



















Preview text:
ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ ĐẢNG
Câu 1: Vai trò của Nguyễn Ái Quốc với việc thành lập Đảng? Đánh giá vai trò Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930?
1. Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam
Ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng và từ đó từng
bước thôn tính Việt Nam.
Chế độ phong kiến Việt Nam (dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn) đã lâm vào giai đoạn
khủng khoảng trầm trọng. Triều đình nhà Nguyễn từng bước th@a hiệp và đến ngày 6-6-1884
với Hiệp ước Patơnốt đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp, Việt Nam trở thành “một xứ thuộc địa”.
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các cuộc khởi nghĩa và các phong trào đấu tranh
của nhân dân ta diễn ra liên tục và mạnh mẽ. Tuy nhiên do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ
chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại.
2. Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cứu nước
- Năm 1911, Nguyễn Tất Thành quyết định đi sang phương Tây tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
- Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Người từ nước Anh trở lại nước
Pháp và tham gia các hoạt động chính trị hướng về tìm hiểu con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, về V.I.Lênin.
- Tháng 6-1919, tại Hội nghị Vécxây (Versailles), Nguyễn Tất Thành lấy tên là Nguyễn Ái
Quốc thay mặt Hội những người An Nam yêu nước ở Pháp gửi tới Hội nghị bản Yêu sách của
nhân dân An Nam (gồm tám điểm đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam) nhưng không
được Hội nghị đáp ứng.
- Tháng 7-1920, Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin đăng trên báo “Nhân đạo”.
- Tháng 12-1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán
thành việc thành lập Đảng Cộng sản Pháp, gia nhập Quốc tế Cộng sản.
Sau khi xác định được con đường cách mạng đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục khảo sát,
tìm hiểu để hoàn thiện nhận thức về đường lối cách mạng vô sản, lựa chọn cách mạng vô sản,
đồng thời tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam.
3. Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng
Về tư tưởng chính trị
Người đã viết và gửi các sách báo, tài liệu về Việt Nam như các báo “Việt Nam hồn”,
“Người cùng khổ”... để tố cáo thực dân Pháp, phong kiến, thức tỉnh tinh thần yêu nước của
nhân dân; truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và chỉ rõ con đường cách mạng.
Người khẳng định rằng, con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là giải phóng giai
cấp, giải phóng dân tộc. Kêu gọi người dân đấu tranh. Về tổ chức
Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên tại Quảng
Châu (Trung Quốc). Hội là tổ chức trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.
Những hoạt động của Hội có ảnh hưởng và thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến của phong trào
công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam những năm 1928-1929 theo xu hướng cách mạng
vô sản. Đó là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm 1929, trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Việt Nam, 3 tổ chức
cộng sản ra đời: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.
Trước nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong nước, ngày 23-12-1929, Nguyễn
Ái Quốc đến Hồng Kông (Trung Quốc) triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và
An Nam Cộng sản Đảng đến họp tại Cửu Long (Hồng Kông) tiến hành hội nghị hợp nhất các
tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất của Việt Nam. Thời gian Hội nghị từ ngày 6-
1 đến ngày 7-2-1930. (Sau này Đảng quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng).
Đến ngày 24-2-1930, việc thống nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất
được hoàn thành với Quyết nghị của Lâm thời chấp ủy Đảng Cộng sản Việt Nam, chấp nhận
Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
4. Đánh giá vai trò Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930?
- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt sự khủng hoảng bế tắc về đường lối cứu
nước, đưa cách mạng Việt Nam sang một bước ngoặt lịch sử vĩ đại: cách mạng Việt Nam trở
thành một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Chủ nghĩa Mác-Lênin kết hợp với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng, “Việc thành lập Đảng là một
bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng t@ rằng giai
cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.
- Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã khẳng định
sự lựa chọn con đường cách mạng cho dân tộc Việt Nam-con đường cách mạng vô sản. Con
đường duy nhất đúng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Sự lựa
chọn con đường cách mạng vô sản phù hợp với nội dung và xu thế của thời đại mới được mở
ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại: “Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để
có độc lập dân tộc thật sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự
lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta” .
- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử phát triển của dân tộc
Việt Nam, trở thành nhân tố hàng đầu quyết định đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác.
Câu 2: Trình bày bồi cảnh lịch sử, chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách
mạng của Đảng giai đoạn 1939 - 1945. Theo anh, chị chủ trương chuyển hướng chiến
lược đó của Đảng có phải là nhân tố quyết định thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm
1945 không? Vì sao?
1. Bối cảnh lịch sử thế giới và trong nước từ 1939 - 1945
- Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Mặt trận Nhân dân Pháp tan vỡ. Ở
Đông Dương, bộ máy đàn áp được tăng cường, lệnh thiết quân luật được ban bố.
- Tháng 6-1940, Đức tiến công Pháp. Chính phủ của Thủ tướng Pêtanh (Pétain) ký văn
bản đầu hàng Đức. Sau khi chiếm một loạt nước châu Âu, tháng 6-1941 Đức tiến công Liên Xô.
- Ở Đông Dương, thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến, phát xít hóa bộ máy
thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng; tăng cường bóc lột phục vụ cuộc chiến tranh
đế quốc. Tháng 9-1940, quân phiệt Nhật đổ bộ vào Lạng Sơn, thực dân Pháp đầu hàng và câu
kết với Nhật để thống trị và bóc lột nhân dân Đông Dương, làm cho nhân dân Đông Dương
phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”.
- Chính sách vơ vét, bóc lột Pháp – Nhật đã đẩy nhân dân ta vào tình cảnh cùng cực. Hậu
quả là cuối năm 1944 đến đầu 1945 có gần 2 triệu đồng bào ta chết đói.
2. Chủ chương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng giai đoạn 1935 - 1945
- Ngay khi Chiến tranh thế giới thứ hai mới bùng nổ, Đảng kịp thời rút vào hoạt động bí
mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, đồng thời vẫn chú trọng các đô thị. Ngày 29-9-
1939, Trung ương Đảng gửi toàn Đảng một thông báo quan trọng chỉ rõ: “Hoàn cảnh Đông
Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng”
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (11-1939) tại Gia Định do
Nguyễn Văn Cừ chủ trì bắt đầu đưa ra chiến lược mới cho Cách mạng.
Nhận định kẻ thù: Kẻ thù chủ yếu trước mắt là bọn đề quốc phát xít Pháp.
Xác định nhiệm vụ: Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và cấp bách
của cách mạng Đông Dương lúc này.
Khẩu hiệu đấu tranh: Tạm gác khẩu hiệu “Cách mạng ruộng đất”, thay bằng khẩu
hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đề quốc, Việt gian chia cho dân cày.
Mặt trận: Chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương
nhằm tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp giai cấp, các dân tộc Đông Dương.
Hội nghị cán bộ Trung ương lần 7 họp tháng 11-1940 tại Bắc Ninh do Trường Chinh
chủ trì, hoàn toàn thống nhất với quan điểm của hội nghị 6, bổ sung thêm 2 vấn đề lớn:
Một là, duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, thành lập những đội du kích, khi cần
thiết thì chiến đấu chống khủng bố, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, phát
triển cơ sở cách mang, tiến tới lập căn cứ địa du kích, lấy Bắc Sơn – Vũ Nhai làm trung tâm.
Hai là, chỉ thị cho xử uỷ Nam Kỳ hoãn ngay cuộc khởi nghĩa vì chưa đủ điều kiện
bảo đảm cho khởi nghĩa thắng lợi.
Tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương
Đảng. Hội nghị hoàn thiện sự chuyển hướng chiến lược
Sau khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, ta phải thi hành đúng chính sách
"dân tộc tự quyêt” cho dân tộc Đông Dương.
Hội nghị khẳng định phải xúc tiến ngay công tác chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ
trang giành thắng lợi. Đây là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta.
Hội nghị công bố một số văn kiện quan trọng như Chương trình Việt Minh (1941),
Điều lệ của Nông dân cứu quốc, Điều lệ của du kích cứu quốc...
NỘI DUNG CHÍNH CỦA HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8:
Giải quyết mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với Pháp – Nhật
Đưa nhiệm vụ GPDT lên hàng đầu
Giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước
Tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc: Thành lập mặt trận Việt Minh 1941
Sau khi CM thành công, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang (1939 – 1945)
3. Chủ trương chuyển hướng chiến lược đó của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi
Cách mạng Tháng Tám năm 1945
- Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc của Hội nghị
Trung ương lần 6, 7, 8 chính là sự kế tục và hoàn chỉnh tư tưởng cách mạng giải phóng dân
tộc của Hồ Chí Minh đã vạch ra trong Cương lĩnh tháng 02/1930. Đây là bước trưởng thành
vượt bậc của Đảng ta về lãnh đạo chính trị, về xây dựng đường lối cách mạng giải phóng dân tộc.
- Chiến lược đó có tác dụng quyết định trong việc vận động toàn Đảng, toàn dân tích cực
từng bước tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân chuẩn bị tiến tới Cách mạng tháng Tám.
- Từ các đội du kích bí mật, các đội Cứu quốc quân, thành lập Việt Nam giải phóng quân.
Đảng chỉ đạo việc lập các chiến khu và căn cứ địa cách mạng, tiêu biểu là căn cứ Bắc Sơn -
Võ Nhai và căn cứ Cao Bằng. Công việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang diễn ra sôi nổi ở các
khu căn cứ và khắp các địa phương trong cả nước đã cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào
cách mạng quân chúng vùng lên đấu tranh giành chính quyền.
- Ngoài ra, trong bối cảnh 1939-1945, chính quyền ta còn non trẻ, vì vậy nhiệm vụ quan
trọng nhất là bảo vệ chính quyền cũng tức là giữ vừng nền độc lập dân tộc..
- Từ đó thể hiện rõ sự phát triển sáng tạo về mặt chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng
phát huy được tiềm năng, sức mạnh của toàn dân tộc, trực tiếp dẫn đến thành công của cuộc
tổng KN tháng Tám năm 1945.
Câu 3: Nghệ thuật nắm bắt thời cơ và chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa giành chính
quyền Cách mạng Tháng Tám năm 1945? SV cho biết Cách mạng tháng Tám thắng lợi có
phải là “sự may rủi” hay không? Vì sao?
1. Thời cơ cách mạng
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6, 7, 8 (1939-1945) đã hoàn thành sự
chuyển hướng chiến lược Cách mạng:
Đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
Thành lâp mặt trận Việt Minh để đoàn kết tập hợp lực lượng giải phóng dân tộc.
Thành lập các hội cứu quốc như công nhân cứu quốc, thanh niên cứu quốc…
Quyết định xuất tiến khởi nghĩa vũ trang, phải xây dựng lực lượng chính trị lực
lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng.
Thời cơ khách quan 8-1945
Giữa tháng 8-1945, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Sau khi phát xít Đức đầu
hàng Đồng minh, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, đánh tan đạo quân Quan Đông của
Nhật tại Mãn Châu (Trung Quốc). Mỹ ném hai quả bon nguyên tử xuống các thành
phố Hirôsima (6-8-1945) và Nagazaki (9-8-1945).
Ngày 15-8-1945, chính phủ Nhật kí hiệp ước đầu hàng Đồng minh vô điều kiện.
Quân Nhật ở Đông Dương mất hết tinh thần. Chính quyền do Nhật dựng lên hoang
mang cực độ. Thời cơ cách mạng xuất hiện.
Thời cơ chủ quan 8-1945
Trong tình hình trên, vấn đề giành chính quyền được đặt ra như một cuộc chạy đua nước
rút với quân Đồng minh mà Đảng và nhân dân Việt Nam không thể chậm trễ, không chỉ để
tranh thủ thời cơ, mà còn phải khắc phục nguy cơ, đưa cách mạng đến thành công.
Đảng cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị đầy đủ chu đáo về
mọi đường lối, lực lượng chính trị: Việt Nam độc lập đồng minh, lực lượng vũ trang:
Việt Nam giải phóng quân, căn cứ địa cách mạng ở nhiều huyện, tỉnh trong khắp cả
nước. Bước đầu tập dượt cho quân chúng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Khi phát-xít Nhật đầu hàng Ðồng minh (13/8/1945), Ðảng ta khẳng định, tình thế
cách mạng đã xuất hiện, đây là cơ hội giải phóng dân tộc ngàn năm có một: "Giờ
quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem
sức ta mà tự giải phóng cho ta".
Có được sự ủng hộ của toàn dân, các lưc lượng trung gian như tư sản, địa chủ đều
ngả về phe Cách mạng. Các giai cấp, tầng lớp yêu nước theo tiếng gọi của Hồ chủ
tịch, đồng lòng đứng lên khởi nghĩa.
2. Chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa 8-1945
Ngày 13-8-1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban Khởi nghĩa
toàn quốc. 23 giờ cùng ngày, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ban bố “Quân lệnh số 1”, phát đi
lệnh tổng khởi nghĩa trong toàn quốc.
Ngày 13 đến 15-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, do lãnh tụ
Hồ Chí Minh và Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì thông qua nội dung chính:
Khẩu hiệu đấu tranh: Phản đối xâm lược! Hoàn toàn độc lập! Chính quyền nhân dân!
Kẻ thù: phát xít Nhật
Phương châm đấu tranh: Đánh chiếm những nơi chắc thắng không kể thành phố hay
nông thôn; Quân sự và chính trị phải phối hợp với nhau.
Nguyên tắc để chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang là tập trung, thống nhất và kịp thời.
Hội nghị cũng quyết định những vấn đề lớn về chính sách đối nội và đối ngoại của
Đảng sau khi cách mạng thẳng lợi.
-Về đối nội: chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, tổ chức quần chúng. Lấy
10 chính sách lớn của Việt Minh làm chính sách cơ bản của chính quyền cách mạng.
-Về đối ngoại: thực hiện nguyên tắc bình đẳng, hợp tác, thêm bạn bớt thù. Triệt để
lợi dụng mâu thuẫn giữa Pháp - Anh, Mỹ - Tưởng.
Ngày 18, 19-8-1945, Đại hội quốc dân đã nhất trí với chủ trương phát động tổng khởi
nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, lập Ủy ban giải phóng dân tộc
Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
3. Sơ lược tổng khởi nghĩa 8-1945
-Ngay sau đại hội Hồ chủ tịch gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng hơn 20 triệu nhân dân đã nhất tề đứng dậy khởi nghĩa dành chính quyền.
-Từ 14/8/1945 các đơn vị giải phóng quân đã liên tiếp hạ nhiều đồn Nhật thuộc các tỉnh
Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Yên Bái và hỗ trợ quần chúng tiến lên nắm chính quyền.
-Ngày 18/8/1945 nhân dân các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Phúc Yên, Thái Bình, Thanh
Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Nam giành chính quyền ở tỉnh lị.
-Ngày 19/8/1945 cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội dành thắng lợi, có ý nghĩa quyết định đối với
cả nước, làm cho chính quyền tay sai Nhật ở các nơi bị tê liệt, cổ vũ mạnh mẽ nhân dân
các tỉnh thành phố khác nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền.
-Ngày 23/8/1945 khởi nghĩa giành thắng lợi ở Huế.
-Ngày 25/8/1945 khởi nghĩa giành thắng lợi ở Sài Gòn.
-Chỉ trong 15 ngày (từ 14 đến 28 -8-1945) cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công trên cả
nước, chính quyền về tay nhân dân.
-Ngày 30/8/1945, Vua Bảo Đại đọc tuyên bố thoái vị
-Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình Hà Nội thay mặt Chính phủ lâm thời Chủ tịch
Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
4. Cách mạng tháng Tám thắng lợi không phải là “sự may rủi”
Thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám là thành tựu rực rỡ của tinh thần, ý chí,
trí tuệ Việt Nam, của truyền thống văn hóa Việt Nam.
Đảng Cộng sản Đông Dương và chủ tịch Hồ Chí Minh là người tổ chức và lãnh đạo cách
mạng. Đảng có đường lối chính trị đúng đắn, phương pháp cách mạng sáng tạo, dày dặn kinh
nghiệm đấu tranh, bắt rễ sâu trong quần chúng, đoàn kết và thống nhất, quyết tâm lãnh đạo
quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền.
Thời cơ cách mạng chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian xác định: từ khi Nhật đầu hàng
Đồng minh đến trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Vì vậy đó là thắng lợi của nghệ
thuật tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ “ngàn năm có một”, tích cực chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang
chu đáo. Khi thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng ta kịp thời phát động toàn dân nổi dậy lật đổ
chế độ thực dân phong kiến, dành chính quyền về tay nhân dân.
Đó là thắng lợi của sự kết tinh những truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất của
một dân tộc có lịch sử hàng nghìn năm chống ngoại xâm và gần một thế kỷ đấu tranh chống
ách thống trị của chủ nghĩa thực dân; là thắng lợi của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc
dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Mặt khác, Cách mạng Tháng Tám thành công là kết quả vận dụng, phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Câu 4: Hoàn cảnh lịch sử, chủ trương, biện pháp của Đảng trong xây dựng và bảo vệ
chính quyền giai đoạn 1945-1946? Tại sao trong chủ trương đó, Đảng xác định xây dựng
và bảo vệ chính quyền là nhiệm vụ quan trọng nhất?
1. Hoàn cảnh lịch sử Thuận lợi
Về quốc tế là sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II, Liên Xô trở thành thành trì của chủ nghĩa xã hội.
Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, dân làm chủ đất nước, Đảng cộng sản
Đông Dương lãnh đạo cách mạng. Hệ thống chính quyền cách mạng hình thành từ
trung ương đến địa phương.
Hệ thống các nước XHCN hình thành, phong trào giải phóng dân tộc phát triển. Khó khăn
Giặc đói (kinh tế khó khăn, tiêu điều, 50 % ruộng đất bị b@ hoang, kho bạc trống rỗng).
Giặc dốt (95 % dân số mù chữ, các hủ tục, tệ nạn XH chưa được khắc phục).
Giặc ngoại xâm: Quân Tưởng, Anh, Pháp, Nhật. Các lực lượng phản cách mạng
trong nước chống phá cách mạng.
Ngoại giao: Việt Nam chưa được bất cứ nước nào công nhận, bị bao vây, cách biệt.
Hệ thống chính quyền mới thành lập non trẻ, thiếu thốn về nhiều mặt. 2. Chủ trương
Ngày 3-9-1945, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên đã xác định ngay nhiệm vụ lớn
trước mắt, là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm.
Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, xác định rõ:
“Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”
Mục tiêu của cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là “dân tộc giải phóng”.
Khẩu hiệu “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”
Nhiệm vụ chủ yếu, trước mắt “là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược,
bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân”.
Biện pháp cụ thể giải quyết những khó khăn, phức tạp hiện thời của cách mạng Việt Nam:
Về chính trị: bầu cử Quốc hội, thành lập Chính phủ chính thức, lập Hiến pháp
Về quân sự: động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến và chuẩn bị kháng
chiến lâu dài; kiên định nguyên tắc độc lập về chính trị.
Về ngoại giao: “làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết”,
với Tưởng thực hiện “Hoa – Việt thân thiện”, với Pháp “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế”.
3. Chỉ đạo thực hiện
Về chính trị (nội chính): Mở rộng khối đoàn kết toàn dân, tổ chức Tổng tuyển cử (6-1- 1946), Hiến pháp 1946.
Về kinh tế, tài chính: tăng gia sản xuất, khắc phụ hậu quả nạn đói, kêu gọi nhân dân
đóng góp vào nền tài chính của đất nước; lập hũ gạo tiết kiệm, tổ chức Tuần lễ vàng,
gây Quỹ độc lập, Quỹ đảm phụ quốc phòng, Quỹ Nam Bộ kháng chiến...
Về văn hóa - giáo dục: Tổ chức phong trào bình dân học vụ, bài trừ các tệ nạn xã hội, hủ tục lạc hậu.
Về quân sự: Xây dựng lực lượng công an, quân đội, tổ chức kháng chiến ở miền Nam,
ngăn không cho Pháp đánh ra Trung bộ. Về ngoại giao:
Thời kì 9-1945 đến 3-1946, thực hiện sách lược nhân nhượng hòa hoãn với quân
Tưởng ở miền Bắc để giữ vững chính quyền tập trung đánh Pháp ở miền Nam.
Thời kì 3-1946 đến 12-1946, hòa Pháp đuổi Tưởng:
Ngày 28-2-1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết ở Trùng Khánh, Tưởng đồng ý
cho Pháp đưa quân ra miền Bắc Việt Nam. Buộc quân Tưởng rút về nước.
Ngày 3/3/1946, Thường vụ Trung ương Đảng ra bản Chỉ thị Tình hình và chủ
trương, nêu rõ: “Vấn đề lúc này không phải là muốn hay không muốn đánh. Vấn đề
là biết mình, biết người, nhận một cách khách quan những điều kiện lời lãi trong
nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng ”.
Ngày 6-3-1946, Hiệp định Sơ bộ giữa Việt và Pháp được kí kết.
Ngày 14-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với đại diện của Pháp bản Tạm ước.
4. Trong chủ trương đó, Đảng xác định xây dựng và bảo vệ chính quyền là nhiệm vụ quan trọng nhất
https://tailieu.vn/doc/cau-hoi-de-mo-ve-mon-duong-loi-cach-mang-cua-dang-cong-san- viet-nam-1492723.html
http://timtailieu.vn/tai-lieu/cau-hoi-de-mo-mon-duong-loi-cach-mang-cua-dang-cong-san- viet-nam-46714/
Cương lĩnh của Đảng ta đã khẳng định: "Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng
đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam", Đảng có vững cách mạng mới thành
công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy. Đây là nhân tố bảo đảm thực hiện
thắng lợi Cương lĩnh chính trị, mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững
chắc thành quả cách mạng, nền độc lập tự chủ của Tổ quốc.
Giữ vững và bảo vệ chính quyền cách mạng là nhiệm vụ hết sức cấp bách sống còn của
nhân dân lúc này.Chính quyền là công cụ sắc bén,là đòn bẩy để đưa cách mạng tiến lên.Muốn
vậy,tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân,hoà hợp dân tộc,xây dựng và củng cố chính quyền
cách mạng về mọi mặt:chính trị,quân sự,,kinh tế,văn hoá,xã hội và ngoại giao,kháng chiến đi
đôi với kiến quốc,,chống giặc ngoại xâm gắn liền với chống giặc đói và giặc dốt.
Câu 5: Hoàn cảnh lịch sử, phân tích nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược 1946-1954? Ý nghĩa thực tiễn của đường lối đó?
1. Hoàn cảnh, nguyên nhân Việt Nam phát động toàn quốc kháng chiến chống Pháp.
Ngày 6-3-1946, Hiệp định Sơ bộ giữa Việt và Pháp được kí kết. Ngày 14-9-1946, Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký với đại diện của Pháp bản Tạm ước.
Từ tháng 11-1946, Pháp bội ước, gây hấn, khiêu khích, lấn chiếm nhiều vị trí ở Bắc Bộ.
Pháp chiếm đóng trái phép Đà Nẵng, Hải Dương, nhiều nơi ở Hà Nội, bắn đại bác gây ra vụ
thảm sát đồng bào Hà Nội.
Ngày 18-12-1946, đại diện Pháp ở Hà Nội đơn phương tuyên bố cắt đứt mọi liên hệ với
Chính phủ Việt Nam, tướng Moóc - li - e gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí của tự vệ và kiểm
soát an ninh ở Hà Nội. Chủ Hồ Chí Minh gửi thư ngoại giao nhưng không được Pháp tiếp
nhận. Từ đó khả năng hoà hoãn không còn.
20 giờ ngày 19/12/1946, Trung ương Đảng họp tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) quyết định
phát động toàn quốc kháng chiến. Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến”.
2. Nội dung đường lối kháng chiến giai đoạn 1946-1950
Đường lối kháng chiến 1946-1950 được hình thành từng bước qua thực tiễn đối phó với
âm mưu, thủ đoạn xâm lược của thực dân Pháp.
Đường lối kháng chiến của Đảng được tập trung trong 2 văn kiện: Lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-12-1946) và Chỉ thị “ Toàn dân kháng chiến ” của TW Đảng (12-12 1946)
Sau đó, đường lối KC được bổ sung bởi văn kiện thứ 3 là tác phẩm “Kháng chiến nhất định
thắng lợi ” của Tổng Bí thư Trường Chinh (8-1947)
Nội dung chính đường lối kháng chiến:
Tính chất: Giải phóng dân tộc và dân chủ mới. Trước đó chúng ta tiến hành cách
mạng tháng Tám 1945 để giành chính quyền và đến giai đoạn này kháng chiến
chống pháp để giữ chính quyền. Thu hẹp phạm vi bóc lột của giai cấp địa chủ.
Mục tiêu: đánh đổ thực dân Pháp xâm lược, giành nền độc lập, tự do, thống nhất
hoàn toàn; vì nền tự do dân chủ và góp phần bảo vệ hòa bình thế giới...
Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp. Đoàn kết với Miên,
Lào và các dân tộc yêu chuộng hòa bình.
Nhiệm vụ KC: Đoàn kết toàn dân, củng cố chế độ dân chủ cộng hòa, tăng gia sản xuất, tự cấp tự túc.
Phương châm KC: Toàn dân (đem toàn bộ sức dân, tài dân, lực dân; động viên toàn
dân tích cực tham gia kháng chiến, trong đó Quân đội nhân dân làm nòng cốt cho
toàn dân đánh giặc), toàn diện (đánh địch trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận không chỉ
bằng quân sự mà cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, ngoại giao, trong đó mặt
trận quân sự, đấu tranh vũ trang giữ vai trò mũi nhọn, mang tính quyết định), lâu dài
(vừa kháng chiến, vừa xây dựng thực lực để chuyển hóa tương quan lực lượng từ
yếu thành mạnh cuối cùng đi đến thắng lợi), dựa vào sức mình là chính (do nước VN
dân chủ cộng hòa chưa được nước nào trên thế giới công nhận)
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đường lối kháng chiến của Đảng là hoàn toàn đúng
đắn, trở thành ngọn cờ dẫn đường, chỉ lối, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiến
lên. Đường lối kháng chiến giai đoạn này phù hợp với thực tế của cách mạng lúc bấy giờ, phát
huy được thế mạnh và đặc điểm quân sự Việt Nam. Kết quả:
Về chính trị: Đoàn kết toàn dân, đoàn kết với Lào, Campuchia, tranh thủ nhân dân
Pháp và các lực lượng hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới.
Về kinh tế: Vận động toàn dân tích cực tăng gia sản xuất, tự cấp tự túc.
Về quân sự: Chiến lược chung là đánh lâu dài, vừa đánh vừa xây dựng lực lượng
(giam chân địch ở Thủ đô HN trong 60 ngày, chiến thắng Việt Bắc 1947, chiến thắng Biên giới 1950).
Về văn hóa: Chống văn hóa nô dịch, xây dựng nền văn hóa dân chủ mới.
3. Nội dung đường lối kháng chiến giai đoạn 1951-1954
Được bổ sung ở Chính cương Đảng lao động Việt Nam với các nội dung chính:
Xã hội Việt Nam có ba tính chất: Dân chủ nhân dân, một phần thuộc địa và nửa phong kiến.
Mục đích KC: giải quyết mâu thuẫn giữa chế độ dân chủ nhân dân với chủ nghĩa đế quốc xâm lược.
Đối tượng CM: đối tượng chính là để quốc Pháp xâm lược. Đối tượng phụ là phong kiến phản động.
Nhiệm vụ của cách mạng: đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập cho dân
tộc; xoá b@ những di tích phong kiến, làm cho người cày có ruộng; phát triển chế độ
dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho CNXH.
Động lực của cách mạng Việt Nam: Giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư
sản dân tộc, thân sĩ yêu nước. Trong đó nền tảng là công – nông – trí thức.
Tính chất của cách mạng là: Dân tộc, dân chủ, nhân dân. Quá trình phát triển của
cách mạng trải qua 3 giai đoạn: hoàn thành giải phóng dân tộc, hoàn chỉnh chế độ
dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng CNXH.
Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động Việt Nam.
4. Ý nghĩa thực tiễn của đường lối Kết quả:
Về kinh tế: Tiến hành cải cách ruộng đất từ 12/1953 (kéo dài đến 1956). Sau cải cách
ruộng đất 810.000 hécta ruộng đất ở đồng bằng và trung du miền Bắc đã được chia cho
2 triệu hộ nông dân. Nhân dân (nông dân) rất phấn khởi, tin tưởng – hăng hái sản xuất,
chi viện cho tiền tuyến. Củng cố tinh thần cho bộ đội đang trực tiếp chiến đấu ngoài chiến trường.
Về quân sự: Thắng lợi Đông Xuân năm 1953-1954, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ.
Ngoại giao: Ngày 8/5/1954, Hội nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở
Đông Dương khai mạc. Ngày 21/7/1954, Hiệp định Geneve được ký kết. Ý nghĩa:
Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi to lớn, có ý nghĩa
lịch sử quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ của dân tộc Việt Nam; có tính lan t@a rộng lớn trong khu vực và mang tầm vóc thời đại sâu sắc.
Buộc Pháp phải thừa nhận độc lập chủ quyền của Việt Nam. Miền Bắc được hoàn toàn
giải phóng, tạo điều kiện để miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội. Mở ra một kỷ nguyên
mới trong lịch sử dân tộc: Độc lập tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đã chấm dứt chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp được Đế quốc Mỹ giúp sức. Bảo
vệ và phát triển thành quả của cách mạng tháng Tám, hoàn thành về cơ bản cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Lần đầu tiên trong lịch sử phong trào giải phóng dân tộc, một nước thuộc địa nh@ bé đã
đánh thắng một cường quốc thực dân, nó có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu
tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ ở các châu lục Á, Phi, Mỹ Latinh.
Ngăn chặn âm mưu mở rộng chiến tranh của Mỹ, mở ra thời kỳ sụp đổ của hệ thống
thuộc địa thực dân cũ của Pháp trên toàn thế giới. Đánh giá
Từ đó chúng ta có thể thấy đường lối kháng chiến của Đảng là sự kế thừa, nâng lên tầm
cao mới tư tưởng quân sự truyền thống của cha ông ta, là sự vận dụng lý luận chiến
tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin và kinh nghiệm quân sự một số nước anh em
vào điều kiện Việt Nam, vừa phù hợp với hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ.
Đường lối kháng chiến của Đảng thể hiện tư tưởng kết hợp độc lập dân tộc và CNXH
trong điều kiện chiến tranh cách mạng bảo vệ Tổ quốc. Đó là đường lối đấu tranh nhân
dân, toàn dân đánh giặc, tập trung vào nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc.
Nhiệm vụ cách mạng ruộng đất, chống phong kiến được tiến hành từng bước, kết hợp
và phục vụ cho nhiệm vụ chống đế quốc. Đường lối đó là đúng đắn, sáng tạo.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chứng minh sự tài tình của việc
hoạch định đường lối, cũng như tổ chức chỉ đạo kháng chiến của Đảng. Với chiến thắng
Điện Biên Phủ – kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi cho thấy Đảng đạt
tầm cao tư tưởng và trí tuệ Việt Nam, cũng như thời đại.
Câu 6: Hoàn cảnh lịch sử, đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1964? Đường lối
này có thể hiện sự sáng tạo, đúng đắn hay không?
1. Đặc điểm Việt Nam sau 7/1954
Cuộc kháng chiến của ta vì chính nghĩa và có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng CSVN, người
đại biểu trung thành cho lợi ích sống còn của dân tộc.
Quân dân cả nước với tinh thần yêu nước, bất khuất, chịu đựng mọi hy sinh gian khổ, chiến
đấu cho độc lập, tự do của tổ Quốc, đặc biệt là sự đấu tranh quyết liệt một mất một còn của đồng bào Nam Bộ.
Công cuộc XDCNXH ở miền Bắc giành nhiều thắng lợi làm cho miền Bắc giữ vững vai trò
căn cứ địa của cả nước, hậu phương lớn đối với cách mạng miền Nam. Đồng thời đánh bại 2
cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Đế quốc Mỹ bảo vệ hậu phương
lớn của tuyền tuyến lớn.
Sự đoàn kết chiến đấu của nhân dân 3 nước Việt Nam – Lào – Camphuchia, và sự giúp đỡ ủng
hộ của các nước XHCN anh em và nhân dân tiến bộ thế giới. Đại hội III:
Đường lối chiến lược chung: 2 chiến lược ở 2 miền: CM XHCN ở miền Bắc và CM DTDC ở miền Nam.
Mục tiêu chung: cả 2 nhiệm vụ đều hướng tới mục tiêu chung là GP hoàn toàn miền Nam, TN ĐN.
Vị trí:CM XHCN ở MB giữ vai trò hậu phương lớn; CM GPDT ở MN giữ vai trò tiền tuyến lớn...
Mối quan hệ: Hậu phương MB chi viện tiền tuyến MN, ngược lại Tiền tuyến MN
thắng lớn góp phần bảo vệ vững chắc MB XHCN
Triển vọng của CM: gay go, gian khổ, lâu dài nhưng nhất định thắng lợi.
XD chủ nghĩa XH ở MB: đưa MB từ sản xuất nh@ lên sản xuất lớn XHCN, XD MB
tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH. XD MB thành cái nền, cái gốc, cơ
sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà...; Tiến hành CNH XHCN ở MB. Sáng tạo
So với quan điểm thịnh hành của chủ nghĩa Mác – Lenin thì chỉ có thể xây dựng chủ
nghĩa xã hội trong điều kiện hòa bình còn Việt Nam quyết định xây dựng chủ nghĩa xã
hội trong điều kiện vẫn tiến hành chiến tranh.
Một đất nước nhưng 2 nhiệm vụ:
-Ở miền Bắc thì tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, còn ở miền Nam thì tiến
hành chiến tranh giải phóng dân tộc và có mối liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung
cho nhau, huy động sức mạnh của cả hai miền, trở thành sức mạnh tổng hợp để giải
phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Và sáng tạo xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện chiến tranh là cái sáng tạo chưa
từng có tiền lệ trong lịch sử thế giới hiện đại
Sáng tạo so với học thuyết Mác – Lenin.
Sau này nhà sử học người Nhật Singô Sibata có nói rằng sáng tạo của HCM và Đảng
lao động Việt Nam đấy là quyết định một đất nước nhưng mà hai nhiệm: vụ xây dựng
chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vẫn tiến hành chiến tranh.
Nhờ đó chúng ta huy động được sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại
-Sức mạnh dân tộc đó là: miền Bắc là hậu phương, miền Nam là tiền tuyến.
-Sức mạnh thời đại: Đó chính là cả ba dòng thác cách mạng trên thế giới đều ủng hộ Việt Nam.
-Sức mạnh thời đại sau thế chiến lần thứ hai đấy chính là Cách mạng xã hội chủ
nghĩa và các phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới: miền Nam thì đang đấu tranh chống Mỹ
-Phong trào lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế Thế Giới dân chủ.
Tất cả thể hiện ở đại hội III: Chủ nghĩa xã hội ở miền Nam và cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng chủ nghĩa xã hội khi vẫn đang tiến hành chiến tranh. Tính độc lập:
+Chúng ta đưa ra các chủ chương khi mà các nước trên thế giới đều không thuận
nhưng chúng ta vẫn giữ nguyên cái chủ chương của Việt Nam.
+Chúng ta chỉ nhận viện trợ về vật chất, cổ vũ về mặt tinh thần chứ chúng ta
không nhận cố vấn quân sự, không nhận quân tình nguyện viên chiến đấu
Đường lối của Việt Nam hoàn toàn độc lập trong kháng chiến chống Mỹ, tư duy độc
lập tự chủ của Đảng trong việc đưa ra đường lối cách mạng của miền Nam Việt
Nam, không chịu ảnh hưởng của các nước trên thế giới cũng không ảnh hưởng chi
phối bởi hai nước lớn là Liên Xô và Trung Quốc. Và khi kết thúc chiến tranh kháng
chiến chống Mỹ chúng ta cũng tự đàm phán với Mỹ để kết thúc chứ không cần đến
sự họp bàn của các nước lớn như cuộc kháng chiến chống Pháp.
Câu 7. Trình bày quá trình tìm tòi con đường đổi mới đất nước của Đảng (1979 – 1986)?
Từ thực tiễn của đất nước 1975 – 1986, anh (chị ) hãy nói cảm nhận của mình về đời
sống xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
1. Quá trình tìm tòi con đường đổi mới đất nước của Đảng (1979 – 1986)
Bối cảnh lịch sử Việt Nam trước năm 1979
Đất nước hòa bình thống nhất
Hậu quả của chiến tranh
Việt Nam tiếp tục đối mặt với sự chống phá của các thế lực thù địch, hai cuộc chiến
tranh biên giới và nghĩa vụ quốc tế với nhân dân Campuchia
Sai lầm của đường lối phát triển kinh tế - xã hội tại ĐH IV, ĐH V dẫn đến kinh tế - xã
hội chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp khó khăn, thiếu thốn về nhiều măt
Quá trình tìm tòi con đường đổi mới đất nước của Đảng
a) Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng và những đổi mới bước đầu trong chính
sách phát triển sản xuất
- Đường lối phát triển kinh tế - xã hội Đại hội IV
Mục tiêu: Đưa nền sản xuất nước ta từ sản xuất nh@ lên sản xuất lớn XHCN
Đẩy mạnh CNHXHCN tập trung cho CN nặng và xây dựng cơ bản
Tiếp tục cải tạo XHCN ở miền Nam và duy trì cơ chế kế hoạch hóa tập trung trong nền kinh tế
- Tình hình kinh tế - xã hội nhiệm kỳ Đại hội IV: Nhiệm kỳ 1976 – 1980, kinh tế - xã hội Việt
Nam gặp khó khăn lớn, các chỉ tiêu quan trọng không đạt so với yêu cầu, nhiều chỉ tiêu thấp
hơn năm 1976, do hạn chế của đường lối kinh tế - xã hội Đại hội IV
- Bước đột phá thứ nhất: Hội nghị Trung ương 6 (8/1979) là bước đầu tiên của đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế với chủ trương khắc phục những khuyết điểm, sai lầm trong quản lý kinh
tế, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, phá b@ những rào cản để cho “sản xuất bung ra”. Hội đồng
Chính phủ ra quyết định (10-1979) về việc tận dụng đất đai nông nghiệp để khai hoang, phục
hoá được miễn thuế, trả thù lao và được sử dụng toàn bộ sản phẩm; quyết định xóa b@ những
trạm kiểm soát để người sản xuất có quyền tự do đưa sản phẩm ra trao đổi ngoài thị trường.
Tháng 1/1981, Chỉ thị 100 – CT/TU về thực hiện cơ chế khoán trong nông nghiệp. Trong lĩnh
vực công nghiệp, Chính phủ ban hành Quyết định số 25-CP (1-1981) về quyền chủ động sản
xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh và Quyết định số
26-CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền
thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước.
b) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng và các bước đột phá tiếp tục đổi mới kinh tế
- Những đổi mới bước đầu trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội Đại hội V: Nhiệm vụ của
chặng đường đầu tiên: ổn định và cải thiện một bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân; coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu
- Bước đột phá thứ hai : Hội nghị BCHTƯ Đảng 8 ( 6/ 1985) chủ trương xóa bỏ cơ chế tập
trung quan liêu, bao cấp; xoá
bỏ chế độ tem phiếu trong lưu thông hàng hóa , điều chỉnh giá
lương tiền lần 2 vào 9/1985.
- Bước đột phá thứ ba: Hội nghị Bộ Chính trị khoá V (8-1986) đưa ra “Kết luận đối với một
số vấn đề thuộc về quan điểm kinh tế” về phát triển nhiều thành phần kinh tế cho phép kinh
tế tư nhân kinh doanh trong một số ngành nghề, xóa cơ chế bao cấp, chuyển sang cơ chế một giá