



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61458992
Câu 1: Khái niệm và bản chất của quá trình dạy học. ● Khái niệm:
Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của
người dạy, người học tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tự tổ chức, tự điều khiển
hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện tốt mục đích dạy học, qua
đó, phát triển nhân cách. ● Bản chất:
* Căn cứ xác định bản chất của quá trình dạy học
- Mối quan hệ giữa nhận thức và dạy học trong sự phát triển xã hội:
Trong xã hội diễn ra hoạt động nhận thức của loài người và hoạt động dạy học cho thế hệ
trẻ. Trong đó, hoạt động nhận thức của loài người có trước hoạt động dạy học và là nhu
cầu tất yếu của xã hội. Tuy nhiên, hoạt động của người học trong dạy học diễn ra trong
môi trường sư phạm đặc biệt và có sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển của thầy. - Mối
quan hệ giữa dạy và học, thầy và trò:
Dạy và học là hai hoạt động đặc trưng cơ bản của quá trình dạy học có mối quan hệ
thống nhất biện chứng với nhau. Hoạt động giảng dạy của thầy và hoạt động học tập
của trò là nhằm thúc đẩy hoạt động nhận thức của người học chiếm lĩnh nội dung học tập
được quy định trong chương trình dạy học nhằm thực hiện tốt mục tiêu nhiệm vụ dạy học.
* Bản chất của quá trình dạy học là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức có tính
chất độc đáo của người học dưới sự tổ chức, định hướng, điều khiển của người giáo
viên nhằm giúp người học chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kỹ xảo trên cơ sở đó
phát triển các phẩm chất và năng lực, đáp ứng mục tiêu dạy học.
Ý 1: Quá trình nhận thức của học sinh giống với các quá trình nhận thức khác
(nhận thức thông thường và nhận thức của nhà khoa học) 1.1.
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người thông qua
chủ thể – đó là sự phản ánh tâm lý của con người bắt đầu từ cảm giác, tri giác đến tư duy,
tưởng tượng. Sự học tập của học sinh cũng là quá trình như vậy. 1.2.
Quá trình nhận thức của học sinh cũng diễn ra theo quy luật nhận
thứcchung của loài người. Quy luật này được phản ánh trong công thức nổi tiếng của
Lênin “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn,
đó là con đường biện chứng duy nhất của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”. 1.3.
Trong quá trình nhận thức, con người muốn nhận thức đầy đủ một
vấnđề, một sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, cần phải huy động các thao lOMoAR cPSD| 61458992
tác tư duy (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, phán đoán, suy lý…) ở mức độ cao
nhất. Việc huy động các thao tác tư duy cũng không theo một trình tự đơn thuần mà đó là
một sự phối hợp sáng tạo tùy thuộc vào mỗi cá nhân. 1.4.
Kết quả nhận thức học sinh nói riêng và loài người nói chung đều
cóđiểm chung là làm cho vốn hiểu biết của chủ thể tăng lên. Sau mỗi một giai đoạn
nhận thức, vốn hiểu biết của chủ thể tăng lên nhờ sự tích lũy những tri thức, hình thành
những kinh nghiệm mới trong quá trình nhận thức của mình.
Ý 2: Tính độc đáo quá trình nhận thức của học sinh trong quá trình học tập (điểm khác
biệt với nhận thức thông thường và nhận thức của nhà khoa học)
+ Trong dạy học, quá trình nhận thức của học sinh diễn ra trong điều kiện sư phạm
đặc biệt: có chương trình, kế hoạch dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, hình thức
tổ chức dạy học, điều kiện phương tiện dạy học được tổ chức một cách khoa học; có sự
tổ chức, hướng dẫn, điều khiển, kiểm tra đánh giá hoạt động học của người giáo viên
nhằm thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ dạy học. Vì vậy, hoạt động nhận thức của học
sinh trong dạy học được tối ưu hoá, chỉ trong thời gian học tập ngắn, học sinh đã nắm
vững được hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách hiệu quả.
+ Mục đích quá trình nhận thức của học sinh là nhận thức được cái mới đối với
bản thân mình, rút ra từ kho tàng hiểu biết chung của nhân loại. Những tri thức này
rút ra từ tri thức khoa học của các ngành khoa học tương ứng và được gia công về mặt sư
phạm thể hiện trong nội dung dạy học. Trong khi đó, mục đích quá trình nhận thức của
nhà khoa học là mang lại cái mới không chỉ cho nhà khoa học mà cho cả nhân loại về tri
thức đó, một chân lý mới làm sâu sắc và phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại.
+ Kết quả quá trình nhận thức của học sinh là nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,
hòa được những tri thức đ gg ó vào hệ thống vốn kinh nghiệm của bản thân mình, lưu trữ
được bền vững, khi cần có thể tái hiện và vận dụng được trong cuộc sống. Vì vậy những
tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được hình thành ở học sinh p hải được kiểm tra, đánh giá một
cách có kế hoạch và có hệ thống nhằm đảm bảo tính vững chắc của tri thức thực hiện
những yêu cầu về mặt dạy học và giáo dục. Trong quá trình nhận thức của học sinh, phải
có khâu kiểm tra và đánh giá, đảm bảo cho quá trình này hợp thành một chu trình kín.
Quá trình nhận thức của học sinh trong dạy học luôn mang ý nghĩa giáo dục, bởi
thông qua dạy học các môn học, người học lĩnh hội tri thức khoa học các môn học trên
cơ sở đó hình thành được cơ sở thế giới quan khoa học, nhân sinh quan đúng đắn, phát
triển trí tuệ và những phẩm chất đạo đức của người công dân, người lao động mà xã hội yêu cầu.
Như vậy: Từ những phân tích trên cho thấy, quá trình dạy học là nơi diễn ra hoạt
động tương tác giữa thầy và trò, hoạt động dạy và hoạt động học, trong đó giáo viên là lOMoAR cPSD| 61458992
người tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh nhằm thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ dạy học.
* Trong quá trình dạy học, giáo viên cần lưu ý để dạy học mang lại hiệu quả:
- Dạy học phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo hoạt động học tập
củahọc sinh tham gia vào quá trình dạy học.
- Tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh một cách khoa học dựa trên cơ
sởquy luật nhận thức, các lý thuyết hoạt động học tập nhằm thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ dạy học.
- Đảm bảo ý nghĩa giáo dục của dạy học, được thể hiện trong mọi hoạt động, mọi
khâu,mọi thành tố của quá trình dạy học. Ví dụ: nội dung dạy học, phương pháp, hình
thức tổ chức dạy học, mối quan hệ giao tiếp ứng xử của giáo viên với học sinh…
Câu 2: Các quy luật cơ bản của quá trình dạy học.
● Quy luật cơ bản của quá trình dạy học:
Quy luật dạy học phản ánh mối quan hệ chủ yếu, tất yếu và bền vững giữa các
thành tố trong cấu trúc của quá trình dạy học (và giữa các yếu tố trong từng thành tố).
● Các quy luật dạy học bao gồm:
- Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa môi trường kinh tế - xã hội vănhoá,
khoa học công nghệ với các thành tố của quá trình dạy học
- Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo viên vớihoạt
động học của học sinh
- Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa dạy học và giáo dục
- Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ
- Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa mục đích, nội dung, phươngpháp,
phương tiện của quá trình dạy học.
Trong các quy luật trên, quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa hoạt động
dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh được coi là quy luật cơ bản của quá trình dạy học.
Câu 3: Một số biện pháp xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho học sinh.
● Khái niệm động cơ học tập: lOMoAR cPSD| 61458992
Động cơ học tập là những nhân tố kích thích, thúc đẩy tính tích cực, hứng thú học tập liên
tục của người học nhằm đạt kết quả về nhận thức, phát triển nhân cách và hướng tới mục
đích học tập đã đề ra.
● Biện pháp thúc đẩy động cơ học tập:
- Thầy cô và phụ huynh học sinh cần có sự trao đổi, liên lạc thường xuyên để cùng đưara
những hướng giải quyết, những tác động đến trẻ, khuyến khích trẻ học tập, có những
động viên, khen thưởng phù hợp khi các em đạt kết quả tốt hoặc có tiến bộ.
- Có những bài tập phù hợp với kiến thức để học sinh có thể luyện tập kiến thức đã
học.Cần có những bài kiểm tra thường xuyên để các em có thói quen học bài và làm bài,
kích thích các em học tập.
- Động viên, khích lệ, khen thưởng hay trách phạt đúng lúc, đúng chỗ, đúng người đểthể
hiện rằng sự cố gắng của các em đã được người khác công nhận, kích thích sự say mê,
hứng thú học bài của học sinh, giúp các con có thể tự tin hơn.
- Các cô cần nắm bắt thông tin của học sinh, tình hình của học sinh đó để có thể dễ
dàngquản lí lớp, có thể nắm bắt được một vài đặc điểm của học sinh để có hướng giáo
dục phù hợp như giúp đỡ các em về học tập, cho phép các em được bộc lộ khả năng của mình.
- Xây dựng quy ước thi đua của lớp. Lớp có thi đua trong học tập, khen thưởng, tráchphạt,
như vậy học sinh sẽ cùng nhau cố gắng. Ví dụ, trong các bài kiểm tra, lớp sẽ có cuộc thi
đua điểm tốt, có mức phần thưởng , hình phạt cụ thể, rõ ràng, các bạn học sinh cạnh
tranh công bằng, kích thích ý chí học tập của các em.
- Cần đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất để thiết kế bài giảng bắt mắt, thu hút học
sinh,kích thích sự ham học, ham mê tìm tòi, sáng tạo, khám phá của học sinh.
Câu 4. Các nguyên tắc dạy học ở trường phổ thông.
Nguyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lí luận dạy
học, chỉ đạo toàn bộ tiến trình dạy và học nhằm thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ dạy
học. Hệ thống các nguyên tắc dạy học ở trường phổ thông bao gồm:
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục;
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn;
- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự (tính kế thừa, đảm bảo mối liên hệlô- gic);
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính cụ thể và tính trừu tượng; lOMoAR cPSD| 61458992
- Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc của tri thức và sự phát triển năng lực nhận thứccủa học sinh;
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng;
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong quátrình dạy học;
- Nguyên tắc đảm bảo xúc cảm, tình cảm tích cực của dạy học;
- Nguyên tắc đảm bảo chuyển dần quá trình dạy học sang quá trình tự học.
Như vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên với tư cách là chủ thể của hoạt động
dạy luôn giữ vai trò chủ đạo, học sinh với tư cách là chủ thể của hoạt động học luôn có
giữ vai trò chủ động. Sự tương tác giữa hai chủ thể này trong quá trình dạy học đảm bảo
cho sự tồn tại của quá trình dạy học. Mặt khác, để tổ chức hoạt động dạy học trong nhà
trường phổ thông cần có đầy đủ các thành tố khác cùng tham gia trong sự tương thích với
nhau, bao gồm: mục tiêu, nhiệm vụ dạy học; nội dung, phương pháp, phương tiện, hình
thức tổ chức dạy học, môi trường dạy học.
Bản chất và đặc điểm của quá trình dạy học ngày nay cùng với các nguyên tắc dạy
học giúp cho giáo viên tổ chức có hiệu quả hoạt động học tập cho học sinh. Động lực và
logic của quá trình dạy học là cơ sở khoa học cho sự vận động và phát triển của quá trình dạy học.
Câu 5: Khái niệm và chức năng của mục tiêu dạy học. - Khái niệm:
Mục tiêu dạy học là kết quả về sự phát triển nhân cách của người học cần đạt được
sau khi kết thúc một giai đoạn hay một quá trình dạy học.
Mục tiêu dạy học của quá trình dạy học hiện đại luôn hướng tới những công việc
hay những hành động mà người học có thể làm được sau khi kết thúc khóa học, năm học,
học kỳ hay một môn học. - Chức năng:
+ Chức năng định hướng: Giáo viên căn cứ vào mục tiêu dạy học để thiết kế nội dung dạy
học, lựa chọn phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhằm mang
lại hiệu quả tối ưu cho hoạt động dạy học. Còn học sinh, trên cơ sở ý thức được mục tiêu
dạy học sẽ có ý thức, hành vi điều chỉnh hoạt động học tập của bản thân để hoàn thành
tốt các nhiệm vụ dạy học.
+ Chức năng kiểm tra - đánh giá: Mục tiêu dạy học như là những thước đo mà giáo viên
căn cứ vào đó để đánh giá kết quả học tập của học sinh, cũng như tự đánh giá hiệu quả
hoạt động dạy học của bản thân. lOMoAR cPSD| 61458992
=> Đặt ra yêu cầu đối với mục tiêu dạy học: (Ý này có thể viết hoặc không nhé)
- Mô tả được các kết quả, khả năng được kỳ vọng hoặc mong muốn và nội dung hayđiều
kiện, môi trường mà các khả năng đó được áp dụng.
- Các mục tiêu phức hợp cần phải được xác định theo kiểu phân tích và đủ mức cụ thể,rõ
ràng đối với các hành vi, khả năng, kết quả học tập được kỳ vọng.
- Các mục tiêu phải xây dựng có tính phân hoá, phân tầng giữa các học sinh có trình độvà năng lực khác nhau.
- Mục tiêu có tính phát triển (tạo tiềm năng, tiềm lực), thể hiện các con đường đi tới
chứkhông chỉ là các điểm cuối cùng.
- Mục tiêu phải thực tế và chỉ bao gồm những gì được hiện thực hoá thành vốn tri thức,kĩ
năng, kinh nghiệm ở học sinh trong lớp học.
- Phạm vi của các mục tiêu phải đủ rộng để chứa đựng tất cả các kết quả đầu ra mà cơsở
giáo dục chịu trách nhiệm.
Câu 6: Khái niệm và cấu trúc nội dung dạy học phổ thông.
- Khái niệm: Nội dung dạy học là hệ thống những tri thức, kinh nghiệm thực hiện
nhữngcách thức hoạt động đã biết, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và kinh nghiệm về
thái độ đối với thế giới, con người, được xử lý về mặt sư phạm và được định hướng về
mặt chính trị, mà người giáo viên cần tổ chức cho học sinh lĩnh hội để đảm bảo hình
thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu dạy học đã định.
- Từ định nghĩa trên, có thể thấy những đặc trưng của NDDH là: ( Ý này có thể viếthoặc không nhé )
+ NDDH là một hệ thống bao gồm đầy đủ các yếu tố của cấu trúc kinh nghiệm xã hội
cần truyền đạt cho thế hệ trẻ
+ NDDH được lựa chọn và xây dựng từ kinh nghiệm xã hội của loài người theo một định
hướng chính trị nhất định. Điều đó nói lên tính lịch sử, tính giai cấp của nội dung dạy học.
+ Nội dung dạy học đã được xử lí về mặt sư phạm để phù hợp với đặc điểm tâm lí – sinh
lí của học sinh ở từng lứa tuổi, từng cấp học, bậc học )
- Cấu trúc của nội dung dạy học
+ Nội dung dạy học có 4 thành phần, được cụ thể hóa như sau: lOMoAR cPSD| 61458992
● Thứ nhất: Tri thức về nhiều lĩnh vực khác nhau (tự nhiên, xã hội, tư duy, kĩ thuật, phương
pháp…). Sự lĩnh hội các tri thức này sẽ giúp cho học sinh có vốn hiểu biết phong phú, có
công cụ để hình thành thế giới quan khoa học.
● Thứ hai: Kinh nghiệm tiến hành các phương thức hoạt động đã biết (KN, KX chung và
chuyên biệt, phương pháp, quy trình…). Nắm vững yếu tố này giúp học sinh vận dụng tri
thức để giải quyết vấn đề cụ thể.
● Thứ ba: Kinh nghiệm tiến hành các hoạt động sáng tạo (vận dụng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo,
phương pháp và các thao tác tư duy trong những tình huống mới, không giống mẫu). Nhờ
có yếu tố này mà học sinh có năng lực giải quyết vấn đề mới, cải tạo hiện thực, thực hành nghiên cứu khoa học
● Thứ tư: Kinh nghiệm về thái độ cảm xúc đánh giá đối với thế giới, đối với con người.
Thành phần này thể hiện tính giáo dục của nội dung dạy học. Đây là các tri thức, thái độ
và hành vi trong các quan hệ theo những chuẩn mực xã hội. Lĩnh hội yếu tố này sẽ tạo
nên niềm tin, lí tưởng, hình thành hệ thống giá trị đúng đắn ở học sinh.
+ Mối quan hệ giữa các thành phần của nội dung dạy học
● Bốn thành phần trên của nội dung dạy học liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau:
Tri thức là cơ sở hình thành KN, KX. Tri thức và KN, KX lại là cơ sở để tạo ra kinh
nghiệm hoạt động sáng tạo. Không có tri thức thì không thể có KN, KX và cũng không
thể có hoạt động sáng tạo. Bởi hoạt động sáng tạo bắt nguồn từ những cái đã biết, trên cơ
sở đó mới có những thay đổi, chỉnh sửa thích hợp. Song, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo
không phải tỉ lệ thuận với khối lượng tri thức mà phụ thuộc vào cách thức lĩnh hội và vận
dụng tri thức đó. Đến lượt mình, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo lại tạo điều kịện để lĩnh
hội tri thức, KN, KX nhanh hơn, tốt hơn, sâu sắc hơn. Nắm vững các thành phần trên giúp
học sinh có thái độ đánh giá đúng đắn với TN, XH và con người. Còn thái độ tác động
trở lại tạo ra sự tích cực hay không tích cực trong việc lĩnh hội TT, KN, KX và hoạt động sáng tạo.
● Bốn thành phần này không thể thiếu trong NDDH để giáo dục nên con người phát triển
toàn diện, cho nên không được coi nhẹ bất cứ thành phần nào.
Câu 7: Mối quan hệ giữa các thành phần của nội dung dạy học.
a) Khái niệm nội dung dạy học:
- Nội dung dạy học là hệ thống những tri thức, kinh nghiệm thực hiện những cách thức
hoạt động đã biết, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và kinh nghiệm về thái độ đối với thế
giới, con người, được xử lí về mặt sư phạm và được định hướng về mặt chính trị, mà
người giáo viên cần tổ chức cho học sinh lĩnh hội để đảm bảo hình thành và phát triển
nhân cách học sinh theo mục tiêu dạy học đã định.
- Và nội dung dạy học là thành tố đặc biệt quan trọng của quá trình dạy học. Nội dung dạy
học quy định nội dung hoạt động của cả thầy và trò trong suốt quá trình dạy học, hay nói
cách khác nó xác định giáo viên dạy cái gì và học sinh học cái gì trong quá trình dạy học
nhằm thực hiện mục tiêu nhiệm vụ dạy học. (Nếu đủ thời gian thì viết thêm)
b) Các thành phần của nội dung dạy học: Nội dung dạy học có 4 thành phần lOMoAR cPSD| 61458992
- Thứ nhất: Tri thức về nhiều lĩnh vực khác nhau (tự nhiên, xã hội, tư duy, kĩ thuật, phương
pháp…). Sự lĩnh hội các tri thức này sẽ giúp cho học sinh có vốn hiểu biết phong phú, có
công cụ để hình thành thế giới quan khoa học.
- Thứ hai: Kinh nghiệm tiến hành các phương thức hoạt động đã biết (kĩ năng, kĩ xảo
chung và chuyên biệt, phương pháp, quy trình…). Nắm vững yếu tố này giúp học sinh
vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề cụ thể.
- Thứ ba: Kinh nghiệm tiến hành các hoạt động sáng tạo (vận dụng tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo, phương pháp và các thao tác tư duy trong những tình huống mới, không giống mẫu).
Nhờ có yếu tố này mà học sinh có năng lực giải quyết vấn đề mới, cải tạo hiện thực, thực
hành nghiên cứu khoa học
- Thứ tư: Kinh nghiệm về thái độ cảm xúc đánh giá đối với thế giới, đối với con người.
Thành phần này thể hiện tính giáo dục của nội dung dạy học. Đây là các tri thức, thái độ
và hành vi trong các quan hệ theo những chuẩn mực xã hội. Lĩnh hội yếu tố này sẽ tạo
nên niềm tin, lí tưởng, hình thành hệ thống giá trị đúng đắn ở học sinh.
c) Mối quan hệ giữa các thành phần:
- Bốn thành phần trên của nội dung dạy học liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau:
· Tri thức là cơ sở hình thành kĩ năng, kĩ xảo.
· Tri thức và kĩ năng, kĩ xảo lại là cơ sở để tạo ra kinh nghiệm hoạt động sáng tạo. Không
có tri thức thì không thể có kĩ năng, kĩ xảo và cũng không thể có hoạt động sáng tạo. Bởi
hoạt động sáng tạo bắt nguồn từ những cái đã biết, trên cơ sở đó mới có những thay đổi, chỉnh sửa thích hợp.
· Song, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo không phải tỉ lệ thuận với khối lượng tri thức mà
phụ thuộc vào cách thức lĩnh hội và vận dụng tri thức đó. Đến lượt mình, kinh nghiệm
hoạt động sáng tạo lại tạo điều kịện để lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nhanh hơn, tốt hơn, sâu sắc hơn.
· Nắm vững các thành phần trên giúp học sinh có thái độ đánh giá đúng đắn với tự nhiên,
xã hội và con người. Còn thái độ tác động trở lại tạo ra sự tích cực hay không tích cực
trong việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và hoạt động sáng tạo.
- Bốn thành phần này không thể thiếu trong nội dung dạy học để giáo dục nên con người
phát triển toàn diện, cho nên không được coi nhẹ bất cứ thành phần nào.
Câu 8: Một số kĩ thuật và phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của người học. 1. Phương pháp dạy học
a) Khái niệm: phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phù hợp, phối
hợp thống nhất của người dạy và người học nhằm thực hiện tối ưu các nhiệm vụ dạy học.
b) Các phương pháp dạy học: chia làm 2 nhóm phương pháp * Phương pháp dạy học truyền thống:
- Phương pháp thuyết trình: lOMoAR cPSD| 61458992
+) Thuyết trình là phương pháp giáo viên dùng lời nói, cử chỉ, điệu bộ để trình bày, giải
thích nội dung bài dạy một cách có hệ thống, lôgíc.
+) Đây là phương pháp được sử dụng lâu đời nhất trong dạy học và có thể được vận dụng
trong hầu hết các khâu của quá trình dạy học.
+) Nguồn thông tin phong phú trong thời đại CNTT không làm giảm ý nghĩa của thuyết
trình, mà ngược lại, càng nâng cao yêu cầu đối với thuyết trình.
+) Các dạng thuyết trình phổ biến:
- Giảng thuật là dạng thuyết trình, trong đó giáo viên tường thuật lại các sự kiện,
hiệntượng một cách có hệ thống, thường được sử dụng trong các môn khoa học xã hội
(lịch sử, ngữ văn, địa lí..), có yếu tố mô tả và trần thuật.
- Giải giải là dạng thuyết trình, trong đó giáo viên dùng những luận cứ, số liệu để
chứngminh, làm sáng tỏ vấn đề, giúp học sinh hiểu được tri thức cần lĩnh hội.
- Giảng diễn là dạng thuyết trình, trong đó giáo viên trình bày một cách có hệ thống
nộidung học tập nhất định. Hình thức này được sử dụng phổ biến ở các lớp cuối cấp
trung học phổ thông và các trường đại học
- Phương pháp vấn đáp:
+) Trong quá trình dạy học, giáo viên thường sử dụng hệ thống các câu hỏi để tích cực
hoá hoạt động nhận thức; khai thác kinh nghiệm thực tiễn và bồi dưỡng cho học sinh năng
lực giao tiếp bằng lời. Ở chiều ngược lại, học sinh cũng có thể chủ động đưa ra các câu
hỏi cho giáo viên nhằm biết rộng hơn, hiểu sâu sắc hơn nội dung học tập.
+) Phương pháp vấn đáp nếu vận dụng khéo léo sẽ giúp giáo viên nhanh chóng thu được
tín hiệu ngược (phản hồi) từ học sinh để điều chỉnh kịp thời hoạt động dạy học, đồng thời
tạo không khí sôi nổi. Tuy nhiên, nếu vận dụng không khéo, sẽ làm mất thời gian hoặc
giảm hiệu quả của cuộc đối thoại.
- Phương pháp sử dụng sách giáo khoa, tài liệu, phiếu học tập (học liệu)
+) Sách giáo khoa, tài liệu học tập trên giấy in hoặc dưới dạng số (sách điện tử, sách nói,
sách tương tác, website giáo dục uy tín) có ý nghĩa lớn vì nó là nguồn tri thức phong phú,
được kiểm định và trình bày một cách khoa học, hệ thống và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí học sinh.
+) Giáo viên có thể tổ chức các hoạt động dạy học xoay quanh việc khai thác học liệu như:
- Yêu cầu học sinh tự học một phần sách giáo khoa, tài liệu học tập.
- Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa (tài liệu đọc), phiếu học tập (đọc và
viếttheo mẫu) để thực hiện các nhiệm vụ học tập tự lực và vừa sức.
+) Để phát huy hiệu quả phương pháp này, giáo viên cần lưu ý rèn luyện cho học sinh kĩ
năng đọc hiệu quả (đọc lướt, tìm ý chính; đọc một phần để khai thác thông tin) và viết
hiệu quả (tốc kí, ghi tóm tắt, viết câu đầy đủ; lập dàn ý, diễn đạt ý bằng văn bản).
- Phương pháp dạy học trực quan
+) Trực quan (quan sát trực tiếp) là phương pháp tổ chức cho học sinh tri giác một cách
có chủ định, có kế hoạch nhằm thu thập những sự kiện, hình thành những biểu tượng ban đầu. lOMoAR cPSD| 61458992
+) Học sinh có thể quan sát các sự vật, hiện tượng sinh động trong tự nhiên hoặc được
minh hoạ, biểu diễn bởi giáo viên. Sự quan sát gắn với tư duy sẽ giúp học sinh hình thành
năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực quan sát.
+) Để sử dụng phương pháp trực quan trong lớp học, giáo viên sử dụng thí nghiệm, vật
thật, mô hình, tranh ảnh, máy chiếu đa phương tiện và các phương tiện trực quan khác để
minh hoạ, biểu diễn các hiện tượng, quá trình của tự nhiên, xã hội và tư duy. Qua đó, tạo
hứng thú, kích thích tư duy, giúp học sinh hiểu bài, nhớ lâu.
- Phương pháp dạy học thực hành
+) Vận dụng phương pháp thực hành, giáo viên tổ chức hoạt động của học sinh với thiết
bị, phương tiện, dụng cụ trên lớp, trong phòng thí nghiệm, vườn trường, ở ngoài thiên nhiên…nhằm:
- luyện tập, rèn luyện kĩ năng, kỹ xảo,
- thực nghiệm, hình thành kiến thức,
- thực hành chế tạo sản phẩm thông qua vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
+) Qua đó, bồi dưỡng phẩm chất của nhà khoa học, kĩ sư tương lai như trung thực, chính
xác và kỉ luật. Các nhiệm vụ thực hành cần gắn với lí thuyết, có mục đích, yêu cầu cần
đạt rõ ràng, đảm bảo vừa sức. Hệ thống nhiệm vụ cần hình thành và phát triển ở học sinh
năng lực thực hiện những hành động nhất định trong những hoàn cảnh khác nhau từ đơn
giản đến phức tạp, từ tái tạo đến sáng tạo.
* Các phương pháp dạy học hiện đại
- Dạy học nêu và giải quyết vấn đề
+) Bản chất của dạy học nêu và giải quyết vấn đề là tạo nên một chuỗi những tình huống
có vấn đề hấp dẫn, vừa sức và điều khiển học sinh giải quyết các vấn đề học tập đó thông
qua thực hiện các nhiệm vụ học tập.
+) Tình huống có vấn đề là tình huống khó khăn mà học sinh bằng tri thức đã có, với cách
thức đã biết nỗ lực giải quyết nhưng không thể đạt kết quả. Lúc này xuất hiện mâu thuẫn
nhận thức giữa điều đã biết và điều chưa biết nhưng muốn biết. Kết quả giải quyết vấn
đề, mâu thuẫn đặt ra là tri thức mới, cách làm mới đối với chủ thể nhận thức - ở đây là học sinh.
+) Dạy học nêu và giải quyết vấn đề có các mức độ khác nhau như sau:
– Trì sẽ nh bày có tính chất vấn đề – Tìm tòi bộ phận –Tìm tòi toàn phần. – Tự lực nghiên cứu.
- Phương pháp dạy học qua trò chơi, đóng kịch
+) Trò chơi là hình thức phản ánh hiện thực khách quan qua hoạt động của trẻ em với sự
đan xen của những yếu tố tưởng tượng.
+) Trò chơi có thể được sử dụng nhằm mục đích dạy học. Ví dụ, giáo viên có thể tổ chức
cho học sinh chơi trò chơi để:
- tạo hứng thú, liên kết với kiến thức đã biết;
- hình thành kiến thức qua trải nghiệm (học đếm, làm phép tính cộng trừ,…);
- củng cố, vận dụng kiến thức, kĩ năng một cách nhẹ nhàng, phù hợp với đặc điểm
tâmsinh lí của học sinh. lOMoAR cPSD| 61458992
+) Đóng kịch là phương thức trải nghiệm trong dạy học các môn học như ngữ văn, lịch
sử, giáo dục công dân…Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tham gia xây dựng và
thực hiện kịch bản, qua đó hiểu sâu sắc hơn các nội dung học tập - Phương pháp thảo luận nhóm:
+) Thảo luận nhóm là phương pháp dạy học theo nhóm, trong đó học sinh hợp tác trong
nhóm nhỏ để cùng thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một thời gian nhất định.
+) Trong nhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, học sinh kết hợp giữa làm việc cá nhân,
làm việc theo cặp, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác cùng nhau để giải quyết nhiệm vụ được
giao. Qua đó, mỗi học sinh đạt được sự hiểu biết sâu rộng, đồng thời phát huy tính tự lực
và hợp tác trong học tập.
- Phương pháp dạy học dựa trên tình huống
+) Dạy học dựa trên tình huống là phương pháp dạy học, trong đó việc dạy học được tổ
chức dựa trên những tình huống gắn với cuộc sống thường ngày hoặc thực tiễn lao động, sản xuất.
+) Hoạt động học của học sinh lúc này gần giống như hoạt động của nhà khoa học, kĩ sư
tự lực tìm tòi, khám giá kiến thức mới; xây dựng, thử nghiệm giải pháp mới cho tình huống đặt ra.
+) Tình huống thực tiễn cần có tính chất điển hình, hàm chứa nội dung học tập (tri thức
khái quát), hấp dẫn học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học hoặc phải cấu trúc, liên
kết chúng lại để giải quyết vấn đề.
- Phương pháp dạy học theo dự án
+) Trong dạy học ở đại học và các lớp cuối THPT, giáo viên có thể dạy học một số chủ
đề thông qua hướng dẫn học sinh thiết kế, thực hiện dự án học tập. Phương pháp dạy học
theo dự án có các đặc điểm sau:
– Định hướng học sinh: Học sinh được tham gia vào các giai đoạn của quá trình dạyhọc,
kể cả giai đoạn xác định chủ đề dự án; vai trò của giáo viên là định hướng cho họ. –
Định hướng hành động: Học sinh thực hiện các nhiệm vụ giàu tính thực hành. Lao động
trí óc và chân tay, tư duy và hành động, lí thuyết và thực tiễn kết hợp chặt chẽ với nhau.
– Định hướng sản phẩm : Kết quả của dự án là sản phẩm mang tính chất vật chất hoặchành động.
– Định hướng hợp tác: Học sinh thực hiện nhiệm vụ theo nhóm; mỗi nhóm giải quyếtcác
vấn đề cụ thể, góp phần giải quyết vấn đề chung của dự án của cả lớp.
=> Nhìn chung, trong thực tiễn dạy học, các phương pháp dạy học cần được sử dụng kết hợp
với nhau, thể hiện sự tác động thống nhất giữa giáo viên và học sinh. Sự phân biệt rạch
ròi giữa phương pháp “truyền thống” và “hiện đại” không thực sự cần thiết; quan trọng
hơn cả là hiệu quả của việc phối hợp phương pháp dạy học – thể hiện ở việc học sinh đạt
được các mục tiêu đặt ra đối với bài học. 2. Kĩ thuật dạy học:
- Mỗi phương pháp dạy học cụ thể muốn vận hành được phải dựa vào các kĩ thuật và
phương tiện dạy học. Tương ứng với các phương pháp dạy học tích cực sẽ có các kĩ
thuật dạy học tích cực để vận hành chúng.
- Sau đây là các nhóm kĩ thuật dạy học: lOMoAR cPSD| 61458992
+) Nhóm kĩ thuật công não: Kĩ thuật công não, kĩ thuật 5W1H, kĩ thuật sơ đồ tư duy, kĩ
thuật XYZ, kĩ thuật tia chớp...
+) Nhóm kĩ thuật hợp tác: kĩ thuật khăn phủ bàn, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật ổ bi, kĩ
thuật đắp bông tuyết...
+) Nhóm kĩ thuật phản hồi: kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật bắn bia, kĩ thuật bể cá, kĩ thuật 3 lần 3...
+) Nhóm kĩ thuật đặt câu hỏi: câu hỏi đóng/mở, câu hỏi theo cấp độ nhận thức.
Câu 9: Phương tiện tiện dạy học và vai trò của nó. a) Vai trò:
- Phương tiện dạy học là các thiết bị, dụng cụ, phần mềm ứng dụng CNTT…mà giáo
viên sử dụng để biểu diễn, minh hoạ nội dung dạy học hoặc để tổ chức hoạt động thực
hành, thí nghiệm, chế tạo của học sinh, qua đó nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học.
b) Phân loại phương tiện dạy học:
- Theo tính chất của phương tiện dạy học
+) Phương tiện mang tin. Tự bản thân phương tiện chứa đựng một lượng thông tin nhất
định về nội dung dạy học; ví dụ: tài liệu in, tài liệu số, vật thật, mô hình, tranh ảnh, thẻ
nhớ chứa âm thanh, hình ảnh, video dạy học, phần mềm dạy học,...
+) Phương tiện truyền tin. Dùng để truyền tin tới học sinh; ví dụ: máy vi tính, tivi, máy
chiếu đa phương tiện, máy chiếu vật thể, hệ thống âm thanh,..
- Theo cách sử dụng phương tiện dạy học
+) Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học. Gồm phương tiện truyền thống (bảng, phấn,
bút, tranh ảnh, mô hình, vật thật,…) và phương tiện hiện đại (máy chiếu đa phương tiện,
máy quay/ảnh số, bảng tương tác, bút thông minh, cảm biến, phần mềm, internet…). +)
Phương tiện dùng để hỗ trợ quá trình dạy học. Gồm toàn bộ cơ sở vật chất lớp học, phòng
học bộ môn, vườn trường với hệ thống ánh sáng, âm thanh, internet, tủ, bàn, ghế và các máy scan, in, photocopy,…
- Theo mức độ chế tạo phương tiện dạy học
+) Dụng cụ đơn giản. Có cấu tạo đơn giản, bằng vật liệu dễ kiếm trên thị trường, giá thành
thấp, dễ chế tạo nhưng thường không bền.
+) Thiết bị hiện đại. Được thiết kế, chế tạo công phu bằng vật liệu đắt tiền, có cấu tạo
phức tạp, giá thành cao nhưng sử dụng tiện lợi và tuổi thọ cao.
c) Vai trò của phương tiện dạy học
· Vai trò đối với giáo viên
- Tăng cường khả năng biểu diễn thông tin, hỗ trợ hiệu quả cho giáo viên trong quátrình
tổ chức các hoạt động nhận thức cho người học bởi đảm bảo quá trình dạy học được lOMoAR cPSD| 61458992
sinh động, thuận tiện, chính xác. Máy tính có thể cung cấp thông tin dưới dạng văn bản,
đồ thị, hình ảnh, âm thanh..., giúp trực quan hoá tài liệu dạy học. Giáo viên có thể sử
dụng các phần mềm như PowerPoint, Sway, Prezi để xây dựng bài trình chiếu đa phương
tiện trên lớp. Giáo viên cũng có thể sử dụng các nền tảng CNTT như Mentimeter,
Kahoot, Quizizz, Quizlet, Socrative, Padlet...(trắc nghiệm trực tuyến, lấy phản hồi tức
thì) để tạo môi trường dạy học tương tác, hấp dẫn ngay trên lớp học.
- Rút ngắn thời gian giảng dạy mà vẫn bảo đảm người học lĩnh hội đủ nội dung học tậpmột cách vững chắc.
- Giảm nhẹ cường độ lao động của giáo viên, do đó nâng cao hiệu quả dạy học. Khácvới
giáo viên, máy tính có thể lưu trữ một thông tin nào đó, cung cấp và lặp lại nó cho đến
khi học sinh đạt được mục tiêu sư phạm cần thiết. Trên cơ sở này, sự phát triển của từng
cá thể học sinh trong quá trình dạy học trở thành hiện thực.
- Giúp giáo viên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra và đánhgiá
kết quả học tập của các em được thuận lợi và có hiệu suất cao. Ví dụ: hệ thống quản lí
học tập trên không gian mạng (Learning Management System - LMS), máy tính có thể
điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh thông qua việc cung cấp thông tin,
thu nhận thông tin ngược, xử lí thông tin và đưa ra các giải pháp cần thiết giúp hoạt
động nhận thức của học sinh đạt kết quả cao; mặt khác mở ra cơ hội học tập thường
xuyên, liên tục, tại chỗ.
· Vai trò đối với người học
- Phương tiện dạy học giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tậpbộ
môn, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình
lĩnh hội kiến thức của người học.
- Giúp người học tăng cường trí nhớ, làm cho việc học tập được lâu bền.
- Là phương tiện giúp người học hình thành và rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo cả thao táctrí
tuệ lẫn thao tác vật chất. Cung cấp thêm kiến thức, kinh nghiệm trực tiếp liên quan đến
thực tiễn xã hội và môi trường sống.
- Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn. Phương tiện dạyhọc
tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bề ngoài của đối tượng và các tính lOMoAR cPSD| 61458992
chất có thể tri giác trực tiếp của chúng. Phương tiện dạy học giúp cụ thể hóa những cái
quá trừu tượng, đơn giản hóanhững máy móc và thiết bị quá phức tạp.
- Phương tiện dạy học còn giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt làkhả
năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có độ tin cậy)
Câu 10. Mối quan hệ của phương tiện dạy học với các yếu tố của quá trình dạy học.
Phương tiện dạy học là các thiết bị, dụng cụ, phần mềm ứng dụng CNTT…mà
giáo viên sử dụng để biểu diễn, minh hoạ nội dung dạy học hoặc để tổ chức hoạt động
thực hành, thí nghiệm, chế tạo của học sinh, qua đó nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học.
Phương tiện dạy học góp phần đảm bảo cho học sinh lĩnh hội các biểu tượng,
khái niệm, định luật, các lý thuyết khoa học, các kĩ năng kĩ xảo của chương trình môn
học, nó đảm bảo học sinh biết áp dụng những tri thức và phương pháp đã học được. Các
phương tiện dạy học là công cụ nhận thức thế giới của học sinh, phát triển hứng thú nhận
thức của học sinh, nâng cao tính trực quan của dạy học, gia tăng khả năng tiếp cận, năng
lực tự làm việc của học sinh.
Phương tiện dạy học không chỉ giúp giải phóng sức lao động của giáo viên, nâng
cao hiệu quả dạy học trên lớp mà còn mở rộng không gian, thời gian học tập, làm việc
mọi lúc, mọi nơi, học tập suốt đời trở nên khả thi.
Phương tiện dạy học có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố của quá trình dạy học
như: mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học,…
●Quan hệ của PTDH với mục đích dạy học:
- Mục đích được coi như biểu tượng cần đạt được của quá trình hoạt động mà chủ thể
đã định trước. Nó là cơ sở định hướng đúng cho việc thực hiện nội dung, phương pháp,
tìm kiếm phương tiện hoạt động của chủ thể.
- Mục đích dạy học là cơ sở để chủ thể tiến hành định hướng cho việc lựa chọn phương
tiện dạy học. Tính chất và đặc trưng của mục đích dạy học sẽ quy định tính chất đặc thù
của việc lựa chọn và sử dụng phương tiện dạy học của chủ thể trong quá trình dạy học.
- Mục đích và PTDH luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình vươn lên
chiếm lĩnh đối tượng học tập, có sự chuyển hóa giữa chúng. Bản thân các mục đích bộ
phận một khi đã được thực hiện sẽ trở thành phương tiện cho việc thực hiện mục đích bộ lOMoAR cPSD| 61458992
phân tiếp theo. Mặt khác, khi chủ thể biết cách tìm kiếm để hội đủ các phương tiện cho
hoạt động thì mục đích của nó mới trở thành hiện thực.
●Quan hệ của PTDH với nội dung dạy học
- Mỗi nội dung dạy học cụ thể cần đến các phương pháp cũng như các PTDH đặc thù
khác nhau để giúp thầy chuyển tải và trò lĩnh hội. Việc học sinh nắm vững chắc nội dung
dạy học cụ thể sẽ phụ thuộc vào việc lựa chọn và vận dụng một cách phù hợp có hiệu quả
phương tiện dạy học tương ứng của người giáo viên.
- Nói chung, các phương tiện kỹ thuật có thể được vận dụng vào để tổ chức dạy học cho
nhiều nội dung dạy học khác nhau. Vấn đề là ở chỗ, người giáo viên biết cách tiến hành
khai thác phương tiện trong phạm vi nội dung cụ thể. Ngược lại, PTDH cũng có tác dụng
chi phối sự giảng dạy nội dung dạy học tương ứng .
- Có những loại PTDH chỉ thích hợp với những chuyển tải chính những nội dung dạy
học xác định. Việc lựa chọn đúng các PTDH cho phù hợp với nội dung dạy học tương
ứng sẽ làm tăng hiệu quả chuyển tải chính nội dung dạy học đó.
- Người giáo viên cần am hiểu mối quan hệ này để có sự sáng tạo và tích cực trong việc
tìm chọn và vận dụng hợp lý các PTDH trong quá trình giảng dạy ở trên lớp.
● Quan hệ của PTDH với phương pháp dạy học
- Giữa phương pháp và phương tiện cũng có mối quan hệ qua lại tương hỗ nhau. Phương
tiện hỗ trợ cho việc thực hiện các tác động của phương pháp dạy học. Phương pháp dạy
học khi đã được xác định sẽ cần tới sự trợ giúp của các phương tiện dạy học thích hợp,
ứng với nội dung dạy học nhất định.
- Để làm tăng hiệu quả vận dụng phương pháp dạy học, người ta căn cứ vào thực tiễn
mà nỗ lực tư duy nhằm tìm kiếm cho bằng được các PTDH sẵn có để tiến hành thực hiện
các nhiệm vụ dạy học. Sự lựa chọn được các phương tiện phù hợp sẽ đem lại hiệu quả tối
ưu của sự vận dụng phương pháp dạy học trong quá trình dạy học cụ thể của mỗi một giáo viên.
●Quan hệ của PTDH với hình thức dạy học
- Hình thức tổ chức dạy học là toàn bộ những cách thức tổ chức hoạt động của giáo viên
và người học trong quá trình dạy học ở thời gian và địa điểm nhất định với những phương
pháp, phương tiện dạy học cụ thể nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học.
- Hình thức tổ chức dạy học giúp ta xác định được QTDH cụ thể sẽ được thực hiện ở
đâu?, quy mô như thế nào?, thành phần học sinh tham gia ra sao?. lOMoAR cPSD| 61458992
- Hình thức tổ chức dạy học có quan hệ chặt chẽ với mục đích, nội dung, phương pháp
và phương tiện dạy học
Câu 11. Các đặc điểm của cơ chế học tập theo các lý thuyết học tập và việc vận
dụng các lý thuyết dạy học trong môn học mình sẽ đảm nhận:
●Về thuyết nhận thức: Thuyết nhận thức (Cognitivism) ra đời vào những năm 1920 và
phát triển mạnh trong nửa sau của thế kỉ XX. * Đặc điểm:
- Các lý thuyết nhận thức nghiên cứu quá trình nhận thức bên trong với tư cách là
mộtquá trình xử lý thông tin.
- Quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc và có ảnh hưởng đến hành vi. Con
ngườitiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lý và đánh giá chúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử.
- Trung tâm của quá trình nhận thức là các hoạt động trí tuệ: nhận biết, phân tích và
hệthống hóa các sự kiện và hiện tượng, nhớ lại những kiến thức đã học, giải quyết các
vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới.
- Cấu trúc nhận thức của con người không phải bẩm sinh mà hình thành qua kinhnghiệm.
- Mỗi người có cấu trúc nhận thức riêng. Vì vậy, muốn có sự thay đổi với một người
thìcần có tác động phù hợp nhằm thay đổi nhận thức của người đó.
- Con người có thể tự điều chỉnh quá trình nhận thức: tự đặt mục đích, xây dựng kếhoạch
và thực hiện. Trong đó có thể tự quan sát, tự đánh giá, tự hưng phấn, không cần kích thích
từ bên ngoài. * Ưu điểm và hạn chế a) Ưu điểm
Thuyết nhận thức nhấn mạnh ý nghĩa của các cấu trúc nhận thức đối với sự học tập.
Thuyết nhận thức thừa nhận tính khách quan của tri thức, nhưng cũng nhấn mạnh vai trò
của chủ thể nhận thức. b) Hạn chế
- Việc dạy học nhằm phát triển tư duy, giải quyết vấn đề cần nhiều thời gian, chuẩn bị
kĩlưỡng và đòi hỏi cao ở năng lực của giáo viên.
- Cấu trúc quá trình tư duy không quan sát trực tiếp được nên những mô hình dạy
họcnhằm tối ưu hoá quá trình nhận thức cũng chỉ mang tính giả thuyết.
* Vận dụng thuyết nhận thức trong quá trình dạy học
Thuyết nhận thức khi được vận dụng trong dạy học dẫn đến các quan điểm dạy học sau: lOMoAR cPSD| 61458992
- Mục đích của dạy học là tạo ra những khả năng để người học hiểu thế giới khách
quan(tự nhiên, xã hội, tư duy). Theo đó, bên cạnh kết quả học tập, giáo viên cần chú trọng
đến quá trình học tập - quá trình tư duy.
- Nhiệm vụ của giáo viên là tạo ra môi trường học tập thuận lợi, thường xuyên,
khuyếnkhích các quá trình tư duy; người học cần được tạo cơ hội hành động và tư duy
tích cực. Cần thiết kế nội dung cũng như các nhiệm vụ học tập phù hợp với đặc điểm của
hoạt động nhận thức của cá nhân học sinh.
- Giải quyết vấn đề có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát triển tư duy. Các quá trình tư
duyđược thực hiện không chỉ thông qua các vấn đề nhỏ, đưa ra một cách tuyến tính, mà
thông qua các nội dung học tập phức hợp.
- Các phương pháp học tập có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của người
học.Các phương pháp học tập bao gồm tất cả các cách thức làm việc và tư duy mà người
học sử dụng để tổ chức và thực hiện quá trình học tập của mình một cách hiệu quả nhất.
- Cần có sự kết hợp thích hợp giữa những nội dung do giáo viên truyền đạt và
nhữngnhiệm vụ tự lực chiếm lĩnh và vận dụng tri thức của người học. Ngày nay thuyết
nhận thức được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi trong dạy học. Mục tiêu phát triển khả
năng nhận thức, đặc biệt là phát triển tư duy được ưu tiên trong các bài học. Bài học cần
được xây dựng theo cách mà thông tin mới được suy ra từ kinh nghiệm và kiến thức trước
đó, và sau đó tiến dần lên tư duy bậc cao.
●Về thuyết hành vi:
Thuyết hành vi ra đời vào năm 1913 ở Mỹ, gắn liền với tên tuổi của nhà sáng lập J.B.
Watson. Học tập là tác động qua lại giữa kích thích (Stimulus) và phản ứng (Response).
Trong dạy học, cần tạo ra những kích thích nhằm tạo ra hưng phấn, dẫn đến các phản ứng
học tập và qua đó thay đổi hànhvi. Vì vậy, quá trình học tập được hiểu là quá trình thay đổi hành vi.
Dạy học cần tạo ra kích thích -> hưng phấn -> phản ứng học tập -> thay đổi hvi * Đặc điểm
- Dạy học được định hướng theo hành vi đặc trưng có thể quan sát được.
- Các quá trình học tập phức tạp được chia thành một chuỗi các bước học tập đơn giản,
trong đó bao gồm các hành vi cụ thể.
- Giáo viên hỗ trợ và khuyến khích hành vi đúng đắn, tức là sắp xếp việc học tậpsao cho
học sinh đạt được hành vi mong muốn và sẽ được phản hồi trực tiếp (khen thưởng và công nhận).
- Giáo viên thường xuyên điều chỉnh và giám sát quá trình học tập để kiểm soáttiến độ
học tập và điều chỉnh kịp thời những sai lầm. lOMoAR cPSD| 61458992
* Ưu điểm và hạn chế.
✔Ưu điểm: học sinh có phản ứng tạo ra những hành vi học tập, và qua việc luyện tập
thường xuyên, dần thay đổi hành vi của mình. Như vậy, sự phát triển của người
học có thể lượng giá được theo mức độ người học có thể đưa những hành vi mong đợi theo yêu cầu.
=> HS phản ứng tạo ra hvi học tập -> thường xuyên -> dần thay đổi hvi
=> Sự phát triển của người học lượng giá đc bằng mức độ HS đưa hvi mong đợi theo yêu cầu.
✔Hạn chế: - Thuyết hành vi chỉ chú ý đến các kích thích từ bên ngoài; không quan
tâm nhận thức bên trong. Do vậy, việc thiết kế bài học đôi khi đi ngược với quá
trình nhận thức tự nhiên đó; học sinh có thể bị áp đặt, học vì điểm.
Việc chia quá trình học tập thành chuỗi các hành vi đơn giản chưa tạo ra hiểu biết đầy đủ
về các mối quan hệ tổng thể.
* Ứng dụng của thuyết hành vi.
Thuyết hành vi được vận dụng trong việc xác định mục tiêu bài học – Là các hành vi HS
có thể thực hiện được, quan sát được sau khi học bài đó.
Ứng dụng của thuyết hành vi trong dạy học như sau:
- Xác định mục tiêu bài học dựa trên các hành vi quan sát được, lượng hoá được của học sinh sau bài học.
- Nhấn mạnh vai trò của việc giáo viên trong việc đặt câu hỏi, giao nhiệm vụ; giám sát,
cung cấp phản hồi và điều chỉnh quá trình học tập của học sinh.
- Rèn luyện kĩ năng của học sinh.
- Dạy học chương trình hóa, đặc biệt là dạy học qua mạng trên hệ thống quản lí học tập (LMS).
Về thuyết kiến tạo: Theo thuyết kiến tạo, các hoạt động học phải dựa vào tri thức đã học
(tri thức cũ) và vốn kinh nghiệm sống của các em. Việc học tập chính là một quá trình
thích ứng những khuôn mẫu đã có để hòa hợp được với những kinh nghiệm mới. Khi học
tập, trải nghiệm, mỗi người hình thành thế giới quan riêng của mình. * Đặc điểm
- Thuyết kiến tạo chú trọng sự tương tác giữa học sinh với nội dung học tập (hấp dẫn,
cótính thách thức) nhằm chiếm lĩnh kiến thức theo từng cá nhân. Chủ thể nhận thức tự
cấu trúc các kiến thức này vào hệ thống bên trong của mình; tri thức của mỗi người có thể mang tính chủ quan. lOMoAR cPSD| 61458992
- Dạy học định hướng các nội dung tích hợp, gắn liền với hiện thực cuộc sống và
nghềnghiệp của học sinh trong tương lai. Học không chỉ là khám phá mà còn là giải
thích, cấu trúc mới tri thức. Nội dung học tập luôn định hướng vào học sinh (của học
sinh, do học sinh, vì học sinh).
- Kiến thức, kĩ năng mới của học sinh dựa trên nền tảng kiến thức, kĩ năng cũ có liênquan.
Mặt khác, những trải nghiệm, kiến thức mới làm biến đổi bản thân học sinh.
- Nội dung học tập được triển khai thông qua tương tác trong nhóm, tương tác xã hội(kiến
tạo xã hội – social constructivisum).
- Học tập dựa trên sự phát hiện và sửa chữa sai lầm của học sinh.
- Đánh giá hoạt động học không chỉ đánh giá kết quả học tập, mà còn đánh giá cả quátrình đi tới kết quả đó. * Nguyên tắc
- Hoạt động học phải xuất phát từ những sự vật, hiện tượng gần gũi với học sinh,
gâyhứng thú khiến các em phải tìm hiểu bản chất vấn đề.
- Mục đích của việc học tập là mỗi cá nhân học sinh phải tự tìm ra được bản chất của
sựvật, hiện tượng; không chỉ đơn thuần là việc ghi nhớ những câu trả lời đúng, lặp lại nội
dung người khác đã tìm ra.
- Quá trình chiếm lĩnh tri thức của học sinh tập trung vào các khái niệm cơ bản, nềntảng,
chứ không phải là các sự kiện rời rạc, riêng lẻ.
- Hoạt động học có sự tham gia của ngôn ngữ; ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng có
ảnhhưởng đến việc tiếp nhận tri thức mới.
- Học là hoạt động suốt đời, cần có thời gian. Chìa khóa dẫn đến học tập có hiệu quả làđộng lực.
- Các hoạt động thực hành là cần thiết cho việc học tập, đặc biệt ở trẻ nhỏ, nhưng
khôngphải là điều kiện đủ. Giáo viên cần cung cấp cho học sinh những hoạt động tích
hợp cả tư duy và hành động.
2. Ưu điểm và hạn chế
* Ưu điểm: Lý thuyết kiến tạo trong dạy học đi theo hướng tích cực hoá nhận thức
củahọc sinh, giúp các em tự tìm kiếm, phát hiện, khám phá ra vấn đề và giải quyết các
vấn đề đó trong quá trình dạy học. Như vậy, học sinh chiếm lĩnh tri thức thông qua các
hoạt động mà ở đó giáo viên có vai trò tổ chức, định hướng.
* Hạn chế: -Dạy học theo thuyết kiến tạo đòi hỏi thời gian lớn, yêu cầu cao về năng
lựcgiáo viên và phụ thuộc vào tính tích cực, tự lực của học sinh.
- Có một số quan điểm cực đoan: phủ định hoàn toàn sự tồn tại của tri thức khách quan;
người học phải tự mình kiến tạo tri thức; đòi hỏi nội dung học tập luôn phải hấp dẫn với lOMoAR cPSD| 61458992
học sinh; tuyệt đối hoá vai trò của việc trao đổi, tranh luận trong nhóm mà ít chú trọng
đến hoạt động tự lực cá nhân.
3. Ứng dụng vào quá trình dạy học
Thuyết kiến tạo được chú ý trong những năm gần đây, thách thức một cách cơ bản tư duy
truyền thống về dạy học. Không phải người dạy, mà là người học trong sự tương tác với
nội dung học tập là trung tâm của quá trình dạy học. Nhiều quan điểm dạy học mới bắt
nguồn từ thuyết kiến tạo: học tập khám phá, học tập tự điều chỉnh, học theo tình huống,
học theo nhóm, học qua sai lầm.
Câu 12. Đặc điểm cơ bản của từng loại trí tuệ theo Howard Gardner và phân tích
các chiến lược dạy học tương ứng.
Lý thuyết đa trí tuê ̣– multiple intelligences
(lý thuyết MI) nói rằng loài người có 8
loại trí tuệ, ở mức độ thấp hơn hoặc lớn hơn và mỗi chúng ta có một đặc điểm thông
minh khác nhau. Đặc điểm này dựa trên di truyền học và kinh nghiệm của chúng ta, làm
cho chúng ta khác với những người khác. Về đặc điểm và ứng dụng vào các chiến lược
dạy học tương ứng, như sau:
●Trí tuệ ngôn ngữ. Đó là khả năng sử dụng một cách có hiệu quả các từ ngữ, hoặc bằng
lời nói (như một người kể chuyện, một thuyết khách hay một nhà chính trị), hoặc bằng
chữ viết (như một nhà thơ, nhà soạn kịch, biên tập viên hay nhà báo). Dạng trí tuệ này
bao gồm khả năng xử lí văn phạm hay cấu trúc ngôn ngữ, âm vị học hay âm thanh của
ngôn ngữ, ngữ nghĩa học hay nghĩa của ngôn ngữ, ngữ dụng học hay việc sử dụng
thực tiễn ngôn ngữ. Một số ứng dụng của trí tuệ ngôn ngữ:
+ Thuật hùng biện (dùng lời nói để thuyết phục người khác làm theo một mệnh lệnh, hành
động cụ thể). + Thuật gợi nhớ (mượn ngôn ngữ để hồi tưởng các thông tin).
+ Thuật giải thích (dùng lời nói để thuyết trình cho người khác hiểu).
+ Thuật siêu ngôn ngữ (dùng ngôn ngữ để nói về ngôn ngữ).
❖ Ứng dụng các chiến lược dạy học sử dụng trí tuệ ngôn ngữ:
+ Kể chuyện: Hãy biên soạn một câu chuyện thật hấp dẫn và gửi vào đấy những kiến thức mà bạn định dạy.
+ Sử dụng kĩ thuật “Động não”: Chiến lược này giúp mọi học sinh được dịp đề xuất ý
kiến của mình cho tập thể bàn luận và khai thác.
+ Ghi âm: Chiến lược này cung cấp cho học sinh một phương tiện để học, thông qua năng
khiếu ngôn ngữ hay không gian giao tiếp… Học sinh có thể dùng băng đĩa, USB đã ghi
âm, ghi hình để “nói to” suy nghĩ của mình, biểu lộ nội tâm, giao lưu với bạn bè, ghi nhớ
chi tiết. Một số em nhút nhát, hay xúc động trước đám đông, có thể dùng cách này như