
















Preview text:
Môi trường và Phát triển 1,2,7
1. Chức năng của môi trường
a) Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật.
- Trong cuộc sống hàng ngày, con người có các nhu cầu cần thiết cho các hoạt động sống
như nhà ở, đất để sản xuất, ăn uống, không gian giải trí, vui chơi,… Trung bình mỗi
người mỗi ngày cần 4m3 không khí sạch để hít thở, 2,5 lít nước để uống, một lượng
lương thực thực phẩm tương ứng với 2000 - 2400 calo.
- Môi trường là không gian sống của con người có các nhóm chức năng cơ bản sau:
+ Xây dựng: cung cấp mặt bằng và nền móng cho các đô thị, khu công nghiệp, kiến trúc hạ tầng và nông thôn.
+ Vận tải: cung cấp mặt bằng, không gian và nền móng cho giao thông đường thủy,
đường bộ và đường không.
+ Sản xuất: cung cấp mặt bằng cho sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp.
+ Cung cấp năng lượng, thông tin.
+ Giải trí của con người: cung cấp mặt bằng cho việc giải trí ngoài trời của con người
(chạy bộ, đi bộ, đua thuyền,…)
b) Môi trường là nơi chứa đựng và tạo ra các nguồn tài nguyên cần thiết cho sản
xuất và đời sống của con người.
- Xét về bản chất thì mọi hoạt động của con người là để duy trì và phát triển kinh tế xã
hội, đều nhằm vào việc khai thác các hệ thống sinh thái của hệ tự nhiên thông qua lao
động cơ bắp, vật tư công cụ và khoa học công nghệ.
- Với sự hỗ trợ của hệ thống sinh thái, con người đã khai thác từ tự nhiên các nguồn tài
nguyên thiên nhiên cần thiết cho việc sản xuất ra của cải vật chất, đáp ứng nhu cầu của
mình. Thiên nhiên là nguồn cung cấp mọi nguồn tài nguyên cần thiết như vật chất, năng
lượng, thông tin (kể cả thông tin di truyền) cần thiết cho việc phát triển kinh tế xã hội của con người.
- Nhóm chức năng sản xuất tự nhiên của môi trường gồm:
+ Rừng tự nhiên: điều hòa nguồn nước và chu trình nước, bảo tồn đa dạng sinh học và độ
phì nhiêu của đất, nguồn cung ứng gỗ củi, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái,…
+ Các thủy vực: có chức năng cung cấp nước, nguồn thủy hải sản, nơi vui chơi giải trí,…
+ Động thực vật: cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm,…
+ Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, gió, nước: cung cấp năng lượng, điều kiện hít
thở, hình thành chế độ thời tiết,…
+ Khoáng sản: cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp,…
c) Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc
sống và hoạt động sản xuất.
- Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng của cải vật chất, con người luôn tạo ra các chất
thải và đổ bỏ vào môi trường. Sự gia tăng dân số thế giới diễn ra nhanh chóng, quá trình
công nghiệp hóa, đô thị hóa làm số lượng chất thải tăng lên không ngừng dẫn đến chức
năng phân hủy chất thải của môi trường ở nhiều nơi trở nên quá tải, phát sinh tình trạng ô nhiễm môi trường.
- Phân loại các chức năng một cách chi tiết:
+ Chức năng biến đổi lý - hóa học: pha loãng, phân hủy hóa học nhờ ánh sáng, hấp thụ,
sự tách chiết các vật thải và độc tố.
+ Chức năng biến đổi sinh hóa: sự hấp thụ các chất dư thừa, chu trình nitơ và cacbon,
khử các chất độc bằng con đường sinh hóa.
+ Chức năng biến đổi sinh học: khoáng hóa các chất thải hữu cơ, mùn hóa,…
d) Môi trường có chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
- Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật chất và sinh
vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của con người.
- Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu và báo động sớm
các hiểm họa đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như: phản ứng sinh lý của
cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên, các hiện tượng thiên tai như bão, động
đất, sóng thần, núi lửa phun trào,…
- Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài động thực vật,
các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ để thưởng
ngoạn, tôn giáo và văn hóa khác.
e) Bảo vệ con người khỏi các tác động bên ngoài
- Biến đổi khí hậu là một trong những tác động lớn từ bên ngoài mà môi trường đang
phải đối mặt. Sự thay đổi trong khí hậu, gồm có tăng nhiệt độ, mức biển tăng cao, và
thay đổi mô hình thời tiết, có thể gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan, lũ lụt, và hạn
hán. Môi trường đóng vai trò như một bức tường bảo vệ, giúp giảm thiểu tác động tiêu
cực này đối với con người.
- Môi trường hấp thụ và giảm thiểu ô nhiễm từ các nguồn khác nhau như khói bụi, khí
thải công nghiệp, và chất thải sinh hoạt. Điều này giúp giảm nguy cơ các bệnh lý liên
quan đến ô nhiễm và đảm bảo môi trường sống an toàn cho con người.
- Môi trường tự nhiên cung cấp một môi trường dựa vào đất, không khí, và nước, giúp
cung cấp các nguồn tài nguyên và dưỡng chất cần thiết để hỗ trợ hệ thống miễn dịch
của con người. Một môi trường không ô nhiễm giúp tăng cường sức khỏe và khả năng
chống lại các bệnh tật.
=> Các chức năng của môi trường không chỉ giới hạn ở mức độ tự nhiên mà còn liên
quan mật thiết đến sự phồn thịnh của đất nước và sức khỏe của con người. Việc hiểu và
tôn trọng môi trường là trách nhiệm của chúng ta để bảo vệ và duy trì những chức năng
quan trọng này, không chỉ cho thế hệ hiện tại mà còn cho những thế hệ sắp tới.
2. Những hạn chế của nền nông nghiệp công nghiệp hóa
- Những hạn chế của nền nông nghiệp công nghiệp hóa là:
+ Coi thường bản tính sinh học của thế giới sinh vật, xem cây trồng, vật nuôi như những
cái máy sản xuất ra nông sản, sữa, thịt, trứng,… không chú ý đến quy luật sinh sống
bình thường của sinh vật.
+ Coi thường các hoạt động sinh học của đất, bón quá nhiều phân hóa học dễ tan để
làm tăng nhanh năng suất, đã làm giảm đa dạng sinh học của đất, làm đất chua dần và
mất sức sống, dùng những công cụ nặng để làm đất đã làm cho đất mất cấu trúc, dẻ
chặt, hạn chế hoạt động của rễ cây và các sinh vật đất, sự tràn ngập của các chất hóa học
vào đất dưới dạng các phân khoáng, thuốc trừ sâu, diệt cỏ,… đã làm nảy sinh ô nhiễm đất, ô nhiễm nước.
+ Nhiều sản phẩm còn chứa một phần tồn dư các chất hóa học độc hại như thuốc trừ
sâu, diệt cỏ, phân bón hóa học,… Các sản phẩm của nền nông nghiệp này kém chất
lượng, ăn không ngon, hoa quả chứa nhiều nước, khó bảo quản, khó vận chuyển đi xa.
Thịt nhão, trứng không thơm ngon, còn sữa có giá trị dinh dưỡng kém,…
+ Làm mất đi và lãng quên dần các cây trồng và vật nuôi gốc địa phương, sản phẩm
nông nghiệp cổ điển, truyền thống. Đây là những giống cây trồng, vật nuôi có sức đề
kháng tốt, chống chịu tốt các điều kiện khí hậu xấu của địa phương, có khẩu vị của sản
phẩm tự nhiên. Đôi khi làm mất đi các nguồn gen quý có trong cây trồng và vật nuôi đã
được bao đời người nông dân khắp nơi trên thế giới lựa chọn và tạo nên.
+ Làm xuống cấp chất lượng môi trường, độ màu mỡ của đất trồng trọt, làm mặn hóa,
axit hóa, kết cấu đất bị phá vỡ, đất bị ô nhiễm, nước bị ô nhiễm, hệ sinh thái nông
nghiệp bị mất cân bằng sinh thái học.
- Nền nông nghiệp công nghiệp hóa dựa vào giá thành để đầu vào như phân bón,
giống, thuốc trừ sâu, máy móc, thủy lợi và sản phẩm đầu ra để phát triển. Tiếc rằng lợi
nhuận kiểu canh tác này ngày càng giảm. Nếu vào cuối thế kỷ 19 bỏ ra 1 USD vào sản
xuất thì thu được tới 16 USD, ngày nay chỉ thu được có 2 USD vì chi phí cho đầu vào
quá lớn mà giá bán lương thực, thực phẩm lại thấp đi. Sự phân hóa xã hội giàu nghèo
ngày càng mạnh, tính chất ổn định của xã hội ngày càng mong manh. Các nước
nghèo lệ thuộc vào các nước giàu có nền công nghiệp phát triển, tri thức của nền nông
nghiệp truyền thống bị lãng quên.
=> Có thể thấy là loài người đã lạm dụng các tiến bộ công nghệ và kỹ thuật của giai
đoạn công nghiệp hóa vừa qua vào nông nghiệp, tuy có mang lại nhiều thành tựu to lớn
nhưng không có triển vọng gì về sự phát triển bền vững.
3. Mối quan hệ giữa dân số với tài nguyên rừng
* Dân số tác động lên tài nguyên rừng:
- Diện tích rừng thu hẹp do khai thác gỗ, phá rừng làm nương rẫy,…
Diện tích rừng bị giảm do hoạt động khai thác gỗ, mà thường là do nhu cầu về
nguyên liệu xây dựng và năng lượng.
Việc phá rừng để mở rộng đất nương là một hệ quả của sự gia tăng dân số và nhu
cầu thức ăn ngày càng tăng.
- Chuyển mục đích từ đất rừng sang đất sản xuất, mở đường giao thông vì sự gia tăng dân
số thường đi kèm với nhu cầu mở rộng diện tích đất để sản xuất thực phẩm, mở đường
giao thông để vận chuyển, tiện sinh hoạt… và đáp ứng nhu cầu sinh sống của con người.
- Tàn phá hệ sinh thái: sự gia tăng dân số thường dẫn đến tăng cường hoạt động sản
xuất và công nghiệp, đồng thời gia tăng nhu cầu tiêu thụ tài nguyên từ rừng.
Tàn phá hệ sinh thái có thể xuất phát từ việc sử dụng hóa chất độc hại, xả
rác, … làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và cân bằng tự nhiên trong rừng.
* Vai trò của rừng: Cung cấp oxy cho con người và động vật, giúp điều hòa khí hậu.
Nguồn cung cấp các loại nguyên liệu, vật liệu cho quá trình sản xuất.
• Chống xói mòn đất, cản sức gió và ngăn cản tốc độ chảy của dòng nước.
• Phát triển du lịch sinh thái tại các khu vườn quốc gia, rừng sinh thái.
• Là môi trường cho những nghiên cứu khoa học và hoạt động thám hiểm.
=> Nhìn chung, mối quan hệ giữa dân số và tài nguyên rừng thường đi kèm với sự gia
tăng nhu cầu sử dụng đất và nguyên liệu từ rừng để đáp ứng nhu cầu sinh sống và sản
xuất của một dân số ngày càng tăng. Điều này có thể tạo ra áp lực lớn lên các hệ sinh thái
rừng và gây ra những hậu quả tiêu cực về môi trường.
4. Mối quan hệ giữa dân số với tài nguyên nước
* Dân số tác động lên tài nguyên nước:
- Làm giảm diện tích bề mặt ao, hồ, sông,…
Dân số gia tăng dẫn đến sự mở rộng đô thị và nông thôn, làm giảm diện tích bề mặt
ao, hồ, và sông. Các khu đô thị mọc lên cần đất đai, và việc này thường diễn ra tại các
khu vực gần các nguồn nước tự nhiên, gây mất mát nghiêm trọng cho hệ sinh thái nước.
- Làm ô nhiễm các nguồn nước do chất thải, các loại thuốc trừ sâu và diệt cỏ,..
Sự gia tăng sử dụng thuốc trừ sâu và diệt cỏ trong nông nghiệp để tăng cường sản lượng
thức ăn gây ra ô nhiễm nước. Hóa chất từ các khu vực công nghiệp cũng đóng góp vào
tình trạng ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và động, thực vật.
- Làm thay đổi chế độ thủy vân dòng chảy sông suối (do phá rừng, xây dựng đập và
công trình thủy lợi, rác thải bồi lắng,…
Phá rừng, xây dựng đập, và công trình thủy lợi làm thay đổi đáng kể chế độ thủy văn của
sông suối. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sinh thái nước mà còn tạo ra các vấn đề về
lũ lụt và hạn hán, ảnh hưởng đến cảnh quan tự nhiên và đời sống của cộng đồng.
* Vai trò của tài nguyên nước:
1. Nguồn nước uống: Nước là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất đối với sức khỏe con
người. Dân số cần nước để uống hàng ngày để duy trì sức khỏe và hoạt động của cơ thể.
2. Nước cho nông nghiệp- công nghiệp: Nước đóng vai trò quan trọng trong sản xuất
nông nghiệp, là nguồn cung cấp nước cho cây trồng và động vật nuôi. Việc có đủ
nguồn nước cho nông nghiệp giúp duy trì an sinh xã hội và kinh tế. Nước là một
thành phần quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp, từ sản xuất đến chế biến.
Công nghiệp sử dụng nước để làm mát, làm sạch và sản xuất nhiều sản phẩm khác nhau.
3. Giao thông và vận tải: Nước đóng vai trò quan trọng trong giao thông và vận tải, từ
việc cung cấp đường dẫn cho tàu thuyền đến việc duy trì đường sông và đường
biển cho giao thông hàng hải.
4. Nguồn năng lượng: Nước cũng có thể được sử dụng để tạo năng lượng, như năng
lượng từ thủy điện. Các nhà máy thủy điện sử dụng nước để tạo ra điện năng.
5. Vui chơi và giải trí: Nước cũng có thể là nguồn giải trí và vui chơi, từ các hoạt động
nghệ thuật đến thể thao và giải trí dọc theo các khu vực nước.
=> Nhìn chung, mối quan hệ giữa dân số và tài nguyên nước thường gặp các thách thức
từ sự tăng cường nhu cầu sử dụng đất và nước để đáp ứng nhu cầu sống và sản xuất. Việc
quản lý và bảo vệ tài nguyên nước trở thành một ưu tiên quan trọng để đảm bảo sự cân
bằng giữa sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường nước.
5. Chức năng của du lịch:
- Chức năng xã hội thể hiện trong vai trò phục hồi sức khoẻ và tăng cường sức sống cho nhân dân,...
- Chức năng kinh tế thể hiện trong việc tăng khả năng lao động của nhân dân và tạo ra
công việc làm ăn mới cho xã hội,...
- Chức năng sinh thái thể hiện trong việc tạo ra môi trường sống ổn định về mặt sinh thái,...
- Chức năng chính trị thể hiện trong vai trò cũng cố hòa bình và tình đoàn kết của các dân tộc,…
5.1 Phân tích những tác động của hoạt động du lịch đến môi trường
Ngày nay trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được
trong cuộc sống của con người và hoạt động du lịch đang trở thành một ngành kinh tế
quan trọng ở nhiều nước. Du lịch thường mang lại hiệu quả kinh tế cao và được mệnh
danh là ngành “công nghiệp không khói”.
Các tác động của du lịch đến môi trường
a) Tác động tích cực (5)
- Bảo tồn thiên nhiên: du lịch góp phần khẳng định giá trị và góp phần vào việc bảo
tồn các diện tích tự nhiên quan trọng, phát triển các khu bảo tồn, vườn quốc gia, các điểm văn hóa.
- Tăng cường chất lượng môi trường: du lịch có thể cung cấp những sáng kiến cho việc
làm sạch môi trường thông qua kiểm soát chất lượng không khí, nước, đất, ô nhiễm
tiếng ồn, rác thải và các vấn đề môi trường khác thông qua các chương trình quy hoạch
cảnh quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc.
- Đề cao môi trường: việc phát triển các cơ sở du lịch được thiết kế tốt có thể đề cao các giá trị cảnh quan.
- Cải thiện hạ tầng cơ sở: các cơ sở hạ tầng của địa phương như sân bay, đường sá, hệ
thống cấp thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc có thể được cải thiện thông qua hoạt động du lịch.
- Tăng cường hiểu biết về môi trường của cộng đồng địa phương: thông qua đề cao
các giá trị về văn hóa và thiên nhiên của các điểm du lịch, làm cho cộng đồng địa phương
tự hào về di sản của họ và gắn liền vào hoạt động bảo vệ các di sản văn hóa du lịch đó.
Du lịch có nhiều lợi ích đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia nhưng hoạt động
du lịch cũng tiềm ẩn các tác động tiêu cực đối với môi trường và phát triển bền vững.
b) Tác động tiêu cực (11)
- Ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên: các hoạt động giải trí ở các vùng biển như bơi
lặn, câu cá thể thao có thể ảnh hưởng đến các rạn san hô, nghề cá,… Các nhu cầu về năng
lượng, thực phẩm ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng của người dân địa phương. Việc sử
dụng các cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch làm đất bị thoái hóa, nơi ở của các loài hoang dã bị mất đi, …
- Ảnh hưởng đến nhu cầu và chất lượng nước: du lịch là ngành công nghiệp tiêu thụ
nước nhiều, thậm chí hơn cả nhu cầu nước sinh hoạt của nhân dân địa phương (một
khách du lịch tiêu thụ đến 200 lít nước/ngày).
- Làm giảm tính đa dạng sinh học: do xáo trộn nơi ở của các loài hoang dã, khai hoang
để phát triển du lịch, gia tăng áp lực đối với những loài bị đe dọa do các hoạt động buôn
bán và săn bắt, tăng nhu cầu về chất đốt, cháy rừng.
- Ảnh hưởng đến văn hóa xã hội của cộng đồng: các hoạt động du lịch sẽ làm xáo trộn
cuộc sống và cấu trúc xã hội của cộng đồng địa phương, có thể có những tác động chống
lại các hoạt động truyền thống trong việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học;
- Nước thải: nếu không có hệ thống thu gom nước thải cho khách sạn, nhà hàng thì nước
thải sẽ ngấm xuống nước ngầm hoặc các thủy vực lân cận (sông, hồ, biển), có khả năng
lan truyền nhiều loại dịch bệnh hoặc làm ô nhiễm các thủy vực gây hại cho cảnh quan
môi trường và nuôi trồng thủy sản.
- Rác thải: vứt rác bừa bãi là vấn đề chung của của mọi khu du lịch. Bình quân một
khách du lịch thải ra khoảng 1kg rác thải/ngày. Đây là nguyên nhân gây mất cảnh quan,
mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và nảy sinh xung đột xã hội.
Ô nhiễm không khí: Tuy được coi là ngành "công nghiệp không khói", nhưng du lịch
có thể gây ô nhiễm khí thông qua phát xả khí thải của động cơ xe máy và tàu thuyền,
đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính, gây hại cho cây cối, động vật hoang
dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi và bê tông.
Năng lượng: Tiêu thụ năng lượng trong khu du lịch thường không hiệu quả và lãng phí.
Ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách có thể gây
phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác, kể cả động vật hoang dại.
Ô nhiễm phong cảnh: Ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do khách sạn, nhà hàng
có kiến trúc thô kệch, vật liệu ốp lát không phù hợp, bố trí các dịch vụ thiếu khoa học, sử
dụng quá nhiều phương tiện quảng cáo nhất là các dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng
kém đối với các công trình xây dựng và cảnh quan. Phát triển du lịch hỗn độn, pha tạp,
lộn xộn là một trong những hoạt động gây suy thoái môi trường tệ hại nhất.
Làm nhiễu loạn sinh thái: Việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm soát có thể tác
động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú, đe doạ các loài động thực
vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung ứng thịt thú rừng, thú nhồi bông, côn trùng...). Xây
dựng đường giao thông và khu cắm trại gây cản trở động vật hoang dại di chuyển tìm
mồi, kết đôi hoặc sinh sản, phá hoại rạn san hô do khai thác mẫu vật, cá cảnh hoặc neo đậu tàu thuyền...
6. Trình bày khái niệm tài nguyên, phân loại tài nguyên thiên nhiên theo khoa học môi trường
* Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất,
hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới của con người.
* Phân loại theo khoa học môi trường:
- tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất, sinh vật v.v...) là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự
bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý.
- tài nguyên không tái tạo là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc biến đổi sau quá trình sử dụng.
7. Trình bày khái niệm môi trường, thành phần môi trường, quy chuẩn kĩ thuật môi
trường, tiêu chuẩn môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường
a) Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với
nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát
triển của con người, sinh vật và tự nhiên. (Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2020)
b) Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không
khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác.
c) Quy chuẩn kĩ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi
trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu
kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản
bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường.
d) Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường
xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật
và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự
nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường.
e) Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với
quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con
người và sinh vật. (Luật Bảo vệ Viêt Nam 2020)
f) Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi
trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
g) Sự cố môi trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến
đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng.
7.1 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển
Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn
và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
8. Nêu khái quát quan hệ phát triển dân số với tài nguyên môi trường.(4)
Trong thời đại hiện đại, mối quan hệ giữa phát triển dân số và tài nguyên môi trường trở
thành một vấn đề ngày càng quan trọng và phức tạp. Sự gia tăng đều đặn của dân số trên
toàn cầu đặt ra những thách thức lớn đối với sự bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên
nhiên. Trong bối cảnh này, chúng ta cần nhìn nhận và hiểu rõ quan hệ giữa phát triển dân
số với tài nguyên môi trường:
1. Tăng Dân Số và Xuất Hiện Áp Lực Tài Nguyên:
Sự tăng dân số đồng nghĩa với sự gia tăng nhu cầu về các nguồn tài nguyên
như nước, thức ăn, năng lượng, và đất đai. Điều này tạo ra áp lực lớn đối
với môi trường như vấn đề cạn kiệt nước uống, tăng rác thải sản xuất và
sinh hoạt,… đặc biệt là trong bối cảnh tài nguyên có hạn. Các hoạt động
khai thác, sản xuất, và tiêu thụ tăng lên để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng,
góp phần làm thay đổi cấu trúc và tính chất của môi trường.
2. Ảnh Hưởng Đến Hệ Sinh Thái và Đa Dạng Sinh Học:
Sự mở rộng của các đô thị và khu dân cư để đáp ứng nhu cầu về chỗ ở và
làm việc cho dân số đông đúc có thể dẫn đến mất mát môi trường sống tự
nhiên và làm giảm đa dạng sinh học. Rừng, cánh đồng, và vùng đất tự
nhiên khác thường phải nhường chỗ để mở rộng các khu đô thị, dân cư. 3. Ô Nhiễm Môi Trường:
Sự tăng dân số cũng góp phần vào vấn đề ô nhiễm môi trường. Những hoạt
động công nghiệp và sinh hoạt hàng ngày của dân số lớn có thể tạo ra lượng
lớn chất thải, khí thải, và chất ô nhiễm khác, ảnh hưởng đến chất lượng
không khí, nước, và đất.
4. Thách Thức cho Bền Vững:
Mối quan hệ giữa phát triển dân số và tài nguyên môi trường tạo ra thách
thức lớn cho bền vững. Việc duy trì sự cân bằng giữa nhu cầu ngày càng
tăng và bảo vệ tài nguyên tự nhiên là một điểm quan trọng trong việc xây
dựng một tương lai bền vững.
=> Để đối mặt với những thách thức này, chúng ta cần có những chiến lược và hành động
quyết liệt hướng tới sự bền vững trong phát triển dân số và quản lý tài nguyên. Sự nhận
thức và hành động từ cộng đồng quốc tế, chính trị và xã hội sẽ đóng vai trò quan trọng
trong việc xây dựng một tương lai mà phát triển dân số và bảo tồn môi trường không
còn là những mục tiêu trái ngược, mà là những yếu tố hỗ trợ lẫn nhau.
9. Theo anh/chị, sự tăng trưởng mạnh trong nền kinh tế ở mỗi quốc gia có phải là
phát triển bền vững hay không? Tại sao? Không vì dựa vào khái niệm phát triển
bền vững trên, có thể thấy ở quốc gia có sự tăng trưởng mạnh:5
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại
đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài
hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. (LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG - 2014)
1. Tiêu Thụ Tài Nguyên Không Bền Vững:
Mô hình tăng trưởng mạnh thường đi kèm với việc tiêu thụ tài nguyên
không bền vững như quá mức sử dụng năng lượng không tái tạo, khai thác
mỏ và lâm nghiệp không bền vững. Điều này có thể dẫn đến mất mát đa
dạng sinh học, ô nhiễm môi trường, và suy giảm chất lượng cuộc sống.
2. Chế Độ Kinh Tế Chưa Cân Bằng:
Sự tăng trưởng mạnh không nhất thiết đảm bảo sự cân bằng trong phân
phối nguồn lực và lợi ích trong xã hội. Trong một số trường hợp, nó có thể
dẫn đến sự gia tăng khoảng cách giữa giàu và nghèo, gây ra bất bình đẳng xã hội.
3. Ảnh Hưởng Đến Môi Trường:
Sự tăng trưởng nhanh chóng thường đi kèm với sự ô nhiễm và suy giảm
chất lượng môi trường. Việc mở rộng các ngành công nghiệp, gia tăng giao
thông vận tải, và sự tiêu thụ lớn có thể gây ra tác động tiêu cực đến không khí, nước, và đất.
4. Phụ Thuộc Quá Mức Vào Năng Lượng Hóa Thạch:
Một số quốc gia, khi tăng trưởng mạnh, có thể phụ thuộc quá mức vào
nguồn năng lượng hóa thạch, đặt ra thách thức trong việc chuyển đổi sang
nguồn năng lượng tái tạo và giảm lượng khí nhà kính.
5. Không Tạo Ra Sự Cân Bằng Giữa Lợi Ích Ngắn Hạn và Dài Hạn:
Sự tăng trưởng mạnh có thể tập trung vào lợi ích ngắn hạn mà không đảm
bảo sự bền vững dài hạn. Việc tăng cường sản xuất và tiêu thụ có thể mang
lại lợi nhuận và việc làm, nhưng nếu không quản lý cẩn thận, có thể dẫn
đến hậu quả không mong muốn cho môi trường và xã hội như ô nhiễm môi
trường, khủng hoảng kinh tế, biến đổi khí hậu,…
Để một nền kinh tế phát triển được coi là bền vững, cần phải xem xét và tích hợp các khía
cạnh xã hội, kinh tế, và môi trường. Điều này bao gồm việc sử dụng nguồn lực bền vững,
tạo cơ hội làm việc và giảm bất bình đẳng xã hội, cùng việc bảo vệ và phục hồi môi trường.
10. a) Vai trò của rừng (6)
Cung cấp oxy cho con người và động vật, giúp điều hòa khí hậu.
• Là môi trường sinh sống và trú ẩn của nhiều loài động thực vật.
• Nguồn cung cấp các loại nguyên liệu, vật liệu cho quá trình sản xuất.
• Chống xói mòn đất, cản sức gió và ngăn cản tốc độ chảy của dòng nước.
• Phát triển du lịch sinh thái tại các khu vườn quốc gia, rừng sinh thái.
• Là môi trường cho những nghiên cứu khoa học và hoạt động thám hiểm.
Đối với đời sống xã hội (4)
• Rừng điều hòa không khí trong lành • Giúp
, phòng chống thiên tai lũ lụt, xói mòn và sạt lở đất
điều tiết lượng nước
• Rừng có tác dụng làm tăng độ phì nhiêu, bồi dưỡng tiềm năng của đất
• Chống cát ven biển di động
Đối với sản xuất (2)
• Là nguồn cung cấp củi đốt, nguồn nguyên liệu gỗ
• Rừng là nơi trú ngụ của các loại động thực vật quý hiếm, nguồn cung cấp dược liệu, các
loại thực phẩm giàu giá trị dinh dưỡng. Là nguồn gen để nghiên cứu khoa học,..
Đối với nền kinh tế (5)
Rừng là một trong những tài nguyên quý báu mà thiên nhiên ưu ái ban tặng cho nước ta,
rừng có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng với môi trường sinh thái, đóng góp giá trị
to lớn với nền kinh tế quốc gia, gắn liền với đời sống của nhân dân và sự sống còn của
dân tộc (Luật bảo vệ và phát triển rừng)
• Cung cấp nguồn gỗ làm vật liệu xây dựng, nguồn nhiên liệu phục vụ cho đời sống hằng ngày của con người
• Thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến lâm sản, gỗ, sợi, giấy, gỗ trụ mô,… phát triển mạnh mẽ.
• Là một nguồn dược liệu rất quý: Các vị thuốc như đương quy, tam thất, đỗ trọng, thảo quả, hồi…
• Nguồn thực phẩm dồi dào phục vụ cho đời sống con người như: mộc nhĩ, nấm hương,....
• Rừng còn giúp thúc đẩy các hoạt động du lịch, khám phá thiên nhiên, thám hiểm, nguồn
gen để nghiên cứu khoa học…
b) Những tác hại đối với tự nhiên nếu phá hủy rừng
Mất đa dạng sinh học: Rừng là nơi sinh sống của hàng triệu loài động vật và thực
vật, có vai trò quan trọng trong duy trì sự cân bằng sinh thái và chu trình sinh
học. Khi rừng bị phá hủy, nhiều loài trong số này mất môi trường sống tự nhiên,
điều này có thể gây ra sự tuyệt chủng của chúng. Mất đa dạng sinh học không chỉ
làm giảm giá trị tự nhiên và văn hóa của rừng, mà còn ảnh hưởng đến các ngành
kinh tế liên quan đến du lịch, y tế và nghiên cứu khoa học.
Thay đổi khí hậu: Khi rừng bị chặt phá, lượng khí carbon dioxide trong không khí
sẽ tăng lên, gây ra sự biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết bất thường như
hạn hán, nóng lên toàn cầu và nước biển dâng cao.
Xói mòn đất: Rừng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất khỏi sự xói mòn do
gió và nước. Cây cối giữ cho đất ẩm ướt và giàu chất dinh dưỡng, giúp cho cây cối
khác phát triển. Khi rừng bị chặt phá, đất sẽ bị khô cằn và bạc màu, dễ bị rửa trôi
và mất đi các chất dinh dưỡng. Điều này ảnh hưởng đến năng suất cây trồng và sản xuất nông nghiệp.
Câu 11.Nêu nguyên nhân và hệ quả đối với sức khoẻ con người của việc suy giảm tầng ozon * Nguyên nhân:
nhân chính dẫn đến suy giảm tầng ozon là sự sử dụng và phát thải các chất gây hủy hoại
tầng ozon, đặc biệt là các loại chất khí Clo – Fluoro - Carbon (CFCs), và các chất hóa học
như Halon Nox do các hoạt động của con người thải ra. Những chất này thường được sử
dụng trong các sản phẩm như máy lạnh, tủ lạnh, xốp cách âm, và chất làm lạnh trong hệ
thống làm lạnh công nghiệp.
* Hệ quả đối với sức khỏe con người: tia cực tím có thể gây ung thư da và đục thủy tinh
thể. Các phản ứng miễn dịch có thể bị giảm đối với người tiếp xúc nhiều với bức xạ cực
tím; làm suy giảm khả năng chống lại các bệnh tật và nhiễm trùng, các bệnh lây nhiễm
trở nên phổ biến và nghiêm trọng hơn,…
Câu 12: Toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để mô tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế
thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ
chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá, kinh tế, … trên quy mô toàn cầu.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến toàn cầu hóa:
- Phương tiện liên lạc: truyền hình, điện thoại và internet đã tạo thành một ngôi làng toàn cầu (global village).
- Phương tiện vận chuyển: đã trở nên rẻ và nhanh. Các cơ sở kinh doanh có thể chuyên
chở các sản phẩm và các nguyên liệu thô đi khắp thế giới-tạo ra các sản phẩm và các dịch
vụ trên khắp thế giới đến khách hàng Anh.
- Mở rộng tự do thương mại: các chính phủ trên khắp thế giới đã nới lỏng các luật làm
hạn chế việc buôn bán và đầu tư nước ngoài, một số chính phủ đưa ra các trợ cấp và các
khuyến khích về thuế để kêu gọi các công ty nước ngoài đầu tư vào nước họ. Quan niệm
không có sự hạn chế trong kinh doanh buôn bán giữa các nước gọi là tự do thương mại.
* Mối quan hệ toàn cầu hóa và môi trường:
Các cơ hội kinh doanh rộng hơn có nghĩa khai thác và xuất khẩu dầu, gỗ và các nguồn tài
nguyên không tái tạo sẽ nhiều hơn.
- Thương mại phát triển hơn có nghĩa là đi lại, vận tải với khoảng cách xa hơn, góp phần
ô nhiễm thông qua đốt cháy nhiên liệu và phát thải các khí độc hại, đóng góp vào sự nóng
lên toàn cầu và gây hại cho sức khoẻ con người.
- Thương mại quốc tế đang khuyến khích sản xuất và tiêu thụ các thực phẩm thay đổi gen
trên khắp thế giới mà tác hại tích lũy có thể sẽ ảnh hưởng đến nhiều năm sau hoặc thậm
chí đến các thế hệ sau.
- Sự truyền bá toàn cầu về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo phong cách phương
Tây đang tạo ra một dạng văn hoá tiêu thụ không suy nghĩ, lãng phí và khai thác quá mức các nguồn tài nguyên.
- Sản xuất địa phương đang hướng đến các kiểu mẫu theo nhu cầu đa số của thế giới.
Kết quả là các nhu cầu thiểu số (như các nhu cầu của các bộ lạc) và sự đa dạng sinh học đang bị mất đi.
- Để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và công việc, các quốc gia đang hạ thấp một
cách cố ý các tiêu chuẩn môi trường: hiện tượng chủ nghĩa bảo hộ gây ra thiệt hại cho
các nước khác trước đây có thể sẽ được thay thế bằng hiện tượng toàn cầu hoá gây ra
thiệt hại cho chính mình. Câu 13: Nghèo đói
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định.
Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian.
*Quan hệ giữa nghèo đói và môi trường
Nghèo đói và môi trường có mối liên hệ gần gũi với nhau.
• Sự suy thoái đất nông nghiệp, thu hẹp diện tích rừng, khan hiếm các nguồn nước sạch,
giảm sản lượng cá và đe doạ tăng trưởng xã hội và tổn thương hệ sinh thái từ thay đổi
khí hậu và mất đa dạng sinh học,...đang tác động cuộc sống những người nghèo.
• Người nghèo thường ít có khả năng đối phó với những đột biến tự nhiên, trong môi
trường suy giảm này tất yếu không thể tránh khỏi gia tăng tình trạng nghèo đói.
• Mặt khác, để duy trì cuộc sống trước mắt, nhiều người nghèo buộc phải khai thác tài
nguyên thiên nhiên dẫn đến cạn kiệt tài nguyên, suy thoái môi trường.
Mối quan hệ giữa nghèo đói và môi trường là mối quan hệ cân bằng động và đặc biệt, nó
phản ánh cả qui mô và vị trí địa lý cũng như các đặc trưng kinh tế, xã hội, văn hoá
của từng cá nhân, gia đình và các nhóm xã hội. Mỗi nhóm xã hội khác nhau có thể ưu
tiên những vấn đề môi trường khác nhau. Trong những vùng nông thôn, người nghèo
quan tâm đặc biệt tới chất lượng và sự tiếp cận an toàn của tài nguyên thiên nhiên. Đối
với người nghèo ở thành thị thì nước, năng lượng, điều kiện vệ sinh, thu gom chất thải,
thoát nước,... là những mối quan tâm hơn cả.
• Nghèo đói làm cho các cộng đồng nghèo phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên mỏng
manh của địa phương, và trở nên dễ bị tổn thương do những biến động của thiên nhiên và xã hội.
• Nghèo làm cho thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, cho cơ sở hạ tầng, cho văn hoá giáo dục
và cho các dự án cải tạo môi trường. Nghèo khổ làm gia tăng tốc độ khai thác tài nguyên
theo hướng khai thác quá mức, khai thác huỷ diệt.
• Nghèo đói là mảnh đất lý tưởng cho mô hình phát triển chỉ tập trung vào tăng trưởng
kinh tế và xây dựng một xã hội tiêu thụ.
• Góp phần bùng nổ dân số.
* Ðấu tranh chống nghèo đói (5)
- Tăng trưởng kinh tế gắn liền với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
- làm cho nhóm địa phương và phụ nữ có thêm trách nhiệm và thêm nguồn tài nguyên.
- Nâng cao giáo dục và khuyến khích người dân địa phương tham gia bảo vệ và quản lý
bền vững tài nguyên thiên nhiên.
- Kế hoạch hoá gia đình. - Hỗ trợ tài chính.
Câu 14: Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm hàm lượng các
chất tự nhiên trong đất tăng lên, hoặc thêm các độc chất lạ (đến mức vượt tiêu chuẩn cho
phép), gây độc hại cho môi trường, sinh vật và làm xấu cảnh quan.
Câu 15: Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước, có hại cho hoạt
động sống bình thường của con người và sinh vật, do sự có mặt của các tác nhân quá ngưỡng cho phép.
Câu 16: Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng
trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự tỏa mùi, có
mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi).