



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61458992
ĐỀ CƯƠNG LÍ LUẬN DẠY HỌC
1. Khái niệm, bản chất của quá trình dạy học
- Khái niệm: Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều
khiển của người dạy, người học tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tự tổ chức,
tự điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện tốt mục
đích dạy học, qua đó phát triển nhân cách.
Các yếu tố của quá trình dạy học gồm: mục tiêu, nhiệm vụ dạy học; nội dung
dh; phương pháp, phương tiện dh; hình thức tổ chức dh; người dạy; người
học; kết quả dạy học; mt kinh tế - xã hội, văn hóa, khoa học – công nghệ.
- Bản chất quá trình dạy học:
Cơ sở xác định bản chất của QTDH:
• Căn cứ vào các lý thuyết học tập- cơ sở tâm lý của việc dạy học;
Mối quan hệ giữa nhận thức và dạy học trong sự phát triển xã hội:
Trong xã hội diễn ra hoạt động nhận thức của loài người và hoạt động
dạy học cho thế hệ trẻ. Trong đó, hoạt động nhận thức của loài người có
trước hoạt động dạy học và là nhu cầu tất yếu của xã hội. Tuy nhiên, hoạt
động của người học trong dạy học diễn ra trong môi trường sư phạm đặc
biệt và có sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển của thầy.
• Mối quan hệ giữa dạy và học, thầy và trò: Dạy và học là hai hoạt động
đặc trưng cơ bản của qua trình dạy học có mối quan hệ thống nhất biện
chứng với nhau. Xét cho cùng, mọi hoạt động giảng dạy của thầy và hoạt
động học tập của trò là nhằm thúc đẩy hoạt động nhận thức của người học
chiếm lĩnh nội dung học tập được quy định trong chương trình dạy học
nhằm thực hiện tốt mục tiêu nhiệm vụ dạy học.
Bản chất quá trình dạy học: Bản chất của quá trình dạy học là quá trình tổ
chức hoạt động nhận thức có tính chất độc đáo của người học dưới sự tổ
chức, định hướng, điều khiển của người giáo viên nhằm giúp người học
chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo trên cơ sở đó phát triển các
phẩm chất và năng lực, đáp ứng mục tiêu dạy học.
• Quá trình nhận thức của học sinh giống với các quá trình nhận thức khác:
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người
thông qua chủ thể – đó là sự phản ánh tâm lý của con người bắt
đầu từ cảm giác, tri giác đến tư duy, tưởng tượng. Sự học tập của
học sinh cũng là quá trình như vậy.
Quá trình nhận thức của học sinh cũng diễn ra theo quy luật nhận
thức chung của loài người : thực hiện các thao tác tư duy ở mức độ cao nhất. lOMoAR cPSD| 61458992
Kết quả nhận thức học sinh nói riêng và loài người nói chung đều
có điểm chung là làm cho vốn hiểu biết của chủ thể tăng lên. Sau
mỗi một giai đoạn nhận thức, vốn hiểu biết của chủ thể tăng lên
nhờ sự tích lũy những tri thức, hình thành những kinh nghiệm mới
trong quá trình nhận thức của mình.
Tính độc đáo quá trình nhận thức của học sinh trong quá trình học tập: QT nhận thức của HS
QT nhận thức của nhà khoa học Đối tượng NT
Tri thức KH đã có sẵn và chưa hề Tri thức KH chưa hề có có Con đường NT
Những con đường đã được khám Con đường mò mẫm, thử
phá, con đường thử - sai sai,… Điều kiện
Sư phạm đặc biệt có chương trình, Mt khoa học, không có sự
nội dung, phương tiện tổ chức khoa hướng dẫn, điều khiển mà
học; có sự hướng dẫn, điều khiển, toàn bộ quá trình đều tự
kiểm tra đánh giá hoạt động của kiểm tra, hoạt động người giáo viên
Diễn ra khó khăn, lâu dài Mục đích
Nhận thức cái mới đối với bản thân Mang lại cái mới không chỉ
mình, rút ra từ tri thức khoa học của cho nhà khoa học mà cho
các ngành khoa học tương ứng, cả nhân loại về tri thức đó,
được gia công về mặt sư phạm một chân lí mới sâu sắc và trong nội dung dh. phong phú thêm kho tang tri thức của nhân loại Kết quả
Nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, Chân lí khoa học mới
hòa những tri thức đó vào hệ thống
vốn kinh nghiệm của bản thân, lưu
trữ bền vững, có thể tái hiện và vận dụng trong cuộc sống Khâu củng cố, Có Không kiểm tra TT, KN, KX
Như vậy: Từ những phân tích trên cho thấy, QTDH là nơi diễn ra hoạt động tương
tác giữa thầy và trò, hđ dạy và hđ học, trong đó gv là người tổ chức hoạt động nhận
thức của hs nhằm thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ dạy học. KLSP: 1. Đặt mục tiêu. 2.
Tuân theo 9 nguyên tắc dạy học cơ bản. lOMoAR cPSD| 61458992 3.
Chọn lọc tri thức trong quá trình dạy và học. thời gian cho quá trình dạy học
là hữu hạn, do đó việc chắt lọc kiến thức là điều quan trọng vô cùng để quá
trình diễn ra hiệu quả đảm bảo đúng, đủ, đủ thời gian, phù hợp yêu cầu đòi
hỏi của xã hội, mục tiêu quá trình kiến thức nền tảng, đảm bảo cho sự truyền
đạt súc tích, khoa học và sự hấp thụ kiến thức tốt nhất. Đồng thời phải luôn
cập nhật với thực tế để tránh những lý thuyết xa rời thực tế, bị lỗi thời. 4.
Áp dụng phương pháp dạy và học thay đổi phù hợp, linh hoạt. Mỗi đơn vị
kiến thức sẽ có một đặc điểm riêng biệt do đó sẽ có phương pháp truyền đạt
khác nhau để hiệu quả là tốt nhất: giảng truyền thống, trình chiếu, thuyết
trình, thuyết minh, hoạt động nhóm, sơ đồ tư duy, vẽ tranh... 5.
Đề xuất các bài tập nhận thức có tác dụng phát huy được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập, giúp họ tiếp cận với hoạt
động nhận thức của các nhà khoa học. 6.
Tìm hiểu tâm lí học sinh. Đây là nhiệm vụ cần làm tốt của mỗi giáo viên,
người truyền đạt kiến thức, người dạy. Việc tìm hiểu tâm lí, nhận thức học
sinh với từng môn học, đơn vị kiến thức và nắm bắt khả năng tiếp nhận kiến
thức mỗi học sinh để áp dụng phương pháp phù hợp. 7.
Không nên quá cường điệu những nét riêng biệt, độc đáo trong hoạt động học
tập của người học. Nếu như vậy sẽ rơi vào xu hướng sai lầm là chỉ chú trọng
truyền đạt cho học sinh một số tri thức có sẵn, quy trình hoạt động máy móc,
mà coi nhẹ việc tổ chức cho học sinh độc lập nghiên cứu để nắm lấy tri thức
và rèn luyện phương pháp học tập, phương pháp nghiên cứu. 8.
Song song với việc dạy những kiến thức chung, người giáo viên phải là hình
mẫu về các chuẩn mực đạo đức, xã hội để học viên có thể dựa vào đó mà
hình thành nhân cách một cách toàn vẹn nhất để sau có thể vận dụng các tri
thức đã học vào cuộc sống một cách tích cực hơn.
Kết luận sư phạm (thêm):
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần lưu ý để dạy học mang lại hiệu quả: - Dạy
học phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo hoạt động học tập
của học sinh tham gia vào quá trình dạy học. -
Tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh một cách khoa học dựa
trên cơ sở quy luật nhận thức, các lý thauyết hoạt động học tập nhằm thực hiện tốt
mục tiêu, nhiệm vụ dạy học. -
Đảm bảo ý nghĩa giáo dục của dạy học , được thể hiện trong mọi hoạt động,
mọi khâu, mọi thành tố của quá trình dạy học.
2. Các qui luật của quá trình dạy học
QTDH phản ánh mqh chủ yếu, tất yếu, bền vững giữa các thành tố trong cấu trúc
của QTDH và giữa các yếu tố trong từng thành tố. Các quy luật dạy học bao gồm: lOMoAR cPSD| 61458992
- Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa môi trường kinh tế - xã hội
văn hoá, khoa học công nghệ với các thành tố của quá trình dạy học;
- Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo
viên với hoạt động học của học sinh;
- Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa dạy học và giáo dục;
- Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ;
- Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa mục đích, nội dung, phương
pháp, phương tiện của quá trình dạy học.
Trong các quy luật trên, quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa hoạt
động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh được coi là quy luật cơ bản
của quá trình dạy học.
3. Động lực và logic của quá trình dạy học
3.1. Động lực của QTDH
- Khái niệm: Động lực của QTDH là kết quả của việc giải quyết các mâu thuẫn
của quá trình dạy học.
- Mâu thuẫn của QTDH bao gồm mâu thuẫn bên trong và bên ngoài.
Mâu thuẫn bên trong: giữa các thành tố của QTDH với nhau và mâu thuẫn
giữa các yếu tố trong từng thành tố
Mâu thuẫn bên ngoài: là mâu thuẫn giữa các thành tố của QTDH với môi
trường kinh tế - xã hội, văn hóa, khoa học và công nghệ.
- Mâu thuẫn cơ bản: là mâu thuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ học tập do gv đề ra
với trình độ nhận thức ( trình độ phát triển trí tuệ, kĩ năng, kĩ xảo) hiện có của
người học. Kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn này sẽ tạo động lực chủ yếu của QTDH.
- Quá trình giải quyết mâu thuẫn cơ bản: hs thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ học
tập dưới sự hỗ trợ của gv. Điều kiện để giải quyết được mâu thuẫn cơ bản:
Thứ nhất, ng học phải hiểu đúng, đầy đủ sâu sắc nhiệm vụ học tập và các
điều kiện thực hiện nhiệm vụ đó
Thứ hai, yêu cầu, nhiệm vụ phải vừa sức với người học
Thứ ba, yêu cầu, nhiệm vụ học tập phải dựa trên logic của QTDH 3.2. Logic của QTDH
- Khái niệm: Logic của quá trình dạy học là trình tự vận động hợp quy luật của
quá trình đó nhằm đảm bảo cho người học đi từ trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
và sự phát triển nănglực hoạt động trí tuệ ứng với lúc bắt đầu nghiên cứu môn
học (hay một chủ đề, bài học) nào đó, đến trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và sự
phát triển năng lực hoạt động trí tuệ ứng với lúc kết thúc môn học (hay chủ đề, bài học) đó lOMoAR cPSD| 61458992
- Các khâu trong logic QTDH:
Kích thích thái độ học tập tích cực của học sinh : Kích thích thái độ học tập
tích cực của HS là quá trình điều khiển, điều chỉnh tất cả các yếu tố tác động
trên nhằm tạo nên thái độ tích cực của HS trong học tập. Kích thích
học sinh tích cực học tập tức là kích thích sự chú ý của học sinh, làm cho
các em có hứng thú với việc học tập, các em nhận thấy việc học tập là nhu cầu
tự thân, từ đó có niềm vui trong học tập...Thái độ học tập tích cực của học sinh
được coi là điều kiện, động lực thúc đẩy quá trình học tập. Tổ chức, hỗ trợ
học sinh kiến tạo tri thức mới:
• Kích thích học sinh huy động các tri thức, kinh nghiệm có liên quan đã
biết làm cơ sở cho việc nắm tri thức mới;
• Tổ chức, hỗ trợ học sinh thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu
• Trên cơ sở những tài liệu cảm tính mà học sinh có được, tố chức, hỗ trợ
học sinh vận dụng các thao tác tư duy để hình thành kiến thức .
Tổ chức, hỗ trợ học sinh củng cố tri thức, rèn luyện hình thành kĩ năng,
kĩ xảo: hướng dẫn học sinh
+ Biết cách ghi nhớ, nhất là ghi nhớ có chủ định, có ý nghĩa;
+ Biết cách ôn tập, ôn tập thường xuyên, liên tục và bằng nhiều cách;
+ Biết cách hệ thống hóa tri thức học được, từ đó đưa tri thức mới tiếp thu
được vào hệ thống những kinh nghiệm vốn có của mình
Khi tố chức rèn luyện KN,KX cần lưu ý: luyện tập có mục đích, kế hoạch, có hệ
thống. Luyện tập theo quy trình nhất định, phù hợp với quy luật nhận thức của hs.
Tổ chức, điều khiển việc kiểm tra, đánh giá mức độ chiếm lĩnh tri thức,
hình thành kĩ năng, kĩ xảo của học sinh đồng thời tổ chức cho học sinh
tự kiểm tra, đánh giá mức độ chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo của bản thân
Khi tổ chức thực hiện khâu này cần lưu ý:
- Thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống;
- Thực hiện kết hợp các phương pháp và hình thức khác nhau;
- Đảm bảo đúng các nguyên tắc cũng như các chức năng của việc kiểm tra đánh giá;
- Bồi dưỡng cho học sinh ý thức và năng lực tự kiểm tra, đánh giá. lOMoAR cPSD| 61458992
4. Xây dựng động lực học tập cho học sinh ( Cái này theo ý kiến cá nhân có thể k cần học)
- Khái niệm: Động cơ học tập của học sinh là hợp kim giữa sự thúc đẩy bởi động
lực học, trong đó, nhu cầu học là cốt lõi với sự hấp dẫn, lôi cuốn của đối tượng
học mà học sinh thấy cần chiếm lĩnh để thoả mãn nhu cầu học của mình.
- Các loại động cơ học tập:
Động cơ học tập trong là động cơ liên quan trực tiếp đến hoạt động học tập,
do chính sự tồn tại của hoạt động học: nhu cầu học, sự ham hiểu biết, hứng
thú học, niềm vui và thử thách bản thân, sự thỏa mãn do thành tựu học tập đem lại.
Động cơ học tập ngoài là động cơ rất ít liên quan trực tiếp tới hoạt động học
tập mà thường là do kết quả của hoạt động học tập mang lại: Lời khen, phần
thưởng, sự trừng phạt, ý thức trách nhiệm v.v,
- Một số biện pháp
Các biện pháp kích thích từ bên trong:
• Hoàn thiện những yêu cầu cơ bản: cung cấp môi trường lớp học có tổ
chức, giao nhiệm vụ vừa sức với học sinh,… Đưa các thực nghiệm vào
trong bài giảng, áp dụng trực tiếp các tri thức đã có trong bài giảng để
minh họa cho học sinh. Đưa ra những thí nghiệm, thực hành có thể làm
ở nhà cho học sinh để học sinh thử nghiệm.
• Xây dựng niềm tin và những kì vọng tích cực. Hướng dẫn học sinh cách
đặt mục tiêu, mục đích học và dựa vào các mục tiêu ấy mà truyền đạt kiến
thức theo nhu cầu của học sinh.
• Chỉ cho thấy giá trị của học tập. Dẫn dắt học sinh nhìn thấy được lợi ích
của việc tiếp thu tri thức, khi đó học sinh sẽ nhận thức được mình cần
làm gì, làm như thế nào, lí do vì sao phải thực hiện.
+ Liên kết giữa bài học với nhu cầu của học sinh.
+ Gắn các hoạt động của lớp học với những nhu cầu, hứng thú của học sinh.
+ Kích thích tính tò mò, ham hiểu biết.
+ Làm cho bài học trở thành “niềm vui”.
+ Cung cấp sự khích lệ, phần thưởng nếu cần thiết.
• Giúp hs tập trung vào bài tập: Tạo ra một phong cách dạy học riêng biệt
và đặc biệt để cuốn hút học sinh học, dẫn đến học sinh sẽ hứng thú học
hơn và không uể oải, mệt mỏi. Khi đó, hiệu quả việc tiếp nhận có thể đạt
tối đa. Điều này đòi hỏi giáo viên phải nắm bắt được tâm lý học sinh,
theo kịp các xu hướng và kết hợp với bài giảng để tạo nên được sự thích
thú, niềm vui của học sinh giúp cho việc học trở nên dễ dàng hơn.
+ Cho học sinh cơ hội thường xuyên trả lời. lOMoAR cPSD| 61458992
+ Cung cấp cơ hội cho học sinh để có thể tạo ra một sản phẩm cuối cùng nào đó.
+ Tránh việc nhấn mạnh quá mức vào việc tính điểm.
+ Xây dựng mô hình động cơ học tập.
+ Dạy những chiến thuật, kĩ thuật học tập.
Các biện pháp kích thích từ bên ngoài: Khen thưởng Trách phạt
5. Các nguyên tắc dạy học ở trường phổ thông
- Nguyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lí luận dạy
học, chỉ đạo toàn bộ tiến trình dạy và học nhằm thực hiện tốt mục đích, nhiệm
vụ dạy học. Hệ thống các nguyên tắc dạy học ở trường phổ thông bao gồm:
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục:
Tri thức khoa học là 1 hệ thống cơ bản, logic, tường minh, chặt chẽ và có hệ thống và
được tiếp cận ở các mức độ khác nhau. Đi kèm với NCKH là giáo dục hình thành nhân
cách, thế giới quan KH với các phẩm chất đạo đức cần thiết và phương pháp tư duy,
thói quen suy nghĩ, làm việc khoa học, nghiêm túc.
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn: “ Học đi đôi với
hành” . Người học trước hết phải nắm vững tri thức lí thuyết 1 cách chính xác có hệ
thống trên cơ sở đó vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức lí thuyết vào thực tiễn. Bên
cạnh đó, cần thấy được nguồn gốc thực tiễn của KH và các ý nghĩa thực tiễn của tri thức KH
- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự (tính kế thừa, đảm bảo
mối liên hệ lô-gic):
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính cụ thể và tính trừu tượng: Từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn
là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí khách quan. Cụ thể hơn là đi
từ tiếp xúc trực tiếp với svht dẫn đến các kết luận, khái niệm, quy luật. lí thuyết trừu tượng
- Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc của tri thức và sự phát triển năng lực
nhận thức của học sinh: Người học hiểu đúng, đủ, chính xác tri thức và cách vận
dụng tri thức và thực tiễn dẫn đến việc vận dụng tri thức một cách linh hoạt, sáng tạo
và hiệu quả trong nhiều tình huống khác nhau.
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức
riêng: cần nắm vững đặc điểm tâm sinh lí của học sinh để tiến hành việc dạy học đảm
bảo tính vừa sức với tâm sinh lí lứa tuổi nói chung và tâm- sinh lí hs ns riêng.
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học
trong quá trình dạy học: Vai trò chủ đạo của GV là tổ chức, hướng dẫn, cố vấn, GV
không làm thay, làm hộ HS. HS đảm bảo vai trò chủ động của người học, tự giác, tích
cực, chủ động, sáng tạo.
- Nguyên tắc đảm bảo xúc cảm, tình cảm tích cực của dạy học; lOMoAR cPSD| 61458992
- Nguyên tắc đảm bảo chuyển dần quá trình dạy học sang quá trình tự học.
6. Mục tiêu dạy học (Khái niệm, chức năng, các mục tiêu dạy học)
- Khái niệm: Mục tiêu dạy học là kết quả học tập của học sinh cần đạt được sau
khi kết thúc một quá trình học tập (một bài học hoặc một môn học). Trong quá
trình dạy học, để đạt được mục tiêu đó, người giáo viên phải thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học.
- Chức năng của mục tiêu dạy học:
Chức năng định hướng: Giáo viên căn cứ vào mục tiêu dạy học để thiết kế
nội dung dạy học, lựa chọn phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy
học phù hợp nhằm mang lại hiệu quả tối ưu cho hoạt động dạy học. Còn học
sinh, trên cơ sở ý thức được mục tiêu dạy học sẽ có ý thức, hành vi điều chỉnh
hoạt động học tập của bản thân để hoàn thành tốt các nhiệm vụ dạy học.
Chức năng kiểm tra – đánh giá: Mục tiêu dạy học như là những thước đo mà
giáo viên căn cứ vào đó để đánh giá kết quả học tập của học sinh, cũng như
tự đánh giá hiệu quả hoạt động dạy học của bản thân.
- Các mục tiêu dạy học: Dựa theo quan điểm B.S.Bloom để xây dựng mục tiêu
dạy học môn học/ mục tiêu bài học/ kì học/ năm học
Mục tiêu về nhận thức: Người học có thể biết gì, ở mức độ nào sau khi kết
thúc môn học/ bài học/ kì học/ năm học
Dùng động từ ở đầu câu để mô tả các mức độ đạt được về nhận thức
Mục tiêu về kĩ năng: Người học làm được gì, làm ở mức độ nào sau khi kết
thúc môn học/ mục tiêu bài học/ kì học/ năm học
Dùng động từ ở đầu câu để mô tat các mức độ đạt được về kĩ năng
Mục tiêu về thái độ: Cách ứng xử, những giá trị, những phẩm chất đạo đức
người học có được sau khi kết thúc môn học/ mục tiêu bài học/ kì học/ năm học
Mục tiêu về năng lực: Người học làm được gì trong những bối cảnh thực tiễn
Dùng động từ ở đầu câu để mô tả các công việc mà người học làm được trong thực tiễn
Mục tiêu chương trình GDPT 2018:
- Các phẩm chất chủ yếu cần phát triển cho học sinh: Yêu nước:
Yêu thiên nhiên, di sản, yêu con người Tự hào
và bảo vệ thiên nhiên, di sản, con người. Trách nhiệm:
Bảo vệ bản thân, gia đình, nhà trường, xã hội, môi trường
Không đổ lỗi cho người khác Trung thực: lOMoAR cPSD| 61458992
Tôn trọng lẽ phải
Lên án sự giai lận
Thật thà, ngay thẳng trong học tập và làm việc Chăm chỉ
Chăm học, ham học, có tinh thần tự học
Chăm làm, nhiệt tình tham gia các công của tập thể
Vượt khó trong công việc Nhân ái
Yêu con người, yêu cái đẹp, yêu cải thiện
Tôn trọng sự khác biệt giữa con người, nền văn hóa
Sẵn sàng học hỏi, hòa nhập và giúp đỡ mọi người
Cảm thông, độ lượng
Ghét cái xấu, cái ác
- Các năng lực cốt lõi cần phát triển cho học sinh
Tự chủ và tự học
Giao tiếp và hợp tác
Giải quyết vấn đề và sáng tạo
Năng lực ngôn ngữ
Năng lực toán học
Năng lực khoa học
Năng lực công nghệ
Năng lực tin học
Năng lực thẩm mĩ
Năng lực thể chất
Câu hỏi thêm: Xác định mục tiêu dạy học cho một chủ đề/bài học thuộc
môn học anh (chị) sẽ phụ trách sau này ở trường phổ thông?
Xác định mục tiêu dạy học: Về kiến thức:
• Khả năng nhận thức: Nhận biết được tính chất vật lý, tính chất hóa học của
cacbon. Xác định được vị trí của cacbon trên bảng tuần hoàn hóa học
• Khả năng tìm hiểu: viết được cấu hình electron nguyên tử của cacbon. Từ một
số phản ứng dự đoán được tính chất hóa học của cacbon
• Khả năng vận dụng: vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết các bài
tập và giải thích một số hiện tượng trong cuộc sống Về kĩ năng:
• Khả năng tự học: Khai thác được tài liệu phục vụ cho bài học.
• Khả năng giao tiếp và hợp tác: Làm việc nhóm có hiệu quả. lOMoAR cPSD| 61458992
• Khả năng sáng tạo: Biết sử dụng công cụ, phương tiện CNTT phục vụ bài học;
biết phân tích và xử lí tình huống. Về thái độ:
• Biết cách sử dụng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên đất nước.
• Giáo dục đức tính cẩn thận, tỉ mỉ, thói quen làm việc với khoa học, tuân thủ
những quy định về an toàn trong hoạt động nghiên cứu và sản xuất.
7. Nội dung dạy học (Khái niệm, các thành phần, mối quan hệ giữa các
thành phần của nội dung dạy học)
- Khái niệm: là hệ thống những tri thức, kinh nghiệm thực hiện những cách thức
hoạt động đã biết, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và kinh nghiệm về thái độ
đối với thế giới, con người, được xử lí về mặt sư phạm và được định hướng về
mặt chính trị, mà người giáo viên cần tổ chức cho học sinh lĩnh hội để đảm bảo
hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu dạy học đã định.
- Các thành phần: Nội dung dạy học có 4 thành phần, được cụ thể hóa như sau:
Tri thức về nhiều lĩnh vực khác nhau (tự nhiên, xã hội, tư duy, kĩ thuật,
phương pháp…). Sự lĩnh hội các tri thức này sẽ giúp cho học sinh có vốn
hiểu biết phong phú, có công cụ để hình thành thế giới quan khoa học.
Kinh nghiệm tiến hành các phương thức hoạt động đã biết (KN, KX
chung và chuyên biệt, phương pháp, quy trình…). Nắm vững yếu tố này
giúp học sinh vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề cụ thể.
Kinh nghiệm tiến hành các hoạt động sáng tạo (vận dụng tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo, phương pháp và các thao tác tư duy trong những tình huống mới,
không giống mẫu). Nhờ có yếu tố này mà học sinh có năng lực giải quyết
vấn đề mới, cải tạo hiện thực, thực hành nghiên cứu khoa học.
Kinh nghiệm về thái độ cảm xúc đánh giá đối với thế giới, đối với con
người. Thành phần này thể hiện tính giáo dục của nội dung dạy học. Đây
là các tri thức,thái độ và hành vi trong các quan hệ theo những chuẩn mực
xã hội. Lĩnh hội yếu tố này sẽ tạo nên niềm tin, lí tưởng, hình thành hệ
thống giá trị đúng đắn ở học sinh.
- Mối quan hệ giữa các thành phần của nội dung dạy học:
Tri thức là cơ sở hình thành KN, KX.
Tri thức và KN, KX lại là cơ sở để tạo ra kinh nghiệm hoạt động sáng tạo.
Không có tri thức thì không thể có KN, KX và cũng không thể có hoạt
động sáng tạo. Bởi hoạt động sáng tạo bắt nguồn từ những cái đã biết,
trên cơ sở đó mới có những thay đổi, chỉnh sửa thích hợp.
Song, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo không phải tỉ lệ thuận với khối
lượng tri thức mà phụ thuộc vào cách thức lĩnh hội và vận dụng tri thức lOMoAR cPSD| 61458992
đó. Đến lượt mình, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo lại tạo điều kịện để
lĩnh hội tri thức, KN, KX nhanh hơn, tốt hơn, sâu sắc hơn. Nắm vững các
thành phần trên giúp học sinh có thái độ đánh giá đúng đắn với TN, XH và con người.
Còn thái độ tác động trở lại tạo ra sự tích cực hay không tích cực trong
việc lĩnh hội TT, KN, KX và hoạt động sáng tạo.
8. Phương pháp dạy học tích cực (Khái niệm, các PPDH, bản chất, ưu,
nhược điểm và yêu cầu sử dụng của các phương pháp dạy học)
- Khái niệm: Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phù hợp, phối hợp
thống nhất của người dạy và người học trong quá trình DH được tiến hành dưới
vai trò chủ đạo của người dạy nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học.
- PPDH tích cực: là một thuật ngữ rút gọn , được dùng ở nhiều nước để chỉ những
phương pháp giáo dục , dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của người học.
+ “Tích cực” trong PPDH – tích cực được dùng với tức là hoạt động, chủ động,
trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực.
- Các PPDH: Phương pháp dạy học là sự kết hợp hữu cơ, biện chứng giữa phương
pháp dạy của giáo viên và phương pháp học của học sinh nhằm thực hiện tốt
nhiệm vụ dạy học. Trong quan hệ này, phương pháp dạy điều khiển phương pháp
học. Phương pháp học, có tính chất độc lập tương đối, quyết định kết quả học
tập và có ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy; vì thế cũng là cơ sở để lựa chọn
phương pháp dạy. Trong quá trình dạy học, có rất nhiều phương pháp dạy học
khác nhau mà giáo viên có thể áp dụng.
Các PPDH truyền thống:
1. PP thuyết trình:
Khái niệm: Là GV dùng lời nói để trình bày, giải thích nội dung bài
học có hệ thống để người học tiếp thu một cách logic và có hệ thống
Bản chất: Sử dụng lời nói của GV Ưu, nhược điểm:
o Gv trình bày được vấn đề có tính khái quát, hệ thống o Tác
động mạnh mẽ đến nhận thức, tình cảm người học o Người
học tiếp thu nội dung bài học một cách logic
o Có thể làm cho người học thụ động, thiếu tính sáng tạo, ghi nhớ bền vững.
Yêu cầu sử dụng: Các yêu cầu đối với nội dung bài TT, yêu cầu với lời
nói của GV. Cần lưu ý đảm bảo tính mô tả, giải thích, chứng minh, tính logic trong lập luận TT lOMoAR cPSD| 61458992 2. PP vấn đáp
Bản chất: Sử dụng hệ thống câu hỏi Ưu nhược điểm:
o Tích cực hóa hoạt động nhận thức
o Khai thác kinh nghiệm thực tiễn và bồi dưỡng cho học sinh năng lực giao tiếp bằng lời
o Học sinh có thể chủ động đưa ra câu hỏi nhằm có những hiểu biết sâu rộng hơn.
o Có thể gây mất thời gian, làm giảm hiệu quả đối thoại
Yêu cầu sử dụng: Các yêu cầu đối với câu hỏi. Cần lưu ý đảm bảo tính có vấn đề và thời gian.
o Yêu cầu xây dựng câu hỏi:
Chính xác, rõ rang, đơn trị
Xây dựng câu hỏi thành hệ thống logic chặt chẽ
Từ dễ đến khó, từ cụ thể đến khái quát và ngược lại
Từ tái tạo đến sáng tạo
Số lương vừa phải, tập trung vào trọng tâm bài học o Yêu cầu khi đặt câu hỏi:
Biểu đạt câu hỏi rõ rang Hướng tới cả lớp
Sử dụng kết hợp nhiều loại câu hỏi khác nhau
Hạn chế các câu hỏi đúng – sai
3. PP sử dụng sgk, tài liệu, phiếu học tập
Bản chất: Hướng dẫn HS lựa chọn và đọc tài liệu
Yêu cầu sử dụng: Yêu cầu đối với lựa chọn và đọc tài liệu sao cho đảm
bảo tính hiệu quả. Rèn luyện cho hs kĩ năng đọc hiệu quả và viết hiệu quả
để tự học một phần sgk, tài liệu học tập
4. PP dạy học trực quan
Bản chất: Sử dụng PTDH trực quan
Yêu cầu sử dụng: yêu cầu đối với các phương tiện trực quan đảm bảo
tính quan sát, tính thẩm mĩ, tính giáo dục, không ảnh hưởng đến sức khỏe.
5. PP dạy học thực hành
Bản chất: Giao nhiệm vụ thực hành
Yêu cầu sử dụng: yêu cầu đối với các nhiệm vụ thực hành đảm bảo
tính vừa sức và phát triển năng lực.
Yêu cầu sử dụng phương tiện trực quan o Sử dụng với
mục đích gì? Khi nào? Trong bao lâu? lOMoAR cPSD| 61458992
o PTTQ có tính chất khoa học, đạt tiêu chuẩn kĩ thuật, có tính thẩm mĩ
o Đảm bảo tính quan sát
o Có tác động nhiều nhất tới các giác quan của người học o Kết
hợp sử dụng với Thuyết trình
Các phương pháp dạy học hiện đại
1. Dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Đặc trưng: Tổ chức cho hs giải quyết các vấn đề học tập
Vai trò của GV: Nêu vấn đề, hướng dẫn hs nêu và giải quyết vđ Vai
trò của HS: phát hiện, giải quyết vấn đề có sự hỗ trợ của GV, tự giải
quyết vấn đề Ưu điểm:
o Giúp phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của HS, phát triển
năng lực nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề cho HS
o HS thu nhận kiến thức 1 cách sâu sắc, vững chắc, nhớ lâu o HS
hình thành được năng lực vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề
thực tiễn một cách linh hoạt, sáng tạo Nhược điểm:
o GV khó thực hiện vì không có điều kiện về thời gian o HS cần
có khả năng tự học và học tập tích cực thì mới đạt hiệu quả cao
o Trong một số trường hợp cần có thiết bị dạy học cần thiết
2. Dạy học dựa vào dự án
Đặc trưng: Tổ chức cho hs thiết kế và thực hiện dự án học tập Vai
trò của GV: hướng dẫn, hỗ trợ, tham vấn cho HS thiết kế và thực hiện các dự án HT
Vai trò của HS: tự quyết định cách tiếp cận vấn đề thực hiện hoạt động.
Hoàn thành dự án và trình bày các sản phẩm cụ thể. Tham gia tích cực, chủ
động, linh hoạt, sáng tạo Uư điểm:
o Kích thích động cơ hứng thú học tập của học sinh o Phát huy
tính tự lực trách nhiệm sáng tạo o Phát triển năng lực giải
quyết vấn đề phức hợp o Phát triển năng lực cộng tác làm
việc, hỗ trợ giao tiếp
o Rèn luyện tinh thần bền bỉ kiên nhẫn Nhược điểm
o Đòi hỏi nhiều thời gian, không thích hợp trong việc truyền thụ
những tri thức lí thuyết có tính hệ thống, then chốt, cần sự chính xác
o HS có thể gặp nhiều khó khăn: đòi hỏi phương tiện vật chất và
tài chính phù hợp. Cần sự tích hợp công nghệ. GV phải có
trình độ chuyên môn cao và nghiệp vụ vững vàng lOMoAR cPSD| 61458992
3. Dạy học hợp tác:
Đặc trưng: Tổ chức cho hs thiết kế và thực hiện dự án học tập Vai trò
của GV: thiết kế nhiệm vụ, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển HS làm việc nhóm.
Vai trò của HS: tự giác, tham gia tích cực, chủ động thực hiện nhiệm vụ.
Hợp tác chia sẻ để hoàn thành tốt nhiệm vụ thảo luận. Ưu điểm:
o Giúp hs tích cực chủ động trong hoạt động xây dựng kiến thức mới
và hình thành rèn luyện các kĩ năng mà 1 hs khó có thể thực hiện được
o Hs có thể giải quyết được nhiệm vụ học tập có tính chất phức hợp
o Giúp hình thành và phát triển năng lực tổ chức
o Khuyến khích được sự tương tác giữa các HS và rèn luyện các kĩ năng xã hội Nhược điểm
o Đòi hỏi không gian lớp học và sĩ số vừa phải o Đòi hỏi thời gian
cho HS hoạt động o Phát triển HS không đồng đều
4. Dạy học dựa vào tình huống
Đặc trưng: Tổ chức cho HS nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các
vấn đề của thực tiễn Ưu điểm:
o HS phát triển được tư duy bậc cao o Giảm thiếu rủi ro, lúng
túng…. Trong CS o HS phát triển được nhiều năng lực o
Tăng tính thực tiễn của môn học Nhược điểm:
o GV có kinh nghiệm và hiểu biết thực tiễn
o Không thích hợp với truyền thụ tri thức lí thuyết hệ thống o
Đòi hỏi nhiều thời gian
9. Phương tiện dạy học và vai trò của phương tiện dạy học
- Phương tiện dạy học: Phương tiện dạy học là các thiết bị, dụng cụ, phần mềm
ứng dụng CNTT…mà giáo viên sử dụng để biểu diễn, minh hoạ nội dung dạy
học hoặc để tổ chức hoạt động thực hành, thí nghiệm, chế tạo của học sinh, qua
đó nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học.
+ Khoa học và công nghệ ngày càng phát triển thì vai trò và yêu cầu đối với
phương tiện dạy học càng cao. Việc lựa chọn và sử dụng phương tiện dạy học
cần phù hợp với mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và từng đối tượng học sinh. - Phân loại PTDH:
Theo tính chất của PTDH: lOMoAR cPSD| 61458992
Phương tiện mang tin: Tự bản thân phương tiện chứa đựng một lượng thông
tin nhất định về nội dung dạy học.
Ví dụ: tài liệu in, tài liệu số, mô hình, tranh ảnh, thẻ nhớ chứa âm thanh, …
• Phương tiện truyền tin: Dùng để truyền tin tới học sinh.
Ví dụ: máy vi tính, tivi, máy chiếu đa phương tiện, máy chiếu vật thể
Theo cách sử dụng phương tiện dạy học •
Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học: Gồm phương tiện truyền thống
(bảng, phấn, bút, tranh ảnh, mô hình, …) và phương tiện hiện đại (máy chiếu
đa phương tiện, bảng tương tác, bút thông minh, internet, …). •
Phương tiện dùng để hỗ trợ quá trình dạy học: Gồm toàn bộ cơ sở vật
chất lớp học, phòng học, hệ thống ánh sáng, âm thanh, internet, các máy in, photocopy,…
Theo mức độ chế tạo phương tiện dạy học •
Dụng cụ đơn giản: Có cấu tạo đơn giản, bằng vật liệu dễ kiếm trên thị
trường, giá thành thấp, dễ chế tạo nhưng thường không bền. •
Thiết bị hiện đại: Được thiết kế, chế tạo công phu bằng vật liệu đắt
tiền, có cấu tạo phức tạp, giá thành cao nhưng sử dụng tiện lợi và tuổi thọ cao.
*Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học: Đảm bảo an toàn
Đúng lúc, đúng chỗ và đủ cường độ
Đảm bảo tính hiệu quả
- Vai trò của PTDH: Khoa học và công nghệ ngày càng phát triển thì phương
tiện dạy học cũng ngày càng trở thành yếu tố quan trọng , có ảnh hưởng lớn tới
chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học. Đối với học sinh:
Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn.
• Phương tiện dạy học tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bề ngoài
của đối tượng và các tính chất có thể tri giác tri giác trực tiếp của chúng.
• Phương tiện dạy học giúp cụ thể hóa những cái quá trừu tượng, đơn giản hóa những
máy móc và thiết bị quá phức tạp.
Phương tiện dạy học giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng
thú học tập bộ môn, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học.
Phương tiện dạy học còn giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặc
biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút
ra những kết luận có độ tin cậy…) Đối với giáo viên: lOMoAR cPSD| 61458992
Giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học, giải
phóng sức lao động của thầy & trò, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực
hiện nhiệm vụ của hoạt động dạy & học.
Giúp giáo viên biết cách tiến hành huy động được sự hoạt động của các
giác quan của học sinh tham gia vào quá trình lĩnh hội tri thức kỹ năng, kỹ xảo.
Giúp giáo viên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm
tra và đánh giá kết quả học tập của các em được thuận lợi và có hiệu suất cao.
10. Các đặc điểm của các lý thuyết học tập và khả năng vận dụng các lý
thuyết đó vào dạy học môn học mình sẽ đảm nhận
10.1. Thuyết hành vi trong dạy học
- Thuyết hành vi giới hạn việc nghiên cứu cơ chế học tập qua các hành vi có thể
quan sát được, lượng hoá được; không quan tâm đến các quá trình tâm lí bên
trong của học sinh như tri giác, cảm giác, tư duy, ý thức vì cho rằng những yếu
tố này không thể quan sát khách quan được. Bộ não được coi như là một “hộp đen”.
+ Phương pháp nghiên cứu cơ chế học tập là quan sát và thực nghiệm khách quan.
+ Mục đích đặt ra là phải điều khiển được hành vi -
Đặc điểm của cơ chế học tập:
Dạy học được định hướng theo các hành vi đặc trưng có thể quan sát được.
Các quá trình học tập phức tạp được chia thành một chuỗi các bước học tập
đơn giản, trong đó bao gồm các hành vi cụ thể.
Giáo viên hỗ trợ và khuyến khích hành vi đúng đắn, tức là tổ chức việc họctập
sao cho học sinh đạt được hành vi mong muốn và sẽ được phản hồi trực tiếp
(khen thưởng và công nhận).
Giáo viên thường xuyên điều chỉnh và giám sát quá trình học tập để kiểm
soát tiến độ học tập và điều chỉnh kịp thời những sai lầm
- Khả năng vận dụng vào Vật lí: Khi học về cách giải các bài toán lí áp dụng ĐL
II Newton, GV hướng dẫn chia thành các bước nhỏ để làm sau đó tính yêu cầu, cụ thể:
+ bước 1: phân tích các lực tác dụng vào vật hoặc hệ vật
+ bước 2: chọn hệ qui chiếu gắn với vật
+ bước 3: chiếu véc tơ lực lên các phương trong hệ qui chiếu thiết lập hệ
phương trình liên quan giữa các lực từ đó tính ra giá trị cần tính - Kết luận sư phạm: lOMoAR cPSD| 61458992
+ Nhấn mạnh vai trò của GV khi cung cấp phản hồi, điều chỉnh và giám sát quá trình học tập của HS.
+ GV cần phân chia nội dung học tập thành những đơn vị kiến thức nhỏ, tổ chức
cho HS lĩnh hội tri thức, kỹ năng theo một trình tự và thường xuyên kiểm tra kết
quả đầu ra để điều chỉnh quá trình học tập.
10.2. Thuyết nhận thức: Học là giải quyết vấn đề
- Khái niệm: Theo thuyết nhận thức, học tập là sự tiếp thu hoặc tổ chức lại các
cấu trúc nhận thức, xử lý và lưu trữ thông tin một cách chủ động của người học
thông qua các giác quan nghe và nhìn. Người học thu được kết quả học tập tốt
nhất khi họ cấu trúc được kiến thức để tạo ra sự liên kết giữa kiến thức mới và
những kiến thức có sẵn.
- Bản chất: Quá trình nhận thức bên trong với tư cách là một quá trình xử lí thông
tin. Bộ não xử lí các thông tin tương tự như một hệ thống kĩ thuật. Quá trình
nhận thức là quá trình có cấu trúc, và có ảnh hưởng quyết định đến hành vi. Con
người tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lí và đánh giá chúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử. - Đặc điểm:
Các lý thuyết nhận thức nghiên cứu quá trình nhận thức bên trong với tư cách
là một quá trình xử lý thông tin. Bộ não xử lý các thông tin tương tự như một hệ thống kĩ thuật,
Quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc và có ảnh hưởng đến hành vi.
Trung tâm của quá trình nhận thức là các hoạt động trí tuệ.
Cấu trúc nhận thức của con người không phải bẩm sinh mà hình thành qua kinh nghiệm.
Con người có thể tự điều chỉnh quá trình nhận thức.
* Khả năng vận dụng vào Vật Lí:
Khi dạy về hai lực cân bằng, GV đưa ra tình huống là một vật đang chuyển
động khi chỉ chịu tác động của hai lực cân bằng thì vật đó sẽ dừng lại hay
tiếp tục chuyển động như thế nào?
Học sinh suy nghĩa và đưa ra các đáp án khác nhau.
GV cho HS tự giải quyết vấn đề trên bằng cách tiến hành thí nghiệm để HS
tự rút ra nhận xét, kết luận rồi từ đó lĩnh hội được kiến thức mới đó là: Khi
chỉ chịu tác dụng của hai lực cân bằng thì vật đang đứng yên sẽ đứng yên,
hoặc vật đang chuyển động sẽ chuyển động thẳng đều mãi.
10.3. Thuyết kiến tạo: Học là kiến tạo tri thức
- Dạy học kiến tạo là một trong những phương pháp dạy học tích cực. Phương
pháp này coi trọng vai trò chủ động vủa người học trong quá trình học tập, người
học chủ động xây dựng hiểu biết cho bản thân, tự kết nối thông tin mới với thông lOMoAR cPSD| 61458992
tin cũ đã có để kiến thức mới có ý nghĩa hơn và tạo nên những kiến thức mới khác.
Việc dạy học không phải diễn ra nhờ quá trình chuyển thông tin từ giáo viên hay
giáo trình đến bộ não của học sinh mà thay vào đó, mỗi người học tự xây dựng
hiểu biết hợp lý mang tính cá nhân của riêng họ.
Bản chất: Dạy học kiến tạo là quá trình người học xây dựng nên những kiến thức cho
bản thân thông qua các hoạt động đồng hóa và điều ứng các kiến thức và kĩ năng đã
có để thích ứng với môi trường học tập mới. - Đặc điểm :
Kiến thức và kĩ năng mới dựa trên nền tảng kiến thức kĩ năng cũ có liên quan.
Nội dung học tập được triển khai qua học tập trong nhóm và tương tác xã hội.
Học qua sai lầm là điều có ý nghĩa.
Đánh giá hoạt động học không chỉ đánh giá kết quả mà còn cả quá trình.
Dạy học phải định hướng theo các lĩnh vực và vấn đề phức hợp gần thực tiễn.
Nội dung học tập cần định hướng vào hứng thú người học.
Mục đích học tập là kiến tạo kiến thức bản thân.
- Khả năng vận dụng vào Vật lí: Khi được học về các đặc điểm cấu tạo ảnh của
vật tạo ra từ thấu kính phân kì, hội tụ, HS sẽ xác định được kính chữa tật viễn
thị, lão thị được làm từ thấy kính hội tụ; kính chữa tật cận thị được làm từ thấu kính phân kì.
10.4. Thuyết đa trí tuệ: (Thêm) - Đặc điểm:
Mỗi người đều có đủ 8 dạng trí tuệ
Mỗi người có thể phát triển mỗi dạng trí tuệ tới mức độ thích đáng
Các dạng trí tuệ thường xuyên kết hợp với nhau theo những cơ chế phức tạp
Có nhiều cách biểu lộ trí thông minh trong các lĩnh vực khác nhau
11.Đặc điểm cả từng lại trí tuệ theo Howard Gardner và phân tích các chiến
lược dạy học tương ứng
* Cơ sở của thuyết đa trí tuệ:
- Nghiên cứu trí thông minh của Alfred Binet -
Nghiên cứu đa trí tuệ của Howard Gardner.
* Các đặc điểm cơ bản trong thuyết đa trí tuệ:
1. Trí tuệ ngôn ngữ:
- Đó là khả năng sử dụng một cách có hiệu quả các từ ngữ, hoặc bằng lời nói (như
một người kể chuyện, một thuyết khách hay một nhà chính trị), hoặc bằng chữ viết
(như một nhà thơ, nhà soạn kịch, biên tập viên hay nhà báo). Dạng trí tuệ này bao
gồm khả năng xử lí văn phạm hay cấu trúc ngôn ngữ, âm vị học hay âm thanh của lOMoAR cPSD| 61458992
ngôn ngữ, ngữ nghĩa học hay nghĩa của ngôn ngữ, ngữ dụng học hay việc sử dụng
thực tiễn ngôn ngữ. Một số ứng dụng của trí tuệ ngôn ngữ:
+ Thuật hùng biện (dùng lời nói để thuyết phục người khác làm theo một mệnh lệnh, hành động cụ thể).
+ Thuật gợi nhớ (mượn ngôn ngữ để hồi tưởng các thông tin).
+ Thuật giải thích (dùng lời nói để thuyết trình cho người khác hiểu).
+ Thuật siêu ngôn ngữ (dùng ngôn ngữ để nói về ngôn ngữ).
=> Các chiến lược dạy học tương ứng: Các chiến lược dạy học trình bày dưới đây
có tác dụng với đông đảo học sinh vì mở rộng hoạt động đọc và nghe của học sinh,
qua đó phát triển trí tuệ ngôn ngữ ở các em.
+ Kể chuyện: Hãy biên soạn một câu chuyện thật hấp dẫn và gửi vào đấy những
kiến thức mà bạn định dạy.
+ Sử dụng kĩ thuật “Động não”: Chiến lược này giúp mọi học sinh được dịp đề xuất
ý kiến của mình cho tập thể bàn luận và khai thác.
+ Ghi âm: Chiến lược này cung cấp cho học sinh một phương tiện để học, thông
qua năng khiếu ngôn ngữ hay không gian giao tiếp… Học sinh có thể dùng băng
đĩa, USB đã ghi âm, ghi hình để “nói to” suy nghĩ của mình, biểu lộ nội tâm, giao
lưu với bạn bè, ghi nhớ chi tiết. Một số em nhút nhát, hay xúc động trước đám
đông, có thể dùng cách này như một phương tiện phát biểu hay thử nghiệm, hoàn
chỉnh ý tưởng của mình. Học sinh có thể dùng “ghi âm” như “bức thư sống động”
để chia sẻ suy nghĩ của mình hoặc để tiếp thu những phản ứng của người khác. +
Viết nhật ký: Để thúc đẩy học sinh làm quen với việc ghi chép thường xuyên về
các chủ đề hay trải nghiệm học tập. Học sinh có thể sử dụng mọi dạng trí tuệ như
vẽ, phác hoạ, ảnh hay ghi âm, ghi hình các cuộc thảo luận… Chiến thuật này có
thể tác động đến trí tuệ giao tiếp của học sinh (nếu đem đọc ở lớp) cũng như đến
trí tuệ nội tâm của các em (nếu là nhật kí riêng tư).
2. Trí tuệ logic – toán học:
- Đó là khả năng sử dụng có hiệu quả các con số (như nhà toán học, người lập biểu
thuế, nhà thống kê) và lí luận thông thạo (như nhà khoa học, lập trình viên máy tính
hay nhà logic học). Dạng trí tuệ này bao gồm: tính nhạy cảm với các mối quan hệ
và các sơ đồ logic; các mệnh đề và tỉ lệ thức (nếu – thì, nguyên nhân – hệ quả); các
hàm số và các dạng trừu tượng hóa có liên quan. Các ứng dụng của trí tuệ logic –
toán học: Thuật xếp loại, phân lớp, suy luận, khái quát hóa, tính toán và kiểm nghiệm giả thuyết.
=> Chiến lược dạy học tương ứng:
+ Tính toán và định lượng hoá: Ngoài các môn Toán và khoa học tự nhiên, trong
dạy học các môn Lịch sử và Địa lí, có thể tổ chức và khai thác các bảng, biểu đồ
thống kê như thiệt hại về người trong chiến tranh, biến động dân số các nước…. + lOMoAR cPSD| 61458992
Phân loại và xếp hạng: Một trí tuệ logic có thể được phát triển trước mọi thông tin
trình bày dưới dạng cấu trúc logic – toán, ngôn ngữ, không gian…Giá trị của lối
tiếp 6 cận này là tập hợp được nhiều sự vật, nhiều sự kiện vốn tản mạn, rời rạc
xung quanh những chủ đề trung tâm, khiến chúng dễ nhớ, dễ thảo luận, dễ suy nghĩ.
+ Hỏi đáp theo kiểu Socrates: Dùng chiến lược dạy học này giáo viên trở thành
người đối thoại với học sinh; học sinh nói lên những giả thuyết của mình và luận
chứng về những giả thuyết đó. Thông qua đó, giáo viên phát hiện sự đúng đắn hay
sai lạc của học sinh. Mục đích của chiến lược dạy học này thực chất là để giúp học
sinh tập dượt lập luận được sắc bén và chặt chẽ.
+ Khoa học về phát minh, sáng chế: Chiến lược dạy học này hướng dẫn học sinh
giải quyết vấn đề một cách logic bằng cách chia nhỏ vấn đề cần giải quyết thành
những mảnh vụn nhỏ hơn để dễ xử lí, đặt giả thuyết về cách giải quyết và cuối cùng thực hiện giải quyết.
3. Trí tuệ không gian:
- Đó là khả năng tiếp nhận một cách chính xác vị trí, định hướng không gian qua thị
giác (ví dụ, một người đi săn, người dẫn đường, người lái xe, cầu thủ) và thực hiện
thành thạo các hoạt động thay hình đổi dạng trên cơ sở các năng khiếu đó (chẳng
hạn, một nhà trang trí nội thất, kiến trúc sư, hoạ sĩ hay một nhà phát minh). Dạng trí
tuệ này liên hệ chặt chẽ với tính nhạy cảm về màu sắc, đường nét, hình dạng và các
tương quan vốn có giữa những yếu tố đó. Dạng trí tuệ này bao gồm khả năng quan
sát, khả năng thể hiện bằng đồ thị và khả năng tự định hướng một cách thích hợp trong không gian.
=> Chiến lược dạy học: Trí tuệ không gian sử dụng chủ yếu tranh ảnh, nghĩ trong
đầu hoặc thể hiện ra bằng ảnh chụp, phim chiếu, đồ hoạ, kí hiệu, chữ viết hình tượng
(chữ Trung Quốc, chữ Ả Rập…). Vì vậy, có thể dùng các chiến lược dạy học dưới
đây để phát triển trí tuệ không gian của học sinh.
+ Tạo hình ảnh: Yêu cầu học sinh trình bày kiến thức hoặc tài liệu đọc thành hình
và ảnh. Giáo viên có thể vẽ lên bảng kiến thức cần dạy. Tập cho học sinh nhắm mắt
lại rồi mường tượng ra điều vừa đọc hay vừa học. Sau đó, học sinh có thể vẽ lại
hoặc nói về “hình bóng” của các kiến thức đã nhập vào trong đầu.
+ Lập mã bằng màu sắc: Học sinh có thể dùng bút màu để tạo ra các mật mã theo
quy ước để tạo ra tâm lí bớt căng thẳng đối với các vấn đề hay các nội dung “hóc
búa” và cũng nhằm làm bớt sự nhàm chán khi trong khung cảnh lớp học chỉ toàn
những hình đen – trắng (bảng đen, chữ và hình đen trắng trong sách giáo khoa, phấn trắng).
+ Phác thảo hình tượng các ý tưởng: Chiến lược này đề nghị học sinh “vẽ” lại kiến
thức cốt lõi mà các em vừa học được, ví dụ như sơ đồ tư duy, biểu đồ. Sau đó, yêu