong nền 2
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…………… 74
2.3. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình sở hữu và nhiều
thành phần kinh tế ……………………………………….... 93
2.4. Xây dựng và phát triển hệ thống thị trường………………. 105
2.5. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế………………………... 119
3. Quá trình Đảng thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa …………………………………... 126
3.1. Quá trình thực hiện phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa giai đoạn 1986-1996……………………. 126
3.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa giai đoạn 1996-2006………... 134
Kết luận chương 2 ………………………………………………... 138
Chương 3: NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ, BÀI HỌC KINH
NGHIỆM - ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP TIẾP TỤC XÂY
DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NỀN KINH TẾ THỊ RƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN TRONG THỜI GIAN TỚI …………. 139
1. Những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm …………… 139
1.1. Những thành tựu chủ yếu ………………………………... 139
1.1.1. Về tăng trưởng kinh tế và đẩy lùi lạm phát ……………. 139
1.1.2. Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế …………………………. 142
1.2.3. Về hội nhập kinh tế quốc tế ……………………………. 147
1.1.4. Về đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế ……………….. 149
1.1.5. Về cải thiện đời sống nhân dân ………………………... 151
1.2. Những hạn chế cơ bản …………………………………… 155
1.2.1. Những vấn đề về tư duy lý luận kinh tế ………………... 155
1.2.2. Về chất lượng tăng trưởng kinh tế …………………….. 156
1.2.3. Về cơ chế quản lý kinh tế ……………………………… 159
1.3. Bài học kinh nghiệm …………………………………….. 164 3
2. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời gian tới ……………… 170
2.1. Tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế …………………………… 170
2.2. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ……………. 171
2.3. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý …………………….. 171
2.4. Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện thể chế chính trị ………….. 172
2.5. Kết hợp hài hòa giữa việc đầu tư để đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng kinh tế và đầu tư giải quyết các vấn đề xã hội ... 174
Kết luận chương 3 ………………………………………………… 176
KẾT LUẬN CHUNG ……………………………………………… 177
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CNXH: Chủ nghĩa xã hội XHCN: Xã hội chủ nghĩa CNTB: Chủ nghĩa tư bản TBCN: Tư bản chủ nghĩa
KTTT: Kinh tế thị trường KTHH: Kinh tế hàng hóa
LLSX: Lực lượng sản xuất QHSX: Quan hệ sản xuất TLSX: Tư liệu sản xuất
KH&CN: Khoa học và công nghệ
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Document Outline
- 1. Bia LV.pdf
- 2. Luan van.pdf
- 3. pl.pdf
- 4. Bang mo hinh kt.pdf
Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------- TRẦN NGỌC ANH
ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA GIAI ĐOẠN 1986-2006
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Mã số: 60.22.56
LUẬN VĂN THẠC SĨ: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Th.s: NGUYỄN THANH HẢI
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2010 1 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU …………………………………………………… 4
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG……………………………………. 11
1. Lý luận chung về kinh tế thị trường……………………………. 11
1.1. Cơ chế thị trường và kinh tế thị trường …………………... 15
1.2. Các giai đoạn hình thành phát triển kinh tế thị trường…… 19
1.3. Tính quy luật của sự hình thành và phát triển của KTTT … 29
2. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế thị trường ………….. 35
2.1. Mô hình phát triển tuần tự ………………………………... 35
2. 2. Mô hình phát triển rút ngắn ……………………………… 36
2. 3. Mô hình Thụy Điển ………………………………………. 43
2. 4. Mô hình kinh tế thị trường ở Trung Quốc ……………….. 45
3. Bài học kinh nghiệm về xây dựng kinh tế của các nước ……….. 48
Kết luận chương 1……………………………………………… 50
Chương 2: ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (1986-2006)……….. 51
1. Thực trạng nền kinh tế nước ta trước khi bước vào xây dựng
nền kinh tế thị trường………………………………………….... 51
1.1. Sự kém phát triển của nền kinh tế và mang nặng tính chất
tự cấp tự túc ……………………………………………….. 51
1.2. Ảnh hưởng của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp……………………………………. 61
2. Quá trình nhận thức của Đảng về xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ……………….. 64
2.1. Quan niệm và đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa……………………………… 64
2.2. Cơ chế quản lý kinh tế và vai trò của Nhà nước trong nền 2
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…………… 74
2.3. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình sở hữu và nhiều
thành phần kinh tế ……………………………………….... 93
2.4. Xây dựng và phát triển hệ thống thị trường………………. 105
2.5. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế………………………... 119
3. Quá trình Đảng thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa …………………………………... 126
3.1. Quá trình thực hiện phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa giai đoạn 1986-1996……………………. 126
3.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa giai đoạn 1996-2006………... 134
Kết luận chương 2 ………………………………………………... 138
Chương 3: NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ, BÀI HỌC KINH
NGHIỆM - ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP TIẾP TỤC XÂY
DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NỀN KINH TẾ THỊ RƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN TRONG THỜI GIAN TỚI …………. 139
1. Những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm …………… 139
1.1. Những thành tựu chủ yếu ………………………………... 139
1.1.1. Về tăng trưởng kinh tế và đẩy lùi lạm phát ……………. 139
1.1.2. Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế …………………………. 142
1.2.3. Về hội nhập kinh tế quốc tế ……………………………. 147
1.1.4. Về đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế ……………….. 149
1.1.5. Về cải thiện đời sống nhân dân ………………………... 151
1.2. Những hạn chế cơ bản …………………………………… 155
1.2.1. Những vấn đề về tư duy lý luận kinh tế ………………... 155
1.2.2. Về chất lượng tăng trưởng kinh tế …………………….. 156
1.2.3. Về cơ chế quản lý kinh tế ……………………………… 159
1.3. Bài học kinh nghiệm …………………………………….. 164 3
2. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời gian tới ……………… 170
2.1. Tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế …………………………… 170
2.2. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ……………. 171
2.3. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý …………………….. 171
2.4. Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện thể chế chính trị ………….. 172
2.5. Kết hợp hài hòa giữa việc đầu tư để đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng kinh tế và đầu tư giải quyết các vấn đề xã hội ... 174
Kết luận chương 3 ………………………………………………… 176
KẾT LUẬN CHUNG ……………………………………………… 177
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CNXH: Chủ nghĩa xã hội XHCN: Xã hội chủ nghĩa CNTB: Chủ nghĩa tư bản TBCN: Tư bản chủ nghĩa
KTTT: Kinh tế thị trường KTHH: Kinh tế hàng hóa
LLSX: Lực lượng sản xuất QHSX: Quan hệ sản xuất TLSX: Tư liệu sản xuất
KH&CN: Khoa học và công nghệ
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa 4 PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc chuyển đổi nền kinh tế đất nước từ thể chế kế hoạch hóa
tập trung quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường (KTTT) định
hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là quá trình tất yếu khách quan phù hợp với
thực tiễn đất nước và xu thế của thời đại. Quá trình chuyển đổi có nhiều khó
khăn vì không thể áp đặt một mô hình có sẵn. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam qua hơn hai mươi năm đổi mới chúng ta đã đạt
được những thành tựu bước đầu rất đáng kể. Thành tựu của hoạt động kinh tế
là một trong những yếu tố quan trọng đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh
tế - xã hội, củng cố và nâng cao vị thế của dân tộc Việt Nam trên chính trường quốc tế.
Thành công của hoạt động kinh tế thời kỳ này là: “Thể chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng. Thị trường hàng hóa
phát triển tương đối nhanh; một số loại thị trường mới đã hình thành…” [35,
tr.57]. Nước ta cũng chủ động tham gia hội nhập vào nền kinh tế khu vực và
thế giới, góp phần tạo môi trường khu vực hòa bình, thuận lợi tranh thủ các
nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước.
Thành tựu của sự phát triển kinh tế khẳng định đường lối đổi mới của
Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam, đồng thời là kinh
nghiệm quý báu, cơ sở quan trọng cho việc hoạch định các chủ trương, chính
sách kinh tế của Đảng và Nhà nước trong thời gian tiếp theo. Tức giai đoạn
mà cả dân tộc quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam.
Việc nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo phát triển nền KTTT định
hướng XHCN trong thời kỳ đổi mới là rất cần thiết, vừa mang ý nghĩa khoa
học, vừa có giá trị thực tiễn sâu sắc. 5
Với những lý do trên, học viên chọn đề tài “Đảng lãnh đạo phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giai đoạn 1986-2006” làm
Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Cao học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam không phải là đề
tài mới. Đã có nhiều tác phẩm nghiên cứu về vấn đề này. Có thể kể đến một
số tác phẩm tiêu biểu như:
1. Các mô hình kinh tế thị trường trên thế giới, do TS. Lê Văn Sang
chủ biên, được xuất bản năm 1994. Cuốn sách đã phác họa một bức tranh toàn
cảnh về sự phát triển các nền KTTT trên thế giới. Từ khái quát những vấn đề
cơ bản về lý luận và thực tiễn của mô hình phát triển tuần tự (qua nền kinh tế
của Anh và Mỹ) đến mô hình phát triển rút ngắn cổ điển (qua mô hình kinh tế
Nhật Bản, Cộng hòa liên bang Đức), mô hình phát triển rút ngắn hiện đại; mô
hình Thụy Điển; và mô hình KTTT ở Trung Quốc.
2. Kinh tế thị trường định hướng XHCN - Lý luận và thực tiễn, do nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2009. Cuốn sách tập hợp
43 bài viết của các tác giả là những nhà lãnh đạo, nhà khoa học, nhà quản lý
về vấn đề KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Cuốn sách một mặt đã trình
bày những bước phát triển của Đảng ta trên con đường nhận thức về KTTT
định hướng XHCN ở Việt Nam từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay.
Mặt khác, cuốn sách cũng tập trung vào việc phân tích những vấn đề có tính
chất cụ thể trong nền KTTT, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp tiếp tục hoàn
thiện thể chế KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
3. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, của tập thể tác giả,
do GS.TS Vũ Đình Bách chủ biên, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008. Cuốn
sách được biên soạn trên cơ sở tổng hợp nội dung của 11 đề tài có mã số từ
KX.01.01 đến KX.01.11 thuộc Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX.01
“Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trong cuốn sách, nhiều vấn 6
đề thuộc KTTT định hướng XHCN đã được trình bày như: sở hữu và kết cấu
của nền kinh tế; phân phối; thể chế và quản lý nhà nước; hệ thống thị trường;
hội nhập kinh tế quốc tế… Đồng thời các tác giả cũng đưa ra nhiều nhận xét,
luận điểm, kiến nghị có giá trị tham khảo tốt. Phải nói rằng, cuốn sách thể
hiện quá trình nghiên cứu công phu của tập thể tác giá trong quá trình nhận
thức và xây dựng mô hình KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.
4. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,
của tập thể các tác giả, do PSG. TS Hà Huy Thành chủ biên, Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2006. Trong cuốn sách các tác giả đã tập trung trình bày một số
vấn đề lý luận về thể chế KTTT và thể chế KTTT trên thế giới và Việt Nam;
trình bày hệ thống thể chế tương ứng; trình bày quan điểm và giải pháp vĩ mô
nhằm hoàn thiện và phát triển thể chế KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.
5. Một số vấn đề về lịch sử kinh tế Việt Nam, của tác giả, Lê Quốc Sử,
Nxb. Chính trị quốc gia, 1998. Tác giả đã khái quát và trình bày tường tận sự
phát triển của các ngành kinh tế nước ta từ thời nguyên thủy cho đến năm 1995.
6. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam, của TS. Đinh Văn Ân và TS. Lê Xuân Bá, Nxb.
Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2006. Hai tác giả đã phân tích những mặt tích
cực và những tồn tại cần được hoàn thiện của các mô hình thể chế KTTT đã
và hiện có, và chỉ ra các thuận lợi cũng như thách thức của giai đoạn phát triển hiện tại.
7. Một số vấn đề sở hữu ở nước ta hiện nay, của PGS.TS. Nguyễn Văn
Tạo và TS. Nguyễn Hữu Đạt, Nxb. Chính trị quốc gia, 2004. Hai tác giả đã hệ
thống hóa những kết quả nghiên cứu đã đạt được ở nước ta trong những năm
đổi mới, những phát triển trong quan điểm đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước về vấn đề sở hữu.
8. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam lý luận và thực 7
tiễn, của GS.TS Lê Hữu Nghĩa và TS Đinh Văn Ân (đồng chủ biên), Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004. Cuốn sách đã tập hợp các bài viết của các
tác giả là những nhà lãnh đạo, quản lý, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu
được trình bày trong cuộc Hội thảo do Tạp chí Cộng sản và Viện nghiên cứu
quản kinh tế Trung ương (Bộ kế hoạch và đầu tư) tổ chức. Dưới các góc độ
khác nhau, các tác giả đã phân tích, đề cập đến nhiều nội dung như: tính tất
yếu khách quan của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá
độ; vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần;
đổi mới và phát triển kinh tế tập thể; kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước,
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt
Nam; giải pháp và những vấn đề được đặt ra đối với các thành phần kinh tế.
9. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
tác giả Đinh Văn Ân (chủ biên), của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung
ương, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008. Cuốn sách đã được tập thể các
tác giả, những người tham gia Đề án “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa” trình Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp
hành Trung ương (khóa X), đã trình bày cô đọng, súc tích thực tiễn xây dựng
hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN trong hơn 20 năm qua. Bên cạnh
đó, cuốn sách chỉ ra những thành tựu, hạn chế, tồn tại và các định hướng giải
pháp tiếp tục xây dựng thể chế KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.
Tuy nhiên, những tác phẩm trên mới chỉ nghiên cứu chủ yếu dưới góc
độ lịch sử và thực trạng, hoặc tập trung vào một số vấn đề nhất định trong
việc xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Trên
cơ sở kế thừa những vấn đề lý luận và thực tiễn của các tác phẩm trên và cũng
để góp phần vào việc hệ thống hóa đường lối phát triển nền KTTT định
hướng XHCN của Đảng trong thời gian vừa qua, học viên đã chọn đề tài:
“Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa giai đoạn 1986-2006”. 8
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài:
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản của KTTT nói chung và thực
tế việc áp dụng xây dựng mô hình này ở một số quốc gia cụ thể trên thế giới.
Đề tài tìm hiểu đường lối, chủ trương cũng như cách thức tổ chức lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc thực hiện xây dựng nền KTTT
định hướng XHCN thời kỳ đổi mới.
Đề tài được nghiên cứu còn nhằm mục đích làm rõ thực chất quá trình
chuyển đổi mô hình kinh tế, từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang
nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Trên cơ sở đó góp phần đề xuất
một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện nền KTTT định hướng XHCN ở
Việt Nam trong thời gian tiếp theo.
Nhiệm vụ của đề tài là:
Phân tích thực chất của quá trình chuyển nền kinh tế Việt Nam sang
KTTT gắn với xu hướng phát triển kinh tế thế giới.
Đối chiếu với những tính chất quy luật hình thành KTTT và xu hướng
phát triển kinh tế của các nước trên thế giới, xác định tính chất đặc thù trong
định hướng hình thành và trong việc đề xuất những giải pháp hình thành KTTT ở Việt Nam.
Nghiên cứu về nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Song học
viên đi sâu vào việc trình bày một cách hệ thống quá trình hình thành và phát
triển đường lối KTTT định hướng XHCN của Đảng Cộng sản Việt Nam qua
20 năm, từ năm 1986 đến năm 2006.
4. Giới hạn của đề tài
Nghiên cứu một cách cơ bản vấn đề lý luận và thực tiễn của mô hình
KTTT trên thế giới và phân tích những dấu hiệu của mô hình này.
Nghiên cứu về nền KTTT định hướng XHCN; song trong quá trình
thực hiện, học viên chủ yếu tập trung vào việc trình bày và hệ thống hóa 9
đường lối (chủ trương, chính sách) của Đảng về xây dựng và phát triển nền
KTTT định hướng XHCN ở nước ta trong thời gian vừa qua. Học viên chọn
khoảng thời gian từ năm 1986 đến năm 2006, để thực hiện công việc này.
Để thực hiện đề tài này, học viên đã thu thập tài liệu tại Thư viện Tổng
hợp TP.HCM; Thư viện Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn
TP.HCM; Thư viện Trường Đại học Luật TP.HCM;…
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài là quan điểm, lý luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như chủ trương, chính sách của Đảng
Cộng sản Việt Nam về KTTT.
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài phương
pháp chung nhất mà học viên sử dụng là phương pháp lịch sử và phương pháp
logic, bên cạnh đó học viên còn sử dụng các phương pháp khác như: phương
pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, mô hình hóa
dựa trên những tư liệu và số liệu thực tế đã được công bố trong các Văn kiện,…
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Theo cách tiếp cận như trên, đề tài đã có những đóng góp sau đây:
Trên cơ sở kế thừa những tác phẩm nói trên, tác giả hệ thống hóa lại
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về KTTT ở Việt Nam: thời kỳ quá độ,
thời kỳ phát triển kinh tế hàng hóa (KTHH) nhiều thành phần và thời kỳ hình
thành, phát triển KTTT định hướng XHCN.
Phản ánh quá trình chuyển biến nền kinh tế từ thể chế kế hoạch hóa tập
trung quan liêu, bao cấp sang KTHH và sự xuất hiện của thể chế KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.
Từ việc phân tích thực chất của quá trình chuyển sang KTTT ở Việt
Nam đề tài rút ra những vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
Kết quả của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên 10
đề cho sinh viên và làm tài liệu tham khảo cho sinh viên trong nghiên cứu
những vấn đề liên quan về thể chế KTTT định hướng XHCN.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, danh mục các chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, đề tài được trình bày theo 3 chương, 8 mục và phần kết luận chung.
Trong đó, Chương 1 có 3 mục. Trong chương này tác giả tập trung
trình bày những vấn đề lý luận chung về KTTT; những kinh nghiệm phát triển
KTTT ở một số nước trên thế giới.
Chương 2, có 3 mục. Đây là nội dung chính của đề tài mà tác giả thực
hiện. Trong chương này, tác giả đã làm rõ thực trạng nền kinh tế Việt Nam khi
bắt đầu bước vào xây dựng nền KTTT; trình bày một cách hệ thống đường lối
cũng như quá trình thực hiện đường lối KTTT định hướng XHCN của Đảng
ta từ Đại hội lần thứ VI (12-1986) đến Đại hội lần thứ X (4-2006).
Chương 3, có 2 mục. Từ việc phân tích đường lối cũng như sự chỉ đạo
của Đảng ở chương trên, tác giả đi đến chỉ ra những thành tựu và hạn chế
trong quá trình phát triển KTTT định hướng XHCN trong 20 năm (1986-
2006). Bên cạnh đó, học viên cũng đưa ra một số kinh nghiệm và một số giải
pháp cho việc tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN trong giai đoạn tiếp theo. 11
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. Lý luận chung về kinh tế thị trường
Ngày nay không một ai phủ nhận vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của
KTTT trong quá trình phát triển nền sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất
(LLSX) xã hội… không ai phủ nhận sự tồn tại khách quan của KTTT trong
nhiều chế độ xã hội khác nhau; không một ai còn quả quyết cho rằng KTTT là
sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản (CNTB)… Đảng ta khẳng định: “Sản
xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển
của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng” [29,
tr.97]. “Để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [35, tr.69].
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã xây dựng học thuyết về
CNXH khoa học trên cơ sở nền KTTT tư bản chủ nghĩa (TBCN) phát triển ở
giai đoạn cạnh tranh tự do và đại công nghiệp cơ khí. Các ông cho rằng,
KTTT là giai đoạn lịch sử tất yếu mà nhân loại bắt buộc phải trải qua để đi tới
chủ nghĩa xã hội (CNXH). Chính cơ sở sản sinh và điều kiện tất yếu của
KTTT là chế độ sở hữu tư nhân TBCN về các tư liệu sản xuất (TLSX).
Như đã biết, phân công lao động xã hội là cơ sở sản xuất và lưu thông
hàng hóa. V.I.Lênin cho rằng: hễ ở đâu và khi nào có phân công lao động xã
hội thì ở đó và khi ấy có “thị trường” [51, tr.114].
Cũng theo V.I.Lênin, sản xuất hàng hóa chính là cách tổ chức của nền
kinh tế - xã hội, trong đó sản phẩm đều do những người sản xuất cá thể, riêng
lẻ sản xuất ra, mỗi người chuyên làm ra một thứ sản phẩm nhất định, nên
muốn thỏa mãn các nhu cầu của xã hội thì phải có mua bán sản phẩm, vì vậy
sản phẩm trở thành hàng hóa trên thị trường.
Khẳng định phân công lao động xã hội là điều kiện ra đời và tồn tại của 12
nền sản xuất hàng hóa, nhưng mới chỉ là điều kiện cần mà chưa đủ, C.Mác
đồng thời chỉ ra điều kiện đủ để sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại là “Những
lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau” của những người sản
xuất hàng hóa. C.Mác viết: “Trong xã hội Ấn Độ thời cổ, lao động đã có sự
phân công xã hội, nhưng các sản phẩm lao động không trở thành hàng hóa.
Hay là chúng ta hãy lấy một ví dụ gần gũi hơn: trong mỗi công xưởng, lao
động được phân công một cách có hệ thống, nhưng sự phân công này được
thực hiện không phải bằng cách các công nhân trao đổi những sản phẩm của
cá nhân họ với nhau. Chỉ có sản phẩm của những người lao động tư nhân độc
lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng
hóa” [58, tr.72]. Như vậy, C.Mác chỉ rõ rằng: điều kiện ra đời, tồn tại sản xuất,
lưu thông hàng hóa là phân công lao động xã hội và tồn tại “những lao động
tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau” của những người sản xuất
hàng hóa. Mà muốn có “những người lao động tư nhân độc lập và không phụ
thuộc vào nhau” thì những người, những doanh nghiệp sản xuất hàng hóa phải
độc lập và không phụ thuộc vào nhau.
Trong nền KTHH, tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa phản
ánh tính chất tư nhân và tính chất xã hội của lao động của người sản xuất
hàng hóa. Trong nền KTHH, KTTT việc sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào,
sản xuất cho ai là việc riêng của mỗi người, mỗi doanh nghiệp. Họ là những
người sản xuất độc lập, có tư cách pháp nhân. Những doanh nghiệp sản xuất
hàng hóa có thể là thuộc quyền sở hữu tư nhân, hay thuộc quyền sở hữu tập
thể hoặc thuộc của nhà nước… nhưng chúng vẫn là những doanh nghiệp sản
xuất hàng hóa độc lập, sản phẩm của chúng vẫn là hàng hóa. Đối với toàn xã
hội thì lao động của mỗi doanh nghiệp (dù là doanh nghiệp thuộc quyền sở
hữu nào) vẫn là lao động tư nhân, và chỉ khi nào bán được sản phẩm thì lao
động tư nhân đó mới được xã hội thừa nhận, mới trở thành một bộ phận thực
sự của lao động xã hội. Lao động tư nhân và lao động xã hội là hai mặt mâu 13
thuẫn của một thể thống nhất là lao động sản xuất hàng hóa. Với phân công
lao động xã hội, lao động sản xuất hàng hóa mang tính chất là lao động xã hội,
là một bộ phận của toàn bộ lao động xã hội. Sự phân công lao động xã hội tạo
ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người, những doanh nghiệp sản xuất
hàng hóa độc lập, họ làm việc cho nhau thông qua trao đổi hàng hóa. Còn với
tư cách là doanh nghiệp sản xuất hàng hóa độc lập, lao động sản xuất hàng
hóa của họ lại mang tính chất lao động tư nhân (cá biệt, độc lập, không phụ
thuộc vào nhau). Mâu thuẫn này được giải quyết khi sản phẩm được trao đổi
dưới hình thức hàng hóa.
CNTB là chế độ đầu tiên thực hiện KTTT và đã đạt được những thành
tựu phát triển rực rỡ. Nhưng do mục tiêu phát triển của CNTB - làm giàu một
bộ phận thiểu số nhà tư bản, nên sự phát triển của nền KTTT TBCN đã phản
ánh sự vận động trong mâu thuẫn. Để khắc phục mâu thuẫn trên của KTTT
TBCN, các ông đã tiên đoán về một xã hội có thể điều khiển nền sản xuất
theo một kế hoạch chung thống nhất dựa trên chế độ công hữu về các TLSX
chủ yếu. Đó là xã hội cộng sản mang đặc tính xã hội hóa trực tiếp mà không
cần thông qua hình thái hàng hóa và thị trường. Tuy nhiên, các nhà kinh điển
cũng tiên liệu tính chất vô cùng khó khăn của công cuộc xây dựng xã hội mới
rằng chủ nghĩa cộng sản phải trải qua các giai đoạn phát triển từ thấp đến cao
trước khi đạt tới giai đoạn cao chín muồi nó phải trải qua giai đoạn thấp - vừa
mới thoát thai từ CNTB (bao gồm cả thời kỳ quá độ). Ở giai đoạn thấp (được
gọi là CNXH), vẫn còn mang những dấu vết của xã hội cũ, đó là hình thái
hàng hóa và quan hệ trao đổi - phân phối theo nguyên tắc tư sản và thị trường.
Như vậy, mặc dù chưa nêu lên khái niệm cụ thể, nhưng thực chất thì các nhà
kinh điển đã có tư tưởng sử dụng KTTT trong CNXH.
Sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công (1917), V.I.Lênin đã
triển khai công cuộc xây dựng CNXH trong thực tiễn trên cơ sở kế thừa, phát
triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong điều kiện CNTB chuyển sang 14
giai đoạn độc quyền. Năm 1918 trên cơ sở tình hình nước Nga vẫn còn 84,7%
dân số là nông dân, mặc dù đã có sự phát triển nhất định của CNTB Nga. Đó
là cơ sở xuất phát điểm để V.I.Lênin vận dụng quan điểm của C.Mác coi phát
triển kinh tế là một “quá trình lịch sử - tự nhiên” một cách chủ động bằng
cách thực hiện Chính sách kinh tế mới (NEP) mà nội dung chủ yếu là chuyển
từ “Chính sách cộng sản thời chiến” sang phát triển KTTT dưới sự quản lý
của chính quyền Xô viết. Phạm trù thể hiện mối quan hệ giữa sự vận động của
KTTT nhiều thành phần với sự quản lý của Nhà nước Xô viết là CNTB nhà
nước. Vì vậy, hình thái kinh tế CNTB nhà nước Nga là định hướng mới của
sự phát triển KTTT trong giai đoạn quá độ. Định hướng ấy không những phát
huy mạnh mẽ nội lực mà còn bắt đầu thu hút ngoại lực từ hợp tác đầu tư với
các nước. Lập luận của V.I.Lênin là: công cuộc xây dựng CNXH ở một nước
tương đối lạc hậu như nước Nga thì cùng với việc tiến hành công nghiệp hóa,
còn cần phải sử dụng quan hệ hàng hóa và nền kinh tế nhiều thành phần, đặc
biệt, sử dụng CNTB nhà nước nhằm thu hút vốn nước ngoài và học tập quản
lý thông qua chế độ tô nhượng và cho thuê - coi đây như “mắt xích quá độ”
lên CNXH. V.I.Lênin đã đặc biệt chú ý tính định hướng XHCN của quá trình
phát triển KTTT khi nói về tính chất đặc biệt của quan hệ hàng hóa cũng như
chế độ XHCN của nước Nga.
Cũng theo V.I.Lênin, chuyển sang KTTT dưới sự quản lý của nhà nước
bằng thể chế “chủ nghĩa tư bản nhà nước” trong giai đoạn quá độ là nhằm tạo
ra chiếc cầu dẫn từ xã hội cũ, tư bản chủ nghĩa sang xã hội mới, xã hội chủ
nghĩa” [52, tr.171]. Trên cơ sở đó, với tất cả những gì đã nghiên cứu cùng với
kinh nghiệm lãnh đạo Đảng những năm đầu cầm quyền, V.I.Lênin khẳng
định: “Từ nước Nga một chính sách kinh tế mới sẽ nảy ra nước Nga xã hội
chủ nghĩa” [53, tr.358]. Mặc dù Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin chỉ
được áp dụng trong một thời gian ngắn nhưng nó đã mang lại hiệu quả tích
cực, trong đó Nhà nước Xô viết đã sử dụng có kết quả KTTT vào mục tiêu 15
phát triển LLSX và tăng cường tiềm lực của CNXH. Nói một cách khác, thử
nghiệm thành công mô hình KTTT định hướng XHCN.
Như vậy, sự ra đời và tồn tại của KTHH, KTTT phải là phân công lao
động xã hội và sự độc lập, không phụ thuộc vào nhau giữa những người sản
xuất hàng hóa. Điều đó khẳng định rằng KTHH, KTTT tồn tại và phát triển
trong nhiều chế độ xã hội khác nhau, trong đó tồn tại và phát triển trong thời
kỳ quá độ lên CNXH, cả trong CNXH - giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản.
1.1. Cơ chế thị trường và kinh tế thị trường
Cơ chế thị trường là cơ chế vận hành của nền kinh tế chịu tác động của
các quy luật sản xuất và lưu thông hàng hóa thông qua sự biến động của giá cả thị trường.
Kinh tế học ở các nước TBCN không thừa nhận lao động tạo ra giá trị
hàng hóa, chỉ đứng trên góc độ giá trị sử dụng hay tính hữu ích của hàng hóa
để xem xét cơ chế thị trường, coi đó là cơ chế mà người sản xuất và người
tiêu dùng, người bán và người mua thông qua tín hiệu của thị trường là giá cả
để quyết định ba vấn đề cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, và sản xuất như thế nào?
C.Mác đã phát hiện tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa,
kế thừa và hoàn thiện học thuyết giá trị của kinh tế chính trị tư sản cổ điển,
chỉ rõ lao động trừu tượng tạo ra giá trị và lao động cụ thể tạo ra giá trị sử
dụng của hàng hóa. Nhưng đây là giá trị sử dụng xã hội, giá trị sử dụng cho
người khác, chứ không phải cho bản thân người sản xuất, nên phải biết là sản
xuất cho ai, nếu muốn lấy được tiền trong túi của người mua thì phải hiểu nhu
cầu và thị hiếu của họ.
Mặt khác, “nếu như đối với giá trị sử dụng của hàng hóa, lao động chứa
đựng trong hàng hóa đó chỉ có ý nghĩa về mặt chất, thì đối với đại lượng của
giá trị, lao động đó chỉ có ý nghĩa về mặt lượng mà thôi…Trong trường hợp
thứ nhất, vấn đề là lao động được tiến hành như thế nào và sản xuất ra cái gì; 16
trong trường hợp thứ hai, vấn đề là đã tiêu phí bao nhiêu lao động và lao động
đó đã tiếp tục trong một thời gian bao lâu” [58. tr.77].
Như vậy, C. Mác không chỉ đặt vấn đề sản xuất cho ai, sản xuất như thế
nào và sản xuất ra cái gì mà còn đặt vấn đề hao phí bao nhiêu lao động. Điều
này có ý nghĩa là phải xét nhu cầu có khả năng thanh toán để quyết định sản
xuất mặt hàng rẻ, hao phí ít lao động hay mặt hàng đắt tiền, hao phí nhiều lao
động, chứ không phải là căn cứ vào nhu cầu tự nhiên.
Nói tới cơ chế thị trường là phải nói tới các vấn đề sau:
- Các nhân tố, quan hệ cơ bản cấu thành thị trường.
- Môi trường hoạt động.
- Các quy luật vận hành và động lực chi phối KTTT.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo sự điều tiết của cơ chế
thị trường, lấy sự tồn tại và phát triển của quan hệ hàng hóa - tiền tệ làm cơ sở,
là KTHH đạt đến trình độ xã hội hóa cao và trình độ kỹ thuật cao, trong đó
toàn bộ hay hầu hết đầu vào và đầu ra của sản xuất đều phải thông qua thị trường.
KTTT và KTHH có những điểm giống nhau, nhưng không phải là một.
Đã là KTHH thì tất yếu phải sản xuất nhằm để trao đổi hay để bán, nên ắt
phải có thị trường. Nhưng không phải hễ có thị trường là có KTTT. KTTT là
trình độ cao của KTHH, trong đó toàn bộ hoặc hầu hết đầu vào và đầu ra của
sản xuất đều phải thông qua thị trường.
Từ khi ra đời đến nay, KTTT có thể khái quát ba mô hình kinh tế:
- Kinh tế thị trường tự do cạnh tranh.
- Mô hình kinh tế chỉ huy.
- Mô hình kinh tế hỗn hợp.
KTTT tự do cạnh tranh là nền kinh tế chịu sự điều tiết tự phát của các
quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa. Trong nền kinh tế này nhà nước không
trực tiếp can thiệp vào sự phát triển kinh tế, mà chỉ tạo môi trường thuận lợi 17
cho sự cạnh tranh tự do lành mạnh, nhất là môi trường pháp lý.
Mô hình kinh tế chỉ huy. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933
đã chứng tỏ rằng khi tính chất xã hội hóa sản xuất đã phát triển tới một trình
độ nhất định thì KTTT tự do cạnh tranh không thể phát triển một cách hài hòa,
ổn định, bởi vậy cần phải có sự điều tiết của nhà nước để hạn chế tác hại của
tính tự phát vô chính phủ của KTTT. Nhưng sự can thiệp thái quá của nhà
nước đến mức gần như triệt tiêu tính năng động của KTTT đã dẫn đến sự ra
đời mô hình kinh tế chỉ huy, mà điển hình là kinh tế kế hoạch hóa, tập trung,
bao cấp ở Liên Xô và Đông Âu trước đây.
Trong mô hình kinh tế chỉ huy, nhà nước quyết định việc phân bố
nguồn lực, phương hướng đầu tư… Hầu như không tính đến nhu cầu trên thị
trường. Mô hình kinh tế này có ưu điểm là tập trung được nguồn lực vào
những mục tiêu chủ yếu, nhưng nó thủ tiêu cạnh tranh nên đã kìm hãm tiến bộ
kỹ thuật, và khi chuyển từ phát triển kinh tế theo bề rộng sang phát triển kinh
tế theo chiều sâu là chủ yếu thì nó cản trở LLSX, dẫn đến trì trệ.
Mô hình kinh tế hỗn hợp là sự kết hợp giữa KTTT tự do cạnh tranh với
sự điều tiết của nhà nước. Ngày nay nhiều nước trên thế giới đã và đang thực
hiện theo mô hình kinh tế này.
Nói chung trong nền KTTT nhìn vào ta thấy có hàng và tiền, người bán
và người mua. Từ đó hình thành nên các quan hệ hàng - tiền, bán - mua, cung
- cầu và giá cả hàng hóa trên thị trường.
Quan hệ hàng - tiền là quan hệ cơ bản, biểu hiện của quan hệ kinh tế
giữa các thành viên tham gia thị trường. Nhìn chung, mỗi thành viên hoạt
động trên thị trường đều phải có hàng - tiền hoặc một trong hai thứ đó. Cũng
có thể một người nào đó tham gia thị trường song không có hàng mà cũng
không có tiền. Trong trường hợp này họ đóng vai trò trung gian như chất xúc
tác để góp phần thúc đẩy sự gặp gỡ của cung và cầu.
Trên thị trường, quan hệ hàng - tiền thể hiện rất đa dạng. Hàng hóa có 18
thể là vật chất cụ thể hoặc là hàng hóa tinh thần. Có thể là TLSX hoặc vật phẩm tiêu dùng.
Giống như hàng hóa, tiền tệ cũng rất đa dạng. Đó là tiền vàng, tiền giấy,
tiền tài chính, tiền tín dụng. KTTT càng phát triển, càng xuất hiện nhiều loại tiền tệ khác nhau.
Trong thế giới hàng - tiền đa dạng như vậy, người ta chia thành hai loại
thị trường là thị trường hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ (còn gọi là thị trường
đầu ra) và thị trường yếu tố sản xuất (còn gọi là thị trường đầu vào). Hai loại
thị trường này biệt lập với nhau nhưng lại được nối liền với nhau thành một
hệ thống thông qua người sản xuất và người tiêu dùng. Trong KTTT không có
ai chỉ bán mà không mua và ngược lại không ai chỉ mua mà không bán. Trên
thị trường, mỗi loại hàng hóa đều có giá cả của nó. Giá cả là phạm trù kinh tế
trung tâm, là công cụ quan trọng thông qua cung - cầu để kích thích và điều
tiết hoạt động kinh tế của các chủ thể kinh tế tham gia thị trường.
Nói đến cơ chế thị trường là phải nói tới cung - cầu hàng hóa. Đó là sự
khái quát của hai lực lượng người bán và người mua trên thị trường. Sự biến
động của cung - cầu kéo theo sự biến động của giá cả thị trường và ngược lại,
giá cả thị trường cũng điều tiết cung - cầu.
Trong KTTT, lợi nhuận là động lực chi phối hoạt động của người kinh
doanh. A.Smith cho rằng mỗi người hoạt động trong KTTT chỉ biết tư lợi, chỉ
thấy tư lợi và chỉ làm theo tư lợi. C.Mác cho rằng nhà kinh doanh ghét cay
ghét đắng tình trạng không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận quá ít, không khác gì
giới tự nhiên ghê sợ chân không. Lợi nhuận đưa các doanh nghiệp đến các
khu vực sản xuất những hàng hóa mà người tiêu dùng cần nhiều hơn, bỏ các
khu vực có ít người tiêu dùng. Lợi nhuận đưa các doanh nghiệp đến việc sử
dụng kỹ thuật sản xuất có hiệu quả nhất, như vậy hệ thống thị trường sử dụng
lỗ và lãi để quyết định các vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế.
KTTT hoạt động trong môi trường cạnh tranh, do các quy luật kinh tế 19
khách quan chi phối, là sự đua tranh giữa các thành viên tham gia KTTT.
Kiểu đua tranh này khác với đua tranh đoạt một giải thưởng. Nếu đua tranh để
đoạt một giải thưởng là cuộc đua tranh một lần thì cuộc đua tranh trong KTTT
diễn ra liên tục. Thomas L.Friedman coi sự cạnh tranh như là môn chạy nước
rút 100 mét, liên tiếp, không ngừng nghỉ. Dù bạn thắng trong ngày hôm nay
thì bạn sẽ phải đua tiếp vào ngày mai. Và nếu bạn chỉ thua trong một phần
trăm giây thì cũng tồi tệ như bạn bị chậm mất cả một giờ vậy [89. tr.51].
Trong cuộc cạnh tranh đó tất yếu có người được và người thua, nên sự phá
sản của một bộ phận doanh nghiệp là khó tránh khỏi.
Nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường có ưu thế hơn so với các
kiểu tổ chức kinh tế khác (kinh tế tự nhiên, kinh tế chỉ huy). Sự thống trị của
kinh tế tự nhiên luôn làm cho xã hội vận động chậm chạp. Sự thống trị của
kinh tế chỉ huy làm mất động lực kinh tế, mất tính năng động sáng tạo của
những nhà kinh doanh. Cho đến nay người ta chưa thể tìm ra được một kiểu
tổ chức kinh tế nào có hiệu quả hơn KTTT để phát triển kinh tế. Chính vì vậy
có thể nói rằng, KTTT là một sự lựa chọn đúng đắn để phát triển kinh tế trong thời đại ngày nay.
1.2. Các giai đoạn hình thành phát triển kinh tế thị trường
Nhìn lại lịch sử chúng ta thấy có ba giai đoạn phát triển của KTTT là:
giai đoạn chuyển KTHH giản đơn sang KTTT, giai đoạn phát triển KTTT tự
do và giai đoạn phát triển KTTT hiện đại. Ở mỗi giai đoạn có những đặc
trưng và nhiệm vụ phát triển chủ yếu khác nhau.
Giai đoạn thứ nhất, chuyển kinh tế hàng hóa giản đơn sang KTTT.
Trong lịch sử, giai đoạn này diễn ra từ thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVII ở
nước Anh và một số nước châu Âu khác [72, tr.33]. Đây cũng chính là thời kỳ
quá độ từ chủ nghĩa phong kiến sang CNTB. Nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn
này là tích lũy những tiền đề cần thiết cho sự ra đời và phát triển của KTTT.
Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội sẽ có kiểu tổ chức kinh tế khác nhau.