CHƯƠNG 4: TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
I.TÀI NGUYÊN ĐẤT
1) Đặc điểm của tài nguyên đất
1.1) Khái niệm đất của Docuchaev:
Đất là một hợp phần tự nhiên được hình thành dưới tác động của năm yếu
tố: đá mẹ, khí hậu, địa hình, sinh vật và thời gian.
1.2) Quá trình hình thành tài nguyên đất:
Hai nhóm yếu tố chính góp phần vào quá trình hình thành đất
a) Nhóm vô sinh
-Đá mẹ: Nguồn gốc ban đầu, ảnh hưởng lớn đến quá trình thành tạo của
đất. Nó ảnh hưởng lý tính và hoá tính của đất.
-Khí hậu: các yếu tố như mưa, gió, nhiệt độ, biến thiên nhiệt độ ngày
đêm-theo mùa có tác dụng mạnh mẽ đến sự hình thành đất. Mỗi đới khí
hậu khác nhau sẽ hình thành các kiểu đất khác nhau.
-Nước và chế độ thuỷ văn: trong quá trình hình thành đất, nước đóng vai
trò “vật mang", “vật vận chuyển”, hoà tan các vật liệu cấu tạo thành đất.
-Địa hình địa mạo: Theo quy luật phi địa đới thì càng lên cao khí hậu
càng lạnh. Theo quy luật địa đới thì càng đi về phía hai cực thời tiết sẽ
lạnh hơn. Độ dốc càng lớn khả năng xói mòn càng tăng.
b) Nhóm hữu sinh
-Động vật: Đào xới đất, làm giàu dinh dưỡng,...
- Thực vật: Tổng hợp chất hữu cơ, vô cơ
-Vi sinh vật: phân giải và tổng hợp chất hữu cơ, cố định đạm khí trời
- Con người:
+ Tích cực: làm đất phát triển theo hướng tốt, màu mỡ hơn
+ Tiêu cực: khai thác kiệt quệ tài nguyên, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu
một cách tuỳ tiện
1.3) Các chức năng cơ bản của đất:
-Môi trường cho con người và sinh vật trên cạn sinh trưởng và phát triển.
-Môi trường cho các quá trình biến đổi, phân huỷ các phế thải khoáng và
hữu cơ diễn ra.
-Nơi cư trú và môi trường sống cho các loài động thực vật, vi sinh vật đất.
-Địa bàn lọc và cung cấp nguồn nước cho con người và các loài sinh vật
khác.
2) Tài nguyên đất trên thế giới
Tỉ lệ đất nông nghiệp và đất tự nhiên trên thế giới
Tài nguyên đất của thế giới theo thống kê như sau:
- Tổng diện tích 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng và 13.251
triệu ha đất không phủ băng. Trong đó, 12% tổng diện tích là đất canh tác, 24%
là đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú, đầm lầy.
-Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác hơn
1.500 triệu ha. Tỷ trọng đất đang canh tác trên đất có khả năng canh tác ở các
nước phát triển là 70%; ở các nƣớc đang phát triển là 36%.
2.1) Hiện trạng suy thoái tài nguyên đất
-Nhiễm mặn, nhiễm phèn, chua hoá
-Xói mòn do bị rửa trôi
-Bạc màu
-Ô nhiễm hoá chất
-Sa mạc hoá
2.2) Nguyên nhân gây suy thoái
-Thảm thực vật trên bề mặt đất bị phá hoại
-Khí hậu thời tiết thay đổi
-Ô nhiễm do hoạt động công nghiệp
-Canh tác không bền vững
-Sa mạc hoá
Các châu lục Đất tự nhiên Đất nông
nghiệp
Châu Á 29.5% 35%
Châu Mỹ 28.2% 26%
Châu Phi 20.0% 20%
Châu Âu 6.5% 13%
Châu Đại Dương 15.8% 6%
3) Tài nguyên đất ở Việt Nam:
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, Theo số liệu trong Quyết định kết quả
kiểm kê diện tích đất đai của cả nước năm 2019 cụ thể như sau:
Tổng diện tích đất tự nhiên của nước ta là 33.131.713 ha, trong đó:
- Diện tích tài nguyên đất Việt Nam được sử dụng trong nông nghiệp:
27.986.390 ha;
- Diện tích tài nguyên đất Việt Nam được sử dụng mục đích phi nông
nghiệp: 3.914.508 ha;
- Diện tích tài nguyên đất Việt Nam chưa sử dụng: 1.230.815 ha.
Năm 2021, tổng diện tích đất của Việt Nam 331.212 km², xếp hạng thứ 65
trên toàn thế giới. thể thấy rằng diện tích đất lãnh thổ của nước ta không
lớn nhưng dân số thì lại một tăng lên. Điều này dẫn đến việc diện tích tài
nguyên đất cho mỗi công dân Việt Nam ngày càng bị thu hẹp lại.
3.1) Các kiểu thoái hoá đất ở Việt Nam
-Rửa trôi, xói mòn, suy kiệt dinh dưỡng, hoang hoá khô hạn, cấu cây
trồng nghèo nàn, đất mất khả năng sản xuất
-Mặn hoá, phèn hoá
-Bạc màu
-Ngập úng, ngập lũ, lầy hoá
-Ô nhiễm môi trường đất
3.2) Các nguyên nhân suy thoái
-Phương thức canh tác nương rẫy lạc hậu
-Tình trạng khai thác không hợp lý, chặt phá đốt rừng bừa bãi, sức ép tăng dân
số và các chính sách quản lý không hợp lý
-Việc khai hoang chuyển dân lên vùng trung du, miền núi chưa chuẩn bị tốt về
quy hoạch, kế hoạch, đầu tư và di dân tự do.
II. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
1) Khái niệm:
Ô nhiễm môi trường đất được xem tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi
trường đất bởi các chất gây ô nhiễm.
Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo nguồn gốc phát sinh:
- Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt.
- Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp.
- Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp.
Hoặc theo các tác nhân gây ra ô nhiễm:
- Ô nhiễm do tác nhân vật lý.
- Ô nhiễm do tác nhân hóa học
- Ô nhiễm do tác nhân sinh học.
2) Tác nhân gây ô nhiễm môi trường đất
a) Tác nhân vật lý:
Bao gồm ô nhiễm nhiệt và phóng xạ:
- Ô nhiễm nhiệt: chủ yếu từ các quá trình sản xuất công nghiệp và thường mang
tính cục bộ. Ô nhiễm nhiệt đến từ nguồn nước thải khí thải công nghiệp…
ngoài ra còn từ tự nhiên. Nhiệt độ trong đất tăng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động
của vi sinh vật do làm giảm lượng oxy sự phân hủy diễn ra theo kiểu kỵ khí
với nhiều sản phẩm trung gian gây độc cho cây trồng như NH3, H2S, CH4…
đồng thời làm chai cứng mất chất dinh dưỡng. Các hoạt động cháy rừng, đốt
rừng làm nương rẫy cũng là nguồn gây ô nhiễm nhiệt.
- Ô nhiễm do phóng xạ: từ các chất phế thải của các cơ sở khai thác, nghiên cứu
sử dụng chất phóng xạ. Các chất phóng xạ đi vào trong đất, từ đất vào cây
trồng sau đó có thể đi vào cơ thể con người.
b) Tác nhân hóa học:
- Từ nguồn chất thải công nghiệp: bao gồm chất thải cặn bã, các sản phẩm phụ
do hiệu suất của nhà máy không cao.
- Từ nguồn lượng thuốc bảo vệ thực vật: phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ . .
.Phân bón, thuốc trừ sâu và diệt cỏ được dùng với mục đích tăng thu hoạch mùa
màng, các loại muối trong nước tưới cho cây trồng không được hấp thụ hết
đều gây ô nhiễm cho đất. Các tác nhân gây ô nhiễm không khí khi lắng đọng,
các chất phân hủy từ các bãi rác lan truyền vào đất đều những tác nhân hóa
học gây ô nhiễm đất
Thuốc trừ sâu là tác nhân số một gây ô nhiễm đất. Đã có hơn 1.000 loại hóa chất
thuốc trừ sâu DDT phổ biến nhất từ trước đến nay. DDT chất khó
phân hủy trong nước tạo ra lượng đáng kể trong đất sau đó đi vào chu
trình đất thực vật động vật người. Người bị nhiễm DDT do ăn cá có nồng
độ DDT rất cao qua chuỗi thức ăn (sự tích lũy sinh học và khuếch đại sinh học)
Hàm lượng tích lũy DDT ở các bậc dinh dưỡng trong nước và trên cạn:
Số lần khuếch đại Sinh vật Hàm lượng DDT (ppm)
80.000 Chim nước 1.600,00
5.000 100,00
250 Tôm 5,00
1 Các loại tảo 0,02
75 Chim cổ đỏ 750,00
9 Giun đất 90,00
1 Đất 10,00
Đất bị ô nhiễm do tác nhân hóa học trước tiên sẽ gây tác hại đến hệ sinh vật
sống trong đất, cùng các loài động thực vật sống trên đất. Đất thiếu sinh vật sẽ
trở nên môi trường trơ không thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp được nữa.
c) Tác nhân sinh học:
Do việc sử dụng phân hữu trong nông nghiệp chưa qua xử lý các mầm bệnh
sinh trùng, vi khuẩn đường ruột . . .đã gây ra các bệnh truyền từ đất cho cây
sau đó sang người và động vật.
Đất được coi như nơi lưu giữ các mầm bệnh, trước hết các nhóm trực
khuẩn nguyên sinh vật gây bệnh đường ruột: trực khuẩn lỵ, thương hàn
phó thương hàn, khuẩn tả - lỵ, amip, xoắn trùng vàng da, trực trung than, nấm,
bệnh uốn ván… Tiếp đến là các bệnh lý sinh như giun, sán lá, sán dây…
các nước đang phát triển, ô nhiễm đất bởi các tác nhân sinh học rất nặng
không đủ điều kiện diệt mầm bệnh trước khi đưa chúng trở lại đất. Các bệnh
dịch lây lan rộng như bệnh đường ruột, bệnh sinh trùng… lan truyền theo
đường: người – đất – người, động vật nuôi – đất – người.
3) Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất
a) Tự nhiên:
(Suy thoái)
b) Nhân tạo:
- Sử dụng phân bón trong nông nghiệp: Theo Bộ Nông nghiệp Phát triển
nông thôn, Việt Nam lượng phân bón sử dụng trong nông nghiệp ngày càng
tăng cả về số lượng chủng loại. Hàng năm ít nhất 1.420 loại phân bón khác
nhau được đưa ra thị trường. Số lượng phân bón nhập khẩu trong các năm gần
đây đều tăng. Lượng phân bón hóa học này chủ yếu được sử dụng cho cây lúa,
rau, màu, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả.
Nhìn chung, lượng phân bón hóa học nước ta sử dụng còn ở mức thấp, nhưng
nó lại gây sức ép tới môi trường nông nghiệp và nông thôn bởi 3 lý do sau:
- Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu quả phân bón thấp;
- Bón phân không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm;
- Chất lượng phân bón không bảo đảm: ngoài lượng phân bón được nhập khẩu
theo đường chính thống do nhà nước quản lý, còn một số lượng lớn phân bón
nhập lậu không được kiểm soát. Chính lượng phân bón này đang gây áp lực và
ảnh hưởng xấu đến môi trường đất.
Sử dụng phân bón hóa học bình quân ở một số nước
Quốc gia Lượng phân bón hóa học bình quân sử
dụng cho 1ha gieo trồng
Việt Nam 80 – 90 kg/ha
Hà Lan 758 kg/ha
Nhật Bản 430 kg/ha
Hàn Quốc 467 kg/ha
Trung Quốc 390 kg/ha
Nguồn: Hiện trạng môi trường quốc gia (2005)
- Ô nhiễm đất do thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật gồm thuốc trừ
sâu, thuốc trừ nấm, thuốc trừ chuột, thuốc diệt cỏ. So với năm 1990, tổng lượng
thuốc sử dụng hàng năm tăng từ 1,2 1,5 lần, thậm chí hơn 2 lần chủ yếu sử
dụng cho lúa.
Một số nơi, ô nhiễm đất mang tính cục bộ do chất thải đô thị, khu công nghiệp,
làng nghề, khai thác mỏ.
4) Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường đất
a) Biện pháp kỹ thuật:
Đẩy mạnh biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM):
Mục đích của IPM (Integrated Pest Management) là hạn chế sâu bệnh dưới mức
thể gây ra tác hại theo cách vừa lợi cho sinh thái vừa có hiệu quả về kinh
tế. Cần phải có những biện pháp như:
- Biện pháp sinh học, dụ như phát triển các loài ăn sâu bọ, vật sinh
mầm bệnh của các loài sâu bệnh;
- Biện pháp trồng trọt dụ như nhổ cỏ dại, dùng phương pháp luân canh, đa
dạng hóa cây trồng, sắp xếp thời gian trồng thu hoạch tránh thời kỳ đỉnh
điểm của sâu; sử dụng những giống cây có khả năng chống chịu được sâu bệnh;
- Các biện pháp hóa học như: sử dụng pheromone (hóa chất tác động hấp
dẫn côn trùng) cũng thể sử dụng chọn lọc một lượng thuốc trừ sâu
diệt cỏ mau phân hủy.
b) Biện pháp xã hội:
-Bảo vệ những vùng đất tốt nhất cho nông nghiệp
-Cải thiện việc bảo vệ đất và nước
-Giảm nhẹ tác động của việc trồng trọt lên đất đã bạc màu
-Khuyến khích những phương thức sản xuất kết hợp với chăn nuôi
-Hạn chế sử dụng hóa chất trong nông nghiệp.

Preview text:

CHƯƠNG 4: TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT I.TÀI NGUYÊN ĐẤT
1) Đặc điểm của tài nguyên đất
1.1) Khái niệm đất của Docuchaev:
Đất là một hợp phần tự nhiên được hình thành dưới tác động của năm yếu
tố: đá mẹ, khí hậu, địa hình, sinh vật và thời gian.
1.2) Quá trình hình thành tài nguyên đất:
Hai nhóm yếu tố chính góp phần vào quá trình hình thành đất a) Nhóm vô sinh
-Đá mẹ: Nguồn gốc ban đầu, ảnh hưởng lớn đến quá trình thành tạo của
đất. Nó ảnh hưởng lý tính và hoá tính của đất.
-Khí hậu: các yếu tố như mưa, gió, nhiệt độ, biến thiên nhiệt độ ngày
đêm-theo mùa có tác dụng mạnh mẽ đến sự hình thành đất. Mỗi đới khí
hậu khác nhau sẽ hình thành các kiểu đất khác nhau.
-Nước và chế độ thuỷ văn: trong quá trình hình thành đất, nước đóng vai
trò “vật mang", “vật vận chuyển”, hoà tan các vật liệu cấu tạo thành đất.
-Địa hình địa mạo: Theo quy luật phi địa đới thì càng lên cao khí hậu
càng lạnh. Theo quy luật địa đới thì càng đi về phía hai cực thời tiết sẽ
lạnh hơn. Độ dốc càng lớn khả năng xói mòn càng tăng. b) Nhóm hữu sinh
-Động vật: Đào xới đất, làm giàu dinh dưỡng,...
- Thực vật: Tổng hợp chất hữu cơ, vô cơ
-Vi sinh vật: phân giải và tổng hợp chất hữu cơ, cố định đạm khí trời - Con người:
+ Tích cực: làm đất phát triển theo hướng tốt, màu mỡ hơn
+ Tiêu cực: khai thác kiệt quệ tài nguyên, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu một cách tuỳ tiện
1.3) Các chức năng cơ bản của đất:
-Môi trường cho con người và sinh vật trên cạn sinh trưởng và phát triển.
-Môi trường cho các quá trình biến đổi, phân huỷ các phế thải khoáng và hữu cơ diễn ra.
-Nơi cư trú và môi trường sống cho các loài động thực vật, vi sinh vật đất.
-Địa bàn lọc và cung cấp nguồn nước cho con người và các loài sinh vật khác.
2) Tài nguyên đất trên thế giới
Tỉ lệ đất nông nghiệp và đất tự nhiên trên thế giới Các châu lục Đất tự nhiên Đất nông nghiệp Châu Á 29.5% 35% Châu Mỹ 28.2% 26% Châu Phi 20.0% 20% Châu Âu 6.5% 13% Châu Đại Dương 15.8% 6%
Tài nguyên đất của thế giới theo thống kê như sau:
- Tổng diện tích 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng và 13.251
triệu ha đất không phủ băng. Trong đó, 12% tổng diện tích là đất canh tác, 24%
là đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú, đầm lầy.
-Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác hơn
1.500 triệu ha. Tỷ trọng đất đang canh tác trên đất có khả năng canh tác ở các
nước phát triển là 70%; ở các nƣớc đang phát triển là 36%.
2.1) Hiện trạng suy thoái tài nguyên đất
-Nhiễm mặn, nhiễm phèn, chua hoá
-Xói mòn do bị rửa trôi -Bạc màu -Ô nhiễm hoá chất -Sa mạc hoá
2.2) Nguyên nhân gây suy thoái
-Thảm thực vật trên bề mặt đất bị phá hoại
-Khí hậu thời tiết thay đổi
-Ô nhiễm do hoạt động công nghiệp
-Canh tác không bền vững -Sa mạc hoá
3) Tài nguyên đất ở Việt Nam:
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, Theo số liệu trong Quyết định kết quả
kiểm kê diện tích đất đai của cả nước năm 2019 cụ thể như sau:
Tổng diện tích đất tự nhiên của nước ta là 33.131.713 ha, trong đó:
- Diện tích tài nguyên đất Việt Nam được sử dụng trong nông nghiệp: 27.986.390 ha;
- Diện tích tài nguyên đất Việt Nam được sử dụng vì mục đích phi nông nghiệp: 3.914.508 ha;
- Diện tích tài nguyên đất Việt Nam chưa sử dụng: 1.230.815 ha.
Năm 2021, tổng diện tích đất của Việt Nam là 331.212 km², xếp hạng thứ 65
trên toàn thế giới. Có thể thấy rằng dù diện tích đất lãnh thổ của nước ta không
lớn nhưng dân số thì lại một tăng lên. Điều này dẫn đến việc diện tích tài
nguyên đất cho mỗi công dân Việt Nam ngày càng bị thu hẹp lại.
3.1) Các kiểu thoái hoá đất ở Việt Nam
-Rửa trôi, xói mòn, suy kiệt dinh dưỡng, hoang hoá và khô hạn, cơ cấu cây
trồng nghèo nàn, đất mất khả năng sản xuất -Mặn hoá, phèn hoá -Bạc màu
-Ngập úng, ngập lũ, lầy hoá
-Ô nhiễm môi trường đất
3.2) Các nguyên nhân suy thoái
-Phương thức canh tác nương rẫy lạc hậu
-Tình trạng khai thác không hợp lý, chặt phá đốt rừng bừa bãi, sức ép tăng dân
số và các chính sách quản lý không hợp lý
-Việc khai hoang chuyển dân lên vùng trung du, miền núi chưa chuẩn bị tốt về
quy hoạch, kế hoạch, đầu tư và di dân tự do.
II. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT 1) Khái niệm:
Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi
trường đất bởi các chất gây ô nhiễm.
Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo nguồn gốc phát sinh:
- Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt.
- Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp.
- Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp.
Hoặc theo các tác nhân gây ra ô nhiễm:
- Ô nhiễm do tác nhân vật lý.
- Ô nhiễm do tác nhân hóa học
- Ô nhiễm do tác nhân sinh học.
2) Tác nhân gây ô nhiễm môi trường đất a) Tác nhân vật lý:
Bao gồm ô nhiễm nhiệt và phóng xạ:
- Ô nhiễm nhiệt: chủ yếu từ các quá trình sản xuất công nghiệp và thường mang
tính cục bộ. Ô nhiễm nhiệt đến từ nguồn nước thải và khí thải công nghiệp…
ngoài ra còn từ tự nhiên. Nhiệt độ trong đất tăng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động
của vi sinh vật do làm giảm lượng oxy và sự phân hủy diễn ra theo kiểu kỵ khí
với nhiều sản phẩm trung gian gây độc cho cây trồng như NH3, H2S, CH4…
đồng thời làm chai cứng và mất chất dinh dưỡng. Các hoạt động cháy rừng, đốt
rừng làm nương rẫy cũng là nguồn gây ô nhiễm nhiệt.
- Ô nhiễm do phóng xạ: từ các chất phế thải của các cơ sở khai thác, nghiên cứu
và sử dụng chất phóng xạ. Các chất phóng xạ đi vào trong đất, từ đất vào cây
trồng sau đó có thể đi vào cơ thể con người. b) Tác nhân hóa học:
- Từ nguồn chất thải công nghiệp: bao gồm chất thải cặn bã, các sản phẩm phụ
do hiệu suất của nhà máy không cao.
- Từ nguồn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật: phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ . .
.Phân bón, thuốc trừ sâu và diệt cỏ được dùng với mục đích tăng thu hoạch mùa
màng, các loại muối có trong nước tưới cho cây trồng không được hấp thụ hết
đều gây ô nhiễm cho đất. Các tác nhân gây ô nhiễm không khí khi lắng đọng,
các chất phân hủy từ các bãi rác lan truyền vào đất đều là những tác nhân hóa học gây ô nhiễm đất
Thuốc trừ sâu là tác nhân số một gây ô nhiễm đất. Đã có hơn 1.000 loại hóa chất
là thuốc trừ sâu mà DDT là phổ biến nhất từ trước đến nay. DDT là chất khó
phân hủy trong nước và tạo ra dư lượng đáng kể trong đất sau đó đi vào chu
trình đất – thực vật – động vật – người. Người bị nhiễm DDT do ăn cá có nồng
độ DDT rất cao qua chuỗi thức ăn (sự tích lũy sinh học và khuếch đại sinh học)
Hàm lượng tích lũy DDT ở các bậc dinh dưỡng trong nước và trên cạn: Số lần khuếch đại Sinh vật Hàm lượng DDT (ppm) 80.000 Chim nước 1.600,00 5.000 Cá 100,00 250 Tôm 5,00 1 Các loại tảo 0,02 75 Chim cổ đỏ 750,00 9 Giun đất 90,00 1 Đất 10,00
Đất bị ô nhiễm do tác nhân hóa học trước tiên sẽ gây tác hại đến hệ sinh vật
sống trong đất, cùng các loài động thực vật sống trên đất. Đất thiếu sinh vật sẽ
trở nên môi trường trơ không thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp được nữa. c) Tác nhân sinh học:
Do việc sử dụng phân hữu cơ trong nông nghiệp chưa qua xử lý các mầm bệnh
ký sinh trùng, vi khuẩn đường ruột . . .đã gây ra các bệnh truyền từ đất cho cây
sau đó sang người và động vật.
Đất được coi như là nơi lưu giữ các mầm bệnh, trước hết là các nhóm trực
khuẩn và nguyên sinh vật gây bệnh đường ruột: trực khuẩn lỵ, thương hàn và
phó thương hàn, khuẩn tả - lỵ, amip, xoắn trùng vàng da, trực trung than, nấm,
bệnh uốn ván… Tiếp đến là các bệnh lý sinh như giun, sán lá, sán dây…
Ở các nước đang phát triển, ô nhiễm đất bởi các tác nhân sinh học rất nặng vì
không có đủ điều kiện diệt mầm bệnh trước khi đưa chúng trở lại đất. Các bệnh
dịch lây lan rộng như bệnh đường ruột, bệnh ký sinh trùng… lan truyền theo
đường: người – đất – người, động vật nuôi – đất – người.
3) Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất a) Tự nhiên: (Suy thoái) b) Nhân tạo:
- Sử dụng phân bón trong nông nghiệp: Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, ở Việt Nam lượng phân bón sử dụng trong nông nghiệp ngày càng
tăng cả về số lượng và chủng loại. Hàng năm ít nhất 1.420 loại phân bón khác
nhau được đưa ra thị trường. Số lượng phân bón nhập khẩu trong các năm gần
đây đều tăng. Lượng phân bón hóa học này chủ yếu được sử dụng cho cây lúa,
rau, màu, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả.
Nhìn chung, lượng phân bón hóa học ở nước ta sử dụng còn ở mức thấp, nhưng
nó lại gây sức ép tới môi trường nông nghiệp và nông thôn bởi 3 lý do sau:
- Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu quả phân bón thấp;
- Bón phân không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm;
- Chất lượng phân bón không bảo đảm: ngoài lượng phân bón được nhập khẩu
theo đường chính thống do nhà nước quản lý, còn một số lượng lớn phân bón
nhập lậu không được kiểm soát. Chính lượng phân bón này đang gây áp lực và
ảnh hưởng xấu đến môi trường đất.
Sử dụng phân bón hóa học bình quân ở một số nước Quốc gia
Lượng phân bón hóa học bình quân sử dụng cho 1ha gieo trồng Việt Nam 80 – 90 kg/ha Hà Lan 758 kg/ha Nhật Bản 430 kg/ha Hàn Quốc 467 kg/ha Trung Quốc 390 kg/ha
Nguồn: Hiện trạng môi trường quốc gia (2005)
- Ô nhiễm đất do thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật gồm thuốc trừ
sâu, thuốc trừ nấm, thuốc trừ chuột, thuốc diệt cỏ. So với năm 1990, tổng lượng
thuốc sử dụng hàng năm tăng từ 1,2 – 1,5 lần, thậm chí hơn 2 lần chủ yếu sử dụng cho lúa.
Một số nơi, ô nhiễm đất mang tính cục bộ do chất thải đô thị, khu công nghiệp,
làng nghề, khai thác mỏ.
4) Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường đất a) Biện pháp kỹ thuật:
Đẩy mạnh biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM):
Mục đích của IPM (Integrated Pest Management) là hạn chế sâu bệnh dưới mức
có thể gây ra tác hại theo cách vừa có lợi cho sinh thái vừa có hiệu quả về kinh
tế. Cần phải có những biện pháp như:
- Biện pháp sinh học, ví dụ như phát triển các loài ăn sâu bọ, vật ký sinh và
mầm bệnh của các loài sâu bệnh;
- Biện pháp trồng trọt ví dụ như nhổ cỏ dại, dùng phương pháp luân canh, đa
dạng hóa cây trồng, sắp xếp thời gian trồng và thu hoạch tránh thời kỳ đỉnh
điểm của sâu; sử dụng những giống cây có khả năng chống chịu được sâu bệnh;
- Các biện pháp hóa học như: sử dụng pheromone (hóa chất có tác động hấp
dẫn côn trùng) và cũng có thể sử dụng có chọn lọc một lượng thuốc trừ sâu và diệt cỏ mau phân hủy. b) Biện pháp xã hội:
-Bảo vệ những vùng đất tốt nhất cho nông nghiệp
-Cải thiện việc bảo vệ đất và nước
-Giảm nhẹ tác động của việc trồng trọt lên đất đã bạc màu
-Khuyến khích những phương thức sản xuất kết hợp với chăn nuôi
-Hạn chế sử dụng hóa chất trong nông nghiệp.